Người Trồng Linh Mạch — Phần 1: Hạt Giống Dưới Đất ChếtC.31 / 36
Chương 31

Nguồn Độc Tràn Xuống

Tiếng nổ trầm đục từ vách núi Khe Táng Thủy vừa dứt thì một bức tường bùn đen quánh, bốc khói hôi tanh nồng nặc mùi trọc tức đã xé toạc bờ kè đá cũ, gầm rống cuộn tràn xuống mương dẫn chính của lòng chảo.

Gió rít từng cơn điên dại quất ngang triền dốc, mang theo những hạt mưa buốt lạnh như kim châm dập dồn xối xả vào lòng chảo Hạ Khê. Nhưng dòng nước đang đổ ập xuống từ họng núi tối tăm hoàn toàn không phải dòng nước mưa thanh sạch của trời đất; đó là thứ dịch thải tích tụ suốt mấy năm ròng từ các hầm rửa lò luyện đan, các bồn tẩy độc chu sa và bể ngâm đãi khoáng của Hỏa Linh Phong trên đỉnh núi cao. Nay gặp khối lũ tích tụ dài ngày sau những trận mưa như trút nước trên thượng nguồn Thanh Lộ, lớp cặn lắng ấy bị bồi đắp, sục tung rồi hóa lỏng thành một thứ bùn nhão ngậm đầy bột xỉ xích thiết, váng mỡ khoáng cháy sém và lưu huỳnh quánh đặc. Thứ bùn độc ấy trườn tới đâu, cỏ dại ven bờ mương lập tức cháy sém thành vệt xám tro, rũ rụp xuống sình lầy như vừa bị quét qua bởi một ngọn lửa ngầm hung hãn. Mùi tanh lợm của kim loại gỉ sét quyện chặt với mùi hôi thối của bùn mục bốc lên ngùn ngụt giữa màn mưa, xộc thẳng vào cuống họng, làm cay xè từng hốc mắt và cháy rát niêm mạc của bất cứ ai đứng trong phạm vi vài mươi trượng.

Tại điểm nối trọng yếu giữa tuyến mương ngầm Thạch Nê và kênh dẫn nước chính của xóm, Mộc Tầm quỳ rạp trên bờ đất lầy lội trơn trượt. Hai ống quần vải thô rách mép của anh đã ướt sũng, dính bết từng tảng bùn xám nhờn nhợt lạnh buốt. Hai đầu gối cắm sâu vào lớp đất sét nhão nhoét, nhưng toàn bộ sự chú ý của Tầm lúc này đều dồn cả vào hai bàn tay đang ghì chặt lấy chiếc cọc đo áp lực rễ. Cây cọc này làm bằng gỗ dẻ già nướng kỹ trong than trấu — thứ công cụ quan trắc địa tầng và linh tức thô sơ mà anh và Kỷ Vân đã tỉ mỉ vót từng vạch khấc, đo đạc từng phân tấc suốt hơn một tháng ròng rã trong điếm canh. Đầu cọc lúc này đang cắm sâu ba tấc vào lớp đất đệm bảo vệ mạch rễ Tức Căn chạy ngầm bên dưới bờ mương.

Một luồng xung lực lạnh ngắt xen lẫn hơi nóng âm ỉ, cuồn cuộn truyền ngược từ lòng đất qua thớ gỗ dẻ nướng than, dội thẳng lên lòng bàn tay thô ráp của Mộc Tầm.

Qua lớp gỗ dẻ ngậm than trấu dẫn truyền khí tức, linh giác mỏng manh của một tu sĩ Dẫn Khí tầng ba cho anh cảm nhận rõ rệt từng chuyển động co thắt dữ dội dưới tầng sâu tăm tối. Lớp bùn trọc tức đầu tiên vừa chạm tới cửa xả ngầm Thạch Nê, mạng rễ non màu lam nhạt của Tức Căn đang bám chặt vào vỉa đá vôi nứt nẻ lập tức giật nảy lên từng chặp kịch liệt như thể vừa bị dội nước sôi. Dưới ánh sáng chớp giật xanh lè xé toạc nền trời xám xịt, Tầm quỳ rạp thấp hơn nữa, dùng những ngón tay trần bới vội một mảng bùn mặt ở hố kiểm tra bảo hộ rễ.

Cảnh tượng đập vào mắt khiến tim anh thắt nghẹn lại: những sợi rễ tơ vốn óng ánh sắc ngọc bích non tơ, mềm mại như những dải lụa sống luồn lách trong kẽ đá, nay đang chuyển dần sang màu tím bầm giận dữ. Chúng quăn queo, co rút lại chỉ sau vài hơi thở ngắn ngủi tiếp xúc với dòng độc chất đầu nguồn. Các nốt rễ tích độc nhỏ như hạt đậu phộng mọc dọc theo ven thân rễ cái đang căng phồng lên với tốc độ mắt thường cũng thấy rõ. Lớp vỏ xơ bên ngoài nứt toác từng vệt ngang dọc, rỉ ra những bọt khí màu xám xịt sủi tăm tanh tưởi, phì phì đẩy những tia khí độc nhỏ li ti lên mặt bùn ẩm ướt.

— Lưu lượng trọc tức vượt quá ba lần rồi... — Cổ họng Mộc Tầm khô khốc, giọng anh thì thào nghẹn lại giữa tiếng gió rít gầm gừ. Vị mặn chát của bùn bẩn và nước mưa hòa lẫn trên môi, đắng ngắt nơi đầu lưỡi.

Anh hiểu rõ những con số này hơn bất kỳ ai trên cõi đời này. Ngưỡng lọc tối đa của toàn bộ cụm rễ Thạch Nê phân nhánh chỉ có thể chịu đựng được hai vạn khối trọc dịch đã qua pha loãng trong khoảng thời gian nửa ngày. Vậy mà ngay lúc này, bức tường bùn đen đặc quánh từ Khe Táng Thủy đang dồn dập đổ xuống với lưu lượng ít nhất sáu vạn khối mỗi một canh giờ. Đó là thứ bùn đậm đặc nguyên chất, chưa hề qua một bể lắng hay rãnh lọc sơ cấp nào. Nếu cứ để toàn bộ khối bùn đen ngòm nặng nề này dội thẳng vào tim mương chính, áp lực trọc tức tầng sâu sẽ tăng vọt vượt ngưỡng dung nạp, kích nổ dây chuyền toàn bộ các nốt rễ đã bão hòa độc chất. Khi đó, không chỉ mầm cây non Thạch Nê chết cháy thành than mục trong lòng đất, mà mạng rễ ngầm dài dằng dặc nối thẳng về cây mẹ dưới đáy Giếng Cạn cũng sẽ đứt tung từng đoạn dưới lòng đất sâu. Toàn bộ chất độc kim loại nặng, cặn xỉ và axit mỏ quặng đã bị phong tỏa, cầm giữ suốt mấy tháng qua sẽ đồng loạt giải phóng, xé toạc địa tầng mà trào ngược trở lại mặt đất, hủy diệt toàn bộ sinh cơ của lòng chảo.

— Đong! Đong! Đong!

Tiếng chiêng đồng báo động từ điếm canh Thạch Nê bỗng gióng lên dồn dập, từng hồi liên tiếp xé toạc màn mưa rào trắng xóa đất trời. Âm thanh kim loại khô khốc, gấp gáp dội ngược vào vách đá dựng đứng của Khe Táng Thủy rồi dội ngược trở lại thung lũng, báo hiệu mức nguy cấp cao nhất của toàn xóm.

Dưới màn mưa mịt mùng trắng xóa, những đốm sáng đỏ quạch của đuốc dầu le lói và ánh đèn bão chập chờn bắt đầu túa ra từ khắp các ngả đường bờ ruộng, từ những con ngõ lầy lội ngoằn ngoèo của xóm Giếng Cạn. Hàng chục bóng người khoác áo tơi lá tơi tả, chân trần đạp bùn bì bõm, hò hét trong nỗi kinh hoàng tột độ. Dân xóm Giếng Cạn cùng những người phu đất của sáu xóm lân cận hoảng loạn mang theo từng bao tải cát ướt sũng, từng sọt đá cuội nặng trịch, đòn khiêng kĩu kịt cong oằn chạy thốc về phía giếng làng. Nơi ấy là nguồn sống duy nhất còn lại của họ giữa vùng đất cằn cỗi bị bỏ hoang này.

— Mau! Khiêng bao cát chặn quanh thành giếng! Đừng để nước bẩn tràn vào miệng giếng! — Tiếng một lão nông gào lên khản đặc, lọt thỏm giữa tiếng nước réo ầm ầm.

— Kè đá phía tây sạt rồi! Trời đất ơi, nước đen nó bò vào ngõ nhà bác Bát rồi! Cứu lấy bồ thóc với mấy con gà!

Nỗi hoảng loạn nhanh chóng biến thành sự hỗn loạn mù quáng. Dòng lũ bùn đen ngập ngang đầu gối, sền sệt như cháo đặc quánh, đang cuộn xoáy dữ dội dưới chân bờ kè đá dẫn nước. Thay vì dồn về phía rãnh thoát cực nam như dự tính ban đầu trong phương án thoát lũ của xóm, sức nặng khủng khiếp của hàng ngàn tấn bùn đã phá toang một mảng chân kè đất cũ vốn đã ngấm nước nhiều ngày. Dòng bùn hung hãn bẻ ngoặt hướng chảy, xói mòn một rãnh sâu hoắm thẳng tắp về phía vùng trũng thấp nhất của lòng chảo — nơi Giếng Cạn và bốn thửa ruộng lúa giống đang nằm im lìm trong đêm. Những bao tải cát vội vã ném xuống từ bàn tay run rẩy của dân làng chỉ như những miếng mồi cỏn con cho dòng nước đen nuốt chửng trong nháy mắt. Bùn quấy đảo dữ dội, xói lở tung chân đê tạm bợ, những bọt độc xám xịt nổi lềnh bềnh nhuộm đen từng gốc cỏ, từng mô đất cao.

Mộc Tầm đứng bật dậy giữa bờ mương đang sạt lở từng mảng lớn. Lồng ngực anh phập phồng dữ dội, tim đập thình thịch như muốn xé toạc lồng ngực, máu nóng dồn dập xông lên hai bên thái dương. Theo thói quen cũ đã ăn sâu vào tiềm thức của những ngày tháng bế tắc trước đây, ý nghĩ đầu tiên nảy ra trong đầu anh là lập tức tự mình lao xuống hố ga ngập bùn, dùng sức một mình bốc dỡ đất đá, bẻ gãy then van, hay thậm chí liều mạng vận chuyển chút linh lực Dẫn Khí yếu ớt trong kinh mạch để gượng ép che chắn cho mạng rễ non nớt.

Thế nhưng, vết sẹo chai sần sâu hoắm nơi đầu ngón tay trỏ — dấu tích đau đớn của lần tự ý truyền linh khí làm nổ tung nốt rễ suýt chút nữa thiêu rụi cây mẹ tại Giếng Cạn cách đây không lâu — bỗng nhói buốt lên như một nhát dao cảnh tỉnh sắc lạnh.

Ký ức ùa về chớp nhoáng: ánh mắt phẫn nộ, tuyệt vọng của hàng trăm người dân đứng quanh miệng giếng ngày hôm ấy; lời răn dạy nghiêm khắc, rành rọt từng chữ của bà giáo Bùi Sương bên chiếc bàn gỗ cũ; và bản quy chế ba bên vừa được ký kết với đầy đủ các dấu vân tay đỏ thắm... Tất cả lập tức kéo giật anh trở về với thực tại nghiệt ngã.

Mảnh đất này không phải của riêng một mình anh. Mạng sống của hàng trăm con người ở sáu xóm nghèo này cũng không thể đặt cược vào sự độc đoán, liều lĩnh của bất kỳ một cá nhân nào, dù người đó có là kẻ hiểu rõ từng đường đi nước bước của rễ Tức Căn đến đâu chăng nữa. Sự đơn độc chỉ mang lại tai họa. Sự tùy tiện chỉ dẫn đến sụp đổ.

— Đừng đắp bao cát ở đó nữa! Vô ích thôi! Dừng tay lại! — Mộc Tầm hét lớn lấn át cả tiếng gầm gào của dòng lũ bùn, giọng anh vang dội khắp triền đê nhờ vận một tia khí tức Dẫn Khí mỏng manh dồn vào thanh quản.

Anh quay phắt người, bất chấp bùn lầy trơn trượt, lao ngược về phía gờ đất cao bên bờ mương sạt lở nơi điếm canh phụ dựng tạm bằng mấy tấm phên nứa:

— Bác Nghi! Mộc An! Anh Cẩn, bác Bách! Cô Nguyệt! Tập hợp lại đây ngay! Lập tức họp ban ứng phó!

Giữa lúc trời đất tối tăm mặt mũi, tiếng mưa gầm và tiếng người la hét náo loạn, tiếng gọi dứt khoát, đanh thép của Tầm như một chiếc neo sắt cắm sâu vào lòng đất, giữ lại sự tỉnh táo cho những người đang đứng đầu xóm làng.

Chỉ trong vài chục nhịp thở ngắn ngủi, sáu con người ướt sũng từ đầu đến chân đã tụ lại trên gờ đất cao bên bờ mương đang rạn nứt từng mảng lớn. Lê Cẩn quấn chặt chiếc khăn vải thô dày quanh cổ để cố che đi những cơn ho rũ rượi, bàn tay gầy guộc run rẩy nhưng vẫn cầm chắc chiếc xẻng sắt bén ngót; Đào Nguyệt khoác hòm thuốc cứu thương bọc kín ba lớp vải dầu chống thấm sau lưng, vạt áo dính đầy bồ hòn và vôi tôi trắng xóa; Trịnh Bách thở hổn hển từng chặp nặng nhọc, đôi vai vạm vỡ vác chiếc búa tạ nặng ba mươi cân chuyên dùng đập đá hầm lò, mặt mày xám ngoét vì kiệt sức và kinh hãi; Mộc An hai tay ôm khư khư cuốn sổ công bìa da mộc bọc cẩn thận trong túi da dê chống nước, mái tóc bết chặt vào vầng trán thanh tú; còn Phạm Nghi chống chiếc gậy tre run rẩy, đôi mắt đục ngầu trừng trừng nhìn dòng nước đen ngòm đang dâng lên từng tấc dưới chân đê.

Mộc Tầm không nói một lời thừa thãi. Anh giơ cao cọc gỗ dẻ nướng than trấu lên trước ánh đèn bão bập bùng đang chao đảo trong gió lốc:

— Mọi người nhìn cho kỹ đi! Đầu cọc đã cháy xém thành tro đen, rễ tơ ở điểm nối Thạch Nê đã chuyển hoàn toàn sang màu tím bầm! Lưu lượng trọc dịch từ Khe Táng Thủy đổ xuống lúc này đang vượt gấp ba lần ngưỡng lọc tối đa của toàn bộ mạng rễ Tức Căn!

Gió thốc một luồng mưa lạnh ngắt quất thẳng vào mặt cả nhóm người. Mộc An nheo mắt nhìn những vệt nhựa cây đen quánh bám chặt trên thân cọc gỗ, giọng cô đanh lại, sắc lạnh:

— Nếu cứ để mặc nước đen dồn thẳng vào mương chính thì hậu quả sẽ thế nào?

— Toàn bộ nốt rễ tích độc của mạng lưới Thạch Nê sẽ nổ tung trong vòng nửa canh giờ nữa! — Tầm nói nhanh, từng lời rành rọt như búa tạ gõ vào đá tảng. — Mạng rễ non Thạch Nê sẽ chết ngạt hoàn toàn, không còn cơ hội phục hồi. Nhưng đó chưa phải điều tồi tệ nhất. Áp lực trọc tức tầng sâu sẽ tạo phản lực, đẩy toàn bộ dịch độc thẩm thấu ngược qua kẽ nứt địa tầng đá vôi, xộc thẳng vào tận đáy Giếng Cạn! Nếu điều đó xảy ra, nguồn nước ngầm duy nhất nuôi sống toàn bộ sáu xóm này sẽ biến thành nước độc kim loại nặng vĩnh viễn. Chúng ta sẽ không bao giờ có thể dùng lại giếng đó, không thể cấy lúa, không thể trồng một ngọn rau hay một cây thuốc trên mảnh đất này trong suốt ba mươi năm tới!

Phạm Nghi nghe đến đó thì toàn thân run bắn lên bần bật, chiếc gậy tre trên tay ông cắm phập sâu xuống bùn lầy:

— Vậy... vậy còn bốn thửa ruộng giống thì sao? Lúa mới trổ đòng non được có mười ngày! Bao nhiêu công sức đập đá, bóc váng quặng, gánh từng sọt đất màu của cả trăm con người ròng rã mấy tháng trời... Lệnh của Huyện quan về việc bảo toàn hiện trạng lòng chảo sáu mươi ngày cũng đang treo lơ lửng trên mấy thửa ruộng đó! Nếu mất trắng ruộng lúa, lấy gì chứng minh với huyện đường rằng dân ta có thể canh tác trên đất trọc tức?

— Không thể nào giữ trọn vẹn cả bốn thửa được nữa rồi! — Mộc Tầm nhìn thẳng vào mắt từng người trong nhóm, ánh mắt kiên định không hề né tránh hay chùn bước. — Tuyến mương thoát nước cực nam đã bị đá tảng lở từ sườn đồi nghẽn dòng hoàn toàn. Bờ đê bao góc nghiêng bốn mươi lăm độ của chúng ta chưa kịp đắp xong tầng gia cố thì lũ đã tràn bờ. Trong tình thế này, chúng ta chỉ có hai lựa chọn duy nhất: Một là cố sống cố chết đắp bao cát giữ cả bốn thửa ruộng, rồi bất lực nhìn dòng lũ bùn bẻ gãy toàn bộ thân đê, tràn thẳng vào Giếng Cạn và phá nát toàn bộ mạng rễ Tức Căn, khi đó cả làng cùng chết đói, chết khát! Hai là... chúng ta phải chủ động hy sinh một thửa ruộng để làm túi đệm tiêu độc! Mở cống nắn dòng toàn bộ lớp bùn trọc tức đầu bờ tràn vào thửa ruộng đó, dùng lòng ruộng sâu để ghìm vận tốc dòng chảy, giữ lớp cặn xỉ xích thiết lại ở tầng mặt, để ba thửa ruộng còn lại và Giếng Cạn có đủ thời gian và không gian thoát hiểm!

Cả nhóm người chết lặng giữa tiếng mưa giông rền rĩ như sấm động.

Lời nói của Mộc Tầm như một nhát dao sắc lẹm rạch toạc màn đêm u tối. Đào Nguyệt siết chặt quai da của hòm thuốc, khẽ gật đầu xác nhận với tư cách người hiểu rõ dược tính và độc chất nhất trong nhóm:

— Tầm nói hoàn toàn đúng. Thứ bùn độc này là dịch súc rửa lò luyện đan của Hỏa Linh Phong, nhiệt lượng ngầm bên trong rất cao, lại ngậm đầy bột xỉ kim loại sắc nhọn. Nếu không có một khoảng không gian rộng lớn để cho nó lắng bớt cặn thô và tản bớt nhiệt độ, rễ Tức Căn sẽ bị luộc chín và nghiền nát từ bên trong. Chiều nay tôi đã thấy hai nốt rễ nứt vỏ ngoài bãi rác lò gốm cũ rồi, một khi các nốt tích độc đã phát nổ thì không có thứ thảo dược hay vôi bột nào cứu vãn nổi nữa.

— Nhưng... hy sinh thửa nào bây giờ? — Lê Cẩn cất giọng khàn đặc, ngực anh phập phồng dữ dội. Anh phải cắn chặt môi, hai tay ôm lấy ngực để kìm nén một cơn ho quặn thắt do chứng bệnh phổi tro đang hành hạ sau nhiều năm hít thở bụi đá lò nung. — Thửa số một là nơi đặt nhánh rễ con đầu tiên nối từ cây mẹ, đó là tim của toàn bộ mạng lưới ngầm, tuyệt đối không thể đụng vào. Thửa số hai và số ba lại nằm ngay trên dải mương hồi quy máng nứa, nước ngầm ở đó đang lưu thông tốt nhất... Như vậy... chỉ còn...

Lời nói của Lê Cẩn ngập ngừng rồi tắt lịm. Ánh mắt của tất cả mọi người vô thức dồn cả về phía cuối triền mương dẫn.

Nơi đó là thửa ruộng số 4.

Thửa ruộng số 4 rộng gần bốn sào đất thịt pha cát, nằm ở vị trí trũng thấp nhất của toàn bộ bãi Thạch Nê, tiếp giáp trực tiếp với chân rãnh thoát nước tự nhiên dẫn ra khe suối cạn. Đó là khoảnh đất mà hơn hai mươi tráng đinh của đội thợ đá đã phải đổ biết bao mồ hôi, thậm chí cả máu tươi, đập vụn từng tảng đá vôi ngậm quặng sắt nhọn hoắt, bốc từng gầu sỏi đá suốt hai tháng trời để cải tạo. Đó là nơi đất mùn được bón lót kỹ lưỡng nhất bằng tro trấu mục, phân xanh ủ hoai và bùn ao chua đã qua khử độc. Và quan trọng hơn tất cả, đó là mảnh ruộng được tập thể Hội giữ đất thống nhất giao quyền canh tác vụ này cho gia đình Trịnh Bách cùng hai hộ nghèo kiệt quệ nhất xóm — nhà lão Bát neo đơn mù lòa và mẹ con chị Ba góa bụa nuôi ba đứa con thơ.

Lúc này, trên mặt thửa ruộng số 4, những thân lúa giống ngắn ngày xanh mơn mởn đang vươn mình trổ những nhánh đòng non đầu tiên le lói dưới ánh chớp đêm giông. Từng bông lúa non ngậm sữa căng tròn đu đưa trong gió bão, như một lời hứa hẹn ngọt ngào về những bát cơm trắng ngần đầu tiên sau chuỗi ngày dài đằng đẵng phải đào củ mài, hái rau dại ven suối để cầm cự qua bữa.

Trịnh Bách đứng chôn chân trên bờ đất nhão nhoét. Bàn tay thô ráp đầy những vết chai sần và sẹo cắt do búa đập đá siết chặt lấy cán cuốc sắt đến mức các đốt ngón tay trắng bệch ra, run rẩy bần bật.

Nước mưa xối xả chảy tràn qua gương mặt hốc hác, chằng chịt những nếp nhăn sâu hoắm của người nông dân cả một đời lam lũ trong hầm đá. Hòa lẫn trong làn nước mưa buốt giá ấy là những giọt nước mắt nóng hổi, cay đắng lăn dài xuống khóe miệng đắng ngắt của ông.

— Ruộng số 4... — Giọng Trịnh Bách nghẹn ứ lại trong cổ họng, run rẩy như sắp đứt từng đoạn ruột. — Ruộng nhà tao... Lúa... lúa đang ngậm đòng mà chúng mày ơi... Đòng non đang ra hạt đều tăm tắp...

Tâm trí người thợ đá già quay cuồng trong đau đớn. Ông nhớ đến đứa cháu nội mới sinh đỏ hỏn đang khóc ngặt nghẽo vì thiếu sữa mẹ trong căn nhà dột nát xiêu vẹo cuối xóm. Ông nhớ đến hai bao gạo trắng định mệnh mà ông từng cắn răng nhận của tên quản sự Đỗ Kính vì bước đường cùng túng quẫn, nhớ đến bản án phạt vạ một trăm ngày công đập đá không tính điểm hoa lợi mà ông đã cắn răng hoàn thành, không dám trốn tránh dù chỉ một buổi trưa nắng gắt, chỉ để chuộc lại danh dự làm người trước bà con xóm giềng. Thửa ruộng số 4 này chính là hy vọng sống sót duy nhất, là chiếc phao cứu sinh cuối cùng của cả gia đình ông qua mùa đông giáp hạt sắp tới. Nếu mất trắng thửa lúa này, cả nhà ông lấy gì mà bỏ vào miệng? Lão Bát mù lòa sống thui thủi một mình và mẹ con chị Ba lấy gì để trả nợ áo cơm qua ngày đoạn tháng?

— Bác Bách... — Mộc Tầm bước tới một bước, bàn tay dính đầy bùn đất của anh đặt nhẹ nhưng chắc nịch lên bờ vai đang run bần bật của người thợ đá già. — Cháu hiểu. Cháu biết rõ bác đau xót đến nhường nào. Mồ hôi của bác, máu của anh em đội thợ đá thấm đẫm từng tấc đất, từng viên đá lót ở thửa ruộng đó. Nhưng nếu chúng ta không chủ động mở cống nắn dòng vào thửa số 4 ngay lúc này, thì chỉ trong mười hơi thở nữa thôi, bờ kè chính sẽ vỡ toang dưới sức ép của Khe Táng Thủy. Lúc đó, cả bốn thửa ruộng lẫn Giếng Cạn đều sẽ biến thành đầm lầy chết. Mạng rễ bị hủy diệt, toàn bộ công sức của cả làng sẽ tan thành bọt nước, và không một ai trong chúng ta — kể cả nhà bác hay nhà lão Bát — còn có con đường sống sót trên mảnh đất này nữa!

Trịnh Bách ngẩng phắt đầu lên. Đôi mắt đỏ ngầu, vằn lên những tia máu của ông nhìn trừng trừng vào Mộc Tầm, rồi nhìn sang Phạm Nghi, nhìn sang gương mặt tái nhợt vì ho của Lê Cẩn và ánh mắt xót xa của Đào Nguyệt. Không một ai trong số họ né tránh ánh nhìn đau đớn của ông. Trên những gương mặt sạm đen vì sương gió, vì bùn đất của những con người nghèo khổ ấy, Trịnh Bách không tìm thấy bất kỳ sự toan tính vụ lợi nào. Không có sự áp đặt kẻ cả, trịch thượng của đám chấp sự tông môn trên núi cao; không có mưu toan siết nợ lạnh lùng, tàn nhẫn của phường buôn bán Đỗ gia.

Những con người này đang đứng cùng ông giữa vũng bùn lầy lội, cùng chia sẻ với ông nỗi đau đớn đến xé ruột xé gan của một người làm ruộng nhìn hạt thóc của mình sắp bị chôn vùi.

— Bác Bách, — Mộc An bước lên phía trước, đôi mắt cô gái trẻ sáng quắc và kiên định giữa cơn mưa gió mịt mùng. — Hội giữ đất sinh ra là để bảo vệ từng người dân nghèo, tuyệt đối không bao giờ bỏ rơi người phải chịu thiệt thòi vì việc chung của xóm làng! Nếu bác thuận lòng mở cống, con lập tức hạ bút ghi vào sổ công của Hội: Toàn bộ Hội giữ đất cam kết trích sản lượng từ ba thửa ruộng còn lại để bù đắp sòng phẳng, đầy đủ cho gia đình bác và hai hộ ở thửa số 4! Con lấy tư cách thư ký lâm thời, lấy cả tính mạng của mình ra bảo đảm từng hạt thóc, từng thăng gạo cho nhà bác!

Một tiếng sấm kinh thiên động địa rền vang trên đỉnh núi, làm rung chuyển cả nền đất dưới chân mọi người. Phía đầu nguồn Khe Táng Thủy, tiếng bờ kè đá nứt toác "rắc, rắc" giòn rụm như tiếng xương gãy vang lên khô khốc. Dòng bùn đen quánh đã chồm lên, mấp mé liếm qua mặt mương chính. Những bọt độc màu vàng xám sôi xèo xèo, phả ra luồng hơi nóng cay nồng nặc xộc thẳng vào mặt khiến ai nấy đều phải nghiêng đầu tránh né.

Thời gian lúc này không còn tính bằng canh giờ nữa, mà tính bằng từng nhịp thở gấp gáp.

Trịnh Bách hít một hơi thật sâu, lồng ngực gầy guộc của ông phập phồng dữ dội như chiếc ống bễ lò rèn. Mồ hôi lạnh toát ra đầm đìa trên trán, hòa cùng dòng nước mưa cay xè nơi khóe mắt. Ông quay đầu nhìn xuống thửa ruộng số 4 lần cuối cùng — nơi những ngọn lúa non xanh biếc đang oằn mình run rẩy trong giông bão — rồi nhắm nghiền hai mắt lại thật chặt.

Bàn tay thô ráp của ông giơ lên, quệt mạnh một đường ngang mặt áo ướt sũng. Ông mở mắt ra, nhìn thẳng vào Mộc Tầm và Mộc An, đầu gật mạnh một cái dứt khoát nhưng nặng tựa ngàn cân:

— Mở cống! Tháo bùn vào ruộng nhà tao đi! Cứu lấy cái giếng làng... cứu lấy rễ cây của chúng mày trước đã!

Ngay khi lời nói vừa dứt khỏi bờ môi run rẩy của Trịnh Bách, Mộc An không chần chừ nửa nhịp, lập tức quỳ sụp một bên gối xuống bên cạnh một hòn đá tảng nhô cao khỏi mặt nước lầy lội. Chiếc túi da dê chống thấm được mở phanh ra nhanh chóng. Cuốn sổ công bìa da mộc dày cộp, mép giấy đã sờn rách vì lật giở nhiều lần, được cô giở phắt đến trang giấy trắng tinh có đóng dấu triện đỏ hình mầm cây của Hội giữ đất Hạ Khê.

Rút ra một thanh than củi khô đã được bọc sáp chống nước cẩn thận, ngón tay Mộc An thoăn thoắt vạch từng nét chữ dứt khoát, sắc bén và rành rọt trên mặt giấy mộc thô ráp:

*"Giờ Hợi, đêm mười bảy tháng bảy, năm Cảnh Hưng thứ hai mươi hai.* *Biên bản trưng dụng khẩn cấp tại thực địa công trình Thạch Nê:* *Trước nguy cơ vỡ bờ kè Khe Táng Thủy đe dọa trực tiếp Giếng Cạn và mạng rễ Tức Căn, Ban điều hành Hội giữ đất cùng chủ hộ thửa ruộng số 4 (do Trịnh Bách đại diện) đồng thuận mở cống nắn dòng lũ bùn trọc tức vào toàn bộ diện tích thửa số 4 làm túi đệm tiêu độc khẩn cấp.* *Cam kết bảo hộ quyền lợi: Toàn bộ thành viên Hội giữ đất và ba thửa ruộng giống còn lại (thửa số một, số hai, số ba) có nghĩa vụ trích nộp ba phần mười tổng sản lượng lúa thu hoạch thực tế của vụ mùa này để bù đắp toàn bộ khẩu phần lương thực bị mất cho hộ Trịnh Bách, hộ Trịnh Bát và hộ Trần Thị Ba. Toàn bộ điểm công lao động cải tạo đất của ba hộ trên vẫn được bảo lưu trọn vẹn trong sổ công."*

Mộc An giơ cao thanh than củi lên, giọng cô vang lên sang sảng giữa tiếng gió gầm:

— Bác Nghi, bác Bách, anh Tầm! Điểm chỉ làm chứng!

Phạm Nghi không chút đắn đo, đưa ngón tay cái lên miệng cắn mạnh vào đầu ngón tay cho bật máu, rồi dằn mạnh một dấu máu đỏ tươi lên dòng chữ cam kết của đại diện người cao tuổi trong xóm. Trịnh Bách giật lấy bàn tay đẫm máu của mình từ nhát cắn dứt khoát, ấn đè dấu vân tay chai sần, thô ráp xuống ngay bên cạnh, để lại một vết máu tròn sẫm màu, hằn sâu trên trang giấy mộc. Mộc Tầm tiếp bước, dùng móng tay trích máu nơi đầu ngón tay sẹo, ấn dấu chỉ của người phụ trách kỹ thuật rễ cây ngay phía dưới.

— Đã xong! Giấy trắng mực đen, trời đất và lòng người cùng chứng giám! — Mộc An quát lớn, nhanh chóng gập cuốn sổ lại, nhét sâu vào bọc da dê rồi cài chặt vào trước ngực áo.

— Anh em thợ đá! Mau phá bờ đập! — Lê Cẩn gầm lên một tiếng xé họng, mặc kệ cơn đau buốt ran đang cào xé cuống họng mình.

Anh vung chiếc xẻng sắt bén ngót, lao thẳng xuống đoạn bờ đất ngăn cách giữa lòng mương dẫn chính và miệng cống dẫn vào thửa ruộng số 4. Trịnh Bách gầm lên một tiếng cuồng nộ như một con mãnh thú bị thương dồn vào chân tường; chiếc búa tạ ba mươi cân trên tay ông vung lên thành một vòng tròn xé gió trong màn mưa mịt mù, rồi giáng thẳng xuống khối đá tảng chốt giữ cửa cống tiêu thoát.

"RẦM!"

Tiếng đá vỡ vang lên khô khốc, đanh gọn. Khối đá tảng chốt cống nứt toác làm đôi dưới cú đập sấm sét của người thợ đá lão luyện. Lê Cẩn cùng bốn tráng đinh khỏe mạnh của đội thợ lập tức lao vào, chĩa những thanh choòng sắt dài và cuốc chim sắc nhọn vào khe nứt vừa mở, đồng loạt gồng mình bẩy mạnh. Tiếng hò dô vang lên hòa cùng tiếng đất đá sạt lở. Một mảng bờ đập dài hơn hai trượng, cấu thành từ đá hộc và đất sét nện, rầm rầm sụp đổ hoàn toàn xuống lòng mương.

Áp lực bùn độc tích tụ bấy lâu ở đầu nguồn lập tức tìm được lối thoát hiểm ngàn cân treo sợi tóc.

Bức tường bùn đen quánh, bốc khói hôi tanh nồng nặc rống lên một tiếng ghê rợn như một con thủy quái hung hãn, rồi đột ngột chuyển hướng dòng chảy. Thay vì dồn ứ ép vỡ bờ kè chính để tràn về phía Giếng Cạn, khối bùn nhão khổng lồ đổ ập như thác lũ qua cửa cống vừa bị phá toang, cuồn cuộn gầm thét tràn thẳng vào lòng thửa ruộng số 4.

Cảnh tượng diễn ra nhanh chóng đến mức tàn nhẫn và xót xa. Dòng bùn đen ngòm nuốt chửng từng bờ phân luống đất tơi xốp vừa mới được vun đắp cẩn thận. Nó dìm ngập những thân lúa non đang ngậm sữa mơn mởn xuống tận đáy sâu tăm tối của lớp bùn khoáng. Những ngọn lá lúa xanh biếc run rẩy chới với trên mặt nước đen ngòm trong vài khoảnh khắc ngắn ngủi, rồi bị dòng bùn nhão cuốn phăng đi, chôn vùi không để lại một dấu vết. Khói đen cay xè bốc lên ngùn ngụt từ khắp mặt ruộng khi độc chất lưu huỳnh, cặn axit mỏ quặng và tro xỉ xích thiết phản ứng dữ dội với lớp mùn ẩm ướt, phả ra thứ mùi tanh nồng làm rát bỏng niêm mạc mắt và mũi của tất cả những người đang đứng chết lặng trên bờ đê.

Trịnh Bách đứng chôn chân bên mép cống vỡ, hai bờ vai gầy guộc rung lên từng chặp theo từng mảng ruộng bị bùn đen nuốt chửng. Nhưng đôi mắt ông lúc này đã khô ráo, không còn nhỏ thêm một giọt nước mắt nào nữa. Ông đứng thẳng người dậy, hai bàn tay nắm chặt lấy cán búa tạ ướt đẫm nước mưa, ánh mắt kiên nghị canh chừng dòng bùn hung hãn đang bị giam cầm trong lòng thửa ruộng của gia đình mình.

Lòng ruộng sâu gần ba thước của thửa số 4, vốn được đào sâu để đón phù sa tự nhiên, nay phát huy tác dụng như một cái túi đệm khổng lồ vô giá. Hàng vạn khối bùn đặc tràn vào đó lập tức bị ghìm lại tốc độ chảy, trải rộng ra khắp bốn sào đất, quánh lại và bắt đầu lắng lớp cặn xỉ xích thiết nặng nề xuống tận đáy tầng đất thịt. Áp lực dội thẳng vào mương dẫn chính lập tức sụt giảm đi quá nửa; dòng chảy tiếp tục dẫn về hướng Giếng Cạn và ba thửa ruộng giống lúc này chỉ còn là thứ nước tràn mặt loãng hơn rất nhiều, chảy xiết qua các rãnh đệm sỏi đá mà không còn đủ động năng hay độ đậm đặc để có thể xé toạc chân kè thêm một lần nào nữa.

Mộc Tầm không chậm trễ một giây. Anh lập tức trườn người xuống hố kiểm tra rễ cây Thạch Nê số một bên mép mương dẫn.

Bất chấp bùn bẩn bắn tung tóe lên mặt và cổ, anh đưa bàn tay trần run rẩy luồn sâu vào lớp đất đệm xốp ẩm bọc lấy nhánh rễ cái của Tức Căn. Mạch rễ vẫn còn rung lên nhè nhẹ dưới đầu ngón tay anh, nhưng cơn co giật bạo liệt như đứt từng khúc ruột lúc nãy đã hoàn toàn dừng lại. Sắc tím bầm giận dữ trên các rễ tơ bắt đầu nhạt dần đi rõ rệt, chuyển dịch sang màu xám tro ổn định khi dòng trọc tức nồng độ cao bị ngắt quãng kịp thời. Các nốt rễ tích độc nhỏ như hạt đậu phộng đã ngừng phồng to, lớp vỏ xơ bắt đầu se lại, giữ chặt lượng độc chất đã hấp thụ mà không bị nổ toác.

Mạng rễ non dài nửa dặm nối từ Thạch Nê về Giếng Cạn đã thoát khỏi thảm họa bị hủy diệt trong gang tấc.

— Áp lực hạ rồi! Áp lực rễ đã hạ xuống mức an toàn rồi! — Tầm ngẩng phắt đầu lên, gạt phăng mảng bùn bết dính trên trán, hét lớn báo tin qua màn mưa gió mịt mù. — Mạng rễ giữ được rồi! Cây mẹ dưới Giếng Cạn an toàn rồi bà con ơi!

Một tiếng hò reo nghẹn ngào, lẫn lộn giữa niềm vui sống sót và nỗi xót xa, bỗng vỡ òa giữa những người phu đất và dân xóm đang ướt sũng bên bờ mương. Đào Nguyệt thở phào một hơi dài nhẹ nhõm, hai tay run lên vì căng thẳng bấy lâu. Cô lập tức mở hòm thuốc bằng gỗ bọc vải dầu, lấy ra từng gói bột tro trấu ngâm dịch bồ hòn đậm đặc đã chuẩn bị từ trước, nhanh chóng phân phát cho nhóm thanh niên trong đội thợ:

— Rắc bột tro trấu dọc theo toàn bộ bờ ngăn cách giữa thửa số 4 và thửa số 3 ngay lập tức! Rắc thật dày! Phải ngăn không cho độc chất ở tầng mặt thẩm thấu ngang qua thân bờ đê!

Mọi người lập tức tản ra hành động, tiếng bước chân bì bõm trong bùn lầy hòa cùng tiếng hô hào nhắc nhở nhau làm việc nhịp nhàng, khẩn trương.

Thế nhưng, niềm vui thoát nạn ngắn chẳng tày gang.

Một tia chớp xé trời rạch ngang nền trời đen đặc, thắp sáng rực toàn bộ vách núi Khe Táng Thủy sừng sững, hiểm trở phía thượng nguồn lòng chảo.

Mộc Tầm nheo mắt nhìn ngược lên vách đá cheo leo giữa hai luồng sấm chớp. Ánh sáng chớp giật soi rõ cảnh tượng kinh hoàng nơi cống xả đáy số ba của Thanh Lộ Tông — nơi chiếc van điều tiết bằng gỗ thiết mộc bọc sắt đang bị kẹt cứng bởi những thân cây gỗ mục và rác quặng trôi dạt từ đỉnh núi xuống. Dưới sức ép khủng khiếp của trận mưa bão ngày một dữ dội, mực nước bùn độc ở hồ chứa thượng nguồn đang tiếp tục dâng cao ngùn ngụt với tốc độ mắt thường có thể thấy được, bắt đầu tràn qua cả đỉnh đập đá cũ kỹ đã rêu phong. Toàn bộ hệ thống cửa điều tiết trên vách núi đang rung lắc dữ dội, phát ra những tiếng ken két rợn người dưới áp lực của hàng vạn tấn nước lũ đang dồn ứ phía sau.

Những mảng nứt mới chằng chịt như mạng nhện bắt đầu lan nhanh với tốc độ chóng mặt trên thân bờ kè phụ phía nam vách đá.

Thửa ruộng số 4 đã no bùn độc. Lòng ruộng sâu ba thước lúc này đã gần như đầy ắp thứ bùn đen quánh, chỉ có thể cầm cự làm túi đệm tiêu độc thêm vài canh giờ nữa là cùng. Nếu chiếc cống xả đáy bị kẹt trên vách núi Khe Táng Thủy không được giải tỏa dứt điểm để mở đường cho dòng lũ xả tràn an toàn theo rãnh đá tự nhiên, toàn bộ bờ kè phụ trên vách đá sẽ nổ tung dưới áp lực ngàn cân.

Và khi thời khắc nghiệt ngã ấy xảy ra, một khối lượng bùn độc khổng lồ gấp mười lần hiện tại sẽ từ trên trời giáng xuống, san phẳng toàn bộ lòng chảo Hạ Khê thành một bãi tha ma bình địa.

Chương này thế nào?Đánh giá giúp Readeep đề xuất đúng hơn cho bạn