Chiếc ghế không dành cho máy
Sáng sớm trong con ngõ ẩm dẫn ra ga Hà Nội, Thư luồn qua hai dãy xe máy dựng sát mép tường, ôm khư khư chiếc balô chứa bộ máy thu âm cũ mượn từ ông Lộc, lòng đầy háo hức đón lấy thanh âm mở hàng đầu tiên của dự án bản đồ ẩm thực.
Gió đầu ngày thổi thốc từng đợt lành lạnh từ phía bãi dồn toa và những đường ray sâu hút vào lòng ngõ hẹp. Gió không chỉ mang hơi buốt của một buổi sớm lập đông chưa tan sương, mà còn kéo theo thứ mùi đặc trưng không thể nào trộn lẫn của khu ga xe lửa: mùi dầu diezen ngai ngái, nồng nặc bám trên từng thớ tà vẹt gỗ sũng nước; mùi gỉ sắt ẩm ướt bốc lên sau trận mưa phùn rả rích đêm qua; và thoang thoảng từ phía các khoảng sân sau là mùi khói than tổ ong nhóm sớm nồng cay sống mũi, quyện chặt lấy hương thơm ngậy của mỡ lợn phi hành hoa vừa sôi tới.
Hai bên vách tường vôi bong tróc từng mảng lớn, để lộ những hàng gạch chỉ đỏ sậm đã rêu phong, dán chi chít các biển quảng cáo khoan cắt bê tông, thông tắc bể phốt và những tờ rơi cho thuê phòng trọ theo ca đã ố vàng. Dưới chân tường, những chiếc xe số cũ kỹ—đa phần là xe Dream, Wave hay mớ xe thồ cà tàng của dân lao động quanh ga—được xếp nghiêng sát sạt vào nhau. Đuôi chiếc xe này chèn chặt vào ghi-đông chiếc xe kia, tạo thành một hàng rào kim loại sắc lạnh, chỉ chừa ra ở giữa một lối đi vừa vặn một sải chân người lớn.
Thư phải nép nghiêng người, bước từng bước thận trọng trên lớp gạch lát mòn nhẵn còn dính nước cống rãnh trơn trượt. Một tay cô giữ chặt quai chiếc balô vải thô trước ngực để tránh làm va quệt mớ thiết bị cồng kềnh, nặng trịch vào những chiếc gương chiếu hậu nứt vỡ hay những vành giỏ xe sắt hoen gỉ chĩa ra ngoài. Chiếc máy thu âm kỹ thuật số cầm tay đời cũ bên trong túi—thiết bị vỏ nhôm dày cộp, nặng như một viên gạch non mà ông Lộc đã săm soi, căn dặn hàng chục bận trước khi chịu gật đầu cho mượn—đang dằn từng nhịp chắc nịch lên xương ức cô theo từng bước chân.
Đồng hồ trên màn hình điện thoại điểm đúng sáu giờ kém mười lăm. Màn hình vẫn còn sáng dòng tin nhắn ngắn gọn mà Vũ Ngọc Mai, con gái bà Hiên, đã gửi cho cô từ chập tối muộn hôm qua:
*“Quán mở từ năm rưỡi để thổi cơm, sáu giờ bắt đầu có đồ nóng cho thợ ca đêm. Chị đến tầm đấy thì đứng gọn một bên xem, đừng đến muộn hơn kẻo đông không có chỗ lách chân.”*
Thư bước chậm lại khi nhìn thấy tấm biển tôn gỉ sét treo xiêu vẹo dưới mái hiên fibro xi-măng đã sứt sẹo mép: *Cơm bình dân Đèn Hiên*.
Cái tên quán không có đèn led nhấp nháy, cũng chẳng có lấy một tấm bạt in chữ vi tính mới mẻ. Biển hiệu chỉ là một tấm tôn mỏng cắt vuông vức, sơn lót màu xanh công nhân đã bong từng vệt dài, nổi lên mấy chữ quét bằng sơn đỏ đã bạc màu theo năm tháng. Quán là một gian nhà trệt cũ kỹ mở toang toàn bộ mặt tiền ra ngõ nhỏ. Một bóng đèn sợi đốt công suất lớn treo lủng lẳng từ trần nhà thấp tè bằng một sợi dây điện bọc vải đen đã sờn, hắt luồng ánh sáng vàng đục, ấm sực nhưng oi khói xuống nền gạch tàu đỏ thẫm loang lổ những vệt nước rửa sàn chưa kịp khô.
Không gian bên trong hẹp hơn rất nhiều so với những gì Thư đã hình dung khi ngồi chấm tọa độ trên bản đồ vệ tinh ở tòa soạn. Toàn bộ quán chỉ kê vỏn vẹn năm chiếc bàn gỗ thấp. Mặt bàn bằng gỗ tạp đã lên nước đen nhánh qua hàng chục năm tiếp xúc với mỡ gà, nước mắm và mồ hôi tay người; mép bàn nham nhở những vết dao khía dọc ngang cùng những vết tàn thuốc lá lụi dở cháy sém thành từng chấm đen sâu hoắm. Xung quanh mỗi bàn xếp bốn chiếc ghế đẩu gỗ con con, chân ghế được bọc cẩn thận bằng những mẩu cao su đen cắt ra từ săm xe đạp cũ, buộc túm bằng dây thép mạ kẽm để chống trượt trên mặt sàn gạch ướt.
Chiếm gần một phần ba diện tích của gian nhà là quầy chia thức ăn bằng inox đặt ngay sát cửa ra vào, án ngữ lối thông gió duy nhất của quán. Một chiếc nồi gang khổng lồ—loại nồi quân dụng sâu lòng có hai quai sắt to bằng ngón tay cái—đang ngùn ngụt bốc hơi trên một bệ bếp gas công nghiệp. Hơi nước từ lòng nồi cuộn lên từng luồng trắng đục, mù mịt như sương sớm ngoài đường ray, che khuất gần trọn khuôn mặt của người phụ nữ đang đứng xới cơm bên trong.
Dưới ánh đèn vàng ấm nóng, các khay nhôm chữ nhật xếp san sát nhau trên mặt quầy inox bắt đầu đầy dần thức ăn nóng hổi vừa được múc ra từ gian bếp phía sau. Khay thịt ba chỉ rang cháy cạnh vàng óng ánh tươm mỡ, những miếng thịt thái con chì săn lại, viền mỡ trong veo bám chặt lấy lớp nạc màu cánh gián; đĩa đậu phụ mơ tẩm hành hoa thơm ngậy, từng bìa đậu vàng ruộm lấm tấm hành lá xanh mướt ngâm trong lớp mỡ bóng loáng; khay cá nục kho sẫm màu nước hàng, từng khúc cá chắc nịch nằm ép mình bên những lát riềng già thái mỏng quắt quéo; và một âu men lớn đựng dưa cải muối chua vàng rực, điểm xuyết vài lát ớt chỉ thiên đỏ chót nổi bật giữa lớp nước muối dưa trong vắt.
Mai đang đứng sau quầy thức ăn, hai ống tay áo thun xắn cao quá khuỷu, mái tóc búi vội sau gáy bằng một chiếc kẹp càng cua nhựa màu đen. Đôi bàn tay cô thoăn thoắt xếp từng đôi đũa tre vót mộc vào những chiếc ống nhựa tròn màu đỏ, miệng lẩm nhẩm đếm số lượng. Nhìn thấy bóng Thư dừng lại trước bậu cửa với dáng vẻ ngập ngừng, chiếc balô to tướng chắn trước bụng, Mai ngẩng lên, khẽ gật đầu chào. Giọng Mai the thé, giòn tan nhưng mang theo cái dứt khoát quen thuộc của người lớn lên bên quầy hàng xô bồ: — Chị Thư đấy à? Vào đi, vào đi, đứng nép hẳn vào phía trong góc tường kẻo tí nữa còi ga hú là người ta tan ca ùa vào đông lắm, không có chỗ mà lách chân đâu. Mẹ em đang xào nốt mẻ rau muống cuối chảo đây.
Thư mỉm cười gật đầu cảm ơn, bước qua ngưỡng cửa xi măng đã mòn vẹt mép ngoài. Ngay khoảnh khắc đế giày thể thao của cô chạm xuống nền gạch tàu, một luồng âm thanh sống động, dày đặc và căng tràn lập tức ập thẳng vào thính giác của một người làm hậu kỳ âm thanh.
Đó là tiếng ngọn lửa gas công nghiệp khè mạnh dưới đáy chảo gang sâu lòng, tiếng gió bị nén lại tạo thành một dải âm trầm rền rĩ, liên tục rung bần bật trong lồng ngực. Đó là tiếng chiếc thìa nhôm lớn gõ lách cách vào mép khay khi Mai dàn đều thức ăn, tiếng nắp vung kim loại đậy sập xuống nồi nước hầm, và tiếng hơi nước réo sôi sùng sục trong cổ họng chiếc van an toàn của nồi áp suất ninh xương đặt sát chân tường.
Đối với Thư, đây không đơn thuần là âm thanh nấu nướng buổi sáng của một quán cơm bình dân nghèo nàn; đây là nhịp thở nguyên thủy nhất, trần trụi và mãnh liệt nhất của một góc phố ga trước giờ tàu chạy. Đó chính là thứ “không gian âm thanh” sống động mà chiếc micro định hướng của cô đang khao khát được nuốt trọn để làm chất liệu mở đầu cho tập phát thanh đầu tiên của dự án bản đồ âm thanh đường sắt.
Quá nôn nóng muốn bắt lấy dải âm thanh hoàn hảo của mẻ rau muống đang đảo trên lửa lớn—tiếng rít bén ngót khi những cọng rau tươi xanh mướt chạm vào lớp mỡ lợn nóng già, tiếng xèo xèo chuyển dần từ sắc nhọn sang trầm đục khi ngọn lửa xanh liếm láp quanh vành chảo gang—Thư hoàn toàn quên bẵng lời dặn đứng nép vào góc trong của Mai.
Trong tâm trí cô lúc này chỉ toàn là những biểu đồ sóng âm, những dải tần số từ 20Hz đến 20kHz mà cô đã cặm cụi phân tích suốt mấy tháng qua trên phần mềm dựng âm thanh ở cơ quan. Cô muốn một bản thu có chiều sâu: có tiếng lửa cháy ở dải trầm, tiếng mỡ nổ lách tách ở dải cao, và tiếng muôi sắt cạo vào lòng chảo ở dải trung, tất cả phải được thu trực tiếp với khoảng cách tối ưu để giữ trọn vẹn độ chân thực của không gian quán.
Thư đưa mắt nhìn quanh tìm một vị trí đặt máy lý tưởng. Năm chiếc bàn gỗ trong quán thì ba bàn đã có khách ngồi rải rác—những người đàn ông trung niên mặc áo khoác gió sờn rách, có lẽ là thợ sửa đường ray ca sớm hoặc những người lái xe ba gác đón hàng tàu đêm, đang cắm cúi húp từng thìa canh nóng hổi, không ai nói với ai một lời nào.
Chiếc bàn ở góc kẹt quá xa quầy, sóng âm sẽ bị dội lại từ vách tường ẩm mốc và lẫn tiếng quạt thông gió rệu rã. Chiếc bàn kê sát lối đi thì lại vướng hơi nước từ nồi cơm xông thẳng ra cửa, hơi ẩm đậm đặc có thể làm hỏng màng thu nhạy cảm của chiếc micro mượn.
Chỉ có chiếc bàn gỗ thấp đặt ở chính giữa quán là có góc bắt âm hoàn hảo nhất: khoảng cách vừa vặn ba mét tới bệ bếp của bà Hiên, hướng thu mở rộng, không bị góc tường chắn sóng âm, và trục micro sẽ chĩa thẳng vào miệng chiếc chảo gang mà không bị vướng bóng người qua lại. Trên chiếc bàn gỗ ấy, ba chiếc ghế đẩu đã có người ngồi ăn im lặng, chỉ còn duy nhất một chiếc ghế gỗ trống trơn nằm ở góc ngoài cùng, sát mép lối đi.
Không chần chừ thêm một giây nào, Thư thoăn thoắt bước tới. Cô nhấc chiếc balô nặng trĩu khỏi vai, đặt ịch nó lên mặt chiếc ghế gỗ duy nhất còn trống ấy. Động tác của cô nhanh nhẹn và dứt khoát như một thói quen tác nghiệp tại hiện trường. Kéo khóa balô thật nhanh, cô cẩn thận nhấc chiếc máy thu âm vỏ kim loại xám xịt ra ngoài. Các nút vặn chỉnh gain, công tắc nguồn gạt bằng đồng thau đã mòn lớp mạ, tất cả đều toát lên vẻ cơ khí chính xác của một thời kỳ phát thanh analog cũ kỹ.
Thư với tay lấy chiếc micro định hướng hình trụ dài gắn sẵn đầu bọc mút lọc gió màu xám, cắm giắc ba chân vào cổng canon ở cạnh sườn máy. Ngay khi ngón tay cô vừa siết nhẹ vào phần đầu nối kim loại, chiếc giắc cắm hơi lỏng phát ra một tiếng "cục" khô khốc, vang vọng rõ mồn một trong ống tai nghe kiểm âm mà cô đang đeo hờ một bên tai trái. Thư khẽ nhíu mày, dùng đầu ngón tay cái ấn chặt lại mối nối cho khít vào ngàm sắt rồi tạm gác mối bận tâm kỹ thuật ấy sang một bên. Cô xoay nhẹ cổ tay, hướng thẳng đầu thu kim loại về phía ngọn lửa đang bùng lên dưới chảo xào của bà Hiên, mắt dán chặt vào hai hàng đèn led báo mức tín hiệu âm thanh đang nhảy múa liên tục từ xanh lá sang vàng cam trên thân máy.
Đúng lúc ngọn lửa dưới đáy chảo gang bốc trùm lên thành chảo, kéo theo một cuộn khói trắng thơm ngào ngạt mùi tỏi đập dập và mỡ lợn phi giòn, thì một bóng người cao lớn bất thần chắn ngang luồng sáng từ chiếc bóng đèn sợi đốt treo trên trần.
Một vệt bóng tối sẫm màu, dày đặc và lạnh lẽo đổ ụp xuống mặt bàn gỗ, phủ kín lấy màn hình hiển thị của chiếc máy thu âm.
Thư chưa kịp ngẩng đầu lên thì một luồng mùi vị xa lạ, nồng nặc đã xộc thẳng vào mũi cô. Đó là mùi dầu bôi trơn máy móc khét lẹt, ngai ngái mùi mỡ bò công nghiệp trộn lẫn với mùi mồ hôi khô đọng lại qua đêm trên sợi vải thô, và một mùi tanh nồng của bụi gỉ sắt lạnh buốt.
Trần Văn Đức đứng sững ngay cạnh mép bàn, hai chân dang rộng một khoảng cách vững chãi của người quen đứng trụ trên các sàn kim loại rung lắc. Anh mặc một bộ quần áo bảo hộ lao động màu xanh công nhân đã bạc phếch ở hai đầu vai và khuỷu tay; những vệt mỡ máy đen nhánh quánh lại thành từng mảng cứng đờ bám dọc gấu quần và hai bên ống tay. Đôi găng tay sợi thô nhét vội trong túi quần bên hông thò ra ngoài một nửa, sợi chỉ đã xơ xác, lem nhem bụi than đá và bùn đất.
Dưới mái tóc cắt ngắn bết dính mồ hôi ép sát vào vầng trán nhăn lại, gương mặt Đức hốc hác, xương xẩu, để lộ hai gò má nhô cao sạm đen vì nắng gió và khói máy. Đôi mắt anh trũng sâu, viền mắt thâm quầng và đỏ ngầu những tia máu li ti của một người vừa thức trọn mười hai tiếng đồng hồ trong tầng hầm trạm biến áp và các phòng máy bơm làm mát của khu ga hàng hóa. Anh vừa hoàn thành ca trực đêm lúc năm giờ rưỡi sáng, sau khi ký xong biên bản bàn giao thiết bị dài dằng dặc thì lầm lũi đi bộ một mạch sang đây. Đôi chân mang đôi giày bảo hộ mũi thép nặng trĩu của anh dường như chỉ chực khuỵu xuống sau một đêm dài đứng liên tục trên mặt sàn bê tông lạnh buốt ngấm nước.
Đức nhìn chằm chằm vào chiếc ghế gỗ duy nhất còn lại ở chiếc bàn quen thuộc mà anh vẫn ngồi suốt ba năm qua sau mỗi ca đêm. Trên mặt ghế ấy, thay vì một chỗ để đặt cơ thể rã rời xuống nghỉ ngơi, lại là một chiếc balô vải dù phồng to tướng, bên trên cắm một cái máy đen sì tua tủa dây nhợ, đầu micro kim loại bọc mút xám chĩa thẳng lên trời như một thứ vũ khí kỳ quặc của dân thành thị.
Đức không nhìn cái máy ấy quá ba giây. Anh từ từ chuyển ánh mắt mệt mỏi, nặng trĩu nhưng lạnh tanh sang nhìn Thư. Khi anh cất tiếng, giọng anh khàn đặc, đục ngầu như có sạn trong cổ họng vì cả đêm phải hít thở bầu không khí ngột ngạt của buồng máy: — Cô dọn đồ cho tôi ngồi nhờ cái.
Lời nói ngắn gọn, cộc lốc, không hề có một chút cao giọng hay gắt gỏng, nhưng nó rơi xuống mặt bàn nặng trịch như một thanh sắt đặc bị ném mạnh xuống sàn xi măng.
Thư giật bắn mình, tim đập thót một cái trong lồng ngực. Ngón tay trỏ của cô đang đặt hờ trên núm xoay chỉnh âm lượng lập tức khựng lại giữa chừng. Nhìn thấy bộ quần áo lao động nhem nhuốc vệt dầu, đôi bàn tay đen đúa với những móng tay cáu bẩn và vẻ mặt cau có, lạnh lùng của người đàn ông lạ mặt, phản xạ tự vệ cố hữu của một người trẻ sống ở chốn văn phòng lập tức trỗi dậy. Sự lúng túng biến thành một tràng phân trần dài dòng, tuôn ra nhanh như một phản xạ tự động: — Ơ... dạ, anh ơi, anh đợi em một tí được không ạ? Em đang căn lại dải âm thanh một chút thôi ạ, cái máy này là dòng cơ đời cũ, mỗi lần tắt đi khởi động lại sẽ mất công đo lại mức tín hiệu nền từ đầu lâu lắm. Em đang làm dự án tài liệu du ký đường sắt cho chuyên mục phát thanh, chỉ xin ghi âm không gian buổi sáng của quán cơm ga một chút thôi, đúng hai phút đoạn bác Hiên xào rau muống này là em thu dọn ngay lập tức, anh thông cảm giúp em một tí với ạ...
Càng nói, Thư càng thấy giọng mình đuối dần, hơi thở gấp gáp, nhưng cơ miệng cô dường như không hãm lại được. Nỗi sợ bị gián đoạn một đoạn âm thanh đắt giá mà cô đã cất công dậy từ năm giờ sáng để săn lùng, cộng với thói quen giải thích rào đón bằng những thuật ngữ chuyên môn hoa mỹ, khiến cô tuôn ra hàng tràng chữ nghĩa mà bản thân cô cho là lịch sự và có học thức.
Nhưng những từ ngữ ấy, khi rơi vào đôi tai đang lùng bùng vì tiếng động cơ máy nổ và cái dạ dày đang cồn cào vì đói lả của một người thợ vừa cày cuốc qua đêm, thì chẳng khác nào tiếng ong vò vẽ quấy nhiễu sự kiên nhẫn cuối cùng.
Đức đứng trơ trơ như một bức tượng đồng đen bên mép bàn. Hai cánh tay anh buông thõng dọc theo đường chỉ quần bảo hộ, các cơ bắp trên mặt không hề giãn ra lấy một milimét nào. Đôi mắt đỏ ngầu nhìn xoáy vào Thư không chớp, sự lạnh lùng ban đầu chuyển dần thành một vẻ bực bội khô khốc, cạn kiệt mọi sự nhẫn nại: — Tôi không hỏi cô làm nghề gì, và tôi cũng chẳng có nhu cầu nghe cái dự án gì của cô cả. Tôi vừa hết ca mười hai tiếng ngoài hầm máy, cái chân tôi sắp gãy ra rồi, và tôi cần cái ghế này để ngồi ăn một bát cơm rồi về phòng trọ ngủ. Cô bỏ cái đống dây nhợ này ra cho tôi ngồi, hay là để tôi gạt thẳng nó xuống đất?
Không khí quanh chiếc bàn gỗ ở giữa quán đột ngột chùng xuống, quánh đặc lại như một khối mỡ nguội.
Mấy người khách ngồi cùng bàn—hai người lái xe ôm già đầu đội mũ cối và một thợ bốc xếp hàng hóa ngoài bãi dồn toa—đều đồng loạt dừng đũa giữa chừng. Một người trong số họ khẽ ngước mắt lên, liếc nhìn vẻ mặt căng thẳng của Đức rồi nhìn sang chiếc máy thu âm của Thư, sau đó khẽ lắc đầu ngao ngán, cắm cúi gắp nốt cọng rau muống trong đĩa của mình như muốn tránh xa khỏi một cuộc cãi vã vô nghĩa. Tiếng thìa muôi va lách cách trong quán bỗng nhiên ngưng bặt trong tích tắc, chỉ còn lại tiếng ngọn lửa gas của bà Hiên vẫn đang gầm gừ dưới đáy chảo gang.
Thư thấy mặt mình nóng bừng bừng như có ai vừa áp một thanh sắt nung đỏ vào má. Máu dồn lên hai vành tai buốt rát, miệng cô cứng đờ lại, không thể thốt ra thêm một lời nào để thanh minh.
Lời xin lỗi chưa kịp hình thành nơi đầu môi thì một tiếng "kịch" thật mạnh vang lên ngay bên cạnh mép bàn, làm rung cả chiếc ống đựng đũa tre bằng nhựa.
Một chiếc đĩa sứ sâu lòng màu trắng đục đã mòn vẹt men, bên trên đầy ắp một ngọn cơm trắng nóng hổi bốc khói nghi ngút, được đặt dằn dứt khoát xuống mặt bàn gỗ ngay trước khoảng trống của chiếc ghế đẩu. Phủ kín trên mặt cơm là những miếng thịt ba chỉ rang cháy cạnh vàng óng, mỡ tươm ra óng ánh quyện chặt lấy một gắp dưa cải muối chua vàng ruộm.
Bà Hiên đã xuất hiện từ sau màn hơi nước mịt mù tự lúc nào. Tay bà vẫn cầm chiếc khăn lau bàn ẩm ướt màu xám tro, chiếc tạp dề hoa đã ngả màu dầu mỡ thắt ngang vòng eo đậm đà làm lộ rõ vóc người chắc nịch, thô ráp của một người đàn bà đã nửa đời người đứng bán cơm cho phu xe và thợ ga. Gương mặt bà hằn sâu những nếp nhăn nơi khóe mắt và hai bên cánh mũi, nhưng đôi mắt thì sắc lẻm, sáng quắc. Giọng bà cất lên đanh thép, chắc nịch như tiếng chiếc muôi sắt gõ thẳng vào thành nồi gang: — Đức, ngồi thụp xuống ăn đi con! Cơm nhiều thịt, ít mỡ, đĩa dưa chua tao lấy đúng phần cuống giòn như mọi hôm đấy.
Dứt lời với người thợ máy, bà Hiên quay phắt sang phía Thư. Ánh mắt sắc sảo của bà chùng xuống thành một cái nhìn nghiêm khắc, lạnh lùng quét từ chiếc balô to tướng xuống mớ dây cáp và chiếc micro đang chĩa thẳng vào mặt bà: — Còn cô kia! Thu ngay cái đống đồ đạc lòng thòng này lại, nhét vào góc trong kia mà ngồi! Quán này mở ra từ năm giờ sáng là để cho người ta ăn bữa cơm lót dạ sau một đêm thức trắng làm lụng, không phải cái phòng thu âm hay cái chỗ để cô bày biện biểu diễn! Khách vào ăn cơm mà không có chỗ đặt cái mông xuống thì máy móc của cô có quý giá bằng vàng mười ở đây cũng phải dẹp hết! Một là ôm gọn đồ vào góc kẹt cạnh thùng đá kia mà ngồi yên, hai là xách máy móc ra ngoài đầu ngõ mà đứng thu gió thu mưa, nghe rõ chưa?
Từng câu, từng chữ của bà Hiên rơi xuống rành rọt, khô khốc và chuẩn xác như những nhát búa đóng đinh vào thanh tà vẹt. Không có một chút nhân nhượng, không có một kẽ hở nào cho sự đôi co hay giải thích.
Mai đứng bên quầy chia thức ăn cũng khẽ thở dài một tiếng, lắc lắc đầu đưa mắt nhìn Thư như một lời nhắc nhở không lời: *Đã bảo từ tối qua rồi mà không chịu nghe cơ.*
Cảm giác ngượng ngùng, xấu hổ và tủi thân trào dâng, nghẹn ứ nơi cổ họng Thư khiến mắt cô cay xè. Hai bàn tay cô luống cuống, run rẩy gạt vội công tắc nguồn của máy thu âm. Chiếc đèn led báo tín hiệu vụt tắt ngấm. Cô vội vã rút giắc cắm micro, quấn cuộn dây cáp một cách vụng về rồi nhét thốc tháo tất cả vào ngăn phụ của chiếc balô.
Trong lúc hoảng hốt nhấc chiếc túi nặng trịch ra khỏi mặt ghế gỗ để trả lại chỗ cho Đức, chốt khóa kim loại của giắc cắm lại va quẹt mạnh vào thành ghế gỗ phát ra một tiếng rít kim loại khô khốc. Tiếng động nhỏ nhoi ấy chỉ có Thư nghe thấy, nhưng nó như một cú tát gián tiếp vào lòng kiêu hãnh của một người làm nghề biên tập.
Thư ôm chặt chiếc balô nặng trịch trước ngực, hai vai co rúm lại, cúi gằm mặt xuống đất để né tránh những ánh nhìn tò mò của những người xung quanh. Cô lách nghiêng người qua khoảng hẹp chật chội giữa hai dãy bàn, dạt dần về phía góc trong cùng của gian nhà trệt.
Chỗ duy nhất còn lại cho cô là một khoảng trống tối tăm, ẩm thấp vừa vặn một người ngồi lọt thỏm. Đó là một góc kẹt bị kẹp chặt giữa một bên là bức tường vôi loang lổ mốc xanh bốc mùi ẩm ướt và một bên là chiếc thùng xốp màu xanh dương khổng lồ đựng đầy đá cây dùng để ướp trà đặc, hơi lạnh phả ra mù mịt quanh thân thùng. Dưới nền gạch ẩm, người ta vứt sẵn một chiếc ghế nhựa tròn màu đỏ con con—loại ghế nhựa rẻ tiền, cũ mòn mà các bà nội trợ hay dùng để ngồi xổm rửa bát ngoài sân giếng.
Thư lặng lẽ ngồi thụp xuống chiếc ghế nhựa thấp tè ấy. Chiếc ghế thấp đến mức hai đầu gối của cô gần như chạm sát vào cằm. Cô đặt chiếc balô to tướng lên đùi, hai cánh tay vòng qua ôm chặt lấy thân máy thu âm bằng kim loại đang tỏa ra một cảm giác lạnh ngắt qua lớp vải dù. Ngón tay cái của cô vẫn vô thức mân mê mối nối hơi lỏng lẻo của chiếc giắc cắm canon, trong lòng dấy lên một cảm giác chông chênh, hụt hẫng đến cùng cực.
Thế nhưng, từ chính góc kẹt chật hẹp, thấp bé và nhếch nhác này, toàn bộ không gian của quán cơm Đèn Hiên lại hiện ra trước mắt Thư một cách trọn vẹn, chân thực và sắc nét hơn bất cứ khung hình nào cô từng mường tượng trên những trang kịch bản du ký trau chuốt ở tòa soạn.
Không còn là góc nhìn bề trên của một người cầm thiết bị đi săn lùng những thanh âm "đậm chất thơ" hay "mang tính biểu tượng", mà là cái nhìn thấp bé, nép mình của một kẻ vừa bị tước bỏ cái đặc quyền tự cho mình là trung tâm. Ở góc nhìn sát mặt đất này, Thư buộc phải ngước lên để quan sát đời sống đang cuộn trào trước mặt.
Đức đã ngồi xuống chiếc ghế gỗ mà cô vừa chiếm dụng. Anh không buồn tháo đôi găng tay lao động nhem nhuốc ra khỏi túi quần, chỉ với tay rút lấy một đôi đũa tre mộc từ ống nhựa trên bàn. Anh dùng góc của một mảnh giấy ăn màu xám lau thật kỹ hai đầu đũa, sau đó cắm cúi và từng miếng cơm lớn vào miệng.
Động tác ăn của anh diễn ra nhanh, gọn gàng, dứt khoát và hoàn toàn chìm trong sự im lặng tuyệt đối. Từng miếng cơm đầy ắp thịt cháy cạnh và dưa chua được anh lùa vào miệng một cách vội vã nhưng đều đặn như nhịp piston của động cơ đầu máy. Giữa những miếng cơm nhai vội là một ngụm canh rau ngót nấu suông khói bốc nghi ngút được anh bưng cả bát sứ lên húp một hơi dài.
Khi hạt cơm nóng hổi và vị mặn mòi của nước thịt bắt đầu chạm vào dạ dày, Thư nhìn thấy đôi vai áo bảo hộ màu xanh bạc phếch của Đức khẽ chùng xuống một cách rõ rệt. Toàn bộ sự căng cứng, gân guốc của các thớ cơ sau một ca trực mười hai tiếng đồng hồ dường như chỉ bắt đầu tan biến vào khoảnh khắc ấy—khoảnh khắc cơ thể anh được tiếp nhận nguồn năng lượng sống cơ bản nhất.
Ở phía quầy chia thức ăn, nhịp điệu lao động của hai mẹ con bà Hiên diễn ra như một cỗ máy đã được bôi trơn hoàn hảo qua hàng chục năm vận hành dọc theo những chuyến tàu đêm. Không có lấy một động tác thừa, không có một lời nói hoa mỹ hay một khoảng ngập ngừng vô nghĩa.
— Hai mặn, một dưa, nhiều cơm nóng! — Mai cất tiếng gọi đều đều khi một tốp ba người thợ gác ghi ga tàu bước vào quán, chân họ vẫn còn mang những đôi ủng cao su màu đen lấm lem bùn đất và dầu mỡ.
— Có ngay đây! — Tiếng bà Hiên đáp lại gọn lỏn, sắc bén.
Chiếc muôi nhôm lớn trong tay bà cạo sột soạt vào lòng chiếc nồi gang sâu hoắm, xúc lên một vốc cơm đầy vun, trắng muốt, nghi ngút khói, trút cái "bộp" chuẩn xác vào giữa lòng đĩa sứ sâu lòng. Ngay lập tức, tay trái bà đưa đĩa cơm sang mặt quầy cho Mai, trong khi tay phải đã thoăn thoắt vung chiếc thìa dài múc hai muôi nước thịt kho sền sệt rưới đều lên mặt cơm trắng.
Mai đón lấy chiếc đĩa trong một tích tắc, tay kia gắp thoăn thoắt ba miếng thịt ba chỉ dày dặn, một thìa dưa cải muối chua, rồi đẩy chiếc đĩa trượt nhẹ trên mặt bàn inox láng bóng về phía người khách đang chìa hai bàn tay thô ráp ra đón lấy. Toàn bộ quy trình chia một suất cơm đầy đặn diễn ra trong chưa đầy mười lăm giây đồng hồ.
Khách vào quán mỗi lúc một đông hơn khi chiếc đồng hồ treo tường điểm sáu giờ mười lăm. Gian nhà trệt chật chội bắt đầu đặc quánh hơi người, hơi thức ăn và tiếng ồn ào của đời sống lao động. Họ hầu hết đều là những người vừa bước ra từ bóng tối của khu ga: thợ bảo trì đường ray với những vết chai sạn dày cộp trong lòng bàn tay, công nhân dồn toa với chiếc còi sắt đeo lủng lẳng trước ngực, nhân viên kiểm tra phanh gầm tàu lưng còng rạp vì cúi gập người suốt đêm, và những người thợ bốc dỡ hàng hóa ngoài bãi hàng với chiếc khăn mặt vắt ngang cổ.
Họ bước vào quán trong một trật tự quen thuộc đến kỳ lạ. Không ai cần ngước nhìn lên bảng giá, không ai hỏi hôm nay có món gì. Người này ăn xong, đứng dậy đặt chiếc ghế đẩu ngay ngắn lại vào mép bàn, rút từ túi áo ra những tờ tiền lẻ đã được vuốt phẳng phiu đặt lên mặt quầy thu ngân rồi lẳng lặng bước ra ngoài để nhường chỗ cho người kế tiếp đang đứng đợi bên bậu cửa.
Tiếng muôi nhôm cạo vào đáy nồi cơm gang rào rạo, tiếng thìa sắt va vào đĩa sứ lách cách, tiếng húp canh nóng soàn soạt, tiếng nhai cơm thô mộc và tiếng những chiếc đế giày bảo hộ nện lục cục trên nền gạch tàu ẩm ướt... Tất cả những âm thanh ấy không hề hỗn loạn mà đan cài, quấn quýt vào nhau thành một thứ trật tự sinh nhai bền bỉ, khép kín và tự nhiên như hơi thở.
Thư ngồi thu lu trong góc kẹt cạnh thùng nước đá, chiếc tai nghe kiểm âm vẫn đeo lủng lẳng một bên cổ áo, đầu dây cọ nhẹ vào xương quai xanh. Lúc này, tai cô không còn nghe qua màng lọc điện tử hay những con chip khuếch đại tín hiệu nữa, mà đang nghe trực tiếp bằng màng nhĩ trần trụi của mình.
Cô chợt nhận ra một sự thật cay đắng: những âm thanh này vốn dĩ chẳng cần một chiếc micro định hướng đắt tiền, một cỗ máy thu âm cơ học của ông Lộc hay một kịch bản du ký hoa mỹ nào để trở nên có ý nghĩa. Chúng có nghĩa tự thân, tròn vẹn và đầy sức nặng, bởi vì chúng phục vụ cho sự sinh tồn, cho sự hồi sức của những con người bằng xương bằng thịt sau một đêm dài lao động cực nhọc. Chiếc ghế gỗ khi nãy mà cô chiếm dụng để "làm nghệ thuật" thực chất là nơi một con người lao động cần ngồi xuống để nạp lại năng lượng sống trước khi đôi chân họ khuỵu xuống vì kiệt sức. Cô đã suýt nữa tước đoạt một điều thiết yếu chỉ để đổi lấy vài dải tần số đẹp đẽ trên màn hình máy tính.
Hơn bảy giờ sáng, dòng khách tan ca từ các bến bãi bắt đầu thưa dần. Ánh nắng sớm màu vàng nhạt bắt đầu xuyên qua lớp sương mù ẩm ướt và khói tàu của con ngõ nhỏ, chiếu những vệt sáng xiên khoai vào tận gian nhà trệt.
Chiếc nồi gang khổng lồ giờ chỉ còn trơ lại một lớp cơm cháy mỏng dính vàng ruộm dưới đáy. Mai bắt đầu gom những chiếc đĩa sứ bẩn xếp thành từng chồng cao ngất mang ra bồn rửa lộ thiên phía sau nhà, tiếng vòi nước chảy róc rách hòa lẫn tiếng chùi rửa bát đĩa rổn rảng vang lên đều đặn.
Đức là một trong những người khách cuối cùng còn nán lại ở chiếc bàn gỗ giữa quán. Anh đã ăn sạch bách đĩa cơm của mình, không để sót lại dù chỉ một hạt cơm trắng hay một mẩu dưa vụn; chiếc bát canh rau ngót cũng cạn trơ đáy. Anh đang ngồi ngả lưng vào mép bàn gỗ, hai chân duỗi thẳng ra phía trước, một tay cầm chiếc cốc thủy tinh mắt trâu đựng thứ nước chè xanh đặc quánh đã nguội ngắt. Đôi mắt thâm quầng của anh lim dim nhìn ra khoảng ngõ ngập nắng ngoài cửa, dáng vẻ uể oải nhưng các cơ bắp đã hoàn toàn thả lỏng.
Thư hít một hơi thật sâu, nén chặt cảm giác ngượng ngùng vẫn còn âm ỉ cào xé trong lồng ngực. Cô đặt chiếc balô cẩn thận xuống bên chân thùng đá, rút cuốn sổ tay bìa da màu nâu cùng chiếc bút bi cài sẵn bên mép áo khoác. Bước ra khỏi góc kẹt ẩm thấp, Thư chậm rãi tiến lại gần bàn của Đức. Cô dừng lại ở khoảng cách chừng một bước chân, giữ một tư thế chừng mực để không tạo cảm giác đường đột hay xâm phạm vào khoảng không gian nghỉ ngơi của anh: — Anh... anh Đức ơi.
Đức khẽ chớp mắt, đôi mi nặng trĩu từ từ nâng lên. Anh quay đầu lại nhìn cô gái trẻ. Ánh mắt anh lúc này đã bớt đi vẻ gay gắt, sắc lạnh của lúc sáng sớm, chỉ còn lại sự mệt mỏi tột cùng của một người mà cơn buồn ngủ dữ dội đang bắt đầu kéo đến sau khi cái bụng đã no nê: — Gì thế cô?
Thư khẽ cúi đầu, hai bàn tay đan chặt vào nhau trước bụng, giọng nói chân thành, rành rọt và không còn vương một chút rào đón hoa mỹ nào: — Dạ... lúc nãy em thực sự xin lỗi anh ạ. Em vô ý quá, chỉ mải nghĩ đến việc thu âm của mình mà không để ý thấy anh vừa trải qua một ca trực đêm vất vả như thế. Em làm phiền bữa ăn của anh, em thành thật xin lỗi anh nhiều lắm ạ.
Đức nhìn cô gái một thoáng. Khóe miệng sạm đen vì dầu mỡ của anh khẽ nhếch lên, một nụ cười khô khốc, mệt mỏi thoáng qua trên gương mặt góc cạnh: — Thôi, có gì đâu mà phải để bụng. Lúc nãy tôi đói lả người, chân lại đau nên đâm ra gắt gỏng đấy thôi. Đồ đạc máy móc của cô thu vội thế có bị va đập hỏng hóc gì không?
— Dạ không, máy móc của em vẫn bình thường ạ, — Thư thở phào nhẹ nhõm, tảng đá đè nặng trong ngực dường như vơi đi một nửa. Thấy thái độ của Đức đã cởi mở hơn, cô đánh bạo hỏi thêm một câu mà cô đã chuẩn bị sẵn trong đầu từ lúc ngồi ở góc thùng đá: — Anh Đức này... nếu anh không quá vội, em có thể xin anh một cuộc phỏng vấn ngắn chừng ba đến năm phút được không ạ? Em chỉ muốn hỏi một hai câu về thói quen ăn sáng sau ca trực đêm của anh em công nhân kỹ thuật ga thôi...
Đức nhìn Thư, rồi ánh mắt anh hạ xuống chiếc cốc chè xanh đã cạn đáy trên tay mình. Anh đặt chiếc cốc thủy tinh xuống mặt bàn gỗ phát "cộp" một tiếng dứt khoát, rồi lắc đầu chậm rãi: — Không cô ạ. Tôi chẳng có cái gì hay ho để nói cho cô phỏng vấn đâu.
Thấy Thư thoáng chút hụt hẫng, đôi mắt mở to ngơ ngác, Đức buông thêm một câu đùa tỉnh queo với chất giọng đặc sệt vẻ bàng quan, thô mộc của cánh thợ kỹ thuật: — Với lại, cái tiếng nhai cơm của tôi nó thô kệch lắm cô ơi, nhai rồm rộp chẳng khác gì cái máy nghiền sỏi ngoài bãi dồn toa ấy, có thu vào máy thì cũng chẳng có giá trị gì để cô phát lên đài hay đưa lên báo cho người ta nghe đâu. Thôi, để cái thời gian ấy cho tôi cuốc bộ về phòng trọ ngả lưng làm một giấc, chiều nay hai giờ tôi lại phải vào ca dồn toa đầu máy rồi.
Nói xong, Đức dứt khoát đứng dậy. Anh thò tay vào túi áo ngực lôi ra một tờ tiền hai mươi nghìn đồng đã nhàu nát, miết nhẹ cho phẳng rồi đặt ngay ngắn lên mặt bàn gỗ. Anh khẽ gật đầu chào Thư một cái rồi lững thững bước ra khỏi quán, đôi giày bảo hộ mũi thép nện từng bước nặng nề trên nền ngõ ẩm. Bóng lưng cao gầy, hơi còng của người thợ máy khuất dần sau khúc quanh đầy nắng của ngõ ga.
Thư đứng trơ trọi giữa gian quán đã vắng lặng, mắt nhìn chăm chú vào tờ tiền lẻ hai mươi nghìn nằm phẳng phiu trên mặt bàn gỗ sẫm màu. Lời từ chối của Đức không hề có ác ý hay sự cay nghiệt, nhưng nó thẳng thắn, sắc gọn và dứt khoát như một nhát cắt của chiếc kìm bấm cáp. Nó vạch ra một ranh giới rành rọt giữa những người làm nội dung truyền thông và đời sống thực tế của những con người đang ngày đêm bám lấy đường ray để mưu sinh. Họ không có nghĩa vụ phải biến sự nhọc nhằn, bữa ăn vội vã hay nhịp nhai thô kệch của mình thành một câu chuyện truyền cảm hứng để làm vừa lòng thính giả của bất kỳ ai.
— Ngồi xuống đây đi cô bé, đứng ngẩn tò te ra đấy làm cái gì nữa!
Tiếng bà Hiên từ sau quầy vang lên, kéo Thư giật mình quay lại. Bà đã cởi chiếc tạp dề hoa dính mỡ vắt lên lưng một chiếc ghế đẩu, tay bưng một chiếc ấm tích bằng nhôm nhỏ bọc trong giỏ mây ủ ấm. Bà đặt hai chiếc chén sứ hạt mít đã sứt sẹo vài miếng nhỏ ở miệng xuống mặt chiếc bàn gần quầy, rồi rót ra hai dòng nước chè xanh sóng sánh màu hổ phách, khói bốc nghi ngút.
Nồi niêu, chảo gang đều đã được dọn sạch sẽ, hơi nước mù mịt khi nãy đã tan hết, để lộ ra khoảng tường gạch phía sau quầy có dán một tờ lịch bóc đã quá nửa năm, mép giấy quăn queo vì hơi nóng của bếp lò.
Thư rụt rè kéo chiếc ghế đẩu—chính chiếc ghế mà Đức vừa ngồi khi nãy—ngồi xuống đối diện với bà Hiên. Cô đặt hai bàn tay ngay ngắn lên đầu gối, cuốn sổ tay bọc da vẫn khép chặt, không dám tùy tiện mở ra: — Cháu chào bác Hiên ạ. Lúc nãy cháu vụng về quá, làm ồn ào cả quán của bác...
Bà Hiên nâng chén chè lên sát mũi ngửi một hơi dài, nhấp một ngụm nhỏ rồi chép miệng đánh "khà" một tiếng khoan khoái: — Cái quán xá bình dân góc ga này thì lúc nào chả ồn ào xô bồ, lạ gì cái cảnh ấy. Nhưng mà cô phải hiểu, cái quán cơm Đèn Hiên này nó sống được, nuôi nổi cả gia đình tôi ba chục năm nay là nhờ vào đồng tiền của cánh thợ ga, cánh phu tàu. Người ta làm việc quần quật suốt mười hai tiếng đồng hồ trong đêm, dầm mưa dãi gió, hít toàn bụi than với dầu mỡ máy móc, sáng ra người rã rời như mượn, người ta chỉ mong bước vào đây có được một góc ngồi yên ổn, có bát cơm nóng đầy đặn, có miếng thịt mỡ dắt răng cho lại sức rồi về ngả lưng. Cô vác cả cái máy to như tảng đá đến chiếm mất chỗ ngồi của người ta, thằng Đức nó không hất cả cái máy xuống đất là nó còn hiền chán đấy.
— Vâng, cháu biết lỗi của cháu rồi ạ. Cháu cứ nông nổi nghĩ là mình đến sớm thì đứng đâu cũng được, không làm phiền đến ai...
— Biết nhận ra thế là còn có mắt nhìn đời, — Bà Hiên đặt chén nước chè xuống mặt bàn, ánh mắt sắc sảo nhìn chăm chú vào gương mặt còn vương nét mệt mỏi và đôi gò má ửng đỏ vì ngượng của Thư. — Con Mai tối qua nó có bảo với tôi là cô làm cái dự án bản đồ ẩm thực gì đấy men theo mấy tuyến đường tàu hỏa đúng không? Định đi tàu suốt một mạch từ đây vào tận miền trong à?
Thư nghe bà Hiên hỏi trúng việc thì mừng rỡ, vội vàng đáp lời: — Dạ đúng rồi bác ạ. Cháu làm chuyên mục âm thanh du ký đường sắt. Chặng đầu tiên của tuyến Bắc - Nam này cháu dự định đi từ Hà Nội xuống Nam Định, rồi sau đó mới đi tiếp vào Thanh Hóa, Nghệ An... Cháu nghe mấy anh chị kỳ cựu ở đài bảo là ngoài cổng ga Nam Định có quán phở của bác Thành, nấu phở bò theo lối truyền thống xưa ngon nổi tiếng lắm. Cháu nghe nói bác Thành là chỗ quen biết lâu năm của bác Hiên đúng không ạ? Bác... bác có thể cho cháu xin số điện thoại để cháu liên lạc với bác Thành được không bác?
Nói đoạn, Thư vội vã rút chiếc bút bi cài ở mép áo khoác ra, ngón tay run run chực chờ mở cuốn sổ tay, hy vọng một đầu mối quý giá từ lời giới thiệu của người trong nghề sẽ vớt vát lại được buổi sáng đầy rẫy va vấp này.
Thế nhưng, bà Hiên không hề đọc số ngay. Bà nhìn Thư, khóe môi khẽ trễ xuống, rồi bà chậm rãi lắc đầu: — Cô cứ cất ngay cái bút với cuốn sổ ấy vào túi đi đã. Chuyện xin số má của người quen không phải là cái thứ cứ mở mồm ra hỏi một câu là tôi đem ra tôi cho ngay đâu. Tôi với ông Thành biết nhau từ cái hồi hai đứa còn là chân lon ton xách nước sôi, rửa bát thuê ở căng tin ga Hàng Cỏ này từ thời bao cấp, mấy chục năm trời vào sinh ra tử bên đường ray chứ có phải người dưng nước lã qua đường đâu. Quán phở nhà ông ấy nằm ngay mép ga Nam Định, khách chuyển tàu Bắc - Nam vào ăn lúc nào cũng đông như nêm cối, mà tính ông ấy thì gắt gỏng, khó tính như ma ấy. Tự dưng tôi đem số điện thoại của bạn già tôi ném cho một cô phóng viên lạ hoắc lạ huơ từ trên trời rơi xuống để cô đến quấy rầy người ta, rồi để hôm sau ông ấy gọi điện mắng té tát vào mặt tôi à?
Thư bối rối, hai má lại nóng bừng lên: — Cháu... cháu không dám làm phiền bừa bãi đâu bác ơi. Cháu chỉ muốn xin phép bác Thành trước, hẹn giờ giấc đàng hoàng khi bác ấy rảnh rỗi thôi ạ...
Bà Hiên không buồn đáp lại lời phân trần sốt sắng của Thư. Bà quay người, với tay lấy chiếc điện thoại di động bàn phím bấm số cũ kỹ đặt ở góc tủ kính đựng đồ uống. Vỏ ngoài của chiếc điện thoại đã vỡ một góc, được quấn chằng chịt bằng mấy vòng băng dính đen cách điện. Bà Hiên kéo cặp kính lão gọng nhựa màu đồi mồi trễ xuống tận sống mũi, nheo một bên mắt, dùng ngón tay cái sần sùi cẩn thận bấm từng con số trên bàn phím cao su đã mòn hết cả chữ số. Xong xuôi, bà áp chiếc ống nghe dày cộp vào tai, mắt nhìn chăm chú ra phía con ngõ nhỏ.
Gian quán lúc này im ắng đến lạ lùng. Thư có thể nghe thấy rõ mồn một từng tiếng chuông "tút... tút..." dài và rè rè phát ra từ loa thoại chiếc điện thoại cổ lỗ của bà Hiên. Thư nín thở, hai vai bất giác rụt lại, những ngón tay bấu chặt vào mép bìa cuốn sổ tay bọc da.
Đầu dây bên kia bắt máy sau bốn hồi chuông kéo dài. Giữa tiếng ồn ào hỗn tạp của tiếng còi tàu hỏa rúc lên từng hồi từ xa và tiếng nước dùng sôi ùng ục, một giọng đàn ông trầm đục, hơi khàn nhưng sang sảng vang lên: — *Alo! Ai gọi đấy?*
— Thành à? Tôi, Hiên đây! — Bà Hiên lập tức cất cao giọng, nói như hét vào ống loa theo thói quen cố hữu của những người buôn bán quanh khu vực đường tàu ồn ào. — Đang bận dập bánh phở chuẩn bị đón chuyến tàu sáng à?... Ừ, tôi bảo cái này một tí nhé. Ở chỗ quán tôi đang có một con bé làm báo hay làm đài phát thanh gì trên Hà Nội này này, nó đang đi làm cái bài thu âm mấy quán xá quanh ga tàu hỏa. Nó bảo lát nữa nó lên chuyến tàu sáng xuôi xuống Nam Định, muốn ghé qua quán ông xem cách làm phở xưa với hỏi chuyện ông vài ba câu...
Đầu dây bên kia đột ngột im lặng một thoáng, rồi tiếng ông Thành càu nhàu, làu bàu điều gì đó nghe không rõ qua màng loa rè đặc.
Bà Hiên liếc mắt nhìn Thư một cái thật nhanh, rồi tiếp tục nói vào điện thoại, giọng nửa đùa nửa thật nhưng đầy ẩn ý: — Nó vừa bị thằng Đức thợ máy bên trạm bơm mắng cho một trận vì cái tội mang máy móc dây nhợ đến chiếm mất cái ghế ăn cơm ở quán tôi xong... Ừ, mặt mũi ngơ ngác trông tội nghiệp lắm, nhưng được cái trông cũng biết điều, chịu khó ngồi nép một xó cạnh thùng đá nghe chửi chứ không có cãi láo một câu nào... Thế ông có đồng ý cho nó số không để nó gọi hẹn trước? Nhớ là dặn nó hẹn giờ nào quán vắng tanh vắng ngắt thôi đấy nhé, chứ vào cái giờ cao điểm tàu hàng tàu khách vào ga mà nó vác cái đống máy móc ấy ra chường trước mặt là ông lại cầm muôi ông đuổi như xua tà cho mà xem!
Một tràng cười khùng khục, trầm đục của ông Thành vang lên từ đầu dây bên kia, tiếp theo là một tràng dặn dò ngắn gọn, dứt khoát của một ông chủ quán phở già khó tính.
Bà Hiên gật đầu lia lịa: — Rồi, tôi biết tính ông rồi, tôi sẽ dặn nó kỹ càng. Thế nhé, lo mà bán hàng đi, giữ gìn sức khỏe, hôm nào có chuyến tàu quen tôi gửi cho ít măng ớt ngâm quả móc mật vào cho mà ăn kèm.
Bà Hiên dập máy đánh "tạch" một cái dứt khoát. Bà tháo cặp kính lão nhét lại vào túi chiếc áo khoác mỏng, rồi với tay lên nóc tủ kính lấy một mẩu giấy xé ra từ tờ lịch cũ cùng một chiếc bút bi gai đã mòn ngòi. Đặt mẩu giấy lịch lên mặt bàn gỗ, bà nắn nót viết một dãy số điện thoại gồm mười chữ số bằng nét mực to tướng, ngoằn ngoèo, rồi đẩy mẩu giấy về phía Thư: — Số của ông Thành đây. Cầm lấy, nhưng phải nhớ cho kỹ từng lời tôi dặn: xuống đến ga Nam Định thì phải tìm chỗ đứng mà gọi điện thoại trước xem người ta có rảnh tay không. Lúc quán người ta đang đông khách ăn thì tuyệt đối cấm tiệt, không được chường cái mặt với cái đống máy móc dây dợ ấy ra trước cửa quán, kẻo ông ấy không thèm nói nhiều như thằng Đức đâu, ông ấy cầm cả cái muôi chan nước dùng đang sôi sùng sục đuổi thẳng cổ ra khỏi đường ray đấy! Lúc đấy thì đừng có vác xác quay về đây mà trách là tôi không dặn trước!
Thư vội vàng chìa cả hai tay ra đón lấy mẩu giấy lịch mỏng tanh, trân trọng kẹp nó vào ngay trang đầu tiên của cuốn sổ tay bìa da, ngay bên cạnh trang giấy trắng tinh mà cô đã chuẩn bị sẵn cho chặng đi Nam Định: — Cháu cảm ơn bác Hiên nhiều lắm ạ. Cháu nhớ kỹ lời bác dặn rồi, cháu nhất định sẽ gọi điện xin phép trước và tuyệt đối không làm phiền giờ bán hàng của bác Thành đâu ạ.
Bà Hiên xua xua bàn tay thô ráp, đứng dậy cầm chiếc khăn lau bàn tiếp tục miết mạnh lên mặt bàn gỗ đã khô ráo: — Thôi, cất đồ cất đạc vào mà lo ra ga cho kịp giờ tàu đi. Chuyến tàu sáng chạy xuôi Nam Định là đúng tám giờ kém mười lăm nó kéo còi đấy, đứng đấy mà lề mề thì lỡ tàu ráng chịu!
Rời khỏi quán cơm bình dân Đèn Hiên, Thư bước thoăn thoắt ra khỏi con ngõ nhỏ ẩm ướt. Không khí bên ngoài mặt đường lớn Lê Duẩn lúc này đã hoàn toàn bừng tỉnh, ngập tràn trong sự hối hả, náo nhiệt của giờ cao điểm sáng. Tiếng còi xe máy inh ỏi bóp liên hồi, tiếng xe buýt gầm rú xả khói mù mịt, tiếng người mua bán hàng rong í ới gọi nhau kéo Thư dứt khoát trở về với thực tại gấp gáp của một chuyến đi xa.
Cô rảo bước thật nhanh qua khoảng sân gạch rộng thênh thang trước cửa ga Hà Nội, hướng thẳng về phía sảnh chính của quầy bán vé. Đôi quai của chiếc balô chứa bộ máy thu âm cũ mượn từ ông Lộc lại đè nặng trịch lên hai bờ vai mảnh khảnh của cô. Bất giác, các đầu ngón tay của Thư chạm nhẹ vào ngăn phụ của chiếc balô qua lớp vải dù, nơi đặt đầu micro kim loại bọc mút lọc gió.
Cái giắc cắm canon dường như lại xộc xệch một chút sau cú va quẹt mạnh vào thành chiếc ghế đẩu ban nãy; cái chân tiếp xúc bằng đồng bên trong lỏng lẻo rõ rệt, phát ra một độ rơ cơ học rất nhỏ nhưng đáng ngại. Thư biết, trước khi thực sự bước vào những chặng đường trường nhiều rung lắc của toa tàu hỏa, cô bắt buộc phải tìm một người thợ kỹ thuật ở ga để kiểm tra và hàn chặt lại mối nối này, nếu không toàn bộ âm thanh thu được sẽ chỉ là những tiếng nổ lộp độp vô dụng.
Chiếc điện thoại trong túi áo khoác của cô bất chợt rung lên bần bật từng hồi dài.
Thư dừng chân lại ngay dưới bóng râm của chiếc cột đồng hồ lớn treo sừng sững trước mặt tiền nhà ga. Cô rút điện thoại ra xem. Đó là tin nhắn từ Nguyễn Thu Hạnh, biên tập viên kỳ cựu trực tiếp phụ trách dự án của cô ở tòa soạn, gửi kèm theo một bản ghi nhớ biên tập dài với những dòng chữ in hoa nghiêm ngặt:
*“Thư, chị duyệt đề cương chặng 1 từ Hà Nội đi Nam Định. Nhưng lưu ý quy chuẩn biên tập tuyệt đối cho toàn bộ loạt bài du ký âm thanh này: Mọi trích dẫn lời nói, âm thanh đối thoại đưa vào bản dựng đều phải có biên bản hoặc ghi âm chứng cứ đồng thuận rõ ràng của nhân vật. Ghi rõ ai cho phép nói gì, không ghi chung chung rằng quán đã đồng ý. Đoạn nào nhân vật yêu cầu không dùng thì dứt khoát phải cắt bỏ, không được tiếc tư liệu mà lách luật. Trễ hạn nộp bài thì trừ tiền nhuận bút, nhưng vi phạm ngữ cảnh và sự đồng thuận thì chị hủy toàn bộ hợp đồng chuyên mục. Lên tàu an toàn.”*
Thư đứng lặng dưới ánh nắng ban mai rực rỡ đang rọi xuống sân ga, đọc đi đọc lại từng dòng tin nhắn sắc bén của Hạnh.
Lời từ chối cộc lốc của anh thợ máy Trần Văn Đức về tiếng nhai cơm thô kệch, cái dằn đĩa cơm đanh thép của bà Hiên khi bảo vệ chỗ ngồi cho người lao động, và cuộc gọi điện thoại xác nhận nghiêm ngặt trước khi trao số liên lạc của ông chủ quán phở Nam Định... tất cả những chi tiết sống sượng của buổi sáng vừa qua bỗng nhiên hiện về mồn một, ăn khớp một cách kỳ lạ và chuẩn xác với từng quy chuẩn khắt khe trong bản ghi nhớ biên tập của tòa soạn. Nghề làm thanh âm không phải là việc giấu mình sau chiếc micro để thu trộm cuộc đời người khác, mà là sự đối diện trực tiếp và học cách tôn trọng ranh giới của họ.
Phía bên trong sân ga, tiếng loa phóng thanh bằng kim loại bất ngờ vang lên trầm đục, vang vọng khắp các ke ga báo hiệu chuyến tàu xuôi Nam Định chuẩn bị khởi hành, trong khi bản ghi nhớ biên tập đầu tiên của Thu Hạnh gửi qua điện thoại vẫn sáng trưng trên màn hình với yêu cầu: "Ghi rõ ai cho phép nói gì, không ghi chung chung rằng quán đã đồng ý".