Đò Qua Vô Danh — Phần 1: Bến Không Có Người ĐợiC.5 / 38
Chương 5

Kẻ Trộm Dầu Đèn

Tiếng gốm vỡ sắc lẹm xé toạc sự tĩnh mịch của Bến Lau Tàn giữa canh hai, kéo theo mùi dầu hôi nồng nặc bốc lên từ chái kho sau.

Đó tuyệt nhiên không phải mùi dầu cá trắm đen ngâm rễ ngải cứu phơi khô qua bảy lượt nắng giòn—thứ hương liệu quen thuộc đã thấm đẫm vào từng thớ gỗ, từng sợi dây lanh và từng nếp áo của người chèo đò nơi bến nước này qua bao đời. Mùi hương mộc mạc ấy vốn ấm nồng, ngai ngái vị thảo mộc khô cùng chút tanh nồng đặc trưng của mỡ cá sông sâu, thứ mùi mà người giữ bến chỉ cần ngửi thoáng qua trong gió đêm cũng biết con đò đã đi về cõi thực hay còn chới với giữa đôi bờ sống chết.

Thứ mùi đang xộc thẳng vào cánh mũi Trình Dạ lúc này là một luồng khí nồng nặc, cay gắt đến buốt óc. Đó là mùi nhựa thông sống chưa qua chưng cất, còn sặc sụa vị chát đắng của vỏ cây rỉ mủ, hòa lẫn với hắc ín quánh đặc và mỡ trâu thối rữa bị om nhiệt lâu ngày trong những vò đất nung kín miệng. Thứ dầu tạp chất bẩn thỉu ấy chỉ có một công dụng duy nhất: tẩy rửa lớp muội than bám trên các bức vách đá hầm ngầm, hoặc dùng để un khói xua đuổi lũ thủy quái nhớp nhúa rình rập dưới các cửa cống xả nước thải của Đập Khóa Mạch.

Mùi dầu lạ vừa chạm vào khứu giác, sống lưng Trình Dạ lập tức lạnh toát như có một tảng băng vừa áp thẳng vào da thịt. Máu nóng từ lồng ngực dồn ngược lên hai bên thái dương, đập thình thịch từng hồi gấp gáp.

Anh không kịp lau khô bàn tay còn ướt sũng nước sông và đang rỉ máu tươi nơi vết rạch cắt nợ bảo chứng vừa mới đông miệng. Lớp bùn nhão bên mố đá dưới chân kêu lên một tiếng lép bép khi gót chân anh đạp mạnh xuống, mượn phản lực lao vụt lên triền đê hoang vắng như một con thú săn mồi vừa đánh hơi thấy hiểm họa đe dọa hang ổ của mình giữa đêm đen.

Mái chái kho sau nằm nép mình dưới chân dốc đê, nơi góc khuất của rặng lau già quanh năm xào xạc. Gian kho được dựng bằng những tấm ván gỗ dâu rừng xẻ thô, qua mấy mươi mùa nước lũ ngập tràn đã mủn mục, xơ xác và chuyển sang màu xám xịt của tro tàn. Cánh cửa liếp đan bằng nứa tép chỉ cài hờ một then tre thô sơ đã lên nước bóng loáng vì bàn tay người đóng mở.

Thế nhưng lúc này, chiếc then tre ấy đã bị bẻ gãy ngọt xớt làm đôi. Hai mẩu tre gãy dập vắt vẻo trên sợi dây gai đứt đoạn, đung đưa qua lại theo từng cơn gió lùa từ lòng sông quất lên. Qua khe cửa mở toang hoác, bóng tối quánh đặc thường ngày của gian kho như bị khuấy đảo bởi một luồng u khí màu tro xám lượn lờ hình xoắn ốc, tỏa ra hơi lạnh ngắt tựa như luồng gió thổi ra từ một ngôi mộ cổ vừa bị cuốc xẻng bới tung.

Trình Dạ không hề giảm tốc độ, anh tung một cú đạp sấm sét hất tung cánh liếp nứa sang hai bên, cả người lao thẳng vào trong.

Bên trong gian kho, ngay cạnh chiếc bàn kê bằng đá phiến xanh—nơi đặt ba món vật chứng của chuyến đò đêm qua vừa được lập biên bản kiểm kê cách đây chưa đầy một nén nhang—một bóng người gầy guộc khoác chiếc áo choàng đen tuyền đang đứng sừng sững.

Kẻ đột nhập không có khuôn mặt rõ ràng. Toàn thân hắn được bao bọc kín kẽ bởi một tầng khói xám nhờ nhờ, dập dờn và méo mó tựa như một chiếc bóng in trên mặt nước bị gợn sóng đánh tan. Tà áo choàng của hắn như hòa quyện vào những mảng tối của góc kho, đường nét thân thể lúc ẩn lúc hiện, khiến người ta không thể xác định được bờ vai hắn rộng hay hẹp, vóc người hắn cao hay thấp.

Đó là thuật Giấu Bóng—một bí pháp tà dị chuyên mượn bóng đêm để hòa tan khí tức và hình hài người sống, biến một kẻ bằng xương bằng thịt thành một vệt mực câm nín, vô thanh vô ảnh giữa hư vô.

Kẻ bịt mặt không hề đoái hoài đến chiếc rương gỗ lim đang mở nắp đựng cuốn sổ bến đóng bằng da cá đuối ngâm muối. Hắn cũng chẳng buồn liếc mắt nhìn sợi dây đò ba tao thắt nút ngược của Trình Hoài đang nằm cuộn tròn im lìm trên mặt đá phiến.

Mọi sự chú ý của hắn lúc này dồn trọn vào món đồ thứ ba.

Đôi bàn tay đeo găng da màu xám tro của kẻ đột nhập đang siết chặt lấy nửa mảnh bình gốm vỡ sắc nhọn hoắt. Từ mép gốm lởm chởm, một dòng dầu đen đặc quánh, sủi những bọt khí tanh tưởi và bốc khói cay sè đang dốc ngược xuống, nhắm thẳng vào họng chiếc đèn dẫn bằng đồng hun hình đầu nghê đặt ở trung tâm phiến đá!

Hắn muốn dội thứ dầu tạp chất bẩn thỉu đó vào ngọn đèn!

Đồng tử Trình Dạ co rút lại thành hai điểm nhọn hoắt. Một cơn ớn lạnh chạy dọc từ gáy xuống tận đốt sống cùng khi anh nhận ra mưu đồ tàn độc, chuẩn xác và lạnh lùng đến ghê người của kẻ đứng sau tấm màn nhung.

Kẻ tước danh dù có nắm giữ cấm thuật thông thiên triệt địa, dù có quyền lực khuynh đảo cả một vùng Lạc Châu rộng lớn đến đâu đi chăng nữa, cũng không thể chỉ ngồi trong mật thất xa xôi vung tay áo một cái mà xóa sạch quá khứ.

Trời đất này vốn có quy củ sắt đá của nó, và dòng Dạ Thủy cũng có đạo lý nghìn năm của riêng dòng nước chết: thế gian không bao giờ tự sửa lại quá khứ nếu các chứng tích vật chất độc lập vẫn còn tồn tại nguyên vẹn giữa cõi thực. Một cái tên có thể bị xóa khỏi sổ hộ tịch, một ký ức có thể bị bôi đen trong tâm trí người thân, nhưng một chuyến đò đã rẽ sóng chở người qua sông thì những dấu vết vật lý mà nó để lại trên trần thế không thể tự nhiên biến mất.

Muốn xóa sạch một chuyến đò không được phép xảy ra, kẻ thủ ác bắt buộc phải dùng chính đôi bàn tay bằng xương bằng thịt của mình, bước vào cõi thực, chạm trực tiếp vào từng vật chứng độc lập để hủy hoại chúng!

Ngọn đèn đầu nghê bằng đồng hun kia chính là cái gai nhọn nhất trong mắt chúng.

Đêm qua, chính ngọn đèn này đã cùng Trình Dạ vượt qua những đợt sóng âm cuồn cuộn tử khí của Dạ Thủy, soi rọi lối đi để đón một người sống không bóng giữa lòng sông chết. Trong suốt hành trình hiểm nguy ấy, sự xung đột kịch liệt giữa sinh tức ấm nóng của Khách Vô Danh và tử khí lạnh buốt của dòng sông đã nung chín bấc đèn. Ngọn lửa cháy từ dầu cá trắm ngải cứu đã để lại một ngấn muội dầu màu xám tro pha ánh tím cháy ráng bám chặt trên cổ chiếc đầu nghê bằng đồng.

Ngấn muội dầu cháy ráng ấy là dấu vết vật lý độc nhất vô nhị. Nó là bằng chứng không thể ngụy tạo, chứng minh một cách đanh thép rằng ngọn đèn đã thực sự bùng cháy ngay giữa lằn ranh mỏng manh ngăn cách sự sống và cái chết, chứng minh ngọn lửa đã soi rọi và che chở cho một con người bằng xương bằng thịt vượt qua làn ranh ấy.

Chỉ cần dòng dầu tạp chất chứa đầy nhựa thông và hắc ín kia tràn vào họng đèn, chạm tới bấc đèn, lớp muội dầu nguyên bản sẽ lập tức bị hòa tan và phân hủy. Cấu trúc tinh khiết của dầu cá trắm ngải cứu sẽ bị biến chất vĩnh viễn. Dấu tích vật chất thứ hai chứng minh cho sự tồn tại của chuyến cứu mạng đêm qua sẽ tan thành mây khói, biến chuyến đi ấy thành một ảo ảnh vô căn cứ, một câu chuyện hoang đường không nhân chứng, không vật chứng!

"Dừng tay!"

Trình Dạ gầm lên một tiếng xé họng. Âm thanh cuồng nộ dội vào các vách ván dâu mủn mục làm rung rinh cả những lớp mạng nhện giăng trên xà nhà.

Không có sào đò trong tay, đôi mắt anh đảo nhanh qua góc cửa. Chộp lấy chiếc đòn kê bằng gỗ lim dùng để chèn bánh xe kéo thuyền đặt dựa nơi góc vách, Trình Dạ dồn toàn bộ kình lực từ eo lưng truyền qua cánh tay, vung ngang một đường bạt gió.

Thanh đòn gỗ lim nặng trịch xé toạc không khí, rít lên những tiếng vù vù ghê rợn, giáng thẳng vào mạn sườn kẻ đột nhập với một lực đạo đủ sức đập vỡ một tảng đá tảng.

Thế nhưng, kẻ mang thuật Giấu Bóng dường như đã lường trước được đòn đánh chặn này từ trước khi Trình Dạ kịp chạm chân vào sàn kho. Hắn không hề quay đầu lại nhìn, chiếc mũ trùm đầu đen vẫn hướng về phía ngọn đèn đồng. Thân hình đang nhạt nhòa trong màn khói xám của hắn bỗng nhiên chùng xuống một cách kỳ dị, uốn éo và trơn tuột tựa như một cành liễu rủ trước cơn lốc dữ.

Chiếc đòn lim nặng trịch quét ngang qua khoảng không gian trống rỗng, chỉ cách tà áo choàng đen của hắn chưa đầy nửa đốt ngón tay. Lực vung quán tính kéo thanh gỗ đập trúng chiếc cột kho bên cạnh phát ra một tiếng "rầm" chát chúa rung chuyển cả gian nhà. Mùn cưa mục nát và bụi vôi từ trên trần rơi xuống mù mịt như mưa rào.

Dòng dầu đen đặc quánh từ mảnh gốm vỡ vẫn không ngừng tuôn xuống thành một dải mảnh mai, uốn lượn giữa không trung và chỉ còn cách miệng chiếc đèn đầu nghê gang tấc!

Đúng vào khoảnh khắc ngàn cân treo sợi tóc ấy, một tiếng "keng" thanh mảnh, sắc ngọt tựa như tiếng băng tuyết ngàn năm nứt toác giữa mặt hồ mùa đông đột ngột vang lên từ phía sau lưng Trình Dạ.

Một dải ánh sáng màu tím biếc rực rỡ bùng nổ, xé toạc màn đêm u tối quánh đặc của chái kho sau.

Lâm Chiêu đã đến!

Nàng không hề bước đi bằng những bước chân nặng nề trên mặt đất bùn nhão, mà lướt tới như một bóng hình phiêu hốt giữa làn sương lạnh. Thanh trường kiếm trong tay nàng đã rời vỏ tự lúc nào. Trên thân kiếm sáng loáng như gương mùa thu, bảy chữ triện cổ khắc chìm dọc theo sống kiếm đang phát ra ánh hào quang tím thẫm lung linh kỳ ảo.

Đó là quang mang của cảnh giới Chiếu Hồn thuộc Huyền Đăng Môn—thứ ánh sáng thuần khiết chuyên dùng để soi rọi bản chất chân thật của vạn vật và linh hồn, phân định rạch ròi giữa thực và hư, thiêu rụi mọi loại ảo thuật mượn bóng dối lừa của thế gian tà đạo.

"Chiếu Hồn Phá Vọng, hiển hình!"

Thanh âm của Lâm Chiêu cất lên, lạnh lẽo và dứt khoát như những hạt sương sớm đóng băng trên lưỡi gươm cõi âm.

Mũi kiếm của nàng vạch ra một đường vòng cung tuyệt mỹ trong không gian chật hẹp. Dải kiếm quang màu tím biếc cuộn trào như một ngọn sóng triều dâng, quét thẳng qua thân ảnh mờ ảo của kẻ đột nhập.

Tầng khói xám bao bọc quanh người kẻ đột nhập khi chạm phải dải sáng Chiếu Hồn lập tức phát ra những tiếng xèo xèo ghê rợn, giãy giụa như mỡ sôi bị hắt vào chảo lửa đỏ rực. Thuật Giấu Bóng bị ánh sáng chính đạo xé toạc không chút thương tiếc, tan biến thành những làn khói đen khét lẹt.

Dưới ánh sáng tím rực rỡ, chân tướng của kẻ đột nhập hiện rõ mồn một: đó là một gã đàn ông có thân hình gầy guộc nhưng các múi cơ săn chắc như dây chão, khoác trên mình bộ trang phục dạ hành bó sát bằng vải thô màu chì không hề có hoa văn hay phù hiệu. Đầu hắn đội mũ trùm che kín nửa mặt, chỉ để lộ ra một đôi mắt một mí hẹp dài, sâu hoắm và sắc lạnh như mắt của loài diều hâu già rình mồi trên đỉnh núi đá.

Bị phá tan thuật ẩn thân trong chớp mắt, kẻ đột nhập không hề tỏ ra hoảng loạn hay lúng túng. Phản xạ của hắn nhanh đến mức đáng sợ. Cổ tay hắn khẽ rung lên một nhịp ngắn, nửa mảnh bình gốm vỡ trong tay lập tức văng thẳng về phía ngực Lâm Chiêu như một lưỡi phi đao xé gió, kéo theo một vệt dầu đen tanh nồng vung vãi trong không trung.

Lâm Chiêu không hề lùi bước dù chỉ nửa tấc. Cổ tay nàng mềm mại xoay tròn, lưỡi trường kiếm vạch thành một đóa hoa kiếm màu tím biếc nở rộ trước ngực.

Mảnh gốm va chạm với kiếm phong nổ tung thành trăm ngọn lửa nhỏ bắn tung tóe lên vách kho.

Lợi dụng khoảnh khắc tầm nhìn bị cản trở bởi bụi gốm vụn, kẻ đột nhập rút phắt từ sau thắt lưng ra một thanh đoản trùy bằng thép đen tuyền. Món binh khí kỳ dị này chỉ dài chừng một thước hai tấc, toàn thân đúc bằng thép nguội không bắt sáng, mũi trùy hình tam giác nhọn hoắt với những rãnh xẻ máng máu sâu hoắm, đâm thẳng vào yết hầu của Lâm Chiêu với tốc độ của một tia chớp đen!

Một cuộc giao chiến khốc liệt và nghẹt thở bùng nổ ngay trong không gian chật hẹp chưa đầy hai trượng vuông của chái kho Bến Lau Tàn.

Tiếng kim loại va chạm vào nhau chan chát vang lên dồn dập, liên hồi tựa như một trận mưa rào quất thẳng vào mái ngói cổ.

Kiếm pháp của Lâm Chiêu đoan chính, nghiêm cẩn và tầng tầng lớp lớp uy nghi. Từng chiêu từng thức của nàng đều mang theo phong thái trầm hùng của một bậc danh môn chính phái xuất thân từ tòa thành Lạc Châu hoa lệ; ánh sáng Chiếu Hồn trên thân kiếm mỗi lần vung lên đều quét qua từng góc khuất tăm tối nhất của gian kho, tạo thành một kết giới ánh sáng giam cầm kẻ địch, ép hắn không thể thi triển thêm bất kỳ tà thuật ẩn nấp nào.

Ngược lại, từng đường đoản trùy của kẻ đột nhập lại mang một phong cách hoàn toàn trái ngược: cực kỳ thực dụng, âm hiểm, câm nín và tàn độc đến tận cùng xương tủy.

Thanh thép đen trong tay hắn không hề có lấy nửa chiêu thức hoa mỹ để khoe mẽ. Mũi trùy tam giác lúc thì luồn lách hiểm hóc dưới nách áo, lúc lại đâm xéo từ dưới háng lên hạ sườn, khi thì mổ thẳng vào khớp gối, tất cả các đòn đánh đều nhắm thẳng vào các điểm nối của xương khớp và các tử huyệt hiểm yếu nhất trên thân thể con người. Đó không phải là võ thuật của một môn phái giang hồ tầm thường, mà là kỹ năng sát nhân thuần thục được tôi luyện qua hàng nghìn lần thanh trừng trong bóng tối.

Gian kho vật tư của bến đò vốn chất đầy những sọt tre đựng dây neo mốc meo, những cuộn dây gai ẩm ướt bốc mùi bùn, các vò dầu rỗng bằng sành nằm lăn lóc và những mảnh ván thuyền cũ đóng đinh gỉ xếp chồng chất bên vách. Không gian tù túng, trần kho thấp lè tè khiến thanh trường kiếm dài ba thước của Lâm Chiêu đôi lúc bị vướng víu vào các thanh xà ngang và cột chống bằng gỗ dâu.

Kẻ đột nhập lập tức nắm bắt lấy những kẽ hở không gian chật hẹp ấy. Thân hình hắn thoắt ẩn thoắt hiện sau những chiếc thùng gỗ chứa đồ nghề chèo đò, mượn các góc khuất để hóa giải thế công dũng mãnh của kiếm quang. Đoản trùy trong tay hắn liên tục thúc mạnh ra từ các góc chết, từng luồng kình phong xé gió rít lên the thé buốt tai.

"Keng! Xoẹt!"

Mũi kiếm của Lâm Chiêu trong một đường chém quét ngang đã phạt đứt đôi một thanh xà phụ bằng gỗ dâu rừng rơi xuống sàn. Lưỡi thép sắc lẹm sượt qua vai kẻ đột nhập, rạch một đường dài trên vạt áo màu chì của hắn, để lộ ra lớp giáp nhẹ bằng da thú bên trong.

Thế nhưng, gần như cùng một tích tắc ấy, mũi đoản trùy của đối phương cũng luồn qua kẽ hở giữa hai thức kiếm, quét ngang qua ống tay áo lụa trắng của nàng. Tiếng vải rách toạc vang lên khô khốc. Một mảng tay áo bay đi, để lộ làn da cánh tay trắng ngần của Lâm Chiêu hằn lên một vệt đỏ rớm máu tươi.

Trình Dạ đứng sừng sững ở cửa kho, đôi mắt của một người thợ chèo đò quen nhìn xuyên qua sương mù Dạ Thủy căng ra, quét qua từng chuyển động nhỏ nhất của hai bóng người đang quần thảo kịch liệt.

Anh lập tức nhận ra điểm bất thường đến rợn người ở kẻ đột nhập này. Hắn không chỉ sở hữu thân thủ của một sát thủ thượng thừa, mà quan trọng hơn cả, hơi thở của hắn trong suốt quá trình giao đấu khốc liệt vẫn duy trì một nhịp điệu phẳng lặng đến kinh ngạc. Tiếng hít thở của hắn đều đặn, nhịp tim đập chậm rãi một cách kỳ dị—đó là dấu hiệu sinh học của những kẻ chuyên làm việc thu gom chứng tích và thực thi các cuộc thanh trừng ngầm trong bóng tối, những kẻ coi mạng người và máu tươi chỉ là một con số cần được gạch bỏ một cách gọn gàng trên các trang sổ sách kế toán.

Ninh Sắc, hoặc ít nhất là một thuộc hạ thân tín bậc nhất được tôi luyện dưới bàn tay sắt đá của hắn!

Nhận thấy bản thân bị kiếm quang Chiếu Hồn của Lâm Chiêu ép sát từng bước, lại thêm Trình Dạ với vóc dáng lực lưỡng đang nắm chặt đòn gỗ lim bịt kín lối thoát duy nhất nơi cửa chính, đôi mắt hẹp dài của kẻ đột nhập lóe lên một tia hung quang tàn nhẫn.

Hắn hiểu quá rõ địa hình Bến Lau Tàn. Kéo dài thời gian ở đây chỉ thêm bất lợi khi tiếng động giao tranh có thể kích hoạt chiếc chuông đồng ngoài bến hoặc thu hút sự chú ý của tuần binh đê điều.

Hắn phải dứt điểm cuộc chạm trán này ngay lập tức!

Bất thình lình, kẻ đột nhập thu hồi thanh đoản trùy về che chắn trước ngực để chống đỡ một đường kiếm xé gió của Lâm Chiêu. Bàn tay trái vốn giấu kín trong bọc áo rộng bất ngờ vung mạnh ra ngoài không trung.

"Vút! Vút! Vút!"

Ba tiếng xé gió rít lên chói tai, bén ngót tựa như tiếng lụa sống bị xé rách toạc giữa thinh không tĩnh mịch!

Ba luồng ánh sáng màu xanh biếc lấp lánh phóng ra từ kẽ ngón tay hắn, bay theo ba quỹ đạo hình cánh cung quái dị, xé toạc màn sương khói tím mà nhắm thẳng vào hai tròng mắt và yết hầu của Lâm Chiêu!

Ám khí hình lá liễu!

Khoảng cách giữa hai người lúc này chưa đầy ba bước chân ngắn ngủi, tốc độ của ba luồng kình lực lại nhanh đến mức mắt thường khó lòng bắt kịp đường bay.

Sắc mặt Lâm Chiêu đột ngột biến đổi, đồng tử nàng co rút lại thành hai điểm cực nhỏ. Trong cự ly hiểm nghèo này, nàng không thể tiến lên phía trước để tấn công, buộc phải dốc toàn bộ linh lực xuống đôi chân, ngửa người ra sau một góc gần như chạm sát mặt đất bùn ẩm. Thanh trường kiếm trong tay nàng xoay tít thành một tấm khiên ánh sáng tím rực rỡ bảo hộ trước ngực.

"Keng! Keng!"

Hai tiếng va đập kim loại chói tai vang lên liên tiếp. Hai chiếc phi tiêu lá liễu bị mũi kiếm của nàng đánh bạt ra ngoài, bay xéo đi rồi cắm phập vào vách ván gỗ dày làm vỡ tung những mảnh dăm gỗ sắc nhọn.

Thế nhưng, kình lực hàm chứa trong hai chiếc phi tiêu kia khủng khiếp ngoài sức tưởng tượng của nàng. Chấn động từ mũi kiếm truyền thẳng qua cổ tay khiến toàn bộ cánh tay cầm kiếm của Lâm Chiêu tê dại đi trong chớp mắt. Cả thân hình nàng bị lực đạo đẩy lùi về phía sau hai bước, lưng đập mạnh vào mép bàn đá phiến kêu lên một tiếng nghẹn ngào.

Chiếc phi tiêu thứ ba sượt qua lọn tóc mai bay lòa xòa của nàng, cắt đứt vài sợi tóc đen nhánh, rồi cắm ngập nửa thân thép vào chiếc cột gỗ lim ngay sát đỉnh đầu Trình Dạ. Đuôi tiêu bằng thép còn rung lên bần bật, phát ra tiếng "ong ong" buốt nhức màng nhĩ.

Chính trong khoảnh khắc Lâm Chiêu bị ám khí bức lui và mất thăng bằng, kẻ đột nhập hoàn toàn không có ý định thừa thắng xông lên để đoạt mạng nàng. Mục tiêu tối thượng của hắn đêm nay chưa từng là mạng sống của nữ tu Huyền Đăng Môn.

Hắn thò bàn tay xám tro vào thắt lưng, rút ra một viên hoàn màu đen xám ném mạnh xuống nền đất.

"Bùm!"

Một tiếng nổ trầm đục vang lên kèm theo một làn khói đen mù mịt bốc lên ngùn ngụt. Mùi lưu huỳnh khét lẹt hòa lẫn với bột ớt cay sè lập tức tràn ngập không gian kín, che khuất toàn bộ tầm nhìn của mọi người trong chái kho.

Giữa làn khói độc cay xé mắt, kẻ đột nhập tung một cú đá tàn nhẫn và chuẩn xác vào chân chiếc bàn đá phiến xanh!

Chiếc bàn đá vốn đã lung lay sau cú va chạm của Lâm Chiêu lập tức gãy sụp một bên chân, đổ nghiêng sang một bên. Ba món vật chứng nằm trên mặt đá trượt mạnh xuống nền đất.

Và mũi chân của kẻ mang áo choàng đen, với một góc sút hiểm hóc, nhắm thẳng vào chiếc đèn dẫn đầu nghê bằng đồng hun, đá văng nó bay vút lên không trung, hướng thẳng về phía chậu than đang rực lửa đỏ quạch ở góc kho sau!

Hắn muốn mượn than hồng để thiêu rụi bấc đèn, biến vệt muội dầu cháy ráng thành tro bụi vĩnh viễn!

"Muốn chạy sao?!"

Giữa làn khói độc cay sè làm nước mắt tuôn trào và cổ họng bỏng rát, Trình Dạ gầm lên một tiếng long trời lở đất.

Anh không hề đuổi theo bóng đen đang lách mình lao ra phía sau, anh cũng không màng đến việc đoạt mạng kẻ thù. Trong mắt người thợ chèo đò họ Trình lúc này, chỉ có duy nhất quỹ đạo rơi tự do của ngọn đèn đồng đang lao thẳng vào chậu than đỏ lửa!

Đối với một người giữ bến bên bờ Dạ Thủy, con đò có thể chìm dưới đáy sông, thân xác có thể nát tan thành bùn đất, nhưng đèn dẫn đường không bao giờ được phép tắt trước khi chuyến đò hoàn tất.

Chiếc đèn đầu nghê bằng đồng hun kia không chỉ là một khối kim loại vô tri vô giác được đúc bởi bàn tay phàm trần. Nó là nhân chứng sống duy nhất của cõi thực chứng minh rằng đêm qua, anh đã không bỏ mặc một sinh mệnh trôi dạt giữa dòng nước chết, chứng minh rằng lời thề giữ bến của cha anh mười hai năm trước vẫn chưa hề bị đứt gãy giữa thế gian bạc bẽo này!

Trình Dạ không hề màng đến việc sàn nhà dưới chân lúc này đang rải rác hàng chục mảnh gốm vỡ nhọn hoắt và lớp dầu trơn trượt chết người.

Anh phóng cả thân mình ra phía trước, trượt dài trên nền đất ẩm ướt đầy bụi bặm. Hai đầu gối của anh chà xát mạnh bạo xuống những cạnh đá lởm chởm. Mảnh gốm sắc lẹm cứa rách toạc lớp quần vải thô mỏng manh, cắm sâu vào da thịt anh đau buốt thấu tận tâm can. Máu tươi rỉ ra hòa lẫn với bùn đất và dầu cặn.

Nhưng mắt Trình Dạ không hề chớp lấy một lần. Anh giương cả hai cánh tay gân guốc ra phía trước, vươn hết tầm với của một người đàn ông sông nước trong làn khói đen mù mịt.

"Bắt được rồi!"

Những ngón tay thô ráp, chai sần vì bao năm cầm sào đò chống chọi với sóng dữ của Trình Dạ chộp trúng quai đồng của chiếc đèn dẫn khi nó chỉ còn cách mép chậu than rực đỏ nửa đốt ngón tay!

Sức nặng của khối đồng hun giật mạnh cổ tay anh xuống. Dầu cặn còn sót lại trong bầu đèn sánh ra ngoài, hắt thẳng lên mu bàn tay đang rỉ máu của Trình Dạ, nóng rát và buốt nhức như có tàn lửa châm vào vết thương hở.

Thế nhưng anh nghiến chặt hàm răng đến mức bật máu tươi nơi khóe miệng. Trình Dạ cuộn tròn cả thân hình lực lưỡng lại như một con nhím đang gồng mình chịu trận, dùng trọn vẹn lồng ngực vạm vỡ và vạt áo tơi thô ráp của mình ôm chặt lấy thân đèn vào lòng. Anh lăn thêm một vòng trọn vẹn trên sàn đất cứng để triệt tiêu toàn bộ lực quán tính rơi, mặc cho những mảnh gốm vỡ vụn tiếp tục găm sâu vào bả vai và mạng sườn non của mình.

"Rầm!"

Ở phía bên kia gian kho, một tiếng đổ vỡ dữ dội khác vang lên xé toạc màn sương khói.

Kẻ đột nhập đã dùng toàn bộ kình lực tung một chưởng đánh sập mảng vách ván gỗ dâu rừng phía sau chái kho. Một lỗ hổng lớn toang hoác hiện ra, thông thẳng ra triền đê hoang vắng hướng về phía lòng sông Dạ Thủy.

Thân hình hắn tựa như một con chim cắt đen lao qua màn đêm, lách mình qua lỗ hổng ván gỗ rồi lao vụt ra ngoài bãi bồi ven sông trong nháy mắt.

"Đứng lại!"

Lâm Chiêu cắn chặt răng nén cơn đau buốt nơi cổ tay bị chấn động, thanh trường kiếm trong tay nàng lại bùng lên dải ánh sáng Chiếu Hồn màu tím biếc rực rỡ. Nàng tung người bay qua lỗ vách vỡ, lướt như một dải lụa trắng đuổi theo bóng đen ra ngoài màn sương lạnh.

Thế nhưng, kẻ đột nhập dường như đã tính toán cặn kẽ từng tấc đất, từng lối mòn của Bến Lau Tàn từ trước khi đặt chân tới đây. Vừa chạm chân xuống bãi bùn lầy thụt lội ven bờ, hắn hoàn toàn không chạy dọc theo triền đê để tìm lối thoát lên đường cái dẫn về huyện lỵ, mà phóng thẳng một mạch về phía mép nước đen ngòm của Dạ Thủy!

Mặc dù lúc này mới chỉ là canh hai, dòng nước âm chưa đến giờ mở nước thực sự, lòng sông Dạ Thủy vẫn chỉ trơ lại những bãi bùn đen quánh và các mạch nước ngầm rỉ ra từ chân Đập Khóa Mạch nơi thượng nguồn, nhưng đáy sông ban đêm vẫn là vùng đất chết chứa đầy những hố xoáy tử khí cực kỳ hung hiểm.

Người sống bình thường nếu rơi xuống đó vào ban đêm, dù không bị dòng nước âm cuốn trôi mất xác thì cũng sẽ bị khí lạnh thấu xương của lòng sông ăn mòn phế phủ mà chết ngạt trong đau đớn.

Vậy mà bóng đen ấy không hề do dự lấy nửa khắc đồng hồ.

Hắn lao thẳng xuống một lạch nước ngầm đen sì, sâu hun hút đang sủi bọt cuồn cuộn dưới chân mố đá rêu phong của bến đò. Thân hình hắn chìm nghỉm vào dòng nước tối tăm như một tảng đá rơi tọt xuống đáy giếng sâu không đáy. Không một tiếng va đập, không một gợn sóng lăn tăn, thậm chí không có lấy một tiếng kêu la nghẹt thở.

Chỉ có một làn khói đen mỏng manh bốc lên từ mặt nước lạnh buốt, rồi nhanh chóng tan biến vào màn sương đêm đục quánh như sữa.

Lâm Chiêu dừng phắt bước chân bên mép bùn lầy lội, tà áo trắng phần phật bay trong cơn gió buốt từ lòng sông quất ngược lên.

Nàng nâng thanh kiếm lên ngang ngực, dồn toàn bộ linh lực còn lại chiếu dải kiếm quang Chiếu Hồn sâu xuống đáy lạch nước ngầm đen ngòm.

Trống rỗng.

Không có bóng người, không có sinh tức, thậm chí không có lấy một vệt máu trôi nổi trên mặt nước. Kẻ đột nhập đã dùng một loại phù chú lánh nước cực kỳ cao thâm để hòa tan toàn bộ khí tức của bản thân vào mạch nước ngầm của Dạ Thủy mà tẩu thoát không để lại dấu vết.

Nàng siết chặt chuôi kiếm trong tay, các khớp ngón tay trắng bệch ra vì giận dữ và nỗi bất lực trào dâng trong lồng ngực.

Gió đêm từ lòng sông thổi thốc lên triền đê hoang vắng, mang theo hơi lạnh buốt giá cắn sâu vào da thịt trần. Cột chuông dẫn nghiêng nghiêng bên mép bến đò lại khẽ đung đưa theo nhịp gió, phát ra một tiếng "coong" khô khốc, cô độc vỡ tan giữa bãi lau già bạt ngàn.

Lâm Chiêu hít một hơi thật sâu, nén lại luồng chân khí đang cuộn trào hỗn loạn trong kinh mạch, quay người rảo bước trở lại chái kho sau đang mù mịt khói tàn.

Trong gian kho đổ nát, làn khói độc cay xé mắt đã bắt đầu loãng dần qua lỗ hổng lớn trên vách ván bị đánh sập.

Trình Dạ vẫn đang ngồi bệt trên nền đất phủ đầy mùn cưa, tro bụi và những mảnh gốm nhọn hoắt. Chiếc áo tơi khoác ngoài của anh đã bị xé rách tả tơi từng mảng, nhuốm đầy những vệt bùn đen tanh tưởi và những dòng máu tươi rỉ ra từ các vết cứa sâu hoắm trên cánh tay, bờ vai và hai đầu gối.

Thế nhưng, đôi bàn tay thô ráp của người thợ chèo đò trẻ tuổi vẫn đang ôm chặt lấy chiếc đèn đồng hình đầu nghê, nâng niu nó trước lồng ngực phập phồng như đang che chở cho một sinh mệnh non nớt vừa thoát khỏi nanh vuốt của tử thần.

Lâm Chiêu bước tới gần, khẽ quỳ một gối xuống nền đất ẩm bên cạnh anh. Nàng đưa những ngón tay thon dài gạt nhẹ lớp vạt áo dính máu đang che phủ kín miệng đèn.

Trình Dạ ngẩng đầu lên nhìn nàng. Ánh mắt anh đỏ ngầu vì khói độc cay xé, nhưng sâu thẳm trong đáy mắt lại ánh lên một sự kiên định, quật cường đến mức bướng bỉnh:

"Nó... vẫn còn nguyên vẹn chứ?"

Lâm Chiêu cẩn thận ghé sát mắt nhìn vào cổ chiếc đèn đồng hun dưới ánh sáng dìu dịu của thanh kiếm.

Dù lớp vỏ ngoài bằng đồng đã bị dính vài giọt dầu tạp chất hôi hám sủi bọt, nhưng nhờ Trình Dạ kịp thời lấy thân mình và vạt áo che chắn, dòng dầu bẩn thỉu kia chưa hề chạm tới họng đèn và sợi bấc bên trong. Trên cổ chiếc đầu nghê cong vút, ngấn muội dầu màu xám tro pha ánh tím cháy ráng bám chặt từ đêm qua vẫn còn nguyên vẹn từng đường vân, từng thớ cặn khô khốc.

Thứ muội than thiêng liêng được sinh ra từ ngọn lửa dầu cá trắm ngải cứu, khi sinh tức ấm nóng của một con người bằng xương bằng thịt giằng co quyết liệt với tử khí lạnh lẽo của dòng Dạ Thủy, vẫn nằm nguyên tại đó, sừng sững như một chứng tích bất hoại.

Một trong ba chứng tích vật chất độc lập của chuyến đò đêm qua đã được bảo toàn nguyên vẹn.

"Vẫn còn nguyên," Lâm Chiêu khẽ thở phào một hơi nhẹ nhõm. Giọng nói của nàng bất giác mềm đi đôi chút, mang theo một sự kính nể kín đáo và sâu sắc mà chính nàng cũng không hề nhận ra. "Ngươi đã giữ được nó. Vệt dầu cháy nguyên bản không bị biến chất dù chỉ một phân. Kẻ đó đã tính toán chu toàn mọi đường đi nước bước, nhưng hắn đã đánh giá thấp một điều duy nhất."

"Điều gì?" Trình Dạ khàn giọng hỏi, cẩn thận đặt chiếc đèn dẫn trở lại một góc bàn đá phiến còn nguyên vẹn chưa bị sụp đổ.

"Hắn nghĩ người chèo đò chỉ biết sợ chết và chỉ biết răm rắp tuân theo mệnh lệnh của quan phòng Lạc Châu," Lâm Chiêu đáp, ánh mắt nàng dừng lại trên bàn tay đầy máu và những vết thương rách da thịt của anh. "Hắn không ngờ có kẻ dám lấy chính thân xác và mạng sống của mình ra để che chở cho một ngọn đèn dầu cũ rích."

Trình Dạ khẽ cười nhạt, một nụ cười méo mó vì cơn đau buốt từ những vết cứa trên da thịt đang bắt đầu hành hạ:

"Cha ta từng dạy... người chèo đò qua sông Dạ Thủy có thể bỏ lại tiền công, có thể bỏ lại con đò nát dưới đáy sông, nhưng không bao giờ được phép để mất dấu tích của người đã bước chân lên thuyền. Nếu ngay cả ngọn đèn dẫn đường cũng để cho kẻ khác vấy bẩn rồi dập tắt, thì ngày mai lấy cái gì để gọi tên những kẻ đã khuất?"

Lâm Chiêu hoàn toàn im lặng.

Lời nói mộc mạc, thô ráp của một kẻ chèo đò áo vải nơi bến sông hoang vắng dường như đã chạm vào một góc khuất sâu thẳm, âm u nhất trong tâm can nàng—nơi mà những giáo điều môn quy cứng nhắc, những quy trình kiểm tra lạnh lùng và vô cảm của Huyền Đăng Môn bao năm qua chưa từng soi rọi tới.

Nàng đứng dậy, ánh mắt lạnh lùng dời về phía chiếc cột gỗ lim sừng sững ở giữa gian kho.

Chiếc phi tiêu hình lá liễu thứ ba vẫn đang cắm sâu vào thân cột gỗ, ngập sâu hơn một đốt ngón tay, chứng tỏ kình lực kinh hồn bạt vía của kẻ phóng ra nó. Lâm Chiêu bước chậm rãi tới gần, nắm lấy chuôi tiêu, vận một luồng linh lực nhỏ vào đầu ngón tay rồi khẽ lắc nhẹ trước khi rút mạnh ra ngoài.

Một tiếng "phập" khô khốc vang lên giữa không gian tĩnh mịch.

Chiếc phi tiêu bằng thép xanh bóng loáng hiện ra rõ mồn một dưới ánh sáng tím huyền ảo phát ra từ thanh trường kiếm của nàng. Nó dài chừng bốn tấc, thân tiêu mỏng dính và dẹp tựa như một chiếc lá liễu rụng vào mùa thu, hai mép sắc bén như lưỡi dao cạo của thợ cạo rong, ở sống giữa có khoét ba rãnh xé gió cực kỳ tinh xảo nhằm triệt tiêu toàn bộ tiếng rít trong không khí khi phóng đi trong đêm tối.

Thế nhưng, khi Lâm Chiêu vừa đưa chiếc phi tiêu lên ngang tầm mắt để quan sát kỹ lưỡng, sắc mặt nàng bỗng nhiên biến đổi hoàn toàn.

Đôi đồng tử của nữ tu Chiếu Hồn giãn to ra vì kinh hãi. Hơi thở trong lồng ngực nàng ngưng bặt lại trong tích tắc. Gương mặt thanh tú vốn luôn giữ vẻ điềm tĩnh, lạnh lùng như băng tuyết ngàn năm bỗng chốc trở nên trắng bệch không còn lấy một giọt máu.

"Không... không thể nào..."

Nàng lẩm bẩm trong miệng, giọng nói run rẩy đến mức thanh kiếm trong tay nàng khẽ va vào bao kiếm phát ra những tiếng lách cách run rẩy.

Trình Dạ nhận ra sự biến chuyển bất thường tột độ nơi thần sắc của nàng. Anh nén đau gượng đứng dậy, bước từng bước khập khiễng đến bên cạnh:

"Có chuyện gì vậy? Ngươi nhận ra lai lịch của chiếc phi tiêu này sao?"

Lâm Chiêu không đáp lời anh ngay. Bàn tay nàng run run đưa chiếc phi tiêu lên sát mũi, khẽ ngửi nhẹ phần chuôi tiêu được quấn bằng những sợi chỉ tơ tằm màu xám tro bền chắc.

Một mùi hương thoang thoảng, kín đáo bốc lên từ lớp chỉ tơ.

Đó là mùi trầm hương lâu năm ngọt dịu, thanh khiết pha lẫn với mùi mỡ cá trắm đen được tinh luyện kỹ lưỡng qua nhiều tầng hỏa hầu khắt khe.

Thứ hương liệu kỳ dị này tuyệt đối không phải là độc dược hãm hại người, cũng không phải thứ hương thơm xa xỉ dùng để ướp y phục của giới quý tộc phong lưu chốn đô thành. Nó là loại dầu thơm chuyên dụng, độc nhất vô nhị chỉ được dùng để ngâm tẩm và quét lên các trang thẻ tre cùng giấy bản cổ nhằm chống mối mọt, ẩm mốc trong các kho tàng lưu trữ hồ sơ cơ mật tối cao tại Thành Lạc Châu!

Hơn thế nữa, khi ánh sáng tím Chiếu Hồn trên đầu ngón tay Lâm Chiêu rọi thẳng vào rãnh máu chạy dọc sống phi tiêu, một ấn ký cực nhỏ, chỉ bằng nửa hạt mè, hiện lên mồn một dưới đáy rãnh thép nguội:

Một đóa hoa sen thanh tao đỡ lấy ngọn đèn có ba ngọn lửa uốn cong mềm mại.

Ấn ký độc quyền của Ty Phòng Vệ Nội Bộ Huyền Đăng Môn!

Đầu óc Lâm Chiêu như có một tiếng sét long trời lở đất nổ tung ngay giữa ban ngày. Toàn thân nàng run rẩy bần bật, từng khớp xương, từng thớ thịt như muốn rã rời ra thành trăm mảnh.

Ty Phòng Vệ Nội Bộ...

Đó là lực lượng tinh nhuệ, bí mật và tàn nhẫn nhất của Huyền Đăng Môn, một lực lượng chỉ nhận lệnh điều động trực tiếp từ các vị trưởng lão tối cao và Trưởng viện nghiên cứu bảo danh—chính là sư tôn tôn kính của nàng, chân nhân Bạch Huyền!

Loại phi tiêu hình lá liễu rèn bằng huyền thiết xanh bóng này là pháp khí hộ thân độc môn, chỉ được cấp phát riêng cho các chấp sự thân tín bậc nhất thuộc viện nghiên cứu của sư phụ nàng, những kẻ chuyên nhận lệnh thi hành các nhiệm vụ cơ mật tuyệt đối ngoài biên giới môn phái, những kẻ không bao giờ để lại danh tính hay hành tung!

Kẻ đột nhập vừa rồi... kẻ đã dùng thuật Giấu Bóng thâm nhập vào Bến Lau Tàn trong đêm tối, kẻ đã tàn nhẫn muốn dội dầu cặn để tiêu hủy vệt muội than của ngọn đèn dẫn đường... không phải là đám tà tu vô danh trôi dạt ven sông, không phải là những kẻ buôn lậu ký ức thuộc Hội Tro Trắng ngoài vòng pháp luật...

Mà là người của chính môn phái nàng!

Là thuộc hạ tâm phúc dưới trướng của người thầy mà nàng hằng tôn kính, phụng dưỡng và ngưỡng vọng như một người cha ruột thịt!

"Tại sao... lại như vậy...?"

Lâm Chiêu thì thầm trong vô thức, giọng nói như nghẹn ứ lại nơi cuống họng khô khốc.

Những ngón tay nàng siết chặt lấy chiếc phi tiêu lá liễu đến mức cạnh thép sắc bén cứa rách da tay nàng từ lúc nào không hay. Máu tươi rỉ ra, chảy chầm chậm dọc theo rãnh thép xanh ngắt, nhuộm đỏ cả đóa sen và ngọn đèn ba ngọn lửa, thế nhưng nàng dường như hoàn toàn không cảm thấy chút đau đớn nào của thể xác.

Mười hai năm qua, kể từ ngày bước chân vào cánh cổng uy nghiêm của Huyền Đăng Môn, nàng luôn một lòng tin tưởng rằng môn phái của mình là bức tường thành vững chắc và cao cả nhất bảo vệ trật tự an bình cho toàn bộ lưu vực Dạ Thủy. Nàng tin rằng các cuộc thử nghiệm bảo danh đầy bí ẩn của sư phụ Bạch Huyền là nhằm cứu vớt những linh hồn tội nghiệp khỏi bị dòng nước chết nuốt chửng bản sắc. Nàng đã từng tự tay ký vào không biết bao nhiêu biên bản kiểm kê, từng tham gia vào những cuộc phong ấn nghiêm ngặt mà lòng tin trong sáng chưa từng gợn lấy một bóng mây đen nghi ngại.

Thế nhưng, chiếc phi tiêu dính mùi trầm hương lưu trữ này, cùng với vết sẹo khóa chỉ tàn nhẫn trên cổ tay người thanh niên không bóng ngoài nhà chờ, và giờ đây là vụ đột nhập tiêu hủy chứng tích một cách hèn hạ, dứt khoát ngay trong đêm...

Tất cả những sự thật ấy tựa như những nhát búa tạ ngàn cân giáng thẳng vào niềm tin kiên cố bấy lâu nay của nàng, đập vỡ nó thành từng mảnh vụn sắc nhọn găm ngược vào tim nàng rỉ máu.

Môn phái của nàng không chỉ đơn thuần là đang nghiên cứu để cứu người.

Họ đang ráo riết săn lùng. Họ đang âm thầm thu gom. Và họ đang dùng chính bàn tay sắt máu của mình để xóa sạch mọi dấu vết trần thế của những kẻ mà họ đã nhẫn tâm tước đoạt danh tính!

Trình Dạ đứng sừng sững bên cạnh, đôi mắt sắc sảo của anh quan sát trọn vẹn từng biến đổi đau đớn trên gương mặt tái nhợt như xác chết của Lâm Chiêu. Ánh mắt anh dừng lại ở ấn ký ngọn đèn ba ngọn lửa trên sống phi tiêu, rồi dời sang biểu cảm bàng hoàng, tan nát tột cùng của người thiếu nữ xuất thân danh môn trước mặt.

Dù cả đời chưa từng bước chân vào chốn tiên môn xa hoa lộng lẫy, nhưng sự nhạy cảm bẩm sinh của một kẻ giữ bến đã cho Trình Dạ hiểu ra toàn bộ tấn bi kịch đang diễn ra trước mắt.

"Là người của Huyền Đăng Môn các người, đúng không?"

Trình Dạ hỏi, giọng anh trầm thấp, khô khốc nhưng sắc lẹm như một nhát dao xẻ gỗ.

Lâm Chiêu giật nảy mình như vừa bị điện giật. Theo một phản xạ tự nhiên ăn sâu vào tiềm thức để bảo vệ danh dự môn phái, nàng vội vàng giấu chiếc phi tiêu ra sau lưng.

Nhưng khi bắt gặp ánh mắt thẳng thắn, thấu suốt đến tận cùng tâm can và đầy vẻ chất vấn của Trình Dạ, nàng chỉ biết cắn chặt môi dưới đến mức bật máu tươi, không thể nào thốt lên nổi một lời phủ nhận giả dối.

Sự im lặng buốt giá và nghẹt thở bao trùm lấy gian kho đổ nát, chỉ còn lại tiếng gió rít qua lỗ thủng trên vách gỗ dâu.

Đúng lúc ấy, từ gian nhà chờ phía trước bến đò, tiếng bước chân vội vã cùng tiếng gọi run rẩy, thất thanh của bà Lê An đột ngột vang lên xé toạc bầu không khí ngột ngạt:

"Dạ ơi! Lâm cô nương ơi! Khách... khách lại lên cơn co giật dữ dội rồi! Mùi dầu cháy... cái mùi dầu cháy chết tiệt này làm cậu ấy nghẹt thở, cậu ấy đang cào rách cả cổ họng mình ra rồi đây này!"

Sắc mặt Trình Dạ biến đổi hoàn toàn. Anh không kịp nói thêm nửa lời với Lâm Chiêu, vứt thanh đòn lim xuống sàn, lập tức quay người lao như bay ra gian nhà chờ phía trước.

Lâm Chiêu đứng trơ trọi một mình giữa chái kho lạnh lẽo và tan hoang. Nàng nhìn chiếc phi tiêu lá liễu dính đầy máu của chính mình trong tay, rồi ngước nhìn ra lỗ hổng ván vỡ thông thẳng ra dòng Dạ Thủy đen ngòm mịt mù sương khói bên ngoài.

Một cảm giác cô độc, bơ vơ và sợ hãi chưa từng có trong đời dâng lên ngập tràn trong lồng ngực nàng. Nàng bàng hoàng nhận ra mình đang đứng chới với giữa hai bờ vực thẳm không đáy: một bên là môn phái, là sư phụ, là tất cả những chân lý và lý tưởng sống mà nàng từng tôn thờ suốt thời thanh xuân; và một bên là sự thật trần trụi, tàn nhẫn và đẫm máu về những số phận đang bị tước đoạt sự tồn tại ngay trước mắt nàng.

Bỗng nhiên, không gian u tịch bên ngoài bãi lau già khẽ xao động dữ dội.

Một luồng linh lực sắc bén, lạnh lẽo tựa như hàn băng ngàn năm từ phương Bắc đột ngột xé toạc màn sương đêm dày đặc trên mặt sông Dạ Thủy.

"Vút!"

Một vệt sáng bạc lấp lánh tựa như một vì sao băng rơi xuống giữa cõi phàm, bay vút qua lỗ hổng trên vách kho sau, cắm phập vào khung cửa gỗ ngay trước mặt Lâm Chiêu!

Đó là một thanh phi kiếm truyền thư dài chừng nửa thước. Thân kiếm tạc bằng ngọc bích phát ra ánh hào quang chói lọi, xua tan bóng tối xung quanh. Trên chuôi kiếm bằng ngọc buộc một dải lụa màu vàng nghệ mang theo linh ấn phong tỏa tối cao của Huyền Đăng Môn—chính là thủ ấn quen thuộc của sư tôn Bạch Huyền!

Bàn tay Lâm Chiêu run rẩy không kiểm soát nổi khi vươn ra chạm vào dải lụa vàng.

Khí tức uy nghiêm, quen thuộc của sư phụ nàng lập tức tràn vào tâm thức nàng như một dòng thác lũ, biến thành một giọng nói trầm hùng, lạnh lùng và mang theo uy áp tuyệt đối không cho phép bất kỳ ai chối từ, vang vọng thẳng vào sâu trong thần hồn nàng:

*"Lâm Chiêu. Ngay khi bình minh ló dạng, lập tức dùng Khóa Cửu Khúc cưỡng chế áp giải Khách Vô Danh cùng toàn bộ chứng tích tại Bến Lau Tàn về tổng viện Lạc Châu. Đình chỉ toàn bộ việc thẩm tra tại chỗ. Kẻ nào cản trở, coi như làm loạn chống lệnh tiên môn, chém không tha."*

Chương này thế nào?Đánh giá giúp Readeep đề xuất đúng hơn cho bạn