Đò Qua Vô Danh — Phần 1: Bến Không Có Người ĐợiC.6 / 38
Chương 6

Mệnh Lệnh Giấu Kín

Ánh tàn lửa từ phi kiếm truyền thư vừa lụi tắt trên đầu ngón tay Lâm Chiêu, để lại một vệt muội than lạnh buốt cùng dòng mật lệnh màu chu sa đang dần phai nhạt vào thớ lụa vàng mỏng dính. Tàn tro không ấm; thứ lửa truyền tin của Huyền Đăng Môn rút sạch linh nhiệt của người phát lệnh lẫn kẻ tiếp nhận, chỉ để lại một lớp cặn xám nhờ nhợt bám chặt lấy da thịt như vảy cá chết.

Gió từ mặt sông Dạ Thủy thốc qua lỗ thủng trên vách gỗ chái kho, mang theo hơi nước tanh nồng của dòng nước âm trộn lẫn với mùi khét lẹt của dầu mỡ trâu cháy dở từ chiếc đèn đầu nghê đồng vừa vỡ nát. Lâm Chiêu đứng chôn chân giữa đống gạch vỡ và những mảnh gốm sắc nhọn vương vãi trên nền đất ẩm. Bàn tay nàng cầm dải lụa vàng khẽ run lên từng chặp, ngón tay cái vô thức miết mạnh vào mép lụa có viền chỉ bạc sắc cạnh. Từng con chữ viết bằng mực chu sa pha linh lực mang theo uy áp tuyệt đối của sư phụ Bạch Huyền như những chiếc dằm băng cắm thẳng vào thần thức nàng, buốt nhói:

*Áp giải người và vé bảo danh về thẳng tổng viện Lạc Châu lúc rạng đông... Không qua Hội Giữ Bến... Tiêu hủy toàn bộ chứng tích phát sinh... Kẻ nào cản trở, chém không tha.*

Không lập biên bản với Hội Giữ Bến. Không đối chiếu ba dấu theo Minh ước cổ.

Nàng lẩm nhẩm những điều cấm kỵ ấy trong tâm trí, lồng ngực như bị một khối chì ngàn cân đè nặng. Quy tắc giám sát của Huyền Đăng Môn từ ba trăm năm qua chưa từng có điều khoản nào cho phép một chấp pháp viên hành xử như thế này. Mọi biến dị dọc dòng Dạ Thủy, từ một chiếc bè trôi dạt mang theo oán khí cho đến những xác chết đuối không trôi về biển, đều phải có sự hiện diện của ba bên: người chèo đò cầm sổ bến, người đại diện của Hội Giữ Bến đóng dấu chì, và tu sĩ Chiếu Hồn ấn triện linh quang. Ba dấu cùng giáp lai mới thành một hồ sơ hoàn chỉnh lưu vào kho tàng thư.

Đó là cách tiên môn kiểm soát cái chết mà không biến cõi sống thành chốn hỗn mang. Nhưng dòng mật lệnh trên tay nàng lại xé toang toàn bộ trật tự đó. Đây không phải là quy trình giám sát thông thường. Đây là một cuộc thanh trừng âm thầm trong bóng tối, một vết dao rạch ngọt ngào và dứt khoát nhằm cắt đứt mọi manh mối trước khi bình minh kịp rọi sáng mặt sông.

Lâm Chiêu hít một hơi thật sâu. Luồng khí ẩm ướt, lạnh buốt của lòng sông cạn tràn vào phổi làm cay rát cuống họng nàng. Đôi mắt nàng dừng lại nơi chiếc phi tiêu hình lá liễu bằng huyền thiết xanh đang nằm im lìm trên nền đất nện, cách mũi giày nàng chừng ba tấc. Vết máu của chính nàng—rỉ ra khi nàng liều mình chụp lấy vũ khí của kẻ đột nhập cách đây ít khắc—đã bắt đầu khô se lại, sẫm màu như bã trầu trên ấn ký đóa sen nâng ngọn đèn ba ngọn lửa. Bằng chứng thép về sự can dự của Ty Phòng Vệ Nội Bộ nằm rành rành ở đó, sắc lẻm và lạnh lẽo, không thể chối cãi.

Ty Phòng Vệ Nội Bộ là thanh kiếm giấu trong tay áo của Bạch Huyền. Họ không ra ngoài tuần giang, không tham gia thanh tẩy chướng khí bến bãi, họ chỉ xuất hiện khi cần dọn dẹp những thứ “lệch chuẩn” bên trong chính môn phái.

Sư phụ nàng—người cả đời mặc áo bào trắng tinh khôi, người từng ngồi trên bồ đoàn giảng giải cho nàng suốt những đêm đông về đức hiếu sinh và sự cân bằng vĩnh cửu giữa cõi sáng và cõi chết, người từng tự tay đặt viên ngọc Chiếu Hồn vào lòng bàn tay nàng mười năm trước khi nàng vượt qua kỳ khảo hạch đồng tử—lại chính là người phái sát thủ đến tiêu hủy vệt muội đèn trên chiếc đầu nghê đồng. Và khi thủ đoạn ám sát bất thành, người lập tức ban một mật lệnh cưỡng chế tàn nhẫn đến bực này qua phi kiếm truyền thư.

Lâm Chiêu cắn chặt môi dưới, vị sắt tanh nồng nơi đầu lưỡi kéo nàng về với thực tại nghiệt ngã. Nàng khẽ đảo mắt nhìn quanh chái kho hoang tàn, rồi chậm rãi thò tay vào trong ống tay áo bên phải, rút ra một lọ sứ men trắng thon dài chỉ bằng ngón tay trỏ.

Đó là Linh Tức Tỏa Hồn Dầu.

Thứ linh dầu đặc chế tối mật này chỉ được lưu hành nội bộ trong các trạm nghiên cứu trung tâm và mật viện của Huyền Đăng Môn. Để áp giải một kẻ không có danh tính, không có bóng, toàn thân bốc ra tử khí Dạ Thủy đi qua quãng đường đê dài dằng dặc vào nội thành Lạc Châu mà không làm kinh động đến khí tức của dòng sông cạn, nàng buộc phải dùng loại dầu này. Quy trình ghi chép trong mật tịch của môn phái rất rõ ràng: quét dầu lên chín khiếu, chặn đứng mọi dòng chảy linh giác, sau đó dùng Khóa Cửu Khúc phong kín hồn phách gã lại thành một cái kén câm lặng. Khi ấy, kẻ bị khóa sẽ không còn là một con người, mà chỉ là một kiện hàng sống—không biết đau, không biết nhớ, không thể cất lời và tuyệt đối phục tùng.

Nàng dùng ngón cái gạt nhẹ chốt gỗ phong kín miệng lọ. Một tiếng *tách* rất khẽ vang lên.

Một làn hương kỳ lạ lập tức tràn ra, đặc quánh và ma mị. Nó vừa có vị ngọt lợ man mác của vỏ cây long não cổ thụ ngâm trong rượu đầu gấc, vừa có mùi trầm hương pha mỡ cá trắm đen ngai ngái chuyên dùng để bảo quản các hòm thẻ tre trong kho kín dưới lòng đất. Nhưng ẩn sâu dưới tầng hương thơm thanh nhã ấy, xộc thẳng vào khứu giác nàng, lại là mùi tanh lợm quen thuộc của một loại tủy thú biến tính—thứ chất dẫn ma quái có khả năng làm đông kết thần hồn sống trong nháy mắt.

Nàng vừa nhấc mũi chân qua ngạch cửa bằng gỗ lim đã mòn vẹt, ngăn cách giữa chái kho ẩm mốc và gian nhà chờ phía trước, thì một tiếng thét rách toang màn đêm bỗng vang lên.

Tiếng thét ấy kinh hoàng đến mức khiến những thanh xà gồ trên mái nhà chờ rung lên bần bật, rơm rạ mục rơi lả tả xuống sàn đất. Đó hoàn toàn không phải là tiếng thét của sự đau đớn thể xác thông thường, mà là tiếng gầm rú hoảng loạn tột độ của một sinh vật vừa nhận ra mùi của lò mổ, một nỗi kinh hoàng bị dồn nén từ cõi chết trồi lên bóp nghẹt lồng ngực.

Tại góc chiếc chõng tre ọp ẹp kê sát vách nứa của gian nhà chờ, Khách Vô Danh đột ngột bật dậy.

Cơ thể gầy gò, trơ xương của người thanh niên cong vút lên như một cánh cung bị kéo căng quá mức, các khớp xương ở cột sống và bả vai kêu răng rắc ghê người tựa hồ sắp gãy lìa. Đôi mắt gã trừng trừng nhìn vào khoảng không vô định, tròng trắng nổi cộm những tia máu đỏ lòm chằng chịt, trong khi đồng tử co rút lại chỉ còn bằng đầu mũi kim may áo.

Làn hương dầu mỡ cá trắm và tủy thú vừa lọt qua khe cửa, bay đến mép chõng tre, gã liền phát điên.

"Á... a... buông... không... cút đi! Đừng... đừng khóa!"

Gã thanh niên điên cuồng cào cấu vào cổ họng mình như muốn xé toạc khí quản để tống khứ mùi hương ấy ra ngoài. Mười đầu ngón tay khẳng khiu, tím tái quắp lại như móng vuốt chim ưng, cào xé rách toang cổ áo vải thô màu chàm đã bạc thếch. Dưới lớp áo rách, lồng ngực gầy guộc lộ ra với những chiếc xương sườn nhô cao, chằng chịt những vết sẹo cũ kỹ có hình thù kỳ dị—những vết sẹo thẳng thớm như được khắc bằng dao trổ của thợ làm thẻ tre.

Những chiếc móng tay sắc nhọn, đen đúa cắm sâu vào da thịt, cào rách từng vệt dài. Máu tươi rỉ ra ròng ròng, đỏ thẫm trên nền da trắng bệch, lạnh lẽo không có chút sắc ấm của người sống. Gã vừa gào thét vừa đập đầu chan chát vào vách nứa phía sau, hai gót chân trần đạp loạn xạ lên mặt chõng tre khiến những nan tre mỏng kêu kin kít rồi gãy gập từng thanh. Nước dãi pha bọt mép trắng xóa sùi ra nơi khóe miệng méo xệch. Cả người gã giật nảy lên từng chặp dữ dội, cơ bắp co rút từng cục dưới da tựa như có ngàn mũi kim vô hình đang đâm xuyên qua màng nhĩ, luồn lách vào tận não tủy để bóc tách từng sợi kinh mạch.

Bà Lê An đang bưng bát nước gừng nóng đứng cạnh mép chõng tre hoảng hốt lùi lại. Đôi bàn tay già nua run rẩy khiến chiếc bát sành tuột khỏi tay, rơi xuống đất vỡ toang thành ba mảnh, nước gừng cay nồng và xác gừng giã nhỏ văng tung tóe lên những nan tre gãy.

"Trời đất quỷ thần ơi! Cậu ấy... cậu ấy lại phát cơn rồi! Dạ ơi! Mau lên con, giữ cậu ấy lại không cậu ấy tự cào nát cổ mất thôi!"

"Đứng lùi lại mẹ!"

Từ ngưỡng cửa ngoài trông ra bến sông, một bóng người vạm vỡ lao vụt vào mang theo gió lạnh và hơi sương đêm. Trình Dạ vừa chạy vào đến nơi, nhìn thấy cảnh tượng hỗn loạn trước mắt thì sắc mặt anh đanh lại như sắt nguội.

Vạt áo tơi trên vai anh còn nhỏ nước tong tỏng, mu bàn tay trái hằn rõ vết bỏng rát do linh hỏa từ trận giao tranh vừa rồi với kẻ đột nhập, nhưng anh không thèm bận tâm. Những mảnh sành vỡ dưới chân kêu lạo xạo khi gót chân trần của người chèo đò giẫm qua, Trình Dạ chồm thẳng tới mép chõng, hai cánh tay cuồn cuộn gân guốc vươn ra ôm chặt lấy hai bả vai đang run bần bật của người thanh niên vô danh.

Anh dùng toàn bộ sức nặng của thân thể, ấn mạnh đầu gối lên mép chõng, đè nghiến gã xuống mặt dát tre đang rung bần bật.

"Tỉnh lại! Nhìn tôi này! Ngươi đang ở trên cạn, đang ở Bến Lau Tàn!" Trình Dạ gầm lên, giọng nói trầm hùng, sang sảng của người quen gào qua sóng to gió lớn cố gắng xuyên qua cơn hoảng loạn điên cuồng của kẻ dưới thân. "Không có thuyền ma nào hết! Không có nước cuốn! Tỉnh lại!"

Nhưng người khách dường như hoàn toàn điếc đặc trước mọi âm thanh của cõi sống.

Đôi tai gã có lẽ chỉ đang lắng nghe những tiếng gầm gào của vực sâu hay những tiếng tụng niệm kinh hồn nào đó từ ký ức. Cả cơ thể gã gồng cứng như một thanh củi khô, các cơ bắp căng cứng đến mức run rẩy kịch liệt. Bàn tay đẫm máu của gã quơ quào điên dại trong không trung, những chiếc móng tay sắc lẻm sượt qua gò má Trình Dạ, để lại hai vệt cào sâu hoắm, máu lập tức ứa ra chảy dài xuống cằm người chèo đò.

Gã thở dốc từng cơn đứt quãng, lồng ngực phập phồng dữ dội như một ống bễ rách của lò rèn làng chài. Ánh mắt dại dại, ngập tràn tơ máu của gã không nhìn Trình Dạ, mà găm trừng trừng qua vai anh, dán chặt vào bóng dáng áo trắng của Lâm Chiêu đang đứng sững ở ngưỡng cửa và lọ sứ men trắng nhỏ giọt khói mờ trên tay nàng. Trong đôi mắt ấy không chỉ có sự căm hận, mà là một nỗi kinh hoàng vượt quá mọi giới hạn chịu đựng của trí não con người—nỗi sợ của kẻ nhận ra chiếc thòng lọng quen thuộc từng siết cổ mình năm xưa.

"Tránh ra, Trình Dạ!"

Lâm Chiêu cất bước lao tới, tà áo trắng phần phật cuốn theo luồng gió lạnh. Ngón trỏ và ngón giữa tay trái nàng khép chặt, điểm ra một luồng linh quang màu tím sẫm lập lòe. Tay phải nàng giơ cao nút bấc tẩm dầu, giọng nàng gấp gáp, sắc lạnh như ra lệnh trên pháp trường:

"Khí tức Dạ Thủy trong người hắn đang xung đột dữ dội với tàn dư linh lực của sát thủ vừa rồi! Hắn đang tự hủy thức hải! Phải dùng Tỏa Hồn Dầu quét lên ấn đường và phong bế chín khiếu ngay lập tức, nếu không thần hồn hắn sẽ tự vỡ tan thành tro bụi trước khi trời sáng!"

"Không được chạm vào người anh ta!"

Trình Dạ gầm lên một tiếng vang động cả gian nhà chờ. Cánh tay phải rắn chắc như gỗ lim ngâm nước của người chèo đò vung mạnh ra, gạt phắt bàn tay mang linh quang của Lâm Chiêu sang một bên. Lực gạt mạnh đến mức làm tà áo rộng của nàng bay ngược lên, những đốm linh quang màu tím chao đảo rồi vỡ vụn thành những đốm lân tinh mờ nhạt.

Lâm Chiêu không hề lùi bước. Là một Chấp pháp viên được tôi luyện qua hàng trăm vụ án tà khí của Huyền Đăng Môn, nàng hiểu rõ cái giá của sự chần chừ. Nàng bước chéo một bước, bộ pháp vững vàng của tu sĩ Chiếu Hồn phóng ra, mượn thế trượt tới nhằm đẩy dạt Trình Dạ sang một bên để áp chế bệnh nhân đang lên cơn co giật.

"Ngươi không hiểu gì về thuật phong hồn cả! Để mặc hắn, hắn sẽ cắn lưỡi tự sát!" Lâm Chiêu quát, bàn tay nàng xoay chuyển uyển chuyển như một nhánh liễu rủ, điểm thẳng vào huyệt Kiên Tỉnh trên vai Trình Dạ nhằm làm tê liệt cánh tay đang cản trở nàng.

Trình Dạ nghiến răng, không thèm né tránh ngón tay nàng. Anh dùng thế trụ vững chãi của người lái đò đứng mũi chịu sào giữa dòng nước xiết, hạ thấp trọng tâm, vặn người dùng bờ vai dày cộm húc thẳng vào ngực Lâm Chiêu, đồng thời bàn tay thô ráp của anh chộp lấy cùi chỏ nàng, khóa chặt khớp xương bằng một đòn bẻ tay thực chiến của phường đò bến nước.

Hai người va chạm dữ dội trong khoảng không gian chật hẹp, ngột ngạt bên mép chõng tre. Gió từ sông Dạ Thủy lùa qua những nan nứa rách rưới thổi tắt ngọn đèn dầu lạc trên bàn con, chỉ còn lại ánh sáng ma quái hắt ra từ phù chú phòng hộ nơi vách kho. Trình Dạ gồng mình siết chặt cánh tay nàng, hơi thở anh nóng rực phả vào mặt Lâm Chiêu, trong khi nữ tu sĩ nghiến răng vận linh lực vào đầu ngón tay, mượn lực đẩy lực để giải thoát cổ tay mình khỏi gọng kìm sắt đá của người chèo đò.

Trong lúc giằng co kịch liệt, ống tay áo rộng thêu hoa văn sóng nước của Lâm Chiêu bị giật mạnh sang một bên.

Một cuộn lụa màu vàng nghệ, vốn được kẹp cẩn thận giữa những nếp gấp của xấp hộ thân phù trong ngực áo nàng, bị lực kéo làm tuột ra ngoài. Cuộn lụa rơi xoạch xuống nền đất nện ẩm ướt, trượt qua lớp rơm rạ mục nát rồi lăn tròn về phía chân Trình Dạ.

Trọng lượng của dải lụa rất nhẹ, nhưng tiếng rơi của nó trong khoảnh khắc tĩnh lặng nghẹt thở này lại tựa như một tiếng sét đánh ngang tai.

Dải lụa tự bung ra theo đà lăn.

Trên mặt lụa vàng óng ả, dòng chữ viết bằng mực chu sa pha linh lực vẫn còn lấp lánh ánh đỏ ma quái dưới ánh sáng tờ mờ của buổi rạng đông đang lấn dần bóng tối. Từng nét chữ sắc lẹm, cứng cỏi, mang theo sát khí sắc lạnh hiện lên rõ mồn một:

*...Ngay khi bình minh ló dạng, lập tức dùng Khóa Cửu Khúc cưỡng chế áp giải Khách Vô Danh cùng toàn bộ chứng tích tại Bến Lau Tàn về thẳng tổng viện Lạc Châu. Đình chỉ toàn bộ việc thẩm tra tại chỗ. Kẻ nào cản trở, coi như làm loạn chống lệnh tiên môn, chém không tha.*

Phía cuối dải lụa là thủ ấn tròn mang hình ngọn đèn hoa sen ba cánh của viện nghiên cứu trung tâm. Và ngay bên cạnh thủ ấn quen thuộc ấy, ngạo nghễ đè lên một góc dòng chữ chu sa, là một dấu triện phụ màu mực lam sẫm mang hoa văn những gợn sóng nước cuộn trào sắc nhọn—dấu ấn quyền lực tối thượng của riêng Viện trưởng Bạch Huyền.

Thời gian như ngưng đọng lại trong gian nhà chờ xập xệ của Bến Lau Tàn.

Tiếng thở dốc khò khè của người thanh niên trên chõng tre bỗng nhiên chùng xuống, trở thành một chuỗi âm thanh nghẹn ngào trong cổ họng. Gió ngoài sông dường như cũng ngừng thổi qua khe nứa.

Trình Dạ từ từ buông lỏng tay khỏi cùi chỏ Lâm Chiêu. Anh cúi gập người xuống, một bàn tay thô ráp vẫn đặt hờ trên lồng ngực đang phập phồng của Khách Vô Danh như một tấm khiên chắn vô hình, bàn tay kia vươn ra nhặt dải lụa vàng dưới đất lên.

Những ngón tay dính đầy muội than và vết xước của anh lướt qua từng thớ lụa mịn màng đắt tiền của chốn tiên môn. Đôi mắt Trình Dạ đảo qua từng nét chữ sắc như lưỡi dao cạo, lướt qua bốn chữ "chém không tha" đỏ rực như máu tươi, rồi đột ngột dừng trừng trừng vào triện ấn hoa văn sóng nước nơi góc lụa.

Ngực Trình Dạ thắt lại một cơn đau nhói buốt, buốt lạnh tựa như ai đó vừa nhét một tảng băng từ lòng sông Dạ Thủy vào tim anh.

Hoa văn sóng nước này...

Những đường khắc gãy góc ba tầng xoáy ngược, những nét uốn lượn ngầm mang hình dáng một con giao long đang nuốt trọn dòng nước... hoa văn này không xa lạ với anh. Nó hoàn toàn trùng khớp, từ góc nghiêng của đường lượn sóng cho đến vết khuyết nhỏ ở góc triện phía đông nam, với nét vẽ bí mật được giấu kín dưới lớp bồi bằng giấy dó của tấm hải đồ cổ mà cha anh, Trình Hoài, đã để lại trong đáy chiếc rương gỗ dâu rừng trước khi biến mất không tăm tích mười hai năm về trước!

Chiếc rương gỗ dâu rừng ấy Trình Dạ vẫn giữ dưới gầm giường, ngày nào cũng lau chùi, từng đường vân gỗ, từng dấu mực của cha anh đều đã khắc sâu vào xương tủy.

Trình Dạ từ từ ngẩng đầu lên.

Ánh mắt anh nhìn Lâm Chiêu giờ đây đã mất sạch vẻ dè dặt, cẩn trọng của một người chèo đò phàm trần đối diện với một tu sĩ tiên môn cao quý. Đôi mắt ấy giờ đây sâu hoắm, lạnh lẽo như đáy sông mùa cạn, sắc nhọn như mũi sào sắt và chứa chan một ngọn lửa căm hờn bị đè nén qua mười hai năm ròng rã bỗng chốc tìm thấy đích đến.

"Cưỡng chế áp giải?"

Trình Dạ gằn từng tiếng một. Âm thanh khô khốc rít qua kẽ răng anh như tiếng đá cuội cọ xát vào đáy thuyền nan.

"Đình chỉ toàn bộ việc thẩm tra tại chỗ? Kẻ nào cản trở... coi như làm loạn chống lệnh tiên môn, chém không tha?"

Lâm Chiêu đứng chết trân tại chỗ. Gương mặt thanh tú, sắc sảo của nàng dưới ánh sáng xám xịt của rạng đông trắng bệch ra, không còn lấy một giọt máu. Đôi môi nàng run rẩy. Nàng vô thức giơ tay ra phía trước như muốn thu lại dải lụa vàng, muốn che giấu vết nhơ vừa bị phơi bày ra ánh sáng, nhưng ngón tay nàng run lên bần bật rồi buông thõng xuống giữa không trung, bất lực và trần trụi.

"Trình Dạ... nghe ta nói... chuyện này..."

"Nghe cô nói cái gì?"

Trình Dạ bật cười. Đó là một nụ cười cay đắng, khàn đặc và gắt gao đến rợn người. Anh giơ dải lụa lên ngang tầm mắt nàng, năm ngón tay siết chặt lại khiến dải lụa vàng nhăn nhúm, biến dạng trong nắm tay gân guốc.

"Nghe cô nói về 'quy trình an toàn' của Huyền Đăng Môn sao? Nghe cô giảng giải về việc bảo vệ trật tự Dạ Thủy, về việc cân bằng âm dương cho bến bãi? Hóa ra từ đầu đến cuối, cô đứng ở đây, làm bộ cùng tôi lập biên bản, vờ giữ nguyên hiện trường chiếc đèn đầu nghê, vờ đối chiếu ba dấu độc lập theo luật lệ... tất cả chỉ là một màn kịch để kéo dài thời gian, chờ bức mật lệnh này bay đến thôi sao?"

"Không phải như vậy!" Lâm Chiêu run giọng cãi lại, lồng ngực nàng nghẹn ứ như có đá chặn ngang cuống họng. "Ta không hề biết trước nội dung bức thư này! Ta thề trên đạo tâm của mình, ta chỉ nhận lệnh đến điều tra dị biến dòng nước sau khi nhận được tín hiệu báo động từ bến đò—"

"Vậy cái này là cái quái gì?"

Trình Dạ bước tới một bước, dí thẳng dải lụa vàng vào trước ngực nàng, giọng nói anh trầm xuống nhưng nặng tựa ngàn cân đá giới cắm dưới lòng sông.

"Thu hồi cả người lẫn tấm vé của cha tôi mang đi trong bóng tối! Không qua Hội Giữ Bến, không lập biên bản bàn giao, tiêu hủy toàn bộ chứng tích phát sinh! Nếu đêm nay tôi ngoan ngoãn giao người cho cô, thì ngày mai khi mặt trời mọc, Bến Lau Tàn này sẽ bị khép vào tội tự ý giấu khách tà đạo, còn anh ta... anh ta sẽ biến mất như chưa từng trôi dạt vào bến đò này! Tấm vé mang tên cha tôi sẽ bị ném vào lò luyện đan, và sự thật về chuyến đò mười hai năm trước sẽ vĩnh viễn chìm sâu dưới bùn đen! Có đúng không?"

"Trình Dạ!" Lâm Chiêu cắn chặt môi đến mức bật máu, vị tanh mặn tràn ngập khoang miệng. Cảm giác nhục nhã, bẽ bàng và đau đớn xé toạc lòng kiêu hãnh của một đệ tử chân truyền tiên môn. "Huyền Đăng Môn không phải là lũ thổ phỉ giết người cướp của!"

"Các người còn tệ hơn cả thổ phỉ!"

Trình Dạ quát thẳng vào mặt nàng, từng lời từng chữ như búa tạ giáng xuống mặt đe, vang dội khắp gian nhà chờ xập xệ.

"Thổ phỉ trên sông chỉ cướp tiền bạc, cướp mạng sống của kẻ qua đò. Còn các người... các người cướp đi cái tên của người ta! Các người xé sổ bến, đốt vệt muội đèn, bôi xóa ký ức, rồi giờ đây muốn tước đoạt nốt chút chứng cứ vật chất cuối cùng để thế gian này vĩnh viễn không ai biết chuyện gì đã xảy ra trên dòng sông này mười hai năm trước! Kẻ vừa đột nhập mặc áo đen kia dùng phi tiêu của các người. Mùi dầu trên tay kẻ đó là mùi trầm hương lưu trữ hồ sơ của các người. Và bức lệnh chém giết này... cũng mang dấu ấn của người thầy mà cô luôn miệng xưng tụng là bậc chí tôn đức độ!"

Lâm Chiêu lảo đảo lùi lại nửa bước. Lưng nàng va mạnh vào chiếc cột nhà chờ bằng gỗ lim đã lên nước đen bóng. Cơn đau nơi bả vai không thấm tháp gì so với sự sụp đổ đang diễn ra dữ dội trong tâm khảm nàng.

Nàng không thể cãi lại một lời nào. Từng câu, từng chữ Trình Dạ thốt ra đều là sự thật trần trụi, nhức nhối và tàn nhẫn cào xé lương tri nàng. Chiếc phi tiêu lá liễu dính máu trong tay áo nàng như đang tỏa ra nhiệt lượng thiêu đốt da thịt, nhắc nhở nàng về sự hiện diện của một cỗ máy quyền lực lạnh lùng đang vận hành ngay sau lưng mình.

Nhưng điều thực sự bóp nghẹt trái tim Lâm Chiêu lúc này không phải là sự phẫn nộ cùng cực của người chèo đò trẻ tuổi.

Ánh mắt nàng run rẩy nhìn xuống chõng tre.

Khách Vô Danh lúc này dường như đã kiệt sức sau cơn quằn quại điên cuồng. Gã không còn sức để giãy giụa hay đập đầu vào vách nứa nữa, nhưng đôi mắt gã—đôi mắt trũng sâu hoắm, đục ngầu tơ máu—vẫn dán chặt vào chiếc lọ sứ đựng Tỏa Hồn Dầu đang nằm lăn lóc nơi góc chiếu rách. Toàn thân gã run rẩy từng cơn co giật nhỏ, hai hàm răng va vào nhau lập cập phát ra những tiếng kêu lách cách khô khốc, thảm hại như tiếng gõ của những khúc xương khô.

Đó không phải là phản ứng bản năng, mù quáng của một kẻ mất trí trước luồng linh lực lạ.

Đó là sự *nhận biết*. Một sự nhận biết khắc sâu vào tận tủy sống, vượt qua cả sự lãng quên của ký ức.

Gã nhận ra mùi dầu đèn đó. Gã nhận ra thứ mùi trầm hương ngai ngái pha tủy thú chết tiệt ấy. Trong sâu thẳm phần thức hải đã bị cào rách, bị băm vằn vện và niêm phong tầng tầng lớp lớp của gã, mùi hương này gắn liền với bóng tối lạnh lẽo của những căn hầm đá không có ánh mặt trời, với những sợi xích bằng huyền thiết khóa chặt cổ tay, và những bóng người khoác áo choàng trắng muốt, lạnh lùng cầm dao trổ bóc tách từng mảnh ký ức, từng cái tên ra khỏi thần hồn gã!

Một ký ức kinh hoàng từ sáu năm trước bỗng trồi lên trong tâm trí Lâm Chiêu, rõ nét và sống động đến mức làm nàng buồn nôn.

Đó là một đêm mùa đông buốt giá tại phân viện phía Tây thành Lạc Châu. Nàng khi ấy mới mười sáu tuổi, vừa bước chân vào cảnh giới Chiếu Hồn sơ kỳ, lòng tràn đầy nhiệt huyết và sự ngưỡng vọng đối với tiên môn. Đêm đó, sư phụ Bạch Huyền đã đích thân dẫn nàng bước xuống một căn phòng ngầm sâu ba trượng dưới lòng đất, đóng kín bằng ba tầng cửa sắt kiên cố khắc đầy phù chú cấm âm.

Trên chiếc bàn đá hoa cương lạnh ngắt ở giữa phòng là một người đàn ông trung niên xa lạ. Người đó cũng đang co giật, cũng đang dùng những ngón tay rớm máu cào rách lồng ngực mình trong tuyệt vọng y hệt như người thanh niên này. Khi ấy, sư phụ đã dịu dàng đưa cho nàng chính chiếc lọ sứ men trắng đựng Tỏa Hồn Dầu này. Người bảo nàng hãy quét dầu lên ấn đường và chín khiếu của người đàn ông để "giúp đối tượng ổn định dòng chảy linh thức đang bị ô nhiễm".

Khi nàng run rẩy nhìn thấy đôi mắt ngập tràn nỗi kinh hoàng tột độ của người đàn ông, khi nàng cất tiếng hỏi vì sao người đó lại đau đớn đến mức muốn tự cắn lưỡi như thế, sư phụ Bạch Huyền chỉ mỉm cười ôn hòa. Người đặt bàn tay ấm áp lên vai nàng, ánh mắt tràn đầy sự bao dung của một bậc trưởng bối:

*"Chiêu nhi, con phải hiểu rằng, có những đau đớn tạm thời là cần thiết để bảo toàn đại cục của cả vùng Dạ Thủy. Người này mang một cái tên quá nặng nề, một danh tính quá nguy hiểm cho sự bình yên của hàng vạn sinh linh trong lưu vực. Tước bỏ nó đi, giấu nó vào một vật chứa an toàn, người ấy sẽ được sống một cuộc đời mới, câm lặng nhưng an toàn tuyệt đối. Đó không phải là tước đoạt, đó là sự cứu rỗi cao nhất của Huyền Đăng Môn."*

Nàng đã tin lời người. Nàng đã tin vào "sự cứu rỗi" cao cả ấy. Nàng đã tự tay quét từng giọt dầu lạnh buốt lên trán người đàn ông, nhìn ánh sáng trong mắt người đó lịm dần, lịm dần cho đến khi chỉ còn lại một cái nhìn vô hồn, đờ đẫn như gỗ đá. Sau đó, nàng đã tự tay nắn nót ký tên mình vào bản báo cáo mật gửi lên viện nghiên cứu, dòng chữ ghi rõ ràng: *"Ca bảo danh hoàn tất tốt đẹp, đối tượng an định, không còn khả năng phát tán nhiễu động."*

Nàng chưa từng nghĩ rằng... nàng chưa từng dám nghĩ rằng cái gọi là "an định" ấy thực chất là một bản án tàn độc hơn cả cái chết! Nó biến một con người sống bằng xương bằng thịt thành một cái xác biết thở nhưng câm lặng vĩnh viễn, bị tước đoạt toàn bộ nhân chứng, bị cắt đứt mọi mối nối thiêng liêng với gia đình, quê hương và cõi trần!

Và giờ đây, người thanh niên không bóng này, với vết sẹo khóa chỉ mười hai năm trước trên cổ tay gầy guộc, đang nhìn nàng bằng chính ánh mắt tuyệt vọng, van lơn của người đàn ông dưới căn phòng ngầm năm xưa.

Bàn tay đang cầm lọ sứ của Lâm Chiêu run lên bần bật rồi rủ xuống. Nàng chùn tay.

Lọ sứ men trắng tuột khỏi kẽ tay nàng, rơi xuống lớp rơm rạ lót sàn nghe một tiếng *bịch* nhỏ khô khốc. Nắp bấc bật tung ra, một vệt dầu đen quánh, bốc khói mờ rỉ ra nền đất một giọt tròn trịa rồi ngưng bặt.

"Đừng... đừng quét... đừng xóa..."

Một giọng nói thì thào, khàn đặc như tiếng đá cọ vào cát vụn bỗng cất lên từ vòm họng rách nát của Khách Vô Danh.

Trình Dạ vội vàng nghiêng người cúi sát xuống, bàn tay anh ghì chặt lấy bả vai run rẩy của gã: "Anh nói gì? Có nghe tôi nói không? Nhìn tôi này!"

Người thanh niên không nhìn Trình Dạ. Đôi mắt gã dại đi, chìm sâu vào một cơn sốt mê sảng dữ dội. Vầng trán gã nóng hổi như than hồng mới gắp ra khỏi lò, từ chân tóc bốc lên một làn khói sương mỏng manh, nhạt nhòa của linh hồn đang bị thiêu đốt. Mi mắt gã rung giật liên hồi, hai bàn tay đẫm máu quờ quạng trong không khí mù mịt, cố gắng bấu víu vào một thứ gì đó vô hình đang trôi nổi trong hư vô.

"Sau Miếu..." Gã rên rỉ, hơi thở ngắt quãng thành từng tiếng nấc nghẹn ngào trong lồng ngực. "Sau Miếu... nước dâng cao quá... họ xé... họ xé sổ rồi..."

Trình Dạ sững sờ, tim anh đập thình thịch: "Sau Miếu? Cái gì Sau Miếu? Ở đâu?"

"Sổ hộ tịch... không còn tên... mười bảy hộ... làng Sau Miếu..." Hai dòng lệ đục ngầu, vàng quánh từ khóe mắt gã ứa ra, hòa lẫn với những vệt máu khô trên gò má hốc hác, chảy dài xuống cổ. "Đừng gọi... gọi đò không ai nghe đâu... chùa gãy nóc rồi... Sau Miếu chìm rồi... đừng xé nữa mà... tha cho chúng tôi..."

Những từ ngữ rời rạc, méo mó, thốt ra trong cơn mê sảng tột cùng ấy như những mũi khoan sắc nhọn cắm thẳng vào không gian tĩnh lặng của Bến Lau Tàn.

Bà Lê An đang đứng nép bên cạnh cột nhà chờ, khi nghe thấy hai chữ "Sau Miếu" thốt ra từ miệng gã thanh niên, hai bàn tay già nua bỗng bưng chặt lấy miệng. Đôi mắt bà mở to bàng hoàng, sắc mặt tái mét không còn một giọt máu, tựa hồ vừa nghe thấy một lời nguyền rủa kinh thiên động địa nào đó từ nấm mồ quá khứ đội mồ sống dậy.

"Hắn đang bị phản phệ thần hồn!"

Lâm Chiêu giật mình bừng tỉnh khỏi cơn bàng hoàng. Nàng bước giật lùi lại nửa bước rồi lập tức quỳ thụp xuống bên cạnh chõng tre. Nàng không hề liếc nhìn lọ Tỏa Hồn Dầu dưới đất nữa, cũng không thò tay vào tay áo để rút chiếc Khóa Cửu Khúc bằng đồng đen ra.

Nàng khép hai ngón tay trỏ và giữa lại. Một luồng ánh sáng màu tím nhạt, thanh khiết, êm dịu và tuyệt nhiên không mang theo chút sát khí hay uy áp cưỡng chế nào bừng sáng nơi đầu ngón tay nàng.

*Chiếu Hồn Thuật.* Thuật pháp căn bản nhất, thuần khiết nhất mà nàng học được từ những ngày đầu nhập môn—thứ thuật pháp dùng để soi sáng và lắng nghe linh hồn, chứ không phải để giam cầm hay bóp nghẹt nó.

Trình Dạ thấy nàng giơ tay định chạm vào trán người khách, theo bản năng anh giơ cánh tay hộ thân ra định ngăn cản. Nhưng khi nhìn thấy ánh mắt kiên định xen lẫn sự đau xót tột cùng trong đôi mắt ngấn lệ của nàng, cánh tay người chèo đò khựng lại giữa chừng trong không trung.

Lâm Chiêu nhẹ nhàng, cẩn trọng đặt đầu ngón tay đang tỏa ra linh quang màu tím nhạt lên huyệt Thiên Linh trên đỉnh đầu Khách Vô Danh.

Linh lực của nàng như một dải lụa mỏng manh, mềm mại len lỏi qua lớp da đầu nóng rẫy, thẩm thấu qua các khe xương sọ, nhẹ nhàng hòa nhập vào tầng sâu nhất của thức hải người thanh niên.

Khoảnh khắc thần thức của nàng chạm vào cõi vô hình bên trong tâm trí gã, Lâm Chiêu run rẩy thốt lên một tiếng nghẹn ngào, toàn thân nàng chấn động dữ dội.

Trước mắt nàng trong cõi tâm linh không phải là một thức hải phẳng lặng hay một dòng sông ký ức êm đềm như người bình thường.

Đó là một vùng bình nguyên tan hoang, cháy rụi và ngập tràn những mảnh vỡ ký ức sắc nhọn như mảnh sành, mảnh gốm vỡ vụn. Thần hồn của gã thanh niên này đã bị tổn thương đến mức độ rợn người, vượt xa mọi hình dung của nàng về một vết thương linh thức.

Toàn bộ các nhánh dây nối liên kết danh tính—những sợi tơ linh hồn thiêng liêng nhất giúp một con người nhận biết mình là ai, cha mẹ mình là ai, quê hương mình ở đâu, cái tên của mình phát âm như thế nào—đều đã bị một thủ pháp tàn bạo, chuẩn xác và lạnh lùng cắt đứt tận gốc rễ. Những vết cắt ấy không phải do thời gian làm mòn vẹt. Chúng nham nhở, đứt đoạn, để lại những khối u linh lực đen kịt đang rỉ ra thứ độc dịch tinh thần ghê tởm.

Và điều kinh hoàng nhất, điều làm cho linh hồn Lâm Chiêu lạnh toát từ đỉnh đầu xuống gót chân, chính là việc nàng nhận ra nguồn gốc của những khối u đen kịt đó.

Chúng không phải do tử khí hay oán khí của dòng sông Dạ Thủy ăn mòn.

Chúng mang dấu vết phù văn niêm phong độc môn của chính Huyền Đăng Môn!

Từng đường phù văn hình hoa sen ngược, từng móc xích linh lực khóa chặt các khiếu huyệt... tất cả đều là thủ pháp cao cấp của Viện Nghiên Cứu Linh Thức. Những khối u ấy bị kích động, sưng tấy và bùng phát cơn co giật hủy diệt này ngay trong đêm nay, chính là vì chúng cảm nhận được khí tức của quy trình niêm phong mới—thứ quy trình dùng Tỏa Hồn Dầu và Khóa Cửu Khúc mà môn phái nàng luôn tự hào rao giảng là chuẩn mực an toàn cao nhất của thế gian!

Quy trình đó sinh ra không phải để chữa trị hay cứu vớt nạn nhân.

Nó được thiết kế ra một cách tinh vi để cưỡng ép bịt miệng những vết thương tâm thức chưa lành, để đóng băng sự đau đớn và trí nhớ của nạn nhân lại trong một chiếc kén vô cảm, nhằm ngăn không cho họ nhớ ra bất kỳ điều gì, cho đến khi cái vỏ thân xác mục rỗng hoàn toàn theo năm tháng và mang bí mật vùi sâu xuống mồ!

"Trời ơi..."

Lâm Chiêu rút tay lại như vừa chạm phải thanh sắt nung đỏ trong lò rèn. Nàng thở hổn hển, lồng ngực phập phồng dữ dội, cả người run lẩy bẩy như vừa bước ra khỏi một cơn ác mộng kinh hoàng. Ánh sáng tím trên đầu ngón tay nàng tắt ngấm. Nàng ngước nhìn Trình Dạ, trong đôi mắt trong veo, kiêu hãnh của nữ tu sĩ Chiếu Hồn giờ đây ngập tràn những giọt nước mắt lăn dài trên má.

"Sao rồi?" Trình Dạ hỏi, giọng anh đã bớt đi vẻ gay gắt, thù địch ban nãy, thay vào đó là sự căng thẳng tột độ của một người đang đứng trước bờ vực sinh tử.

"Hắn... hắn không thể chịu thêm một lần niêm phong nào nữa..." Lâm Chiêu nghẹn ngào, giọng nàng run bắn lên từng chặp, vỡ vụn ra trong gió lạnh. "Nếu ta dùng Tỏa Hồn Dầu và Khóa Cửu Khúc của sư phụ để trói hắn lại như trong mật lệnh... thần hồn hắn sẽ vỡ vụn ngay khi đò qua khỏi mốc đá giới của bến sông. Hắn sẽ chết... không, hắn sẽ biến thành một khối thịt thối rữa không còn chút ý thức nào trước khi cỗ xe chở hắn tới được cổng thành Lạc Châu."

Trình Dạ im lặng nhìn sâu vào mắt nàng.

Trong ánh sáng xám xịt của buổi sớm mai đang tràn qua khung cửa liếp, anh nhìn thấy trong đáy mắt người thiếu nữ xuất thân danh môn ấy sự đổ vỡ hoàn toàn của một đức tin. Niềm tin vào sư môn tôn quý, vào người thầy mẫu mực, vào những giáo điều cao đẹp về trật tự và sự sống mà nàng đã dốc trọn tuổi thanh xuân để tôn thờ... tất cả đã vỡ vụn tan tành ngay trong đêm nay, bên cạnh chiếc chõng tre ọp ẹp của bến đò nghèo nàn này.

"Vậy cô định làm gì?" Trình Dạ hỏi, giọng anh trầm xuống, bình thản đến lạ lùng nhưng ẩn chứa sức nặng của một phán quyết. "Chém tôi, trói anh ta lại mang đi nộp mạng để bảo toàn danh phận đệ tử chân truyền, hay làm theo lời người thầy của cô?"

Gió ngoài sông Dạ Thủy lại rít lên một hồi dài qua rặng lau tàn xác xơ ven bờ. Xa xa nơi chân trời phía đông, màn đêm đen đặc như mực bắt đầu rạn nứt ra một vệt sáng màu xám tro nhờ nhợt.

Canh năm đã điểm. Tiếng chuông nước âm treo dưới chân cột mốc bến đò bắt đầu buông từng tiếng *boong... boong...* trầm đục, báo hiệu dòng nước lạnh lẽo của cõi âm đang từ từ rút xuống lòng sông cạn, nhường chỗ cho dòng nước của cõi dương. Một đêm kinh hoàng đầy máu và lửa sắp sửa khép lại.

Bình minh đang đến gần. Và cùng với ánh sáng ban ngày rạng rỡ sẽ là thời hạn chót mà mật lệnh của Bạch Huyền đòi hỏi sự phục tùng tuyệt đối: giải người về tổng viện trước khi mặt trời lên.

Lâm Chiêu nhìn dải lụa vàng mang dòng chữ chu sa khát máu đang nằm dưới chân Trình Dạ. Nàng nhìn chiếc phi tiêu hình lá liễu dính máu của Ty Phòng Vệ Nội Bộ. Rồi nàng quay sang nhìn Khách Vô Danh—người vẫn đang mê man thở dốc trên chõng tre, hai cánh môi nứt nẻ run rẩy lặp đi lặp lại hai chữ "Sau Miếu" như một lời nguyền rủa ai oán từ quá khứ mười hai năm trước dội về.

Nàng hít một hơi thật sâu. Lồng ngực nàng căng lên, đôi vai mảnh khảnh khẽ run rẩy rồi từ từ thẳng lại, vững chãi và kiên định.

Khi nàng ngẩng đầu lên nhìn thẳng vào mắt Trình Dạ, vẻ hoang mang, sợ hãi và bẽ bàng ban nãy đã hoàn toàn biến mất. Thế chỗ vào đó là sự lạnh lùng, dứt khoát của một người đã tự tay chém đứt xiềng xích của chính mình, đưa ra lựa chọn sinh tử mà không màng đến đường lui.

Lâm Chiêu cúi người nhặt dải lụa vàng lên. Nàng không dùng linh hỏa thiêu hủy nó như thói quen tiêu hủy mật thư của môn phái. Nàng cẩn thận cuộn chặt nó lại, nhét sâu vào trong lớp áo lót bên ngực trái, áp sát vào lồng ngực đang đập liên hồi của mình.

"Mật lệnh này... ta chưa từng nhận được," Lâm Chiêu nói, từng lời rành rọt, đanh thép như đinh đóng vào cột gỗ lim.

Trình Dạ thoáng ngỡ ngàng, đôi mày rậm của anh khẽ nhướng lên nhìn nàng.

"Phi kiếm truyền thư bị chướng khí của Dạ Thủy đánh lạc hướng, rơi xuống lòng sông cạn và đã bị dòng nước âm cuốn trôi mất," Lâm Chiêu tiếp tục, giọng nàng đều đặn, ánh mắt nàng nhìn thẳng vào mắt Trình Dạ không hề có một tia né tránh. "Ta sẽ dùng tư cách Chấp pháp viên Chiếu Hồn độc lập của Huyền Đăng Môn, tuyên bố hiện trường Bến Lau Tàn xuất hiện biến dị tà khí chưa rõ nguồn gốc ở cấp độ nghiêm trọng, cần phải kéo dài thời gian phong tỏa để bảo toàn nguyên trạng mọi vật chứng độc lập."

"Cô biết làm vậy đồng nghĩa với việc gì không?" Trình Dạ trầm giọng hỏi, ánh mắt anh nhìn nàng đầy phức tạp. "Chống lệnh Bạch Huyền... cô sẽ bị Ty Phòng Vệ Nội Bộ coi là kẻ phản bội. Cô sẽ không còn đường quay về tổng viện Lạc Châu nữa đâu."

"Ta biết," Lâm Chiêu khẽ cười. Đó là một nụ cười nhợt nhạt, mệt mỏi nhưng lại nhẹ nhõm vô cùng, tựa như nàng vừa trút bỏ được một chiếc gông cùm ngàn cân đã đeo trên cổ suốt mười năm qua. "Nhưng nếu ta áp giải hắn về đó trong bóng tối, nếu ta tự tay phong bế thức hải của hắn để dâng nộp cho sư phụ... ta sẽ không còn là một tu sĩ nữa. Ta sẽ chỉ là một tên đao phủ đê hèn, tiếp tay cho những kẻ giấu mặt xóa sổ sinh mạng và ký ức của con người. Môn phái từng dạy ta rằng trật tự thế gian được xây dựng trên sự thật và công lý, chứ không phải trên những nấm mồ vô danh bị cào bằng."

Nàng cúi xuống, nhặt chiếc nút bấc đậy chặt miệng lọ Tỏa Hồn Dầu lại. Không chút do dự, nàng ném mạnh chiếc lọ sứ men trắng vào góc kho tối tăm, ẩm mốc nhất, mặc cho nó lăn lóc giữa đống rác rưởi.

Sau đó, nàng thò tay vào chiếc túi gấm thêu bên hông, lấy ra một gói bột thảo dược màu nâu nhạt bọc trong giấy dầu. Nàng mở gói thuốc, cẩn thận rắc lớp bột mịn lên vầng trán nóng bỏng và những vết cào rách rưới trên cổ họng của Khách Vô Danh:

"Đây là bột rễ ngải cứu tuyết pha sương mai thu hoạch trên đỉnh Yên Sơn. Nó chỉ có tác dụng an thần, thanh nhiệt và làm dịu kinh mạch, tuyệt đối không tổn hại đến linh thức của hắn. Chúng ta không thể giao hắn cho bất kỳ ai vào lúc này, dù là người của Huyền Đăng Môn hay quan lại Lạc Châu. Lời hắn vừa nói trong cơn mê sảng... 'Sau Miếu'... anh có biết đó là nơi nào không?"

Trình Dạ lắc đầu, ánh mắt đăm chiêu nhìn ra màn sương sớm ngoài bến đò:

"Từ nhỏ đến lớn, tôi theo cha chèo đò dọc ngang khắp các bến nước của sông Dạ Thủy, thuộc từng bãi bồi, từng khúc quanh, nhưng chưa từng nghe thấy cái tên này trên bất kỳ tấm bản đồ hay tuyến đò nào của họ Trình. Nhưng mẹ tôi..."

Anh quay đầu sang nhìn bà Lê An.

Bà cụ lúc này sắc mặt vẫn còn tái mét như tàu lá chuối, đứng nép sau cánh cửa liếp, hai bàn tay gầy guộc chắp chặt trước ngực vẫn chưa hết run rẩy. Nhận thấy ánh mắt của con trai và nữ tu sĩ áo trắng đang đổ dồn về phía mình, bà nuốt khan một ngụm nước bọt, giọng nghẹn ngào, run rẩy cất lên:

"Sau Miếu... đó không phải là tên một ngôi làng có trên giấy tờ bến đò đâu các con ơi. Mười hai năm trước... đúng cái năm cha con mất tích... trước cái đêm định mệnh ấy chừng vài tuần, ông ấy đi đò đêm về, ngồi uống rượu bên bếp lửa từng lẩm bẩm nhắc đến một ngôi làng nhỏ nằm kẹp giữa dải đê cũ và nhánh sông chết phía thượng nguồn Lạc Châu..."

Bà Lê An bước lại gần mép chõng tre, ánh mắt xót xa nhìn người thanh niên đang dần thiếp đi dưới tác dụng của ngải cứu tuyết:

"Nơi đó ngày xưa có một ngôi miếu Thành Hoàng cổ bị bỏ hoang từ thời tiền triều, rêu phong phủ kín, người quanh vùng đi làm ruộng, đi đánh cá cứ quen miệng gọi chòm xóm ven sông ấy là làng Sau Miếu. Ở đó chỉ có chừng mười mấy nóc nhà nghèo khó, sống bằng nghề đan lưới và cào hến. Nhưng rồi... sau trận lụt lớn kinh hoàng năm đó, nước sông Dạ Thủy dâng ngập trắng bờ đê, chẳng còn ai nhắc đến cái tên Sau Miếu nữa. Quan trên thành Lạc Châu về kiểm tra, bảo rằng nơi đó đất cát bạc màu, ngập lụt hiểm trở, dân làng đã dắt díu nhau bỏ đi biệt xứ từ lâu rồi..."

"Không phải bỏ đi," Trình Dạ siết chặt nắm tay lại, các khớp xương ngón tay kêu răng rắc ghê người.

Ánh mắt anh rực lửa nhìn dải lụa vàng trong ngực áo Lâm Chiêu:

"Họ không hề bỏ đi! Họ đã bị xóa sổ hoàn toàn! Bị xé khỏi sổ bến, bị gạch tên khỏi sổ hộ tịch, bị xóa sạch sự tồn tại trên cõi đời này, giống hệt như những trang sổ bến bị rách chỉ khâu trong chiếc rương gỗ dâu rừng của cha con! Mười hai năm trước, cha con đã chở ai trên chuyến đò định mệnh đó? Có phải ông ấy đã cố gắng cứu những người cuối cùng của làng Sau Miếu hay không?"

"Muốn biết sự thật, chúng ta phải tìm ra dấu tích của làng Sau Miếu đó trên thực tế," Lâm Chiêu quả quyết nói.

Nàng đứng thẳng dậy, đưa tay chỉnh lại vạt áo trắng đã lấm lem bùn đất và muội than đen nhẻm. Khí chất sắc sảo của một Chấp pháp viên lại hiện rõ trên gương mặt nàng, nhưng lần này nó không phục vụ cho mệnh lệnh của môn phái, mà phục vụ cho chính lương tri của nàng:

"Toàn bộ vật chứng ở Bến Lau Tàn này phải được giữ nguyên vẹn và niêm phong độc lập. Chiếc đèn đầu nghê bằng đồng với vệt muội cá trắm này, sợi dây đò ba tao với các nút thắt ngược kỳ lạ của cha anh, và cả tấm vé bảo danh mang thủ ấn rỉ máu chưa khô này nữa... Chúng ta sẽ không giao nộp bất cứ thứ gì trong bóng tối cho đến khi chúng ta tự mình tìm ra chân tướng về những gì đã diễn ra mười hai năm trước!"

Một liên minh bất đắc dĩ, kỳ lạ và mong manh giữa hai con người thuộc hai thế giới hoàn toàn đối nghịch—một bên là người chèo đò phàm trần quanh năm gắn bó với sóng nước bùn lầy của Bến Lau Tàn, một bên là nữ tu Chiếu Hồn xuất thân từ tiên môn quyền uy tối thượng—vừa được hình thành ngay giữa lúc ranh giới giữa đêm đen và ngày mới đang giao thoa. Họ gắn kết với nhau không phải bằng môn quy hay khế ước, mà bằng chính sự thật tàn khốc và lương tri không chịu khuất phục trước bóng tối.

Đúng lúc đó, từ phía con đường đê đất đỏ dẫn từ thành Lạc Châu quanh co xuống bến đò, một chuỗi âm thanh gấp gáp, hỗn loạn phá vỡ bầu không khí tĩnh lặng của buổi sớm mai.

Tiếng thở hồng hộc như bò kéo cày giữa trưa hè oi ả.

Tiếng guốc mộc nện thình thịch, trượt dài trên lớp bùn nhão nhoét sau cơn mưa đêm. Tiếng cành lau sậy ven đường bị gạt gãy kêu răng rắc liên hồi.

"Dạ ơi! Trình Dạ! Cứu... cứu tao với!"

Cánh cửa liếp của nhà chờ bị đẩy bật ra một cách thô bạo.

Phạm Lục hớt hải chạy từ thành Lạc Châu xuống bến trong bộ dạng lấm lem bùn đất, tay ôm chặt một xấp sổ thuế bị cấm lưu hành.

Chương này thế nào?Đánh giá giúp Readeep đề xuất đúng hơn cho bạn