Bóng Ma Giữa Hai Giờ Nước
Làn nước đen của Dạ Thủy vừa cuộn trào trở lại sau hồi chuông canh ba, con đò của Bến Lau Tàn chao đảo rẽ màn sương dày đặc hướng mũi về cõi sống trong tình trạng bấc đèn dẫn đã lụi gần sát đáy.
Mùi bùn âm tanh tưởi quấn chặt lấy từng thớ gỗ mun của mạn thuyền, thứ mùi nồng nặc tựa như xác lá mục ngâm lâu ngày dưới đáy vực không có mặt trời rọi tới, lẫn vào hơi tanh ngai ngái của lớp váng dầu nổi lềnh bềnh. Suốt một ngày một đêm kẹt lại giữa mũi cát Cồn Đèn Câm sau khi ranh giới hai cõi đột ngột đóng sập, Trình Dạ tưởng chừng như da thịt mình đã bị cái lạnh vô hồn của đáy nước ngấm vào tận tủy, biến từng khớp xương thành những thanh gỗ mục đóng đanh dưới bùn. Cơ bắp hai cánh tay anh căng cứng, run rẩy theo từng nhịp miết mái chèo xuống dòng nước đặc quánh như nhựa trám. Mỗi nhát chèo kéo lê một quầng bọt xám nhờ nhợt; dòng nước âm đêm nay nặng như chì lỏng, níu ghì lấy thân đò, đòi kéo tuột tất cả chìm sâu vào lòng sông tăm tối. Chiếc đòn gánh lim vắt ngang lòng thuyền đã nứt toác một đường dài sau cú đỡ đòn trùy của Ninh Sắc, từng thớ gỗ toác ra kêu răng rắc dưới sức nặng của ba con người và một kiện tang vật vừa trốn thoát khỏi cõi chết. Vết nứt chạy dọc từ vai đòn xuống tận mấu buộc thừng, để lộ phần lõi gỗ đỏ ửng đã bị ám một lớp khói xám của cấm thuật, lạnh toát khi chạm vào.
Ở khoang giữa, Khách Vô Danh nằm co quắp trên sàn đò ướt sũng. Nước sông Dạ Thủy rỉ qua khe ván mỏng, dâng mấp mé bờ lưng áo tang của gã. Hơi thở của gã nông cạn, đứt quãng như sợi chỉ mục sắp đứt; hai bàn tay gầy guộc nổi đầy gân xanh vẫn ghì chặt lấy ngực áo, nơi chiếc nghiên mực đá xanh khắc chữ "Tống" bị cạo dở cộm lên dưới làn vải liệm rách nát. Lớp vải ấy tơi tả, bám đầy tro đen của trận hỏa hoạn ở kho ngầm, để lộ những mảng da thịt xám ngoét không chút huyết sắc. Mỗi khi mạn thuyền va phải một xoáy nước âm, vết sẹo xích sắt trên cổ tay gã lại giật nảy lên, kéo theo từng đợt co giật run rẩy; những ngón tay khẳng khiu quặp chặt lấy mép nghiên mực đến mức đầu móng rớm máu, tựa hồ sợ rằng chỉ cần buông lỏng nửa tấc, cái tên duy nhất còn sót lại trên cõi đời của mình cũng sẽ bị dòng nước vô tình cuốn phăng đi mất.
Lâm Chiêu ngồi tựa lưng vào cột buồm gãy, khóe môi vẫn còn vệt máu khô thẫm màu từ đợt phản phệ lúc phá Khóa Cửu Khúc. Nàng im lặng nắm chặt vỏ đoản kiếm Chiếu Hồn, ánh mắt mệt mỏi nhưng sắc lẹm nhìn chằm chằm vào khoảng tối vô tận phía trước. Trên tay nàng, mảnh lệnh bài hành âm bằng đồng đen khắc ba ngọn đèn câm đã nứt làm đôi, mất sạch tia linh quang cuối cùng ngay khi tiếng chuông canh ba dưới đáy sông điểm nhịp. Bề mặt kim loại lạnh ngắt như đá tảng giữa mùa đông, hoa văn ngọn lửa câm chạm chìm nay chỉ còn là những rãnh nứt xơ xác, không còn lấy một gợn ba động linh lực để chống đỡ luồng âm hàn đang không ngừng thẩm thấu qua lớp tay áo rách.
"Trình Dạ... nhìn kìa," giọng Lâm Chiêu khàn đặc, phá tan tiếng nước róc rách ma quái.
Trình Dạ gồng mình ấn mạnh chuôi chèo, ngước mắt nhìn qua màn sương muối xám đục đang vần vũ trên mặt nước. Phía trước, rặng lau xơ xác của Bến Lau Tàn lờ mờ hiện ra qua bức màn sương xám. Cột chuông nghiêng ngả quen thuộc của bến đò sừng sững trên mố đá, nhưng đêm nay nó không hề đơn độc. Trên bờ, năm sáu ngọn đuốc mỡ trâu đang bập bùng cháy đỏ rực, soi rõ những bóng người mặc áo tơi nâu gụ đang đứng dàn hàng ngang, không khí căng thẳng bao trùm tựa như một mẻ lưới giăng sẵn chờ cá vào trĩu ngọn. Ánh lửa đỏ quạch phản chiếu xuống mặt nước lặng ngắt, kéo dài thành những vệt máu ngoằn ngoèo lay động theo từng nhịp sóng vỗ.
*Cạch.*
Mũi đò thúc mạnh vào bậc đá ong rêu phong của bờ bến. Lực va chạm khiến Trình Dạ lảo đảo, hai đầu gối run rẩy suýt quỵ xuống đáy thuyền ẩm ướt. Cùng lúc chiếc dây buộc đò bằng vỏ gai quăng qua cọc đá, ngọn lửa câm trên đỉnh đầu nghê bằng đồng khẽ lóe lên một tia xanh lét rồi tắt ngấm. Giọt dầu âm dưỡng hỏa cuối cùng—chắt chiu từ mỡ cá trắm đen, rễ ngải cứu phơi khô bảy lượt nắng và giọt máu ăn thề của dòng họ Trình—đã cháy sạch đến tận đáy bình. Tim đèn lụi tàn, phả ra một làn khói mỏng mùi thảo mộc ngai ngái rồi biến mất hoàn toàn vào bóng đêm. Cả không gian bỗng chốc rơi vào một thoáng tĩnh lặng tuyệt đối, chỉ còn tiếng thở dốc nặng nhọc của Trình Dạ hòa cùng tiếng nước sông róc rách luồn qua các khe đá nứt.
Trình Dạ thở hắt ra một hơi dài, lồng ngực đau nhói như bị đá tảng đè nặng. Họ đã sống sót trở về. Nhưng sự nhẹ nhõm chưa kịp len lỏi vào tâm trí thì tiếng xích sắt va đập loảng xoảng cùng tiếng quát tháo đã dội thẳng vào tai anh.
"Khóa mũi đò lại! Không ai được rời thuyền khi chưa lập xong văn bản kiểm tra!"
Một toán tuần kiểm gồm bốn người thuộc Hội Giữ Bến lập tức ùa xuống bậc đá ướt át. Những chiếc móc sắt sáng loáng móc chặt vào mạn thuyền, ghìm chặt con đò vào bờ đá như gông cùm trói chặt phạm nhân. Tiếng kim loại cào xé trên thớ gỗ mun ken két ghê người. Dẫn đầu toán người không ai khác chính là Trưởng bến Vũ Kính.
Khuôn mặt già nua đầy nếp nhăn của Vũ Kính tối sầm lại dưới ánh đuốc bập bùng. Chiếc áo tơi khoác trên vai ông đẫm sương đêm, nặng trĩu nước sông, bàn tay gầy gò nổi đầy gân guốc nắm chặt một cuộn thẻ tre bọc da thú và cây bút lông mực nha môn cán dài. Ánh mắt ông quét qua Trình Dạ, dừng lại trên thân xác bất động của Khách Vô Danh, rồi găm thẳng vào ngọn đèn đầu nghê vừa cạn dầu, nơi bấc đèn chỉ còn là một mẩu than đen quăn queo.
"Trình Dạ!" Giọng Vũ Kính đanh lại, từng lời thốt ra lạnh buốt hơn cả gió sông. "Ngươi to gan thật. Bến Lau Tàn đang chịu lệnh giám sát cấp hai, quyền mở tuyến độc lập đã bị tước bỏ. Ngươi dám tự ý dẫn đò rời bến, lưu lại cõi âm suốt một ngày một đêm sau khi nước đã khép! Theo điều lệ thứ chín của Minh ước Giữ Bến, đò cập bến sau một lần khép nước bị khép vào tội đại nghịch phản giới. Ngươi có biết mình đang làm gì không?"
Một tên tuần kiểm đứng cạnh lập tức mở toang ống quyển, lớn tiếng đọc các điều khoản bằng giọng điệu the thé, lạnh lùng như gọt đá:
"Trình Dạ, giữ bến đời thứ tư tại Bến Lau Tàn. Tội danh: Tự ý xuất bến không có hội viên kỳ cựu đi kèm; lưu lại dòng âm trái phép qua giờ nước khép; mang theo hành khách không có danh tính hợp lệ và tiếp tay cho hành vi buôn lậu cõi âm. Căn cứ điều lệ hội đồng, lập tức tịch thu quyền giữ bến vĩnh viễn, niêm phong toàn bộ nhà chờ, thu hồi lệnh bài sông nước và áp giải người về trạm thẩm vấn Lạc Châu!"
Tên tuần kiểm vừa dứt lời liền rút ra dải niêm phong bằng vải điều thấm nhựa thông, toan dán thẳng lên mũi thuyền của họ Trình.
"Dừng tay!"
Trình Dạ chống chiếc đòn gánh nứt dọc đứng thẳng dậy, đôi mắt đỏ ngầu trừng trừng nhìn tên tuần kiểm. Bàn tay anh nắm chặt lấy thân đòn gánh, gân xanh nổi cuộn trên mu bàn tay rách da, máu rỉ ra từ kẽ ngón tay chảy dọc thân gỗ:
"Bến này là của cha ta truyền lại! Dòng họ Trình giữ bến qua bốn đời, ăn thề bằng máu với đá giới Dạ Thủy. Trừ phi dòng nước cạn khô, không ai có quyền dán niêm phong lên con đò này trước khi ta nói rõ sự tình!"
"Nói rõ sự tình?" Vũ Kính bước tới một bước, tà áo tơi bay phần phật trong gió đêm. Ánh mắt ông lóe lên sự phẫn nộ xen lẫn một nỗi sợ hãi giấu kín. "Ngươi còn muốn ngụy biện cái gì? Quy chế ba trăm năm của Hội Giữ Bến ghi rõ: Nước khép là ranh giới sống chết đóng lại! Bất kỳ kẻ nào sống sót trở về sau một ngày một đêm kẹt dưới dòng âm đều có thể đã bị tử khí xâm lấn, biến thành vật dẫn cho tà thuật. Ngươi không chỉ kéo dài thời gian vô phép, mà ngọn đèn dẫn của ngươi... giọt dầu âm cuối cùng cũng cạn sạch! Ngươi lấy cái gì chứng minh con đò này chưa từng bị lũ cắt danh lợi dụng làm phương tiện vận chuyển?"
Toán tuần kiểm lập tức tiến lên nửa bước, những chiếc gậy bọc sắt chĩa thẳng vào Trình Dạ. Không khí bên bờ bến đông cứng lại. Mấy tên tuần kiểm siết chặt chuôi đao bên hông, chỉ chờ một cái phất tay của Vũ Kính là sẽ ập vào trói người. Đúng lúc thế giằng co sắp vỡ òa thành một cuộc ẩu đả đổ máu, một giọng nói lạnh lùng, dứt khoát vang lên từ lòng thuyền:
"Lấy danh nghĩa của Huyền Đăng Môn để chứng minh, liệu đã đủ tư cách cho Trưởng bến Vũ Kính lắng nghe chưa?"
Lâm Chiêu chậm rãi bước lên mũi đò.
Dù y phục trắng của nàng đã rách nát nhiều chỗ, dính đầy bùn xám và tro tàn của đám cháy kho ngầm Cồn Đèn Câm, nhưng khí độ tôn nghiêm của một tu sĩ Chiếu Hồn vẫn khiến đám tuần kiểm bất giác lùi lại nửa bước. Nàng rút từ trong ngực áo ra một chiếc ngọc bài hình hoa sen ba ngọn lửa—dù lệnh bài hành âm bằng đồng đen đã vỡ, nhưng ngọc bội thân phận đệ tử nội môn của Huyền Đăng Môn vẫn tỏa ra một vầng thanh quang mỏng manh đẩy lùi tử khí xung quanh. Vầng quang hoa màu ngọc bích tuy nhạt nhòa sau trận huyết chiến nhưng vẫn đủ làm tan biến hơi lạnh ngưng tụ nơi đầu mũi móc sắt của đám tuần sai.
Vũ Kính nheo mắt lại, cơ mặt giật nhẹ: "Lâm đạo hữu... Ngài là tu sĩ thượng môn, hà cớ gì lại nhúng tay sâu vào quy chế tự quản của người chèo đò chúng ta? Đò qua cõi âm có luật của cõi âm, tiên môn các ngài dù uy thế ngập trời cũng không thể đứng trên Minh ước Giữ Bến ba trăm năm."
"Ta không đứng trên Minh ước, ta đứng ra làm nhân chứng hợp pháp," Lâm Chiêu bước hẳn lên bậc đá ong, đối diện trực tiếp với Vũ Kính. "Chuyến đi này là nhiệm vụ kiểm tra nghiệp vụ khẩn cấp do Ty Phòng Vệ và Viện Nghiên Cứu phối hợp chỉ đạo. Việc trễ nợ đò và kẹt lại Cồn Đèn Câm là do sự cố chướng khí thượng nguồn Dạ Thủy bùng phát bất thường, kèm theo hỏa hoạn tại kho ngầm trung chuyển. Ta dùng tư cách tu sĩ Huyền Đăng Môn xác nhận: Trình Dạ không hề làm phản, không hề buôn lậu tà vật. Chiếc đò này bảo toàn sinh mạng cho ta và áp giải một nhân chứng sống quan trọng của vụ án tước danh Lạc Châu. Toàn bộ trách nhiệm hành chính phát sinh trong chuyến đi, Huyền Đăng Môn sẽ gửi công văn giải trình lên phân hội trưởng bến trong vòng ba ngày."
Nàng giơ ngón tay điểm một giọt linh lực yếu ớt lên cuộn thẻ tre trên tay Vũ Kính, để lại một vết ấn ký hoa sen mờ nhạt: "Thủ tục bảo lãnh này có hiệu lực tạm thời đình chỉ việc tịch thu bến. Trưởng bến Vũ Kính, ngài muốn đối đầu với quy trình thụ lý án của Huyền Đăng Môn ngay đêm nay sao?"
Đám tuần kiểm đưa mắt nhìn nhau, lộ rõ vẻ e dè. Đụng vào người giữ đò thì dễ, nhưng đụng vào một tu sĩ mang ngọc bài nội môn của Huyền Đăng Môn—nhất là khi sau lưng nàng là cả một thế lực khổng lồ đang thao túng thành Lạc Châu—thì không một tuần kiểm tầm thường nào dám gánh trách nhiệm. Những bàn tay đang lăm lăm chuôi đao khẽ buông lỏng, ánh mắt họ dồn cả về phía ông lão trưởng bến, chờ đợi một quyết định rút lui trong danh dự.
Vũ Kính đứng sững sờ giữa bãi đá. Ngọn đuốc trên tay ông chao đảo dữ dội theo cơn gió lạnh từ lòng sông thốc lên. Bàn tay già nua đang đỡ lấy bản báo cáo vi phạm bỗng khẽ run rẩy. Đôi mắt sâu hoắm của ông nhìn trừng trừng vào vết ấn ký hoa sen trên cuộn thẻ tre, rồi liếc nhanh sang Trình Dạ—người đang nghiến răng đứng chắn trước Khách Vô Danh.
Một thoáng kinh hoàng và bất lực lướt qua đáy mắt ông lão, nhanh đến mức đám tuần kiểm xung quanh không tài nào nhận ra. Nhưng Trình Dạ, người đã học nghề đò từ ông suốt mười hai năm qua, nhìn thấy rất rõ. Đó không phải là ánh mắt của một kẻ hống hách bị chặn họng, mà là ánh mắt của một người già cả đang chứng kiến một đứa trẻ dại dột lao đầu vào đống lửa mà không cách nào kéo lại được.
"Được... Được lắm," Vũ Kính hạ giọng, thu cuộn thẻ tre lại vào trong ống tay áo tơi rộng thùng thình. Ông phất tay ra hiệu cho toán tuần kiểm thu lại móc sắt và dải niêm phong. "Có tu sĩ Huyền Đăng Môn đứng ra bảo lãnh, Hội Giữ Bến tạm thời đình chỉ việc tước quyền bến đò trong ba ngày. Nhưng Trình Dạ, ngươi nghe cho rõ đây..."
Ông bước sát lại gần Trình Dạ, khoảng cách gần đến mức anh có thể ngửi thấy mùi thuốc lào ngai ngái pha lẫn mùi rêu ẩm bám trên áo ông lão. Vũ Kính ghé sát tai anh, lẩm bẩm bằng một thanh âm run rẩy đến nghẹn ngào, chỉ đủ cho hai người nghe thấy:
"Ngươi tưởng ngươi thắng được một nước cờ hành chính sao, thằng ngu? Đã không còn nhiều thời gian trước ngày khóa đập nữa đâu... Mau giấu cho kỹ những thứ không nên để người ta thấy đi. Một khi Đập Khóa Mạch hạ cửa cống cuối cùng, cả dòng sông này sẽ bị phong tỏa. Đến lúc đó, dù là cha ngươi sống lại... cũng không ai cứu nổi cái bến này đâu!"
Hơi thở của ông lão phả vào tai Trình Dạ nóng rực nhưng lời nói lại lạnh lẽo thấu xương. Trình Dạ còn chưa kịp cất lời gặng hỏi thì Vũ Kính đã quay ngoắt người lại, dằn mạnh chiếc gậy gỗ xuống bậc đá vang lên một tiếng cộp đanh gọn:
"Rút quân! Canh chừng lối đê phía trên, không cho kẻ lạ lai vãng!"
Toán tuần kiểm lặng lẽ nối đuôi nhau rời khỏi bến đò, ánh đuốc đỏ lùi dần lên mặt đê rồi biến mất sau rặng tre cằn cỗi. Bóng tối nhanh chóng nuốt chửng những tà áo tơi sũng nước, chỉ còn để lại vệt mùi khói mỡ trâu khét lẹt trôi dạt trên bãi đá ẩm.
Bến Lau Tàn chìm trở lại vào sự tĩnh lặng âm u của đêm muộn. Tiếng sóng vỗ ì oạp vào chân mố đá nghe như tiếng thở dài mệt mỏi của một kẻ hấp hối. Cột chuông bến đò đứng xiêu vẹo trong gió lạnh, sợi dây thừng buộc quả chuông đồng khẽ đu đưa, phát ra những tiếng cọ xát ken két khô khốc vào thân gỗ mục.
Từ trong gian nhà chờ xập xệ, một bóng người gầy gò vội vã lao ra. Đó là bà Lê An. Chiếc khăn chàm quấn vội trên đầu lệch sang một bên, hai mắt bà đỏ hoe, sưng húp vì khóc suốt một ngày một đêm ngóng con. Đôi quang gánh và mẹt củ từ bán dở ban chiều vẫn vứt chỏng chơ bên bậu cửa, chứng tích cho những giờ phút thấp thỏm ngồi ngóng ra lòng sông mịt mùng sương khói. Nhìn thấy Trình Dạ đứng vững bằng xương bằng thịt trên mố đá, bà nghẹn ngào gọi một tiếng "Dạ con!", rồi lao tới ôm chầm lấy anh, đôi bàn tay gầy guộc chằng chịt vết chai sạn sờ nắn khắp vai, khắp ngực con trai để chắc chắn anh chưa bị dòng nước nuốt mất.
"Con không sao, mẹ... Con về rồi," Trình Dạ khẽ vỗ về lưng mẹ, giọng anh run lên vì kiệt sức.
Nhưng bà Lê An không chỉ nhìn con trai. Ánh mắt tinh tường của một người phụ nữ giữ bến đã trải qua bao biến cố lập tức quét qua bóng người không có bóng đang mê man dưới thuyền, quét qua thanh kiếm mẻ của Lâm Chiêu, và dừng lại ở vết nứt dọc trên thân đòn gánh lim. Bà nhìn thấy những vệt bồ hóng bám trên mép vải liệm của Khách Vô Danh, ngửi thấy mùi phèn chua của kho ngầm Cồn Đèn Câm và mùi máu tanh phảng phất từ lòng thuyền. Bà nuốt nước nghẹn vào trong, khẽ gật đầu với Lâm Chiêu một cái đầy thấu hiểu, rồi không nói thêm lời nào, lẳng lặng quay người đi thoăn thoắt về phía nhà sau.
Trình Dạ nhìn theo bóng lưng mẹ, bắt gặp khoảnh khắc bà lén lút mở then cài cánh cửa kho cũ, lôi chiếc rương gỗ dâu rừng quen thuộc của cha ra khoảng sân sau khuất gió. Cánh cửa kho gỗ nghiến kèn kẹt khi hé mở, để lộ ra những mạng nhện giăng kín trên các bao tải trấu cũ và đống lưới rách đã bạc màu.
Một linh cảm kỳ lạ dâng lên trong lòng anh, nhưng trước khi anh kịp suy nghĩ thêm về hành động của mẹ, một bóng đen khác thập thò nơi góc mái kho bến đã đập vào mắt anh.
Đó là một bóng người lùn mập, đang nép mình sau đống cọc rào và những bó lau khô chất đống cạnh vách đá, lấm lét nhìn ra ngoài bến nước. Dưới bóng tối lờ mờ của mái hiên rủ rêu, kẻ đó đang run rẩy co rúm người lại, hai bàn tay bấu chặt vào bờ tường đá ong ẩm ướt, dường như chỉ chực chờ toán tuần kiểm đi khuất là sẽ lẻn trốn lên mặt đê.
Cơn giận dữ bị kìm nén suốt chuyến hành trình từ Cồn Đèn Câm bỗng chốc bùng lên như lửa gặp dầu. Ký ức về ngọn lửa thiêu rụi quán Câm Trà, về tiếng cười ma dại của đám đao phủ Hội Tro Trắng và hình ảnh Khách Vô Danh quằn quại dưới đáy nước như dồn ứ lại thành một khối u uất chặn ngang cổ họng. Máu trong người Trình Dạ dồn hết lên màng tang. Anh buông mái chèo, bước những bước sầm sập dứt khoát về phía góc tối của gian kho. Từng bước chân nện mạnh trên nền đá sỏi, phát ra những âm thanh khô khốc đầy sát khí.
"Phạm Lục!"
Bóng người giật bắn mình, hoảng hốt toan thụt lùi vào khe hẹp giữa hai vách đá để tháo chạy, nhưng Trình Dạ đã nhanh như cắt lướt tới. Bàn tay thô ráp của người chèo đò chộp lấy cổ áo vải thô của tên thư lại, giật mạnh một cái khiến gã ngã dúi dụi ra nền đất ẩm ướt đầy rác rêu.
"Dạ! Trình Dạ... là... là tôi đây mà!" Phạm Lục run lập cập, hai tay ôm đầu co rúm lại dưới đất, chiếc mũ quan lại bằng dạ đen rơi lăn lóc sang một bên, để lộ mái tóc rối bù xơ xác. Khuôn mặt tròn trĩnh thường ngày hay cười cợt của gã giờ đây xám ngoét như tro tàn, bọng mắt thâm quầng vì mất ngủ và sợ hãi, khóe môi nứt nẻ rớm máu vì cắn chặt răng quá lâu. "Cậu... cậu về được rồi à? Ơn trời đất, tôi cứ tưởng cậu bị dòng âm nuốt chửng luôn rồi chứ..."
"Ngươi mong ta chết dưới đó lắm phải không?"
Trình Dạ rít qua kẽ răng. Anh túm chặt lấy vạt áo ngực của bạn mình, nhấc bổng gã lên rồi ép chặt vào vách đá gồ ghề của kho bến. Bụi vôi và rêu mục rơi lả tả xuống vai hai người. Lưng Phạm Lục đập mạnh vào góc đá nhọn khiến gã thốt lên một tiếng nghẹn ngào, hai chân lơ lửng đạp loạn xạ vào khoảng không.
"Dạ... cậu nói gì vậy? Tôi với cậu là bạn từ thuở cởi truồng tắm sông... Tôi lo cho cậu chết đi được, cả ngày nay tôi trốn chui trốn lủi ở đây chờ cậu..." Phạm Lục mếu máo, hơi thở hôi hám vì sợ hãi phả ra dồn dập, hai mắt đảo quanh quất tìm kiếm một lối thoát không tồn tại.
"Bạn bè?"
Trình Dạ cười gằn một tiếng, một nụ cười cay đắng đến thắt lòng. Đôi mắt anh long lên sòng sọc nhìn thẳng vào con ngươi đang giãn ra vì khiếp hãi của kẻ đối diện. Tay kia của anh thò vào trong ngực áo, rút ra một mẩu giấy bản đã nhàu nát, nhuốm màu hồng điều lòe loẹt. Tờ giấy ấy mang theo thứ mùi son phấn bẩn thỉu của chốn sòng bạc cõi âm, ẩm ướt và nhầy nhụa như vừa vớt lên từ một vũng bùn thối.
*Xoạt!*
Mẩu giấy bị Trình Dạ đập thẳng vào mặt Phạm Lục, rồi buông tay để nó rơi lả tả xuống ngực gã.
Mùi phấn son rẻ tiền cùng mùi rượu thuốc của sòng bạc nổi cõi âm lập tức xộc vào mũi Phạm Lục. Tờ giấy bay là đà rồi mắc lại trên những ngón tay đang run rẩy của tên thư lại. Vừa nhìn thấy ba chữ số "ba mươi lượng bạc âm" cùng dòng chữ ký xiêu vẹo viết bằng thứ mực đen tím pha phèn độc môn của Ty Danh Tịch Lạc Châu, toàn thân Phạm Lục cứng đờ lại như bị sét đánh ngang tai. Con dấu triện hình nghiên mực khuyết góc của chính bàn tay gã khắc lên góc giấy như một vết chàm nhơ nhuốc không thể nào chối cãi.
Gã nhìn chòng chọc vào mẩu giấy ghi nợ, hàm răng va vào nhau lập cập phát ra những tiếng *cạch cạch* khô khốc. Mồ hôi lạnh túa ra ướt đẫm cả mảng lưng áo sau, dính bết vào da thịt lạnh buốt.
"Cái này... cái này ở đâu ra..." Giọng Lục run rẩy không thành tiếng, đầu gối gã mềm nhũn ra như bún.
"Ở đâu ra à? Ở quán Câm Trà của Tạ Mạn trên Cồn Đèn Câm!" Trình Dạ gằn từng tiếng, mỗi lời nói như một mũi dao đâm thẳng vào lương tâm kẻ đối diện. "Ngươi nợ cờ bạc ba mươi lượng bạc âm của sòng bạc cõi chết. Để gán nợ, ngươi đã lấy thứ gì ra đổi? Hả? Nói đi! Ngươi đã bán lịch trình kiểm kê và các đợt tuần tra của nha môn cho Hội Tro Trắng đúng không?"
Phạm Lục nuốt nước bọt ực một tiếng, trán túa ra mồ hôi hột ướt đẫm cả lông mày, cổ họng nghẹn ứ lại không thốt nên lời: "Dạ... nghe tôi giải thích đã... không phải như cậu nghĩ đâu..."
"Không phải như ta nghĩ?" Trình Dạ siết chặt cổ áo Lục, dí sát mặt mình vào mặt gã, đôi mắt long lên sòng sòng như muốn thiêu rụi kẻ phản bội: "Ngươi có biết vì cái lịch tuần tra đó mà Những Kẻ Cắt Danh đã làm gì không? Chúng canh đúng lúc nha môn không đi tuần để đưa thuyền đáy bằng vào Làng Sau Miếu! Chúng bôi Linh Tức Tỏa Hồn Dầu lên mười bảy nóc nhà, đốt sạch bài vị tổ tiên, cướp sạch gia phả, dìm cả một ngôi làng vào quên lãng! Khách Vô Danh bị tước đoạt cả tên họ, sống dở chết dở mười hai năm trời dưới đáy cống... Tất cả chỉ vì ba mươi lượng bạc cờ bạc thối tha của ngươi!"
Trình Dạ gầm lên, từng đường gân trên cổ anh giật nảy theo từng cơn giận dữ. Anh nhớ lại cảnh tượng Khách Vô Danh run rẩy co quắp trên sàn đò, nhớ lại mẩu giấy bị xé toạc trong kho tài liệu ngầm, nhớ lại ánh mắt trống rỗng của những linh hồn bị tước đoạt danh tính trôi dạt dọc dòng Dạ Thủy. Tất cả những thảm kịch kinh hoàng ấy, khởi nguồn lại chỉ từ một món nợ cờ bạc hèn hạ của một kẻ thư lại đớn hèn!
Cơn thịnh nộ bùng phát khiến Trình Dạ vung nắm đấm lên. Nắm đấm cứng như đá hoa cương của người chèo đò xé gió lao tới, dừng lại chỉ cách sống mũi Phạm Lục nửa tấc, kình phong thổi bay những sợi tóc lơ thơ trên trán gã thư lại.
Nhưng Trình Dạ không đánh xuống. Nhìn thấy giọt nước mắt lăn dài trên gò má nhợt nhạt của người bạn thân lớn lên cùng mình từ thuở nhỏ, nắm tay anh run lên bần bật rồi hạ xuống. Một nỗi đau đớn, thất vọng cùng cực bóp nghẹt lồng ngực anh. Anh nhớ những buổi trưa hè hai đứa cùng trốn mẹ ra ngâm mình dưới bến lau, nhớ những củ khoai nướng chia đôi bên bếp lửa mùa đông. Giờ đây, người bạn ấy lại chính là mắt xích đẩy bao nhiêu sinh linh vào cảnh tan cửa nát nhà, sống không bằng chết.
Bị dồn đến chân tường, lớp vỏ bọc run rẩy của Phạm Lục hoàn toàn vỡ vụn.
Gã trượt dài theo vách đá, ngã quỵ xuống đất, hai tay ôm chặt lấy đầu gối rồi òa khóc nức nở như một đứa trẻ. Tiếng khóc nghẹn ngào, ai oán của gã vỡ ra giữa màn sương đêm tĩnh mịch, hòa cùng tiếng nước sông róc rách:
"Tôi sai rồi... Dạ ơi, tôi sai rồi! Tôi là thằng khốn nạn, tôi đáng chết ngàn lần! Nhưng trời đất chứng giám, tôi thề có vong linh cha mẹ tôi chứng giám, lúc đó tôi không hề biết! Tôi thề là tôi không hề biết bọn họ dùng nó để xóa sổ cả một ngôi làng!"
Phạm Lục vừa đấm thùm thụp vào ngực mình vừa nấc nghẹn, từng giọt nước mắt hòa lẫn với bụi đất trên mặt lem luốc:
"Mười hai năm trước... mẹ tôi mắc chứng bệnh lạ, toàn thân lạnh ngắt như người chết, thầy lang bảo phải có sâm ngàn năm ngâm nước suối cõi âm mới cứu được mạng già. Lương bổng của một tên thư lại quèn ở Ty Danh Tịch thì có được bao nhiêu? Tôi túng quẫn quá, bị đám sai nha rủ rê bước chân xuống sòng bạc nổi ở Cồn Đèn Câm... Tôi chỉ định kiếm vài đồng bạc lo thuốc men cho mẹ, ai ngờ... ai ngờ càng đánh càng thua, càng gỡ càng lún sâu vào bẫy của mụ Tạ Mạn!"
Gã ngẩng khuôn mặt đẫm nước mắt lên, nhìn Trình Dạ với ánh mắt tuyệt vọng cầu khẩn, hai bờ môi tím tái run rẩy không ngừng:
"Mụ Tạ Mạn dí giấy nợ đòi chặt tay tôi, dọa sẽ báo lên quan chưởng ấn tước bỏ phẩm hàm và bắt mẹ tôi đi đày. Lúc đó mụ bảo... mụ chỉ cần một bản sao lịch trình kiểm kê đê điều và giờ giấc đổi ca tuần tra của lính nha môn. Mụ nói có mấy phường buôn lậu muốn né giờ tuần để chở ít gỗ lậu và muối trắng qua sông... Tôi cứ ngỡ đó chỉ là chuyện buôn bán tin tức hành chính vặt vãnh như đám quan lại vẫn thường lén lút làm! Tôi đâu có ngờ... tôi đâu có ngờ sau lưng mụ là đám quỷ dữ của Viện Nghiên Cứu, là Những Kẻ Cắt Danh của Bạch Huyền!"
Tiếng khóc của Phạm Lục khàn đặc lại, gã bấu chặt lấy gấu quần của Trình Dạ, dập đầu lia lịa xuống nền đá lởm chởm khiến trán sưng vù, rớm máu:
"Mãi đến khi vụ án Làng Sau Miếu xảy ra, toàn bộ sổ sách bị xé toạc, tên làng biến mất khỏi bản đồ địa bạ... tôi mới chết điếng nhận ra mình đã tiếp tay cho một tội ác tày đình. Mười hai năm qua, không một đêm nào tôi nhắm mắt ngủ yên! Mỗi lần nhìn thấy hồ sơ thuế má bị cắt đứt, tôi lại thấy linh hồn của những người làng ấy hiện về bóp cổ tôi... Tôi sợ hãi, tôi không dám nói với ai, tôi chỉ biết cắn răng dùng sở trường tính toán của mình để âm thầm ghi chép lại mọi thứ..."
Trình Dạ đứng sững sờ giữa gió đêm, lồng ngực phập phồng theo từng nhịp thở nặng nhọc. Cơn giận dữ ban đầu dần dần lắng xuống, nhường chỗ cho một nỗi xót xa tê tái. Sự thật trần trụi luôn tàn nhẫn hơn những gì người ta tưởng tượng: sự sụp đổ của cả một cộng đồng đôi khi không bắt nguồn từ một âm mưu vĩ đại duy nhất, mà được chắp vá từ sự tha hóa, túng quẫn và hèn nhát của những con người nhỏ bé trong guồng quay quyền lực. Những kẻ ngồi trên cao chỉ cần ném ra vài đồng bạc âm, rung chuông một tiếng trong sòng bạc, là đã đủ để những kẻ cùng đinh tự dâng nộp linh hồn và đẩy đồng loại xuống vực sâu tăm tối.
Lâm Chiêu từ ngoài mố đá bước lại gần, thanh kiếm Chiếu Hồn trên tay nàng khẽ rủ xuống. Vạt áo trắng vương bụi đất của nàng khẽ bay trong gió. Nàng nhìn Phạm Lục đang quỳ mọp dưới đất, trầm ngâm hồi lâu rồi cất tiếng, thanh âm mang theo sức nặng của người am hiểu luật lệ quan nha:
"Ngươi nói ngươi âm thầm ghi chép lại mọi thứ?"
Phạm Lục giật mình ngẩng đầu lên, vội vã gật đầu lia lịa như vồ được phao cứu sinh giữa dòng nước xoáy:
"Đúng! Đúng vậy! Tu sĩ đại nhân, Trình Dạ, xin hãy tin tôi! Tôi biết tội tôi tày trời, nhưng tôi không hề muốn che giấu cho bọn chúng! Toàn bộ số bạc âm ba mươi lượng tôi nhận từ Tạ Mạn, tôi... tôi vẫn chưa dám tiêu một đồng nào vào việc riêng ngoài tiền thuốc thang cho mẹ, tôi chôn giấu toàn bộ dưới chân bàn thờ tổ tiên ở quê nhà. Tôi cam kết sẽ nộp lại toàn bộ số bạc đó để sung công chuộc tội!"
Gã run rẩy thò tay vào trong lớp áo lót rách rưới, lần mò trong lớp vải đệm chần bông ẩm ướt, móc ra một tập giấy dó dày cộp, mép giấy đã sờn rách và ố vàng vì mồ hôi. Đó chính là tập bản thảo mà gã đã liều mạng ôm trốn khỏi thành Lạc Châu giữa sự truy lùng ráo riết của nha môn.
"Và đây nữa!" Phạm Lục run run giơ tập giấy lên bằng cả hai tay, kính cẩn như dâng một bản sớ cứu mạng. "Đây là bản nháp tính thuế thủ công thô sơ do chính tay tôi tính toán độc lập qua các năm! Trên các sổ bộ chính thức của Ty Danh Tịch, phù ấn của thuật Đoạt Danh đã xóa sạch tên làng, biến ba trăm mẫu ruộng và bảy dặm đê thành đất hoang. Nhưng những con số số học thuần túy trên bản nháp này không gắn với bất kỳ danh ấn hay con dấu hành chính nào của nha môn hay tiên môn, nên cấm thuật hoàn toàn không thể làm biến đổi chúng! Nó ghi lại chính xác từng hộc thóc, từng tấc đất, từng cọc mốc thực địa dẫn thẳng vào Làng Sau Miếu!"
Trình Dạ cúi xuống, đón lấy tập bản thảo từ tay Phạm Lục. Từng trang giấy mỏng manh nhưng nặng trĩu.
Những con số chi chít viết bằng thứ mực tàu rẻ tiền hiện rõ mồn một dưới ánh sáng lờ mờ của cõi sống. Từng cột tính, từng nét gạch sổ, từng con dấu son phụ trợ biểu thị lượng thóc nộp kho, số đinh đóng thuế... tất cả đều khớp một cách hoàn hảo với cấu trúc địa lý của một ngôi làng trù phú từng tồn tại bên bờ Dạ Thủy. Đây chính là một chứng tích vật chất độc lập thuần túy—thứ mà quy luật của thế gian này không thể tự ý sửa đổi nếu nó chưa bị thiêu hủy bằng tiếp xúc vật lý. Cấm thuật của Những Kẻ Cắt Danh có thể xóa bỏ danh tự, có thể làm lu mờ ký ức của con người, nhưng không thể xóa bỏ tính logic lạnh lùng của những con số số học mộc mạc không vướng bụi trần phù phép.
"Đứng dậy đi, Lục," Trình Dạ thở dài một tiếng, bàn tay thô ráp đưa ra nắm lấy cánh tay bạn mình, kéo gã đứng dậy khỏi vũng bùn ẩm ướt. "Tội của ngươi, sau này nha môn và Hội Giữ Bến sẽ định đoạt. Nhưng bây giờ, giữ lấy cái mạng của ngươi mà chuộc tội."
Phạm Lục quệt nước mắt nước mũi, nghẹn ngào gật đầu, bám chặt lấy cánh tay Trình Dạ như bám vào sợi dây cứu sinh duy nhất còn sót lại của cuộc đời mình. Đôi vai gã vẫn còn run lên từng chặp, nhưng trong mắt đã lóe lên một tia sáng của kẻ tìm thấy con đường chuộc lại lỗi lầm tày đình trong quá khứ.
Cả ba người cùng dìu nhau bước vào trong nhà chờ.
Gian nhà chờ xập xệ của Bến Lau Tàn chìm trong ánh sáng ấm áp, vàng vọt của ngọn đèn dầu lạc đang leo lét cháy trên bàn thờ tổ. Khói hương trầm thoang thoảng quyện với mùi ẩm mốc của vách đất, tạo nên một cảm giác bình yên giả tạm đối lập hoàn toàn với sự lạnh lẽo đến rợn người ngoài bến sông. Khách Vô Danh đã được đặt nằm ngay ngắn trên chiếc chõng tre quen thuộc. Bà Lê An đã cẩn thận đắp lên ngực gã một tấm chăn chiên cũ nhuộm màu vỏ dà. Sắc mặt gã tuy vẫn trắng bệch như xác chết trôi nhưng nhịp thở đã dần dần ổn định trở lại nhờ quầng sáng ấm áp của ngọn đèn dầu cõi sống. Làn da nhợt nhạt của gã khẽ rung lên theo từng nhịp tim đập yếu ớt, dấu hiệu cho thấy phần dương khí ít ỏi còn sót lại đang dần chiến thắng hơi lạnh của cõi âm.
Lâm Chiêu đặt thanh kiếm Chiếu Hồn lên bàn đá, sắc mặt nghiêm trọng. Nàng đưa mắt nhìn quanh gian phòng vách nứa, rồi dừng lại trên ngọn đèn dầu lạc:
"Vũ Kính nói đúng một điều: thời gian của chúng ta không còn nhiều. Ninh Sắc đã bị đẩy lui ở Cồn Đèn Câm, nhưng Bạch Huyền sẽ không dừng lại. Khi Đập Khóa Mạch chuẩn bị bước vào giai đoạn phong tỏa toàn diện, chúng sẽ ra tay tiêu hủy mọi đầu mối còn sót lại. Nếu muốn lật tẩy âm mưu tước danh này, chúng ta buộc phải tiếp cận được hồ sơ gốc mười hai năm trước mà cha ngươi đã gửi lại."
"Nhưng Đỗ Từ Uyên ở Tàng Danh Các là người vô cùng cẩn trọng," Trình Dạ ngồi xuống ghế đẩu, hai bàn tay đan chặt vào nhau, khớp ngón tay kêu răng rắc. "Bà ấy giữ kho độc lập theo nguyên tắc nghiêm ngặt: không mở niêm phong cho bất kỳ ai chỉ dựa vào huyết thống. Muốn mở gói tài liệu lưu trữ của cha ta mười hai năm trước, chúng ta phải có vật đối chứng có đủ tư cách và thẩm quyền."
Lâm Chiêu trầm ngâm: "Vật đối chứng đó... cha ngươi khi xưa có từng nhắc đến với ngươi không?"
Trình Dạ lắc đầu, ánh mắt trĩu nặng: "Khi cha ta biến mất trên dòng Dạ Thủy mười hai năm trước, ông không để lại một lời trăn trối nào. Cả con đò của ông cũng chìm sâu dưới đáy nước, chỉ có chiếc đòn gánh này trôi dạt vào bến lau, được mẹ ta vớt lên..."
Căn phòng rơi vào một khoảng lặng nặng nề. Tiếng bấc đèn nổ tanh tách càng làm tăng thêm vẻ ngột ngạt. Phạm Lục ngồi thu lu ở góc phản, ôm chặt lấy tập giấy nháp tính thuế như sợ ai đó giật mất, ánh mắt thẫn thờ nhìn bóng ngọn đèn in trên vách đất.
Đúng lúc đó, tấm rèm vải chàm ngăn cách gian buồng trong khẽ lay động.
Tiếng bước chân chậm rãi nhưng vững chãi vang lên trên nền gạch đất nung. Từng bước đi dứt khoát, không hề có sự ngập ngừng hay sợ hãi của một người đàn bà góa bụa chốn bến đò hẻo lánh. Bà Lê An bước vào phòng.
Trên hai tay bà, một bọc vải chàm cũ kỹ đã phai màu sương gió được nâng niu cẩn trọng như một báu vật thiêng liêng. Những nếp gấp của tấm vải chàm tỏa ra một mùi hương quen thuộc đến nao lòng—mùi của rễ cây ngải cứu khô, mùi dầu cá trắm đen ngâm nước âm, và mùi mồ hôi của một người đàn ông đã vắng bóng suốt mười hai năm ròng rã. Tấm vải ấy từng là mảnh áo tơi dự phòng của người giữ bến đời thứ ba, thấm đượm bao mùa mưa bão trên dòng Dạ Thủy.
Bà bước đến cạnh bàn đá, ánh mắt nhìn thẳng vào Trình Dạ, một ánh mắt chứa đựng cả nỗi đau thương dồn nén lẫn niềm kiêu hãnh của dòng họ Trình suốt bốn đời cắm sào giữ bến. Bà chậm rãi đặt bọc vải xuống trước mặt anh.
Những ngón tay gầy guộc của bà khẽ gạt lớp vải sang hai bên. Dưới lớp vải chàm hé mở, lộ ra góc một chiếc hộp gỗ dâu rừng đen nhánh, chạm khắc hoa văn bến nước và những nút đếm hành trình chìm sâu trong thớ gỗ. Mặt hộp bóng loáng, nhẵn thín nhờ năm tháng được lau chùi cẩn thận bằng dầu mè và sáp ong. Ở chính giữa nắp hộp, một chiếc khóa đồng hình mắt cá chép ngậm chuỗi tiền âm lấp lánh một thứ ánh kim mờ ảo, nguyên vẹn và bất khả xâm phạm.
"Muốn mở được đồ của cha con để lại ở Tàng Danh Các," giọng bà Lê An trầm thấp, vang vọng trong gian nhà câm lặng, "chỉ có thứ này mới đủ tư cách."