Một đơn phở, hai cách nghe
Bước xuống ke ga Nam Định giữa làn gió sông Đào se lạnh, Thư kéo cao cổ chiếc áo khoác mỏng, hơi co vai lại trước cái buốt sắc và ẩm ướt bất thần ùa tới từ mặt nước đồng bằng. Gió đầu mùa không gầm rít mà trườn thấp qua những dãy ke chắn bằng bê tông xám xịt, luồn lách qua các thanh tà vẹt dầm dầu đen trũi, cuốn theo mùi khói than tổ ong ẩm khét lẫn với mùi dầu máy nồng nặc đặc trưng của những đầu máy diesel đường dài vừa kéo còi trườn qua ghi.
Mấy người chạy xe ôm đứng tụ ở mép rào mắt cáo thấy một cô gái trẻ đeo ba lô to tướng bước xuống liền nhao nhao vẫy tay, tiếng nẹt pô xe máy lẹt xẹt át cả tiếng loa phóng thanh nhà ga đang đọc thông báo dồn toa. Thư xua tay lắc đầu, lặp lại lời từ chối nhã nhặn nhưng dứt khoát rồi nép vào dưới mái hiên xi măng loang lổ vết nước rỉ sét. Cô mở chiếc túi vải con đeo chéo trước ngực, cẩn thận rút cuốn sổ tay tay bọc bìa da màu bã trầu ra ngoài.
Trên trang giấy kẻ ngang ngả ố, sơ đồ vẽ tay nguệch ngoạc mà bác Hiên đưa cho cô lúc sáng sớm ở góc phố Hàng Lọng hiện ra dưới ánh sáng đùng đục của ban trưa. Đường nét bút bi đỏ của bác Hiên thoạt nhìn rất dứt khoát: một vệt gạch ngang biểu thị ke ga số hai, một mũi tên ngoằn ngoèo chỉ xuyên qua tường rào hoa sắt, rồi một dấu chấm tròn to tướng kèm dòng chữ viết hoa nắn nót: *“Phở Thành – cổng phụ ga hàng hóa”*. Trông trên mặt giấy, khoảng cách giữa ke ga đón khách và gian quán phở chỉ chừng một đốt ngón tay, một bước nhảy ngắn ngủi tưởng chừng như chỉ cần rảo chân ba bước là tới nơi.
Nhưng bước chân ngoài thực địa không có phép bay nhảy của nét bút chì. Để ra được đúng lối cổng phụ, Thư phải len qua dòng người lỉnh kỉnh quang gánh, ba lô con cóc, làn nhựa cồng kềnh và những bao tải dứa đựng cá khô bốc mùi ngai ngái. Cô phải vòng qua khoảng sân tập kết hàng hóa ngổn ngang những kiện gỗ bọc lưới thép, những đống tà vẹt gỗ mục chất cao quá đầu người bốc lên mùi hắc ín ngột ngạt dưới sương ẩm, rồi mới lách qua được chiếc cổng sắt nhỏ hoen gỉ mở hé vừa vặn một thân người nghiêng qua.
Mỗi bước sải chân vội vã, chiếc ba lô nặng trịch trên lưng lại nện từng nhịp thúc tức tối vào xương cụt. Thư đưa tay ra sau, lần qua lớp vải dù chống nước dày dặn, cẩn thận chạm nhẹ vào khớp nối giắc cắm canon ba chân của chiếc máy thu âm chuyên dụng mượn từ phòng kỹ thuật của ông Lộc. Khớp kim loại bên trong vẫn còn độ rơ cơ học sau cú va quẹt vào cánh cửa tàu lúc sáng, phát ra một tiếng lắc nhẹ lỏng lẻo rất khẽ dưới đầu ngón tay. Tiếng động nhỏ nhoi ấy nhắc nhở cô về một sự bấp bênh thường trực nằm ngay dưới đáy túi đồ nghề: chỉ cần một chấn động mạnh nữa, sợi dây đồng truyền tín hiệu bên trong lõi có thể đứt ngậm, và toàn bộ chuyến đi thu âm dọc các nhà ga sẽ biến thành một đống tạp âm vô nghĩa.
Quán phở của ông Bùi Văn Thành nằm nép mình ở quãng đường gom tiếp giáp ranh giới đất lưu không của ngành đường sắt, cách chiếc cổng phụ rỉ sét chừng một trăm mét. Đó là một gian nhà cấp bốn trổ mái tôn lượn sóng chìa hẳn ra vỉa hè lát gạch vỡ lồi lõm, chiếc biển hiệu bằng tôn cũ kỹ vẽ sơn đỏ ba chữ "Phở Bò Thành" đã bạc phếch vì khói tàu và nắng mưa nhiều năm tháng, góc tôn phía dưới bị rỉ ngoạm mất một mảng nham nhở như hàm răng sứt.
Thư đứng lại bên mép đường đối diện, nép dưới bóng một thân bàng rụng gần hết lá, lặng lẽ quan sát dòng người đang túa ra từ chuyến tàu địa phương vừa xịch bánh cập bến ke số một.
Quán đang rơi vào đúng nhịp chuyển tàu gay gắt nhất trong ngày. Khói từ hai chiếc nồi nhôm khổng lồ đặt ngay cửa bốc lên nghi ngút thành từng cuộn trắng xóa, xộc thẳng vào không khí giá lạnh mùi quế chi, hoa hồi nướng cháy sém quyện chặt với vị béo ngậy nồng nàn của tủy xương bò hầm kỹ nhiều ngày đêm. Hơi nước gặp gió sông Đào thốc vào liền đặc quánh lại, biến không gian trước cửa quán thành một màn sương mờ ảo bao phủ lấy những bóng người vội vã. Tiếng muôi kim loại gõ lách cách, dồn dập vào thành nồi nhôm dày cộp tạo nên một tiết tấu hỗn loạn, hòa cùng tiếng xì xèo của mỡ gầu trần qua nước sôi sùng sục và tiếng quát giục giã, râm ran gọi bát của những người khách vội vã sợ trễ giờ tàu đổi chuyến:
— Hai tái lăn một chín nạm bàn bốn! Nhanh tay bác Thành ơi, tàu sắp kéo còi dồn toa rồi! — Đơn ba bát kia xách đi đâu đấy? Để yên đấy tôi chan nước! Đừng có bốc lộn xộn!
Tiếng ông Thành gằn lên khàn đục nhưng đanh gọn, dứt khoát giữa làn sương khói mịt mù. Ông đứng sau một bệ bếp đóng bằng gỗ nghiến bóng nhẫy mỡ bò, hai cánh tay gân guốc trần trụi cuồn cuộn gân xanh thoăn thoắt đảo vạt bánh, hạ dao chặt thịt trên thớt gỗ lim phát ra những tiếng kêu bôm bốp nặng trịch. Dây chuyền làm việc ấy trơn tru, hối hả và dường như không thừa thãi ra một phần mười giây lơ đễnh. Từng nhát dao thái, từng động tác vẩy vợt bánh phở, từng gáo nước dùng chan xuống đều chuẩn xác như một cỗ máy cơ khí đã vận hành liên tục qua hàng vạn vòng quay.
Thư hít sâu một hơi luồng không khí thơm nồng mùi mỡ bò và hành hoa, siết chặt hai quai ba lô rồi bước qua bậc tam cấp sứt mẻ tiến vào trong quán.
Không gian bên trong gian nhà cấp bốn đặc quánh hơi nóng, mùi mồ hôi người và mùi hành hoa thái mịn hăng hăng. Gian quán kê khoảng bảy chiếc bàn inox hình chữ nhật dài ngoẵng, chỗ nào cũng kín đặc thực khách. Người ngồi ăn mặt mũi đỏ gay vì hơi nóng và cay nồng của ớt tươi, người đứng chờ thì chân nhấp nhổm, mắt chốc chốc lại liếc ra chiếc đồng hồ tròn treo tường đã ngả màu ố vàng. Thư đảo mắt thật nhanh, tìm được một khoảng trống hẹp ở đầu chiếc bàn dài sát lối đi nhỏ xíu dẫn ra mép quầy chan nước. Cô cẩn thận đặt ba lô xuống sát chân ghế đẩu nhựa, thận trọng nép mình để không cản trở những bước chân vội vã của một bác phụ việc lớn tuổi đang bê chồng bát sứ trũng lòng ra phía sau rửa.
— Bác ơi, cho cháu một bát phở bò chín, ít bánh nhiều hành ạ! — Thư nói với giọng hơi vội, miệng phát âm nhưng mắt vẫn mải miết quét quanh các góc tường để tìm một vị trí đặt máy thu âm thích hợp.
Cô nhìn vào chiếc đinh mười phân đóng chếch trên chiếc cột gỗ nghiến gần bệ nước dùng, thầm tính toán hướng gió từ cửa thổi vào và độ vang của tiếng muôi kim loại khi va vào thành nhôm. Ngay lúc ấy, một người đàn ông mặc chiếc áo khoác bảo hộ lao động màu xanh công nhân đường sắt nhem nhuốc vệt dầu xộc mạnh vào quán, vỗ tay cái bốp lên mặt bàn gỗ cạnh quầy:
— Thành ơi! Cho một bát tái nạm nhiều nước béo, trần bánh mềm nhé! Đang vội dồn mấy toa chở muối, sắp bấm còi rồi đấy!
Cậu thanh niên phụ việc đứng cạnh mép quầy kéo vội tập giấy xé từ một cuốn sổ tay học sinh cũ kỹ trên bệ gỗ, cầm mẩu bút chì cùn vạch ngoáy hai nét chữ tháu rồi kẹp lên mép thanh nẹp nhôm mỏng phía trên mép nồi nước dùng. Nhưng trong nhịp chuyển động dồn dập của những cánh tay trần bánh và tiếng người giục giã, hai mẩu giấy ghi đơn bị luồng gió từ chiếc quạt trần ba cánh đảo tít trên trần nhà thổi lệch đi. Mẩu nọ đè xiên xẹo lên góc mẩu kia, chữ "chín - ít b" của Thư bị mép giấy "tái nạm - béo" của người công nhân che khuất đúng một nửa dấu gạch chéo phân cách.
Chưa đầy năm phút sau, ông Thành bưng ra hai bát phở trên chiếc khay nhôm tròn đã lõm nhiều chỗ do va đập lâu năm. Khói bốc lên ngùn ngụt che khuất cả gương mặt vuông chữ điền khắc khổ, sạm đen vì hơi lửa của ông. Đặt đánh cạch một bát xuống bàn người đàn ông áo xanh, ông quay ngoắt người theo quán tính cơ thể quen thuộc, đặt bát còn lại xuống ngay trước mặt Thư.
Thư nhìn xuống đáy bát men sứ dày cộp.
Trên mặt nước phở bập bềnh những tảng thịt bò tái băm hãy còn ửng hồng màu máu tươi, xen lẫn những miếng nạm dính mỡ óng ánh ngập ngụa trong một lớp váng mỡ gầu vàng sẫm đặc quánh. Tuyệt nhiên không thấy bóng dáng của miếng thịt bò chín thái mỏng thớ khô quen thuộc mà cô đã gọi, và lượng bánh phở thì đầy tú hụ, đội cả lớp hành hoa lên tận sát mép men sứ, nước dùng ngập tràn mấp mé miệng bát.
Ở chiếc bàn bên cạnh, người công nhân áo xanh cau có mặt mày, cầm chiếc đũa tre khuấy qua khuấy lại vào bát phở toàn những thớ thịt bò chín nạc xơ xác của mình, lẩm bẩm chửi đổng điều gì đó không rõ tiếng vì khói phả vào mặt.
Thay vì ngồi yên chờ đợi một khoảng trống thích hợp trong dòng chảy công việc của quán để nhờ đổi lại, phản xạ nghề nghiệp của một người làm phát thanh phòng thu bỗng dưng bộc phát trong đầu Thư. Cô cảm thấy quy trình phục vụ đang có một lỗi kỹ thuật cần phải được đính chính ngay lập tức để lập lại trật tự. Thư sốt sắng đứng bật dậy. Cô hắng giọng, dùng tròn vành rõ chữ cái chất giọng đọc văn bản truyền thanh chuẩn mực, chậm rãi và sang sảng được rèn giũa nhiều năm qua các kỳ thi tuyển biên tập viên:
— Dạ thưa bác Thành! Cháu xin phép làm phiền bác một chút ạ. Có sự nhầm lẫn giữa đơn gọi món của cháu với bác bàn bên cạnh rồi ạ. Bát của cháu gọi là phở chín, yêu cầu cụ thể là giảm lượng bánh phở và tăng lượng hành hoa, nhưng bát bác mang ra đây lại là thịt tái nạm và có rất nhiều mỡ béo ngầy ngậy. Cháu nghĩ là phiếu gọi món đã bị đảo lộn trong quá trình tiếp nhận và xử lý thông tin của bạn phụ việc...
Thư còn chưa kịp dứt câu giải thích bài bản và đầy tính phân tích ấy thì chiếc ba lô cồng kềnh cô đang đeo lệch một bên vai bỗng lắc mạnh theo cử động xoay người. Đáy ba lô nặng trịch hất mạnh vào cạnh chiếc ghế đẩu nhựa màu đỏ, đẩy nó trượt dài ra, nằm chình ình chắn ngang nửa lối đi hẹp.
Đúng vào tíc tắc ấy, ông Thành đang nghiêng người bê hai chiếc bát sứ đựng phở sôi sùng sục khác bước nhanh ra từ quầy chan nước.
Bị thân hình cao gầy của Thư và chiếc ghế nhựa chắn sững ngay khúc cua hiểm hóc nhất nối giữa bệ bếp và các dãy bàn ăn, ông Thành buộc phải khựng phắt chân lại. Đôi dép cao su mòn vẹt miết mạnh trên sàn gạch tàu trơn nhẫy mỡ bò tạo nên một tiếng ken két khô khốc. Cú dừng đột ngột khiến nước dùng nóng rẫy trong hai chiếc bát sứ sánh mạnh lên, những giọt mỡ sôi chực tràn qua mép bát men, bắn bỏng rát vào những đốt ngón tay chai sần, gân guốc của ông lão.
Dây chuyền đưa bát đang vận hành nhịp nhàng như một cỗ máy bỗng chốc đứt phựt. Bác phụ việc đang bưng chồng thìa inox lách cách phía sau suýt nữa thì đâm sầm cả người vào tấm lưng áo ướt đẫm mồ hôi của ông Thành.
Toàn bộ không gian ồn ào, hỗn độn của quán phở dường như chùng hẳn xuống một nhịp. Tiếng xì xụp ăn uống ngưng bặt. Mấy người khách ngồi gần đó ngước mắt lên nhìn trừng trừng, vẻ mặt lộ rõ sự sốt ruột và bực bội của những kẻ đang đếm từng giây từng phút theo tiếng đồng hồ nhà ga sắp đến giờ điểm chuyến.
Ông Thành từ từ hạ hai chiếc bát đang bốc khói dữ dội xuống chiếc bàn trống gần nhất, đặt đánh "cạch" một cái thật nặng tay khiến chiếc thìa nhôm nảy lên trên mặt bàn inox. Ông ngước mắt lên nhìn Thư. Đôi lông mày rậm bạc hoa râm nhíu chặt lại thành một rãnh sâu hoắm giữa trán, ánh nhìn sắc lẹm, già sỏi xoi thẳng vào vẻ ngỡ ngàng vừa chợt hiện lên trên khuôn mặt trắng trẻo của cô gái trẻ:
— Cô này hay nhỉ! Nói một tràng dài như đọc loa truyền thanh phường thế thì ai mà đỡ được? Bát nhầm thì bảo một câu nhầm bát, đứng chắn ngang giữa cái lối đi hẹp bằng bàn tay thế này, nước sôi nó đổ ụp vào chân thì ai chịu trách nhiệm cho cô? Nồi nước nó có chờ cô phân tích xong xuôi rồi nó mới sôi không hả?
Gương mặt Thư nóng bừng lên trong tích tắc như vừa bị ai đó tạt thẳng một gáo nước sôi vào mặt. Cổ họng cô nghẹn ứ lại, toàn bộ sự hoạt ngôn chuyên nghiệp, sự tự tin vào vốn từ ngữ gãy gọn của một biên tập viên âm thanh tan biến sạch sẽ không còn một mảnh vụn. Cô nhìn xuống đôi bàn tay nổi đầy gân guốc của ông lão đang đỏ ửng lên vì sức nóng của hai vành bát phở, nhìn lại chiếc ghế nhựa mình vừa vô ý hất tung làm nghẽn đứng lối đi, rồi nhìn sang ánh mắt hằn học của những người khách ăn chung quanh.
Bài học từ chiếc ghế nhựa của anh công nhân ca đêm ở quán Đèn Hiên sáng nay tại Hà Nội lại quất mạnh vào tâm trí cô một đòn cay đắng: sự hiện diện vụng về, cái thói quen đứng ngoài quan sát và thói áp đặt quy chuẩn ngôn từ của kẻ làm bàn giấy luôn là một thứ cản trở tàn nhẫn đối với những con người đang lao động cật lực trong guồng quay mưu sinh cơm áo.
— Cháu... cháu xin lỗi bác Thành ạ! — Thư cuống quýt cúi gập đầu, hai tay run rẩy vội vàng kéo chiếc ghế đẩu nhựa sát vào gầm bàn, lùi hẳn người nép sát vào vách tường gạch mục loang lổ vết ẩm — Cháu vụng quá, cháu không để ý lối đi của bác. Cháu xin lỗi bác nhiều lắm ạ, cháu thật sự không cố ý.
Ông Thành thở hắt ra một hơi dài qua kẽ răng, liếc nhìn người công nhân mặc áo bảo hộ màu xanh đang sốt ruột ngoái cổ lại:
— Chú Bảy đưa cái bát chín sang đây, cầm lấy cái bát tái nạm này mà ăn cho kịp chuyến dồn toa. Lằng nhằng rách việc quá!
Người công nhân nhanh nhẹn với tay hoán đổi hai chiếc bát trên mặt bàn, cắm cúi vắt nửa quả chanh rồi lùa từng đũa lớn vào miệng, nhai ngấu nghiến không buồn nói thêm nửa lời.
Nhìn cảnh tượng ấy, nhìn bệ gỗ ngập ngụa những phiếu gọi món đang dồn ứ lại sau gần một phút gián đoạn, Thư cắn chặt môi dưới. Cô cởi chiếc áo khoác gió vướng víu vắt tạm lên quai ba lô, xắn tay áo len lên quá khuỷu tay rồi bước lại gần mép quầy, giữ một khoảng cách an toàn chừng nửa mét, khẽ cất lời bằng giọng khẩn khoản:
— Bác Thành ơi, tại cháu mà dây chuyền của quán bị chậm lại. Bác cho cháu đứng ở mép góc này, cháu phụ chuyển các phiếu gọi món từ người ghi đơn sang cho bác được không ạ? Bác cứ bảo cháu làm thế nào cháu làm đúng như thế, cháu tuyệt đối không đụng vào nồi hay bát đĩa đâu ạ.
Ông Thành liếc nhìn cô gái trẻ một cái sắc lẹm, tay vẫn thoăn thoắt cầm chiếc muôi đục lỗ đảo vạt thịt bò trong nồi nước trần:
— Biết đọc chữ vội không? Không biết đọc thì đứng yên đấy, đừng có vẽ chuyện ra thêm cho tôi nhờ!
— Dạ cháu đọc được ạ! Bác chỉ cần hướng dẫn cháu một câu thôi là cháu làm được ngay ạ!
— Chỉ việc cầm cái mẩu giấy thằng bé kia ghi, kẹp nó theo thứ tự từ trái qua phải trên cái thanh nẹp nhôm kia kìa. Bát nào xong rồi thì bóc ra vứt xuống cái rổ rác dưới chân. Tuyệt đối không được với tay ngang qua mặt nồi, hơi nước nó táp vào chín thịt đấy!
— Dạ, cháu nhớ kỹ rồi ạ!
Thư nhận vị trí ngay đầu thanh nẹp bằng nhôm mỏng, đứng sát bên cạnh cậu thanh niên phụ việc đang mướt mồ hôi xé từng mẩu giấy ghi món từ cuốn vở học trò. Cầm những mẩu giấy tái chế trên tay, Thư mới thấm thía nguồn cơn thực sự của sự nhầm lẫn tai hại ban nãy.
Trên mẩu giấy ghi đơn của cô, cậu phụ quán ngoáy một chữ "Ch" xiên xẹo bằng nét chì cùn, bên dưới là chữ "ít b" gầy nhẳng ríu vào nhau, cạnh đó lại có một vết ố vàng của nước dùng rỏ xuống làm nhòe mất nét gạch chéo phân cách. Còn phiếu của người khách công nhân bên cạnh thì chữ "Nạm" lại bị co rúm lại thành một dấu ngoặc nhọn hoắt chẳng khác nào chữ "Chín".
Khi Thư bước vào quán lúc nãy, miệng vừa gọi món dồn dập nhưng mắt lại mải ngước lên trần nhà tìm góc đóng đinh đặt máy thu âm, giọng nói của cô đã bị nuốt âm, lướt chữ. Cộng thêm tiếng ồn ào của nồi nước sôi ùng ục và tiếng còi tàu hỏa rú lên từng hồi ngoài ke ga, cậu phụ quán chỉ nghe lõm bõm được âm tiết đầu và cuối, rồi vội vã ghi đại khái theo thói quen tốc ký giữa giờ cao điểm. Chính sự vội vã của một thực khách không toàn tâm toàn ý khi gọi món, cộng với một quy trình thủ công thô sơ giữa lúc dầu sôi lửa bỏng, đã tạo nên một nút thắt tai hại.
Thư cẩn thận miết phẳng từng mẩu giấy nhăn nhúm, xếp ngay ngắn từng chiếc kẹp nhôm rỉ sét theo chiều từ trái sang phải như lời ông Thành dặn. Cứ mỗi lần một mẩu giấy được kẹp lên, cô lại ghé sát mắt đọc to, rành rọt từng chữ:
— Một tái gầu nhiều hành ạ! — Hai chín nạc không mỡ, một bát nước trong! — Một sốt vang trần tái, thêm ớt tươi!
Đứng ở khoảng cách này, Thư mới thực sự nếm trải sức nóng khủng khiếp tỏa ra từ hai chiếc nồi nhôm khổng lồ. Chiếc nồi hầm xương hình trụ cao ngang hông người lớn, đặt trên một bếp lò áp suất công nghiệp ngùn ngụt ngọn lửa xanh lè, lúc nào cũng phát ra những tiếng lục bục nặng trịch, rung rinh cả mặt sàn xi măng dưới chân. Bên cạnh là chiếc nồi nước dùng chuyên để chan phở, sôi lăn tăn đều đặn trên bề mặt với một lớp váng hành hoa xanh ngắt và mỡ mỏng lấp lánh, hơi nước bốc lên mù mịt như một tấm màn che chắn vĩnh cửu giữa ông Thành và thế giới thực khách ồn ã bên ngoài.
Trong lúc tập trung phụ việc đưa phiếu, Thư để ý thấy một thói quen rất đặc biệt của ông lão nấu phở. Cứ mỗi lần có ai đó ở ngoài cửa quán gọi với vào giục giã, hoặc khi cậu phụ việc nhắc đơn ở một cự ly hơi xa, ông Thành lại hơi nghiêng đầu sang mạn phải. Ông đưa tai bên phải về phía nguồn âm thanh, trong khi đôi mắt kèm nhèm khói bụi vẫn dán chặt vào mặt thớt gỗ lim và lưỡi dao sáng loáng. Đôi lông mày bạc của ông khẽ chau lại, các thớ cơ trên gương mặt căng cứng ra như đang phải gắng sức gạn lọc lấy từng âm tiết bị chìm lấp giữa tiếng sôi sùng sục của nồi nước dùng và tiếng chiếc quạt thông gió rít ken két trên vách tôn.
Một ý nghĩ bất chợt lóe lên trong đầu Thư: có lẽ tai trái của ông Thành đã bị suy giảm thính lực rất nặng do phải đứng bếp cạnh nồi hơi áp suất và còi tàu đường sắt suốt mấy chục năm ròng rã.
Sự nhạy cảm nghề nghiệp trỗi dậy, cô suýt nữa buột miệng hỏi một câu mang đầy vẻ xót xa, đồng cảm kiểu những bài viết phóng sự truyền hình: *"Bác Thành ơi, tai bên trái của bác nghe kém lắm rồi phải không ạ? Tiếng ồn nồi hơi mấy chục năm qua làm bác khổ sở lắm đúng không ạ?"*
Nhưng bàn tay cô kịp thời khựng lại trên chiếc kẹp nhôm hoen rỉ.
Những dòng ghi nhớ biên tập sắc lạnh của Thu Hạnh gửi qua điện thoại sáng nay lập tức dội về, réo rắt trong tâm trí cô từng câu từng chữ: không được tự tiện chẩn đoán tình trạng nhân vật, không suy diễn tâm lý hay thể trạng của con người ngoài đời thực, không dùng sự phán đoán chủ quan của một kẻ đứng ngoài cuộc để gán ghép thành một tấn bi kịch đời thường nhằm làm mùi mẫn bài viết phát thanh.
Đời sống của những con người lao động lam lũ có những ranh giới tôn nghiêm mà một người cầm máy thu âm không có quyền xâm phạm chỉ để tìm kiếm một chi tiết cảm động rẻ tiền. Ông Thành là một người thợ nấu phở lành nghề đang dốc toàn bộ sức lực phục vụ từng bát ăn cho khách qua ga, không phải là một bệnh nhân cần cô đưa ra kết luận y khoa trên làn sóng điện. Thư nuốt ngược câu hỏi vào trong cổ họng, tiếp tục im lặng miết phẳng những mẩu giấy gọi món tiếp theo.
Gần mười giờ trưa, tiếng còi tàu trầm đục báo hiệu chuyến tàu hàng cuối cùng của ca sáng kéo những toa đá dăm lăn bánh rời khỏi ga Nam Định vọng lại từ phía cầu Đò Quan.
Lượng khách trong quán bắt đầu thưa dần. Những chiếc bàn inox vơi dần bóng người, chỉ còn lại những đống giấy ăn vò nát nằm rải rác dưới sàn gạch và những chiếc bát sứ trống trơn dính vệt ớt bột đỏ au khô khốc. Bác phụ việc lớn tuổi bắt đầu cầm chiếc chổi đót quét dọn, trong khi cậu thanh niên dọn dẹp các ống đũa, lau lại mặt bàn bằng những chiếc khăn vải thô nhúng nước ấm bốc khói.
Gian nhà cấp bốn cuối cùng cũng tìm lại được khoảng lặng hiếm hoi sau một cơn lốc chuyển tàu. Tiếng sôi của nồi nước dùng lúc này không còn bị lấn át bởi tiếng ồn ào của thực khách nữa, nó cất lên những âm thanh trầm đục, lục bục đều đặn như nhịp thở của một sinh thể sống khổng lồ đang từ từ hạ nhiệt sau một cơn gắng sức dài.
Ông Thành buông chiếc muôi chan phở xuống chiếc giá đỡ bằng sắt gắn bên thành bếp lò, tháo chiếc tạp dề ố màu mỡ bò vắt lên lưng một chiếc ghế đẩu, rồi với lấy chiếc khăn mặt bông cũ kỹ lau lớp mồ hôi đầm đìa đang chảy ròng ròng trên trán và hai bên thái dương. Ông bước lại gần bàn của Thư, kéo một chiếc ghế đẩu ngồi phịch xuống, đưa mắt nhìn cô gái trẻ vẫn đang kiên nhẫn đứng nép bên quầy:
— Ngồi xuống đi cô. Đứng mãi từ nãy đến giờ thế không mỏi cái chân à?
Thư khẽ thở phào nhẹ nhõm, kéo chiếc ghế đối diện ngồi xuống:
— Dạ, cháu cảm ơn bác. Quán đông khách và áp lực quá bác nhỉ.
— Đông cái lúc tàu đổi chuyến thế thôi. Khách nhà ga nó vậy đấy, ào đến như nước lũ tràn bờ rồi lại rút đi như rươi, chậm chân một tí là người ta phải nhịn đói ôm bụng lên toa xe, mà cái quán mình thì mang tiếng làm ăn trễ trãi, cẩu thả. — Ông Thành với chiếc ấm tích bọc trong giỏ ủ ấm bằng mây đan đã lên nước nâu bóng, rót một bát nước vối đặc sánh ra chiếc bát sứ sứt miệng, đẩy về phía Thư — Uống ngụm nước ấm cho đỡ khô cổ đi. Lúc sáng sớm con Hiên ngoài Hà Nội nó có gọi điện về ga, bảo có cô cháu làm cái chương trình gì về đường tàu hỏa, mang cả máy móc dây dợ lỉnh kỉnh theo có phải không?
Thư hai tay đón lấy chiếc bát sành thô mộc, cảm nhận hơi ấm dễ chịu lan tỏa qua những ngón tay đang lạnh cóng vì gió sông:
— Dạ vâng ạ. Cháu làm dự án bản đồ âm thanh về những quán ăn bình dân quanh các ga tàu hỏa cho chuyên mục du ký của tòa soạn ạ. Cháu muốn ghi lại âm thanh chân thực của đời sống quanh ga, tiếng nồi nước dùng, tiếng muôi gõ, nhịp sống lao động thực tế chứ không phải chỉ là những bài viết giới thiệu món ăn thông thường chụp ảnh bóng bẩy. Lúc nãy cháu vụng về làm phiền bác, suýt nữa làm bỏng bác, cháu áy náy quá. Nếu bác cho phép, cháu xin phép được bật máy thu âm một đoạn ngắn chừng năm phút, nhờ bác nói đôi câu về cách bác giữ độ nóng cho nồi nước dùng và cách bác chia đơn giữa lúc đông khách được không ạ?
Ông Thành nhìn chăm chú vào khuôn mặt Thư, rồi liếc xuống chiếc ba lô màu xám tro đặt ngay ngắn dưới chân cô. Ánh mắt ông bớt đi vẻ gay gắt, dữ dằn ban nãy, nhưng vẫn giữ nguyên nét thận trọng, dè dặt của một người đã trải qua quá nửa đời người va chạm với đủ hạng người xuôi ngược chốn sân ga:
— Thu tiếng nói thì được. Nhưng tôi nói trước một điều cho rõ ràng: tôi chỉ nói chuyện làm phở, chuyện chan nước, chuyện củi lửa phục vụ khách đi tàu thôi đấy nhé. Tôi không quen lên đài đóm nói những lời văn vẻ hoa mỹ đâu.
— Dạ vâng, cháu chỉ xin phép thu đúng những gì liên quan đến công việc của quán thôi ạ. Bác nói gì cháu xin phép giữ nguyên cái đó, tuyệt đối không cắt xén làm sai lệch ý bác đâu ạ.
Thư thận trọng mở ngăn phụ của chiếc ba lô, rút chiếc máy thu âm cầm tay cũ kỹ ra ngoài. Cô không cắm chiếc micro rời có giắc canon đang bị rơ lỏng nữa, sợ rằng sự cố tiếp xúc chập chờn sẽ tạo ra những tiếng nổ lách tách làm hỏng bản thu hiện trường, mà quyết định sử dụng cặp micro tích hợp sẵn trên đầu thân máy. Cô bấm nút ghi âm màu đỏ, đặt chiếc máy nằm gọn gàng trên mặt bàn gỗ giữa hai người, giữ một khoảng cách chừng ba mươi phân.
— Bác Thành ơi, máy bắt đầu chạy rồi ạ. Bác có thể chia sẻ cho cháu biết, làm thế nào để giữa lúc khách đông dồn dập như lúc nãy, bát phở bưng ra bàn lúc nào cũng giữ được độ nóng bỏng rẫy mà sợi bánh không bị nát nhừ không ạ?
Ông Thành nhìn vào chấm đèn led màu đỏ nhấp nháy đều đặn trên thân máy thu âm, hắng giọng một tiếng khô khốc rồi bắt đầu nói. Giọng ông trầm, mộc mạc và mang ngữ điệu đặc sệt của vùng hạ lưu sông Đào:
— Cái phở ga này nó khác phở phố ở chỗ cái nóng. Khách đi tàu đường dài người ta nhiễm gió lạnh, nhiễm sương đêm trên các toa xe, bước chân xuống quán là người ta cần một bát nước dùng phải thật sôi, húp vào một thìa đến đâu nó phải ấm ran lồng ngực đến đấy. Muốn nước nóng bỏng mà bánh không nát thì bắt buộc cái nồi nước chần bánh phải riêng, nồi nước chan phải riêng. Bánh phở ở đây phải là loại bánh thái tay bản to của lò Nam Trực, sợi dày dặn, chần qua nước sôi sùng sục đúng ba giây là phải nhấc phắt lên ngay, lắc mạnh cổ tay cho ráo kiệt nước lã rồi mới đổ vào bát. Nước chan thì lúc nào cũng phải giữ ở cái mức sôi lăn tăn ở ria mép nồi, ngọn lửa đáy lò áp suất không bao giờ được phép để tắt ngọn. Khi chan, cái muôi nhôm phải múc từ lưng chừng nồi, cái chỗ nước trong veo và nóng bỏng nhất, chan một vòng tròn quanh mép men rồi mới dội thẳng một gáo vào giữa tim bát có vạt thịt và hành hoa. Làm thế thì thịt chín tới, hành chín mềm mà dậy mùi thơm của tinh dầu, bưng ra đến bàn khách vẫn còn bốc khói nghi ngút từ thìa đầu đến thìa cuối. Còn cái chuyện chia đơn... thì như cô vừa thấy đấy, quán bình dân chốn ga xép, chúng tôi chỉ có mấy mẩu giấy xé ra từ vở cũ, kẹp theo thứ tự ai đến trước ăn trước, ai đến sau ăn sau. Chữ viết ngoáy thì mắt phải nhìn quen, tai phải nghe cho tỏ, cái nghề này nó rèn cho người ta cái tai phải thính hơn con mắt...
Nghe đến hai chữ "cái tai", lòng Thư bỗng dâng lên một sự tò mò nghề nghiệp khó cưỡng. Cô thấy đây dường như là một khoảng mở đầy hấp dẫn để đào sâu vào đời tư nhân vật, tạo thêm một nốt trầm bi cảm cho bài ký sự âm thanh của mình:
— Bác Thành ơi, bác đứng bên nồi nước dùng sôi sùng sục và tiếng còi tàu gầm rú này suốt mấy chục năm rồi, có phải vì thế mà sức khỏe tuổi già của bác bị ảnh hưởng nhiều không ạ? Cháu thấy lúc nãy bác hay nghiêng tai sang một bên để nghe... rồi gia đình bác, các anh chị nhà mình có ai chịu theo cái nghề vất vả thức khuya dậy sớm bên đường ray này của bác không ạ?
Gương mặt ông Thành lập tức đanh lại. Nụ cười cởi mở hiếm hoi vừa chớm nở trên khóe miệng ông vụt tắt ngấm như một ngọn đèn dầu bị gió thốc. Ông giơ bàn tay thô ráp, chai sạn lên, xua mạnh một cái dứt khoát ngay trước đầu micro thu âm:
— Thôi! Tắt ngay cái máy đấy đi!
Thư giật bắn mình, vội vàng bấm nút dừng ghi âm trên thân máy.
Ông Thành trừng mắt nhìn cô, ánh nhìn lại trở về vẻ sắc lẹm, nghiêm nghị và lạnh lùng như lúc ông đứng chắn giữa lối đi ban nãy:
— Tôi đã bảo với cô rành rọt từ đầu rồi: chuyện làm phở, chuyện khách khứa đi tàu thì tôi nói, còn chuyện gia đình, chuyện ốm đau bệnh tật tuổi già của tôi thì cô hỏi làm cái gì hả? Tôi đứng bán hàng kiếm bát cơm nuôi thân, nuôi con cái tôi ăn học khôn lớn bằng đôi bàn tay lao động này, tôi không phải là cái đối tượng lên báo để người ta rủ lòng thương hại hay xì xào bàn tán chuyện sức khỏe yếu kém! Ai cho phép cô đi chẩn đoán tai tôi nghễnh ngãng với bệnh tật này nọ lên đài phát thanh? Cô tắt máy đi, cất ngay vào túi, đừng có hỏi han linh tinh thêm một câu nào nữa!
Thư ngồi chết lặng trên chiếc ghế đẩu, hai má đỏ bừng lên vì xấu hổ và ân hận tột cùng. Sự thẳng thắn, không chút kiêng nể của ông Thành như một gáo nước lạnh buốt tạt thẳng vào sự sốt sắng vô lối và thói tọc mạch nhân danh nghề nghiệp của cô.
Cô đã lại suýt phạm vào đúng cái lỗi lầm nghiêm trọng mà các đàn anh, đàn chị luôn cảnh báo: biến sự quan sát hiện trường thành một cái cớ để xâm phạm vào những góc khuất riêng tư, tôn nghiêm mà người lao động muốn giữ lại cho riêng họ. Người ta mở một quán ăn bình dân bên ga tàu để mưu sinh lương thiện, người ta cởi mở chia sẻ kinh nghiệm đứng bếp giữ nhiệt cho bát phở, nhưng điều đó tuyệt đối không đồng nghĩa với việc người ta cho phép bất kỳ ai biến họ thành một nhân vật bi kịch đầy thương cảm để mua vui hay tìm kiếm sự xúc động dễ dãi từ thính giả.
— Cháu... cháu xin lỗi bác Thành nhiều lắm ạ — Thư cúi gập đầu, hai bàn tay đan chặt vào nhau trên đầu gối, giọng cô run nhẹ vì xúc động chân thành — Cháu đã hỏi một câu rất không phải phép, vượt quá giới hạn của công việc. Cháu xin lỗi vì đã làm bác phiền lòng và tức giận. Cháu xin hứa danh dự với bác là đoạn thu âm vừa rồi cháu chỉ giữ lại đúng phần bác nói về kỹ thuật nước dùng và quy trình kẹp phiếu thôi ạ, cháu tuyệt đối không đưa bất cứ lời phỏng đoán hay nhận xét nào về đời tư, sức khỏe của bác vào bài viết đâu ạ.
Ông Thành ngồi im, đôi mắt già nua nhìn chằm chằm vào Thư một hồi lâu. Thấy khuôn mặt tái đi vì ân hận và thái độ cúi đầu nhận lỗi chân thành của cô gái trẻ, ngọn lửa giận trong mắt ông mới từ từ dịu bớt xuống. Ông thở dài một tiếng nặng nề, lắc lắc mái đầu hoa râm:
— Biết nhận ra cái sai thế là còn biết điều đấy. Người trẻ các cô bây giờ đi làm chữ nghĩa, làm âm thanh cứ hay thích vẽ vời cho nó lâm ly bi đát, cứ tưởng đời người ta phải khổ sở, phải bệnh tật thì thính giả người ta mới chịu nghe. Nhưng chốn ga tàu này nó phẳng lặng và trần trụi lắm cô ạ, người ta sống vì bát cơm manh áo từng ngày một, việc ai nấy làm, chẳng có cái gì là bi kịch để mà phơi bày ra cho thiên hạ xót xa đâu. Thôi, ngồi yên đấy, tôi làm lại cho một bát phở chín ít bánh nhiều hành mà ăn cho ấm bụng rồi còn bắt tàu đi tiếp.
Nói đoạn, ông Thành chống tay lên đầu gối đứng dậy, lững thững quay trở lại bệ bếp gỗ nghiến.
Lần này, không còn sự vội vã, cuống cuồng của dòng khách chuyển tàu nữa, ông làm từng thao tác một cách chậm rãi, tỉ mỉ và nhịp nhàng như một nghệ nhân đang trau chuốt một tác phẩm quen thuộc. Bánh phở được rũ nhẹ bằng đầu một đôi đũa tre dài cho tơi xốp từng sợi, thả vào chiếc vợt sắt chần đúng ba giây trong nồi nước sôi bốc khói rồi nhấc lên, vẩy mạnh ba cái dứt khoát cho ráo kiệt nước. Lớp thịt bò chín nạc được thái mỏng tang, từng lát thịt xếp đều đặn tăm tắp như vảy cá phủ kín mặt bánh, bên trên rải một lớp hành lá chẻ mỏng trắng muốt cùng hành hoa thái mịn xanh ngắt. Chiếc muôi nhôm múc một vạt nước dùng trong vắt, nóng bỏng rẫy từ giữa lòng nồi, nhẹ nhàng chan đều từ mép bát men sứ loang dần vào trong.
Bát phở bưng ra đặt trước mặt Thư bốc khói nghi ngút, thơm lừng mùi gừng nướng, hoa hồi và thảo quả. Không còn một chút váng mỡ béo ngấy nào, không còn những thớ thịt tái đỏ tươi nhầm lẫn ban nãy, chỉ có sự tinh tươm, vừa vặn của một bữa ăn đúng nghĩa được làm ra từ đôi bàn tay của một người thợ lành nghề suốt đời gắn bó với đường ray.
Thư cầm đôi đũa tre, khẽ tách nhẹ lớp hành hoa. Vị ngọt đậm đà, thanh khiết của nước hầm xương bò nguyên chất quyện với vị cay nồng của ớt tươi và mùi thơm của tiêu sọ làm bừng tỉnh mọi giác quan mệt mỏi sau chặng hành trình từ sáng sớm. Cô ăn từng miếng chậm rãi, lắng nghe vị ấm nóng lan tỏa khắp cơ thể, thực sự thưởng thức trọn vẹn hương vị của bữa ăn đường sắt đầu tiên mà mình tìm đến.
Trong lúc Thư cắm cúi ăn, ông Thành với lấy một mẩu giấy trắng xé ra từ cuốn sổ tay, cặm cụi dùng chiếc bút bi gai viết một dãy số điện thoại lên đó. Đặt mẩu giấy xuống cạnh góc bàn của Thư, ông nói bằng giọng đều đều:
— Đây là số điện thoại của bà Oanh, bán cơm ở cổng ga Vinh. Bà này ngày xưa cùng làm ở căng tin đường sắt với tôi và con Hiên ngoài Hà Nội, sau này tách ra về quê bán cơm cho công nhân toa xe. Nhưng tôi dặn trước: tính bà Oanh này còn khó hơn tôi gấp mười lần đấy. Bà ấy cực kỳ nghiêm ngặt về mặt giờ giấc, bán bữa trưa đúng giờ nghỉ ca của cánh thợ dồn toa và công nhân bốc vác, quá giờ là dọn sạch không còn một hột cơm. Cô có vào trong đấy thì liệu mà đến cho đúng giờ, đừng có lề mề rồi lại chường máy móc ra lúc người ta đang chia cơm, bà ấy cầm cả cái đòn gánh đuổi thẳng cổ ra khỏi cổng ga đấy.
Thư buông đũa, vội vàng đón lấy mẩu giấy bằng cả hai tay, cẩn thận gập đôi lại:
— Dạ, cháu cảm ơn bác Thành nhiều lắm ạ. Cháu nhớ kỹ lời bác dặn rồi, cháu sẽ liên hệ trước và tuyệt đối tôn trọng giờ giấc bán hàng của bác Oanh ạ.
Ăn xong bát phở nóng, Thư đứng dậy rút tiền thanh toán sòng phẳng theo đúng giá niêm yết trên tường, nhất quyết không nhận lời mời miễn phí của ông Thành dù ông có ý xua tay xuề xòa bảo thôi coi như bác cháu quen biết. Cô thu dọn đồ đạc, kiểm tra lại giắc cắm trên ba lô, lễ phép chào ông lão và cậu phụ việc rồi bước ra chiếc bàn đá dưới bóng cây bàng trước cửa quán.
Thư rút chiếc điện thoại thông minh ra khỏi túi áo khoác. Tận dụng khoảng thời gian gần nửa tiếng trước khi chuyến tàu xuôi vào Vinh khởi hành, cô mở ứng dụng ghi chú, cẩn thận gõ lại toàn bộ những chi tiết thực tế vừa ghi nhận được vào màn hình: quy trình dùng hai nồi nước riêng biệt để giữ nhiệt độ sôi tối đa cho bát phở, cách sử dụng các mẩu giấy tái chế để chia đơn thủ công giữa nhịp chuyển tàu, âm thanh chiếc muôi nhôm gõ vào thành nồi, và sự va chạm gay gắt giữa nhịp sống vội vã của hành khách chuyển chuyến với dây chuyền làm việc khép kín của người đứng bếp.
Tuyệt nhiên, cô không ghi lại một chữ nào về suy đoán thính lực của ông Thành, cũng không gán ghép một câu chuyện bi thương nào về tuổi già neo đơn hay sự hy sinh thầm lặng bên đường ray. Cô đính kèm đoạn file ghi âm ngắn ngủi đã được cắt tỉa cẩn thận chỉ chứa lời giải thích chuyên môn của ông Thành, rồi nhấn nút gửi bản nháp đầu tiên về hộp thư điện tử của biên tập viên Nguyễn Thu Hạnh.
Chỉ năm phút sau, chiếc điện thoại trong lòng bàn tay rung lên bần bật.
Tin nhắn phản hồi của Thu Hạnh hiện ra trên màn hình, ngắn gọn, lạnh lùng và sắc bén như thường lệ:
*“Đã nhận bản nháp chặng Nam Định. Chi tiết về kỹ thuật giữ nóng nước dùng và quy trình kẹp phiếu thủ công rất tốt, âm thanh tiếng muôi gõ và nước sôi đạt yêu cầu hiện trường. Tôi đã chủ động gạch bỏ một câu nhận xét suy diễn của cô ở đoạn mở đầu về việc 'ông chủ quán dường như mang một nỗi mệt mỏi trĩu nặng của tuổi xế chiều sau từng nhịp chan phở'. Viết du ký thực địa thì hãy để hành động tự lên tiếng, đừng tự tiện làm bác sĩ tâm lý hay nhà đạo đức học cho nhân vật. Tiếp tục giữ kỷ luật này cho chặng ga Vinh.”*
Thư nhìn dòng chữ bị gạch bỏ mà Thu Hạnh gửi kèm trong tấm ảnh chụp màn hình, khẽ thở phào nhẹ nhõm. Lời nhắc nhở nghiêm khắc nhưng chuẩn xác của người biên tập viên một lần nữa kéo cô đứng vững vàng trên mặt đất của sự thật trần trụi. Nghề làm báo hay làm âm thanh, ranh giới giữa sự đồng cảm nhân văn và sự xâm phạm thô bạo đôi khi chỉ cách nhau một sợi tóc mong manh.
Thư cất điện thoại vào túi ngực, khoác lại chiếc ba lô nặng trịch lên vai rồi rảo bước quay trở lại sảnh chính của ga Nam Định. Sau khi mua xong chiếc vé tàu ghế cứng cho chuyến tàu chạy thẳng vào Vinh, cô tìm một chiếc ghế đá dài trong phòng đợi, mở danh bạ điện thoại và bấm gửi một tin nhắn ngắn gọn, lễ phép tới số máy của bà Oanh theo đúng thông tin mà ông Thành vừa trao:
*“Cháu chào bác Oanh ạ. Cháu là Thư, bạn của bác Hiên ở Hà Nội và bác Thành ở Nam Định giới thiệu. Cháu đang trên đường đi tàu vào ga Vinh để thực hiện bài viết về bữa cơm của người lao động quanh ga. Cháu xin phép trưa mai được ghé qua quán cơm của bác để quan sát và xin phép hỏi thăm bác đôi điều được không ạ?”*
Chiếc điện thoại trong tay Thư rung lên một tiếng khô khốc chỉ sau chưa đầy hai phút.
Thư mở màn hình lên xem. Tin nhắn phản hồi từ bà Oanh ở Vinh chỉ vỏn vẹn một dòng:
"Đến thì đến đúng mười một giờ trưa, không đón tiếp ngoài giờ bán cơm."