Nhà Trọ Không Có Phòng Số 6C.10 / 20
Chương 10

Một người làm chứng cũng phải chịu trách nhiệm

Sáng sớm ngày thứ năm bên ngoài con hẻm, Trang nhận được tin nhắn mã hóa từ Bảo về cái chết của Duy trong vòng lặp, thúc bách cô phải tăng tốc truy tìm các nhân chứng lịch sử còn sống.

Dòng chữ cụt lủn trên màn hình điện thoại rạch ngang tầm mắt cô như một vệt dao cứa sắc lạnh: *“Thợ điện kẹt lại ở 00:11 đêm 3. Gãy ngực. Không qua được. Chị Linh dặn phải chạy đua với thời gian, người bên ngoài là hy vọng duy nhất.”*

Trang đứng chết lặng giữa gian phòng khách ngổn ngang giấy tờ của mình. Hai ngón tay cái của cô bấu chặt vào mép bàn gỗ ép đến mức đầu móng trắng bệch, khớp xương nhức buốt. Dù lý trí đã được chuẩn bị từ trước theo những quy luật tàn khốc mà Linh tìm cách gửi ra trong các đợt giao nhận ngắn ngủi—rằng Duy sẽ sống lại khi chu kỳ tự động đặt lại ở ngày thứ nhất của một vòng tuần hoàn mới—nhưng cái giá phải trả cho một cái chết thể xác chưa bao giờ là một con số không. Cái chết trong vòng lặp không đơn thuần là sự tắt lịm của tim phổi rồi bật sáng trở lại như một bóng đèn dây tóc. Cái giá thực sự là sự hủy hoại vĩnh viễn một phần căn tính. Một mảnh linh hồn, một mảng ký ức nguyên bản của người thợ điện xấu số ấy đã bị thực thể căn nhà nuốt chửng, tiêu hóa và nghiền nát thành thứ bã thừa của thời gian. Cứ mỗi một ngày trôi qua ở thế giới tuyến tính ngoài này, những con người đang giãy giụa trong cái lồng bát quái ngõ 48 lại tiến gần hơn một bước đến ranh giới không thể đảo ngược: bị đồng hóa, bị gọt giũa thành những bản dựng rỗng tuếch, trơ tráo lặp lại các cử chỉ vô thức mà không còn bất kỳ lối về nào cho một kiếp người trọn vẹn.

Bên ngoài khung cửa kính bám đầy bụi mịn của tầng chung cư cũ, bầu trời thành phố chìm trong một màn sương mù ảm đạm, xám xịt như màu nước rửa chổi quét vôi. Gió sớm quẩn quanh những khối bê tông thô ráp mang theo cái lạnh ẩm khó chịu của những ngày giao mùa. Dưới lòng đường, tiếng động cơ xe máy cà tàng quen thuộc của Bảo đã trờ tới trước lối vào khu nhà, gằn lên từng cơn ngắt quãng, gấp gáp như một hơi thở dốc của kẻ đang hụt hơi.

Chỉ vài phút sau, tiếng gõ cửa dồn dập vang lên. Trang mở chốt. Cậu thanh niên giao hàng bước xộc vào, mang theo cả luồng gió tanh nồng của hơi sương ban mai. Gương mặt Bảo hốc hác thấy rõ, đôi gò má hóp lại, hai quầng mắt thâm sì kéo dài xuống tận sống mũi sau nhiều đêm liền thức trắng chong chong nhìn vào màn hình định vị và canh chừng từng biến động nhỏ nhất ở miệng hẻm. Trên người cậu vẫn khoác chiếc áo khoác đồng phục công ty giao hàng màu xanh đã bạc phếch ở hai bên vai áo, lấm tấm những vệt bùn khô bắn lên từ bánh xe.

“Chị Trang,” Bảo thở dốc, đưa mu bàn tay thô ráp quệt ngang trán dù mồ hôi rịn ra lúc này lạnh ngắt. “Em vừa chạy tạt qua mé ngoài đầu hẻm 48 lúc giao mớ rau củ cho nhà bà bán bún đầu đường. Cảm giác áp lực ở khu vực đó sáng nay nặng nề hơn hẳn mọi hôm. Không khí đặc quánh lại, ngửi thấy cả mùi vôi ẩm mục nồng nặc bốc ra từ khe nứt chân tường rào. Bà Hạnh sáng nay đứng ngóng ở cổng lâu khác thường. Bà ta không quét dọn gì cả, chỉ đứng sững như một khúc gỗ mục sát hàng rào sắt, chùm chìa khóa trong tay cứ va vào nhau chan chát, rợn hết cả người. Con mắt bà ta cứ đảo liên tục về phía góc ngoặt chữ L. Em có cảm giác bà ta đang bắt đầu ngửi thấy mùi bất thường. Nếu chúng ta không mang được bằng chứng thực tế có sức nặng từ bên ngoài về đối chất để bẻ gãy cấu trúc của cái lồng đó, chị Linh và mấy người kia sẽ không chịu nổi đến hết chu kỳ thứ hai đâu. Thể lực chị Linh đã bắt đầu suy sụp rồi, em nhìn vết mực chị ấy viết nguệch ngoạc là em biết.”

Trang gật đầu dứt khoát. Ánh mắt cô đanh lại, sự hoang mang ban đầu lập tức bị thay thế bởi sự tập trung cao độ của một người hiểu rõ từng giây trôi qua đều được tính bằng mạng sống. Cô với lấy chiếc áo khoác gió sẫm màu treo trên móc sắt, kéo khóa kín cổ, rồi nhanh nhẹn nhét cuốn sổ ghi chép thời gian thực, chiếc máy ghi âm kỹ thuật số chuyên dụng cùng vài chiếc bút lông dầu chống nhòe vào chiếc ba lô đeo chéo.

“Chúng ta không được phép chậm trễ nữa,” Trang nói, giọng đanh và chắc. “Chúng ta đi xưởng mộc trước. Địa chỉ của ông Quang ở tít sâu trong huyện Bình Chánh. Mảnh giấy Linh chuyển ra qua kẽ bao hàng sáng qua ghi rất rõ: ông ta là một trong sáu cái tên chịu trách nhiệm ban đầu khi sự việc xảy ra tám năm trước. Khác với những người đã chết hoặc biến mất không để lại dấu tích, ông Quang vẫn còn thở, vẫn còn sống bằng xương bằng thịt ở thế giới bên ngoài này. Nếu ông ta còn sống ngoài này, quá khứ không thể bị chôn vùi mãi dưới lớp vữa của bà Hạnh được.”

***

Chiếc xe máy của Bảo chở Trang lao đi vun vút qua những đại lộ còn vắng bóng người, rồi rẽ ngoặt vào mạng lưới đường liên ấp chằng chịt, sình lầy của huyện Bình Chánh. Càng đi sâu vào vùng rìa ngoại ô, nhịp sống đô thị càng thưa thớt dần, nhường chỗ cho những khoảng đất trũng ngập nước, nơi lau sậy và bèo tây mọc um tùm, dập dềnh quanh các dãy nhà lợp mái tôn xập xệ nằm rải rác. Mùi mùn cưa ẩm mục lâu ngày hòa lẫn với mùi ngai ngái nồng nặc của bùn đáy kênh rạch tạo nên một bầu không khí ngột ngạt, đặc quánh đến mức hít sâu vào phổi chỉ thấy một cảm giác nhờn nhợn, tù đọng.

Xưởng mộc của ông Quang nằm lọt thỏm ở cuối một con đường đất gồ ghề, bốn bề bao bọc bởi những rãnh nước đen ngòm. Đó là một lán tôn rộng chừng sáu mươi mét vuông, mái tôn xi măng đã rỉ sét lỗ chỗ, vá víu tạm bợ bằng những mảnh bạt xanh rách bươm phất phơ trong gió. Chiếc máy xẻ gỗ công nghiệp cỡ lớn nằm im lìm dưới góc xưởng, phủ một lớp bụi cưa xám xịt dày cộm, dây curoa đã nứt nẻ từ lâu không ai buồn thay thế. Giữa không gian lộn xộn những thanh gỗ tạp cong vênh, mùn cưa chất thành từng đống tựa như những nấm mồ con và dăm bào xoăn tít vương vãi khắp mặt đất, một người đàn ông ngoài sáu mươi tuổi đang cặm cụi làm việc.

Ông ta có dáng người còng rạp, lưng gù hẳn xuống như thể luôn phải gánh một tảng đá vô hình trên vai. Trên tay ông là một miếng giấy ráp thô, đang miết từng nhịp nặng nề lên bề mặt một tấm phản gỗ mít cũ kỹ. Tiếng sột soạt khô khốc, đều đặn vang lên trong không gian tĩnh mịch, khô khốc và chậm chạp như nhịp gõ của một chiếc đồng hồ quả lắc sắp cạn cót trong một ngôi nhà hoang.

Nghe tiếng bước chân lạo xạo đạp lên lớp mùn cưa xốp dưới đất, người đàn ông giật thót mình. Miếng giấy ráp dừng sững lại giữa chừng. Ông Quang ngẩng đầu lên một cách chậm chạp, như thể các khớp cổ đã bị rỉ sét sau nhiều năm cúi gằm mặt.

Khuôn mặt ông gầy guộc, da bọc xương, chằng chịt những nếp nhăn sâu hoắm như những rãnh cày trên ruộng khô hạn. Nhưng thứ đập vào mắt Trang đầu tiên, khiến cô không khỏi rùng mình, chính là đôi mắt của ông ta: trũng sâu hoắm dưới hai hốc mắt đen sì, chằng chịt những tia máu đỏ ngầu, và luôn chớp giật liên hồi, lấm lét nhìn sang hai bên như một kẻ phạm tội luôn thường trực nỗi sợ bị tóm cổ từ phía sau. Đó là ánh mắt của một con người suốt gần một thập kỷ chưa từng có lấy một giấc ngủ trọn vẹn, một kẻ đêm nào cũng giật mình thức giấc giữa cơn ác mộng triền miên.

“Ai đó? Xưởng hôm nay... không nhận đóng đồ mới...” Giọng ông khàn đặc, nghẹt ứ nơi cuống họng, ngập ngừng thăm dò khi nhìn thấy hai người lạ mặt một nam một nữ đang đứng chắn ngay trước lối vào lán tôn. Bàn tay cầm giấy ráp của ông run nhẹ, vô thức giấu ra sau vạt áo lao động cáu bẩn.

Trang không nói những lời rào đón xã giao. Cô bước tới gần chiếc bàn thợ dài ngổn ngang đục, bào và thước dây. Bỏ chiếc ba lô xuống một góc phản, Trang rút từ trong túi áo khoác ra một tờ giấy A4 gấp tư phẳng phiu. Cô từ từ mở nó ra, đặt ngay ngắn lên mặt tấm gỗ mít còn vương bụi cưa mịn.

Đó là bản sao chụp lại nét chữ viết tay sắc gọn của Linh, đối chiếu từng chi tiết trong cuốn sổ trọ cũ kỹ, kèm theo bản vẽ phác thảo sơ đồ mặt bằng hành lang tầng hai của căn nhà trọ ngõ 48 vào đúng thời điểm tám năm về trước.

“Chúng tôi không đến để đặt đóng bàn ghế, thợ mộc Quang,” Trang cất tiếng, giọng đanh thép, bình thản nhưng mang một sức nặng lạnh lùng xé toạc không gian ngột ngạt của xưởng gỗ. “Chúng tôi đến đây vì Nguyễn Thị Mai. Và vì căn phòng số 6 ở cuối hành lang tầng hai.”

Cái tên “Mai” vừa rơi ra khỏi môi Trang, không gian như thể lập tức bị đông cứng lại. Miếng giấy ráp và thanh gỗ chặn trên tay ông Quang rơi tuột xuống đất. Thanh gỗ đập trúng đống dăm bào, phát ra một tiếng *bịch* trầm đục, nghẹn ngào như một tiếng thở hắt.

Toàn thân người đàn ông già co giật dữ dội. Bàn tay gân guốc, đen đúa vì nhựa cây và dầu máy của ông co quắp lại thành hình móng vuốt, bấu chặt lấy gờ chiếc bàn thợ bằng gỗ thịt để giữ cho thân hình còng rạp không sụp đổ xuống nền đất. Sắc mặt ông từ vàng vọt bỗng chốc chuyển sang màu xám ngoét như tro tàn.

“Các người... các người là ai? Chuyện đó... chuyện đó qua tám năm rồi cơ mà!” Quang lắp bắp, giọng run rẩy đến méo mó, hai chân run rẩy thụt lùi về phía sau từng bước một cho đến khi cả tấm lưng còng đập mạnh vào vách tôn rỉ sét, phát ra một tiếng *rầm* chát chúa làm bụi bặm trên xà gồ rơi lả tả. “Công an ngày xưa... ngày xưa người ta đã kết luận là con bé tự ý bỏ đi cơ mà... Tôi chỉ là thợ làm thuê, tôi không biết gì hết! Đi đi! Ra khỏi xưởng của tôi ngay!”

“Ông thực sự không biết gì sao?” Bảo bước lên một bước, lồng ngực phập phồng vì ngọn lửa giận dữ đã kìm nén suốt nhiều ngày qua. Cậu nhìn thẳng vào đôi mắt đang láo liên sợ hãi của ông lão. “Ông không biết mà mỗi đêm suốt tám năm qua ông có nhắm mắt ngủ nổi quá hai tiếng đồng hồ không? Ông có nghe thấy tiếng đập cửa dồn dập sau lớp ván ép mỏng dính không? Hay tiếng con gái người ta khóc nghẹn, van xin ông tháo chiếc then cài bằng sắt ra?”

Trang tiến sát lại gần bàn thợ, lật mở cuốn sổ bìa đen mang theo, ngón tay cô lướt qua những dòng ghi chép thời gian đối chiếu sắc lạnh:

“Đêm ngày 25 tháng 4 năm 2016. Nguyễn Thị Mai bị nhốt bên trong phòng số 6 chỉ vì cô ấy phát hiện ra việc vợ chồng ông Lộc và bà Hạnh thu phụ phí khống, làm giả chỉ số công tơ điện nước suốt hơn một năm để bòn rút tiền của từng người thuê trọ. Khi Mai tuyệt vọng đập cửa kêu cứu, một người thuê phòng bên cạnh nghe thấy tiếng động lớn và toan bước lên cầu thang tầng hai để xem chuyện gì đang xảy ra. Nhưng chính ông—Lê Văn Quang—đã đứng chặn ngay ở bậc chiếu nghỉ chân cầu thang. Ông nhận tiền từ tay ông Lộc, rồi ông trơ trẽn nói dối với người ta rằng thợ đang sửa chữa lại đường ống nước ban đêm nên có tiếng gõ búa, xua đuổi người ta quay trở về phòng đóng chặt cửa lại. Có đúng như vậy không?”

Môi ông Quang run rẩy bần bật, hai hàm răng va vào nhau lập cập thành từng tiếng *lách cách* ghê rợn. Mồ hôi lạnh túa ra ướt đẫm hai bên thái dương bạc trắng, chảy ròng ròng qua những nếp nhăn sâu hoắm trên má. Ông ta há hốc miệng nhưng không thể phát ra được bất kỳ một từ ngữ trọn vẹn nào, chỉ có những tiếng thở rít khò khè nghẽn lại nơi cuống họng.

“Chưa hết đâu,” Trang tiếp tục giáng đòn tâm lý quyết định, không cho người đàn ông có lấy một giây để hồi phục sự phòng thủ. Cô rút từ túi tài liệu ra bức ảnh chụp tàn tích của tờ biên nhận tiền nhà bị cháy sém một góc—thứ mà Linh đã liều mạng thu thập được từ tàn tích dị bản cháy bên trong căn nhà rồi chuyển ra ngoài qua khe hở của chiếc bao tải. “Sáng ngày hôm sau, khi tiếng đập cửa yếu ớt bên trong căn phòng số 6 lịm dần rồi tắt hẳn, chính ông là người đã cùng vợ chồng họ dọn sạch đồ đạc cá nhân của Mai. Quần áo mùa đông, sách vở đại học, chiếc nệm đơn, chiếc hòm gỗ đựng vật dụng sinh hoạt của một con người bằng xương bằng thịt... các người gom lại thành từng bọc lớn, ném sạch xuống cái giếng nước ở góc sân sau rồi đậy nắp bê tông lên để xóa sạch mọi dấu vết sinh tồn của cô ấy! Sau đó, chính tay ông đã ký vào tờ giấy xác nhận trả phòng giả mạo do Bích thảo sẵn để hợp thức hóa việc Mai 'mất tích tự nguyện'. Mai từng cho ông vay tiền ăn khi ông bị quỵt lương những ngày đầu chân ướt chân ráo lên thành phố kiếm sống. Cô ấy coi ông như một người chú ruột thịt trong xóm trọ, chia cho ông từng bát canh, củ khoai. Còn ông... ông bán đứng mạng sống của con bé chỉ để đổi lấy vài triệu bạc bịt miệng nhơ bẩn!”

“Đừng nói nữa... tôi xin cô... đừng nói nữa mà!”

Tiếng hét của ông Quang vỡ vụn ra giữa không gian ngổn ngang dăm bào. Người đàn ông già nua bỗng khuỵu hẳn hai đầu gối xuống sàn đất phủ đầy mùn cưa mục. Hai bàn tay gân guốc ôm chặt lấy đầu, mười ngón tay cào cấu vào mái tóc hoa râm xơ xác. Ông ta bật ra những tiếng nấc khô khốc, nghẹn ngào, từng cơn rung giật truyền dọc theo sống lưng còng rạp. Lớp vỏ bọc câm lặng và sự chối bỏ hèn nhát mà ông ta cố gắng đắp điếm suốt gần ba nghìn ngày qua bỗng chốc vỡ toang như một con đê đất mục nát trước cơn lũ dữ. Nước mắt của sự hối hận muộn màng đùng đục chảy qua những kẽ tay chai sạn, rớt xuống nền mùn cưa tạo thành những chấm sẫm màu.

“Tôi sai rồi... Tôi hèn hạ... Tôi khốn nạn quá trời đất ơi...” Quang gục đầu sát mặt đất, tiếng khóc nghẹn ứ hòa lẫn trong tiếng bụi cưa bay lơ lửng. “Suốt tám năm qua... không có một đêm nào tôi nhắm mắt lại mà không nghe thấy tiếng móng tay con bé cào rột rẹt trên mặt gỗ... Tiếng nó gọi xuyên qua khe cửa: 'Chú Quang ơi, cứu cháu với, trong này ngột ngạt quá, cháu không thở được chú ơi...'. Tôi sợ quá, tôi không dám bén mảng về lại cái quận đó nữa. Tôi dạt về tận cái góc đầm lầy này xẻ gỗ thuê kiếm miếng cơm qua ngày... nhưng mùi vôi ướt, mùi nước giếng tanh tưởi ấy nó cứ ám chặt lấy hai lỗ mũi tôi, rửa thế nào cũng không hết mùi...”

Bảo đứng lặng nhìn cảnh tượng trước mắt, hai bàn tay nắm chặt trong túi áo khoác, lồng ngực phập phồng kìm nén cơn giận đang sôi sục. Trang hít một hơi sâu, hạ thấp cao độ của giọng nói xuống nhưng từng lời thốt ra lại càng nặng trĩu sức ép của sự thật không thể chối từ:

“Nếu ông thực sự muốn chuộc lại một phần tội lỗi trước khi nhắm mắt xuôi tay xuống mồ, hãy nói cho chúng tôi biết sự thật cuối cùng: Toàn bộ giấy tờ tài liệu gốc của Mai đang ở đâu? Chiếc hộp đựng các biên nhận thu tiền khống có chữ ký sống của ông Lộc mà Mai dùng để đối chất tự bảo vệ mình hiện giờ nằm ở vị trí nào?”

Quang run rẩy ngẩng khuôn mặt đẫm nước mắt lên. Đôi mắt mờ đục nhìn trân trân vào Trang như nhìn thấy một chiếc phao cứu sinh duy nhất xuất hiện giữa vũng bùn tăm tối đang nhấn chìm linh hồn ông ta. Người thợ mộc quệt mạnh tay áo ngang mũi, lập cập bò lại gần mép bàn thợ. Bàn tay khẳng khiu vơ lấy một mẩu bút chì chuyên dụng của thợ mộc đặt trên mặt bàn, rồi giật lấy một mảnh bìa các-tông rách từ chiếc thùng carton đựng ốc vít gần đó.

Những ngón tay run lẩy bẩy vạch từng nét chì đậm, thô ráp nhưng chính xác đến từng tỷ lệ không gian mà ông ta đã khắc sâu trong ký ức tội lỗi:

“Nó nằm dưới đáy giếng... đúng là nó vẫn nằm dưới đáy cái giếng nước ở góc sân sau nhà trọ!” Quang thở dốc, giọng nói hổn hển như người vừa thoát chết đuối. “Đêm hôm đó, sau khi con bé hoàn toàn tắt thở trong phòng... ông Lộc hoảng loạn lục tung toàn bộ đồ đạc trong phòng số 6 nhưng tìm mãi không thấy xấp biên nhận và bản hợp đồng gốc đâu cả. Ông ta sợ quá, mới gom hết quần áo, nệm chiếu, hòm gỗ của con bé quẳng hết xuống đáy giếng để phi tang cho khuất mắt. Nhưng tôi... lúc tôi bê chiếc tủ áo bằng ván ép ra ngoài hành lang, chiếc tủ bị va vào lan can cầu thang bung đáy... chính tay tôi đã nhặt được một chiếc hộp sắt nhỏ bọc vải dù rơi ra từ ngăn bí mật dưới gầm tủ.”

Ngòi bút chì ấn mạnh xuống mảnh bìa các-tông, làm rách toạc một đường nhỏ. Quang run rẩy khoanh một vòng tròn đậm nét vào góc đáy giếng trên bản vẽ phác thảo:

“Tôi biết mười mươi trong cái hộp sắt đó là toàn bộ chứng từ thu tiền khống có chữ ký sống của ông Lộc. Tôi sợ bị liên lụy nên lúc đó không dám mang nộp cho công an, nhưng tôi cũng không dám đưa lại cho ông Lộc vì tôi thừa biết tính thằng Lộc độc ác, nó biết tôi cầm chứng cứ thì nó sẽ giết luôn cả tôi để diệt khẩu. Lúc bọn họ ném đồ đạc xuống giếng, tôi đã lén thả chiếc hộp sắt đó xuống sau cùng, nhét sâu vào ngay góc mép cống thoát phụ bên dưới đáy giếng nước. Chỗ đó có một hốc gạch thụt vào trong. Sau đó, thằng Lộc với tôi khiêng tấm đan bê tông dày bốn mươi phân đậy kín miệng giếng lại, rồi thằng Lộc tự tay trát xi măng chết xung quanh mép viền để không ai mở ra được nữa. Chiếc hộp sắt bọc vải dù không thấm nước... lớp vải dù dày lắm... nó vẫn nằm im dưới lớp bùn đáy giếng suốt tám năm nay! Tôi thề có trời đất chứng giám, nếu tôi nói sai nửa lời thì chết đường chết chợ, không có đất chôn!”

Trang cẩn thận đón lấy tấm bìa các-tông có bản vẽ chi tiết vị trí đáy giếng. Cô rút điện thoại ra, chụp lại từng góc cạnh của nét vẽ dưới ánh sáng ban ngày le lói của lán tôn, kiểm tra kỹ độ sắc nét của bức ảnh rồi bọc mảnh bìa vào một chiếc túi ni-lông chống nước, cất sâu vào ngăn trong cùng của ba lô.

Cô nhìn thẳng vào người đàn ông già đang quỳ gục dưới đất:

“Bản khai và lời thú tội này của ông sẽ được chuyển cho cơ quan điều tra khi toàn bộ cấu trúc bất thường này sụp đổ. Còn bây giờ, đưa cho tôi địa chỉ hiện tại của Khang. Người thợ xây đã trực tiếp vác gạch trét vữa bịt kín cửa căn phòng đêm đó.”

Quang gật đầu lia lịa như một chiếc máy vô thức, vội vàng lấy mẩu giấy vụn khác ghi nguệch ngoạc:

“Khang... nó đang làm thợ cả ở một công trình xây dựng dãy nhà phố liên kế bên khu tái định cư Nhà Bè... Tôi có số điện thoại cũ và địa chỉ dãy lán trại công nhân của nó. Sau cái đêm kinh hoàng đó, tôi với nó sợ hãi không bao giờ dám nhìn mặt nhau nữa, nhưng tôi biết... nó cũng sống dở chết dở, đêm nào cũng uống rượu say mèm để trốn tránh ám ảnh giống như tôi thôi...”

***

Chiếc xe máy của Bảo lại tiếp tục lao đi, xé gió vượt qua những cây cầu sắt rỉ sét nối liền vùng ven Bình Chánh sang khu đô thị mới đang ngổn ngang công trường của huyện Nhà Bè. Gió thốc ngược vào mặt rát buốt, cuốn theo bụi cát công trình làm cay xè khóe mắt, nhưng áp lực vô hình từ chiếc đồng hồ đeo tay của Trang khiến cả hai không ai dám buông lơi tay ga dù chỉ một nhịp.

Trang nhìn xuống mặt đồng hồ: kim ngắn đã chỉ đúng mười một giờ trưa. Mặt trời tròn vo như một chiếc đĩa chì treo lơ lửng sau tầng mây mù xám đục. Ở một không gian song song bị bẻ cong cách họ chưa đầy mười lăm cây số theo đường chim bay, Linh, Thảo và Phúc có lẽ đang phải nín thở từng giây, đối mặt với sự kiểm soát nghẹt thở của bà Hạnh dưới tầng trệt căn nhà trọ, nơi mà mỗi bước chân đi lệch quy luật đều có thể dẫn tới cái chết gãy xương như Duy đã phải gánh chịu.

Khu công trình xây dựng dãy nhà phố hiện ra giữa một bãi cát san nền mênh mông, bụi bay mù mịt theo từng cơn gió lốc nhỏ. Tiếng máy trộn bê tông gầm rú inh ỏi từng hồi, tiếng búa gõ cốt pha chan chát đập vào không khí trưa khô khốc.

Hỏi thăm vài người phụ hồ đang vác xi măng gần cổng rào tôn, Trang và Bảo nhanh chóng tìm được người thợ cả tên Khang.

Ông Khang trạc ngũ tuần, vóc dáng thô bè, bè ngang như một khúc gỗ lim, nước da cháy nắng ngăm đen đặc trưng của dân lao động công trường dãi dầu mưa nắng. Lúc hai người bước tới, ông ta đang ngồi xổm dưới bóng râm của một đống gạch ống xếp cao quá đầu người, một tay cầm chiếc bay sắt miết từng mảng vữa dẻo quánh dán gạch lên bức tường ngăn dở dang. Đôi bàn tay ông to bản, chai sần nứt nẻ, các kẽ móng tay cáu bẩn bụi xi măng khô trắng bệch không bao giờ cọ sạch được.

“Bác Khang phải không?” Bảo bước lên phía trước một bước, cất giọng thật lớn để át đi tiếng gầm rú chói tai của chiếc máy trộn bê tông cách đó vài mét.

Người thợ xây dừng tay bay giữa chừng. Động tác miết vữa khựng lại. Ông ta quay đầu lại nhìn hai người khách lạ với ánh mắt cảnh giác, săm soi đầy đề phòng của một người lao động từng trải.

“Phải, tôi là Khang. Có việc gì thế? Muốn thuê khoán công nhật đội thợ hay sửa chữa nhà cửa gì thì đợi đến giờ nghỉ trưa ra lán đằng kia nói chuyện.”

Trang bước thẳng tới trước mặt ông ta, không để cho người đàn ông có bất kỳ khoảng trống thời gian nào để suy đoán hay dựng lên bức tường thoái thác. Cô rút chiếc điện thoại ra, mở bức ảnh chụp lại mảnh giấy ghi chú Linh đã lén gửi ra ngoài qua chuyến giao hàng lúc bình minh. Trên màn hình là những dòng chữ viết tay đanh thép, trích xuất chính xác từ lời kể của bản dựng mang tên Nhi sau cánh cửa ve xanh:

*“Thợ xây Khang. Nhận 5 triệu đồng tiền mặt và chùm chìa khóa phòng số 6 từ tay Nguyễn Tấn Lộc vào lúc 21h30 đêm 25/4/2016. Mua 200 viên gạch đinh, 3 bao xi măng chở bằng xe ba gác vào hẻm 48 trong đêm để xây bít kín toàn bộ cửa phòng. Chiếc chìa khóa sắt gốc của căn phòng không nằm trong nhà trọ, mà nằm trong hộp đồ nghề của ông.”*

Ánh mắt đục ngầu của Khang vừa chạm vào những con chữ trên màn hình điện thoại, toàn thân ông ta như bị điện giật. Bàn tay đang cầm chiếc bay thợ hồ run bắn lên, lưỡi bay cạo xoẹt một đường dài sắc nhọn vào hàng gạch ống chưa kịp khô vữa, làm văng ra những mảng vôi ướt lấm tấm lên ống quần bảo hộ.

“Vớ vẩn! Lũ rỗi hơi ở đâu tới đây ăn nói bậy bạ vu khống cái gì thế hả?” Khang gắt gỏng, đứng bật dậy toan quẳng chiếc bay vào xô vữa để quay lưng bỏ đi chỗ khác. “Tôi làm thợ hồ cả đời, nhận thầu hàng trăm cái công trình lớn nhỏ khắp cái thành phố này, hơi đâu mà nhớ chuyện tám năm trước! Cút ngay đi chỗ khác để người ta còn làm ăn!”

“Ông thực sự không nhớ sao?” Trang đanh giọng, bước chéo chân chặn ngang lối đi hẹp giữa đống gạch và bức tường dở dang. Ánh mắt cô găm thẳng vào khuôn mặt đang biến sắc của ông ta. “Nếu ông không nhớ, tại sao trong chiếc túi vải bạt đựng đồ nghề cũ kỹ mà ông luôn mang theo bên mình suốt tám năm qua từ công trình này sang công trình khác, ông lại cất giấu cẩn thận một tờ hóa đơn mua vật liệu xây dựng ghi đúng ngày 25 tháng 4 năm 2016 tại cửa hàng vật liệu ông Bảy Đạt ngay đầu ngõ 48? Ông giữ tờ giấy ố vàng đó để làm gì nếu trong thâm tâm ông không luôn nơm nớp lo sợ rằng một ngày nào đó vợ chồng Hạnh - Lộc sẽ lật lọng, đổ toàn bộ tội danh giết người lên đầu một gã thợ xây làm thuê như ông?”

Khang sững sờ chôn chân tại chỗ. Đôi mắt mở to trừng trừng nhìn Trang, lồng ngực phập phồng dữ dội sau lớp áo thợ bảo hộ sờn rách loang lổ vết sơn và vữa khô.

Bảo tiến lên thêm một bước, giọng nói rực lửa phẫn uất đè nặng lên không gian ngột ngạt:

“Ông Quang bên xưởng mộc ở Bình Chánh đã khai hết toàn bộ sự thật rồi, bác Khang ạ! Bác Quang đã vẽ lại sơ đồ chỉ rõ chỗ giấu chiếc hộp sắt chứa chứng từ dưới đáy giếng nước. Chị gái của người đang mắc kẹt trong căn nhà trọ địa ngục đó đang đứng ngay trước mặt bác đây này. Căn nhà đó không chịu để yên cho tội ác này trôi vào quên lãng đâu. Bác có biết bức tường ve xanh mà chính đôi bàn tay bác trát từng bay vữa bịt kín năm xưa... bây giờ nó đã trở thành một thứ quái vật nuốt chửng sinh mạng của từng người bước vào đó không? Người ta đang chết dần chết mòn trong đó vì sự im lặng hèn hạ của các người đấy!”

Khang lảo đảo lùi lại một bước, tấm lưng thô bè va mạnh vào đống gạch ống xếp cao ngang thắt lưng. Ba bốn viên gạch trên đỉnh trượt khỏi hàng, rơi xuống nền cát phát ra những tiếng *bốp, bốp* vỡ vụn thành nhiều mảnh đỏ quạch.

Lớp vỏ ngoài hung hãn, cộc cằn của người thợ xây hoàn toàn sụp đổ. Đôi bàn tay thô ráp dính đầy bụi xi măng của ông ta đưa lên ôm lấy khuôn mặt sạm đen, hơi thở trở nên đứt quãng, dồn dập như người đang lên cơn hen suyễn.

“Bọn họ... bọn họ ép tôi mà...” Giọng Khang nghẹn lại, khàn đặc như có cả vốc cát sạn chèn ngang khí quản. “Thằng Lộc... nó bảo với tôi là con bé đó thiếu nợ tiền trọ cả năm trời rồi trộm đồ bỏ trốn trong đêm. Nó bảo căn phòng đó xui xẻo, có người treo cổ tự tử từ đời chủ trước nên phải xây bịt kín cửa lại làm kho chứa đồ phế liệu kín gió. Nó dúi vào tay tôi cọc tiền năm triệu, đưa chìa khóa bảo tôi khóa chặt chốt ngoài rồi xây bít bùng lại ngay trong đêm để sáng hôm sau hàng xóm chung quanh không ai tò mò nhòm ngó...”

“Ông nói dối!” Trang cắt ngang lời biện bạch bằng một câu hỏi đối chiếu sắc như một lưỡi dao mổ—câu hỏi mà Linh đã ghi chú cẩn thận bằng mực đỏ ở mặt sau của tờ giấy: “Lúc ông đặt những viên gạch đinh đầu tiên lên ngưỡng cửa gỗ, lúc lưỡi bay của ông miết lớp vữa ướt đầu tiên lên khe cửa, chiếc then cài bằng sắt đã bị khóa từ bên ngoài. Nhưng bên trong... con bé Mai có im lặng không? Ông có nghe thấy gì từ phía sau cánh cửa gỗ đó không, ông Khang?!”

Câu hỏi đánh trúng vào tâm điểm của vết thương sâu kín và đen tối nhất trong tâm can người thợ hồ.

Khang bỗng ôm chầm lấy đầu, từ từ ngồi thụp xuống đống cát bụi công trình. Hai bờ vai thô kệch của ông rung lên bần bật theo từng cơn co thắt của lồng ngực. Tiếng máy móc gầm rú, tiếng búa đập chan chát chung quanh dường như hoàn toàn lùi xa vào một khoảng không vô định, chỉ còn lại tiếng khóc nấc nghẹn ngào, tuyệt vọng của một kẻ đồng lõa đã mang gánh nặng tội lỗi đè nặng trên lưng suốt gần một thập kỷ trôi qua.

“Có... tôi có nghe... tôi nghe thấy hết!” Khang gào lên trong tiếng nấc, nước mắt giàn giụa cuốn theo bụi xi măng tạo thành những vệt xám ngoét lem luốc trên đôi gò má nhăn nheo. “Tôi nghe rõ mồn một từng tiếng một! Trời cao đất dày ơi... con bé đập cửa rầm rầm... Cánh cửa gỗ mỏng manh rung lên bần bật dưới từng nhát búa nhát bay của tôi! Nó gào thét: 'Chú ơi cứu cháu với! Cháu có tiền mà, cháu trả đủ tiền cho người ta mà, chú mở cửa cho cháu ra với, cháu chết ngạt mất thôi chú ơi!'. Tiếng nó khóc xé ruột xé gan, xuyên qua từng viên gạch...”

Ông run rẩy giơ hai bàn tay chai sần, nứt nẻ ra trước tầm mắt, nhìn trân trân vào chúng như thể đang nhìn thấy đôi bàn tay của một con quái vật:

“Lúc đó tôi run quá... tay tôi run bắn lên không cầm nổi chiếc bay nữa... Tôi quay ngoắt lại bảo với thằng Lộc là bên trong rõ ràng còn người sống sờ sờ, phải mở cửa thả nó ra ngay lập tức! Nhưng thằng Lộc... thằng Lộc nó rút phắt con dao gọt hoa quả nhọn hoắt trong túi quần ra, nó dí thẳng mũi dao vào mạng sườn tôi. Nó nghiến răng bảo: 'Mày xây tiếp cho tao! Mày dừng tay lại là cả lò nhà mày không sống yên ổn ở cái đất Sài Gòn này đâu!'. Còn mụ Hạnh... mụ Hạnh thì đứng sững cạnh bồn nước dưới chân cầu thang, tay cầm chiếc đèn pin rọi thẳng vào mặt tôi, mặt mụ lạnh tanh như một tảng đá chết... Tôi sợ quá... Tôi vừa khóc vừa run rẩy đặt từng viên gạch đinh lên... Tôi vừa trét vữa vừa lấy hai tay bịt chặt tai lại để không phải nghe tiếng con bé đập cửa kêu cứu nữa... Đến nửa đêm, khi hàng gạch đinh cuối cùng chạm vào đà bê tông của trần nhà... tiếng đập cửa yếu dần... yếu dần... rồi chỉ còn tiếng móng tay cào sột soạt tuyệt vọng trên mặt gỗ... rồi mọi thứ im bặt... không còn một tiếng động nào nữa...”

Bảo nghiến chặt quai hàm đến mức phát ra tiếng ken két, quay phắt mặt đi chỗ khác để ngăn dòng nước mắt phẫn uất chực trào ra.

Một sinh mạng con người. Một cô gái trẻ tuổi mang theo bao ước mơ bước chân vào giảng đường đại học đã bị chôn sống một cách man rợ sau bức tường gạch đặc, trong bóng tối vĩnh cửu và sự ngạt thở từ từ đến kiệt cùng, chỉ vì lòng tham bẩn thỉu của một cặp vợ chồng chủ trọ tàn nhẫn và sự khiếp nhược, hèn hạ tột cùng của những kẻ tiếp tay.

“Tờ phiếu mua vật liệu xây dựng đâu?” Trang hít một hơi sâu, cố nén cơn giận đang chực bùng nổ để giữ cho giọng nói của mình không bị lạc đi. “Và chiếc chìa khóa sắt gốc của căn phòng số 6 hiện giờ ở đâu?”

Khang run rẩy chống tay đứng dậy, lê từng bước chân nặng nề đi về phía góc lán trại công nhân dựng tạm bằng bạt nilon. Ông lục lọi sâu dưới đáy chiếc túi bạt cũ kỹ đựng đồ nghề sửa chữa, lôi ra một chiếc hộp thiếc đựng thuốc lào đã hoen gỉ nặng, các góc hộp mòn vẹt. Bật chiếc nắp thiếc lỏng lẻo ra, bên trong là một chiếc chìa khóa sắt dài đã xỉn màu đồng đen đúa, phần chuôi chìa có dập chìm con số 6 nhỏ xíu, cùng một tờ giấy gấp làm tư đã ố vàng loang lổ, mép giấy mục nát vì mồ hôi và thời gian lưu cữu.

Trang đón lấy tờ giấy từ bàn tay run rẩy của ông Khang, cẩn thận dùng hai đầu ngón tay mở từng nếp gấp đã giòn rụm ra.

Đó là một tờ *Phiếu xuất kho kiêm thu tiền* viết tay của Cửa hàng Vật liệu Xây dựng Bảy Đạt (địa chỉ ngay đầu hẻm 48), ghi đúng ngày 25 tháng 4 năm 2016. Tên người mua hàng: *Khang (nhà trọ Hạnh Lộc)*. Nội dung xuất hàng: *200 viên gạch đinh đặc, 03 bao xi măng Hà Tiên, 01 xe cải tiến cát vàng*. Dưới cùng là chữ ký nhận hàng bằng mực xanh Cửu Long vẫn còn hiển hiện rõ nét, chưa hề phai mờ.

Một vật chứng vật lý hoàn hảo, không thể chối cãi, tồn tại độc lập ở thế giới thực tại tuyến tính bên ngoài—vật chứng liên kết trực tiếp giữa hành vi mua gạch vữa trong đêm và thời điểm căn phòng số 6 cùng cô gái trẻ bị xóa sổ hoàn toàn khỏi đời thực.

“Chiếc chìa khóa này...” Khang nghẹn ngào nói thêm, giọng run như sắp đứt hơi, “Xây xong hàng gạch cuối cùng, thằng Lộc bảo tôi ném nó xuống cống thoát nước ngoài đường để phi tang, nhưng tôi không dám vứt... Tôi giấu nó dưới đáy hộp thuốc lào suốt tám năm nay... như một bằng chứng để phòng thân, để nếu có ngày công an lần ra dấu vết, tôi có thể chứng minh tôi chỉ là thằng thợ hồ bị ép buộc... Nhưng tôi biết... tôi cũng là một kẻ giết người. Chính đôi bàn tay này của tôi đã trét vữa bịt kín đường sống của con bé...”

***

Mười ba giờ ba mươi phút chiều.

Căn phòng khách của Trang tại trung tâm thành phố chìm trong một bầu không khí im ắng, căng thẳng tột độ. Trang đặt chiếc máy ghi âm kỹ thuật số lên mặt bàn gỗ, cắm dây cáp truyền dữ liệu vào máy tính xách tay. Từng tệp âm thanh ghi lại trọn vẹn lời thú tội run rẩy của ông Quang và tiếng khóc nấc vỡ vụn của ông Khang lập tức được sao lưu đồng thời vào ba chiếc ổ cứng di động riêng biệt.

Bên cạnh máy tính, chiếc máy ảnh chuyên dụng của Trang đã chụp lại từng chi tiết vi mô sắc nét nhất của tờ phiếu xuất kho vật liệu xây dựng ngày 25/4/2016, từng nét vẽ phác thảo sơ đồ đáy giếng của ông Quang, và chiếc chìa khóa sắt số 6 hoen gỉ.

Trang đứng dậy, bước vào phòng ngủ, mở cánh cửa sắt dày của chiếc két cá nhân đặt âm tường. Cô cẩn thận đặt bản gốc của tờ phiếu vật liệu xây dựng, chiếc chìa khóa sắt gốc của phòng số 6 và một chiếc thẻ nhớ lưu toàn bộ các tệp ghi âm vào ngăn bảo mật cao nhất, rồi xoay chốt khóa điện tử.

Đây là không gian thực tại tuyến tính bên ngoài—nơi căn nhà ma quái ở ngõ 48 không có bất kỳ quyền năng siêu nhiên nào chạm tới được, nơi quy luật chu kỳ 13 ngày không thể can thiệp để xóa nhòa nét mực hay biến đổi ký ức của con người thành tro bụi hư vô. Những vật chứng này sẽ là mỏ neo thép giữ chặt sự thật trước mọi sự bóp méo của vòng lặp.

Bảo đứng tựa vào mép bàn làm việc, ánh mắt dán chặt vào từng cử động quyết đoán của Trang.

“Bây giờ chúng ta phải làm gì tiếp theo, chị Trang? Thời gian không còn nhiều nữa rồi.”

Trang quay trở lại bàn, ánh mắt cô ánh lên tia nhìn kiên định, sắc sảo như một mũi dao nhọn:

“Chúng ta đã nắm trong tay hai mắt xích cốt tử từ thế giới bên ngoài: Lời khai của kẻ trực tiếp dọn dẹp đồ đạc ném xuống giếng phi tang (Quang) và lời khai của kẻ trực tiếp mua gạch trét vữa bịt kín cửa phòng (Khang), cùng hai vật chứng không thể chối cãi là tờ phiếu xuất kho và chiếc chìa khóa gốc. Nhưng để phá vỡ hoàn toàn bản khế ước giam giữ và mở toang cánh cửa ve xanh, nhóm của Linh bên trong bắt buộc phải có được vật chứng gốc nằm ở tâm điểm của cái chết: chiếc hộp sắt chứa toàn bộ biên nhận thu tiền khống có chữ ký sống của ông Lộc đang nằm dưới đáy giếng nước bị đậy nắp bê tông ở sân sau.”

Trang lấy ra một mảnh giấy chống nước chuyên dụng nhỏ bằng lòng bàn tay, dùng chiếc bút dạ dầu mực đen vẽ lại tỉ mỉ, chi tiết từng góc cạnh của sơ đồ đáy giếng dựa trên bản vẽ của ông Quang. Cô cẩn thận ghi chú thêm từng dòng chữ ngắn gọn, sắc nét: *“Hộp sắt bọc vải dù nằm ở góc mép cống thoát phụ bên dưới đáy giếng, vùi dưới lớp bùn lắng. Nắp bê tông dày 40cm, mép phía đông lớp vữa trát mỏng nhất, dùng xà beng nạy từ hướng đó.”*

Trang cuộn tròn mảnh giấy lại thật chặt, nhét vào bên trong một ống nhựa nhỏ chuyên dùng để đựng tăm nha khoa có nắp đậy cao su kín khí, rồi trao tận tay cho Bảo:

“Bảo, chuyến giao hàng lúc xế chiều nay là cơ hội duy nhất của chúng ta. Em phải bằng mọi giá chuyển được ống nhựa chứa sơ đồ này vào tay chị Linh. Tuyệt đối không được để bà Hạnh hay bất kỳ bản dựng nào trong căn nhà phát hiện ra sự tồn tại của mảnh giấy này. Nếu bà ta đánh hơi thấy việc chúng ta đã chạm tới bí mật dưới đáy giếng, bà ta sẽ tìm cách phá hủy nó hoặc siết chặt vòng lặp để thủ tiêu toàn bộ nhóm bên trong trước khi họ kịp ra tay nạy nắp bê tông.”

Bảo đón lấy chiếc ống nhựa nhỏ bé, nắm chặt nó trong lòng bàn tay thô ráp đến mức các khớp ngón tay trắng bệch ra. Ánh mắt chàng trai giao hàng bừng lên một ngọn lửa quyết tâm kiên định:

“Chị yên tâm. Em đã quan sát thói quen sinh hoạt của bà ta suốt mấy ngày qua. Em nắm rất rõ giờ giấc bà ta cầm chổi bước ra quét sân và thời điểm then cài cổng sắt chuyển động. Em sẽ đưa nó an toàn đến tận tay chị Linh.”

***

Mười sáu giờ mười lăm phút chiều.

Bầu trời phía trên con hẻm ngập nước số 48 đã hoàn toàn sầm sùi một màu mây xám xịt như chì. Gió dông từ sông thổi thốc vào mang theo hơi lạnh buốt và mùi ẩm mốc nồng nặc, báo hiệu một cơn mưa dông dữ dội sắp sửa trút nước xuống khắp thành phố. Không khí bên trong con hẻm oi nồng đến ngạt thở, tanh tưởi mùi rêu mốc bám dày trên các chân tường và mùi bùn lầy bốc lên từ những rãnh cống đen ngòm không có nắp đậy.

Bảo giảm ga, từ từ tấp chiếc xe máy cà tàng vào sát mép tường gạch ngay trước khúc ngoặt chữ L—nơi có cây cột điện bằng bê tông cũ kỹ đã nứt toác một đường dài từ đỉnh xuống tận chân đế. Cậu tắt máy xe, gạt chân chống nghiêng, vờ như đang loay hoay sắp xếp lại lốc hàng hóa buộc sau yên xe.

Từng nhịp tim của Bảo đập thình thịch, dồn dập vào lồng ngực như muốn nhảy xổ ra ngoài. Áp lực không gian vô hình nhưng đậm đặc của căn nhà trọ ma quái dường như đang đè nặng lên từng thớ thịt, từng mao mạch trên cơ thể cậu, một cảm giác rờn rợn chạy dọc sống lưng cảnh báo rằng ranh giới giữa thực tại và cạm bẫy vòng lặp chỉ cách nhau một sợi tóc mong manh. Bất kỳ một cử chỉ thừa thãi hay một ánh mắt bất cẩn nào lúc này cũng có thể khiến cậu bị cuốn phăng vào danh sách nạn nhân tiếp theo của cuốn sổ trọ đẫm máu.

Từ góc quan sát khuất sau khúc ngoặt, Bảo kín đáo nhìn qua những mắt lưới rỉ sét của hàng rào kẽm gai.

Khoảng sân trước của căn nhà trọ vắng lặng đến rợn người. Những vũng nước tù đọng sau cơn mưa đêm qua vẫn chưa kịp rút hết, mặt nước phẳng lặng như gương phản chiếu bầu trời xám xịt bên trên.

Phía trên tầng hai, cánh cửa gỗ của căn phòng số 5 đang khép hờ. Một góc rèm cửa bằng vải hoa cũ kỹ bỗng lay nhẹ sang một bên—một tín hiệu ngầm vô cùng kín đáo cho thấy Linh đang đứng nép sau khe cửa, chăm chú quan sát từng động tĩnh dưới sân.

Ở dưới tầng trệt, cánh cửa sắt lớn dẫn vào gian bếp vẫn đang đóng kín then cài. Nhưng rồi, từ khoảng không gian u tối phía sau vách tường gạch, tiếng chổi tre quét sàn lạo xạo, khô khốc quen thuộc bắt đầu vọng ra, mỗi nhịp quét đều đặn một cách máy móc và rợn gáy.

Bà Hạnh sắp sửa bước ra quét sân như thường lệ vào mỗi buổi chiều tà, đúng theo quỹ đạo hành vi bất biến của một chu kỳ lặp lại.

Bảo hít một hơi thật sâu để ổn định lại nhịp thở đang run rẩy, rồi sải những bước chân thật nhanh và dứt khoát qua khoảng sân ngập nước, tiến thẳng về phía cánh cổng sắt hoen gỉ. Tay phải của cậu luồn sâu vào đáy túi quần khoác, những ngón tay siết chặt lấy chiếc ống nhựa nhỏ chứa mảnh giấy ghi sơ đồ đáy giếng.

Tiếng dép lê lẹt xẹt nặng nề của bà Hạnh vang lên ngay sát phía sau cánh cửa gỗ tầng trệt. Tiếng then cài sắt lách cách chuyển động khô khốc, báo hiệu then cửa đang được kéo ra.

Không còn một phần mười giây nào để do dự.

Mảnh giấy ghi vị trí nắp giếng được Bảo nhét vội qua khe cổng sắt ngay trước khi bà Hạnh bước ra quét sân.

Chương này thế nào?Đánh giá giúp Readeep đề xuất đúng hơn cho bạn