Người Trồng Linh Mạch — Phần 1: Hạt Giống Dưới Đất ChếtC.30 / 36
Chương 30

Bản Đồ Của Một Cơn Mưa

Những giọt mưa nặng hạt đầu tiên đập bôm bốp xuống mái lá điếm canh Thạch Nê, hòa cùng hơi thở dốc sặc sụa mùi tro đen của Lê Cẩn khi anh ngã quỵ xuống bậc cửa.

Mộc Tầm vội buông chiếc xẻng sắt đang cời rãnh thoát nước tạm ngoài hiên, lao tới đỡ lấy bờ vai ướt sũng của bạn. Thân thể Lê Cẩn run bần bật từng cơn, hai hàm răng đánh vào nhau lập cập nghe rõ từng tiếng va đập khô khốc, vạt áo tơi bện bằng vỏ bàng rách bươm bết đầy bùn đỏ lẫn nhớt đen bốc mùi quặng chua loét đến nôn nao. Dưới ánh sáng tù mù của ngọn đèn bão leo lét treo nơi xà ngang bằng gỗ xoan, gương mặt người thợ đào giếng trắng bệch không còn một giọt máu, tái dại như xác chết vừa vớt dưới đáy đầm, nhưng đôi mắt hằn đầy những tia máu đỏ quạch lại trợn trừng lên thất thần, ngùn ngụt một nỗi kinh hoàng tột độ.

— Bản... bản đồ... Tầm ơi, mở... mở ngay ra... mau lên! — Lê Cẩn hổn hển, lồng ngực lép kẹp phập phồng dữ dội như chiếc ống bễ rách. Anh run rẩy thò bàn tay nhớp nháp bùn đất vào trong lớp áo kép tơi tả, lần giở một lúc mới lôi ra được một bọc vải dầu dày đã thấm đẫm nước mưa và nhớt quặng trơn tuột.

Mộc An đứng gần đó vội vã bước tới đỡ lấy bọc vải. Đôi tay cô nhanh nhẹn nhưng cẩn trọng, vớ lấy chiếc giẻ khô trên vách nứa lau sạch lớp bùn đất nhão nhoét bám bên ngoài rồi trải phẳng phiu tấm bọc lên mặt chiếc bàn gỗ tạp thô mộc đặt giữa điếm canh. Lớp vải dầu mở ra, để lộ tấm da dê cũ kỹ ngả màu vàng ố vì khói bếp và thời gian. Trên bề mặt da thô ráp là những đường kẻ chằng chịt vẽ bằng thứ mực tàu pha mật cá lóng lánh ánh xám, miêu tả chi tiết đến từng ngóc ngách hệ thống cống ngầm, mạch đá, các hốc tiêu thủy và lòng hồ tích nước của Khe Táng Thủy kéo dài từ sườn dốc phía tây Hỏa Linh Phong đổ dồn xuống tận đáy lòng chảo Hạ Khê. Đây chính là tấm sơ đồ kỹ thuật bảo trì tuyệt mật mà Lê Cẩn đã liều mạng gom góp, sao chép lén lút từng mảnh vụn qua nhiều năm ròng rã theo phường thợ đá lên núi làm phu dịch cho tông môn.

Lê Cẩn gượng gập quỳ rạp một bên đầu gối xuống mép bàn nẹp gỗ, ngón tay trỏ đen đúa cáu ghét móng tay sứt mẻ run rẩy dí chặt vào một chấm mực đỏ nằm sâu hoắm dưới đáy họng vực:

— Nhìn vào đây! Chỗ này... đây là cống xả đáy số ba của hồ chứa Thanh Lộ. Ba năm trước, lúc tao còn làm phu xẻ đá khổ sai cho Chấp sự phòng, cái then cài bằng gang đúc nguyên khối ở van xả này đã bị rỉ sét đóng thành tảng dày cộm bằng cả bàn tay úp! Con ốc xoay của trục truyền động chính bị trượt cá ren, kẹt cứng ngắc vào vách cống vòm đá xanh, không tài nào nâng lên hạ xuống được một tấc! Thằng Tống Khuê tiếc ba trăm khối linh thạch tiền vật tư và công thuê thợ rèn đại môn về đại tu sửa chữa, hắn chỉ lệnh cho bọn tay sai lấy vữa vôi trộn xỉ quặng trét bừa một lớp bịt kín mặt ngoài để che mắt người, rồi sau đó hạ lệnh cấm tiệt đám thợ thuyền bọn tao bén mảng tới gần họng cống!

Mộc Tầm ghé sát mắt, ánh mắt anh tối sầm lại khi soi từng đường nét chạm khắc trên nền da thuộc. Trên tấm sơ đồ, cống xả số ba nằm ngay tại góc thắt hiểm trở nhất của bờ đập phụ phía nam, một vị trí xung yếu đè thẳng lên đường đứt gãy tầng đá vôi dẫn trực diện xuống khe hẹp Khe Táng Thủy.

— Mày vừa trèo lên tận nơi rồi à? — Mộc Tầm gặng hỏi, giọng anh chùng xuống đầy âu lo khi ngửi thấy mùi lưu huỳnh khen khét lẫn mùi axit bốc ra nồng nặc từ từng hơi thở khò khè của người bạn thợ đá.

— Tao vừa bò từ vách đá cống xả phụ xuống... trượt chân mấy lần suýt rơi mẹ xuống hố rác quặng... — Lê Cẩn nuốt khan một ngụm nước bọt đặc quánh, lồng ngực anh nhói lên từng chấn động đau đớn khiến bờ vai co giật. — Trận mưa dông chiều nay dữ dội quá, nước mưa từ ba đỉnh núi trút xuống như thác đổ, gom toàn bộ nước mặt dồn về lòng hồ Thanh Lộ. Bờ đập chính bằng đá hoa cương thì chưa hề hấn gì, nhưng hiểm họa là ở đáy hồ! Toàn bộ lớp bùn xỉ quặng ngậm trọc tức kim loại nặng tích tụ suốt mấy năm qua từ các lò luyện đan, tích lại dày đến cả trượng ở đáy hồ, lúc này đang bị dòng lũ ngầm quấy tung lên thành một khối nham thạch lỏng! Thứ bùn đen đó quánh đặc như keo dán thuyền, nặng chịch như chì nấu chảy, đang dồn toàn bộ trọng lượng ngàn cân ép thẳng vào lưng cống xả số ba! Chân vách đá xanh đã bắt đầu rỉ nước đen sì sì, phụt ra từng vòi bọt bốc khói cay xè cả mắt! Thân đập phụ đang rên rỉ... tao áp tai vào vách đá, nghe rõ mồn một tiếng đá nứt răng rắc bên trong lòng núi!

Cánh cửa điếm canh bỗng bật mở tanh tách, một luồng gió lạnh buốt thốc theo màn mưa xối xả ùa vào làm ngọn đèn bão treo trên xà nhà chao đảo dữ dội, hắt những vệt bóng đen vặn vẹo lên vách nứa. Địa sư Kỷ Vân bước nhanh vào phòng, chiếc áo tơi kết bằng vỏ bàng của anh nhỏ nước tong tỏng xuống nền đất nện. Trên tay Kỷ Vân là chiếc ống đồng đo cao trình địa mạo và một cuộn thước dây bọc kim loại đã lấm lem bùn đất. Gương mặt vị Địa sư nghiêm nghị đến mức phát lạnh, đôi lông mày rậm nhíu chặt lại tạo thành một đường rãnh sâu hoắm giữa trán, đôi mắt ánh lên vẻ căng thẳng tột cùng của một người nắm rõ quy luật cơ học của đất trời.

Không đợi ai kịp cất tiếng hỏi, Kỷ Vân đặt phịch chiếc ống đồng cùng xấp giấy dầu ghi chép chi tiết các số liệu trắc đạc vừa đo đạc lúc chập tối xuống mặt bàn da dê, ngay cạnh ngón tay còn đang run rẩy của Lê Cẩn.

— Lê Cẩn nói không sai một tấc nào, — Kỷ Vân cất giọng lạnh tanh, nhưng từng con chữ rớt xuống mặt bàn lại nặng trịch như đá hộc ném vào mặt nước. — Lúc xẩm tối, ta đã đích thân cắm ba cọc tiêu đo cao trình tại miệng thoát Khe Táng Thủy và đo lưu lượng dòng chảy tại rãnh thoát nước lũ nhánh nam. Mực nước hồ Thanh Lộ lúc giờ Thân đã vượt ngưỡng tràn tự nhiên hơn nửa trượng. Áp lực thủy tĩnh đè lên vách cống xả đáy số ba hiện tại ước tính không dưới mười vạn cân!

Kỷ Vân rút cây bút chì than cài bên vành tai, dứt khoát vạch một đường thẳng tắp, đen ngòm từ vị trí cống xả số ba xuyên qua hẻm núi Khe Táng Thủy hiểm trở rồi cắm thẳng vào tâm lòng chảo Hạ Khê — nơi bốn thửa ruộng lúa non Thạch Nê và miệng Giếng Cạn đang nằm trơ trọi giữa đêm giông bão.

— Các người phải hiểu rõ cơ học của dòng bùn này, — Kỷ Vân ngước mắt nhìn Mộc Tầm rồi nhìn sang Mộc An, giọng anh đanh lại như thép nguội. — Đây hoàn toàn không phải là một trận lũ lụt nước suối thông thường. Đó là hàng vạn khối bùn đặc ngậm trọc tức kim loại nặng, xỉ quặng hỏa linh và tro than tẩy lò tích tụ từ các bể ngâm luyện đan qua nhiều năm trời của tông môn. Khối lượng riêng của nó nặng gấp rưỡi nước suối trong, độ nhớt cao khủng khiếp. Nếu mưa lớn tiếp tục trút xuống kéo dài qua đêm nay, áp lực nước cộng hưởng với tải trọng bùn trôi sẽ nghiền nát thành cống xả cũ vốn đã mục rỗng rỉ sét từ bên trong. Một khi cống số ba vỡ toác, nó sẽ kéo theo sạt lở toàn bộ bờ đập phụ phía nam! Hàng vạn khối nước bùn đen độc đặc sẽ phóng như một mũi tên khổng lồ xuôi theo độ dốc ba mươi trượng của hẻm đá, dội thẳng vào lòng chảo Hạ Khê. Toàn bộ bốn thửa ruộng thử nghiệm, hệ thống mương dẫn nước, và cả cái giếng làng ngầm bên dưới sẽ bị chôn vùi dưới lớp bùn độc dày nửa người chỉ trong vòng hai canh giờ!

Mộc An đứng chết lặng bên mép bàn, hai bàn tay mảnh dẻ siết chặt lấy góc cuốn sổ bìa da mộc đến mức các đầu ngón tay trắng bệch, không còn chút huyết sắc. Đôi mắt cô dõi theo đường vạch than đen ngòm của Kỷ Vân vừa vạch trên bản đồ — đường than ấy cắt ngang qua thửa ruộng số hai và số ba, nơi những mầm lúa ngậm nước ngọt Giếng Cạn vừa nhú lên những phiến lá xanh mướt kiên cường sau biết bao mồ hôi, nước mắt và cả những vết sẹo đập đá tứa máu của toàn bộ dân đinh xóm giếng. Nếu thảm họa này giáng xuống đầu làng xóm, toàn bộ công sức gầy dựng một mùa vụ cứu đói sẽ tan thành mây khói, và mảnh đất Thạch Nê sẽ vĩnh viễn biến thành một bãi tha ma nhiễm độc, ngàn năm không một ngọn cỏ nào có thể đâm chồi nảy lộc.

— Không thể để nó vỡ được! Tuyệt đối không thể! — Lê Cẩn bỗng gầm lên một tiếng khàn đặc, hai bàn tay chai sần chống mạnh xuống mặt bàn gỗ toan gượng đứng dậy. Đôi mắt anh long lên sòng sọc. — Tao... tao biết kết cấu then sắt đó! Năm xưa chính tay lão thợ rèn phường tao đóng chốt hãm. Tao sẽ dẫn đội công binh, mang theo choòng sắt mười cân, búa tạ và xà beng đại leo lên núi ngay bây giờ! Men theo đường ngách kỹ thuật ăn sâu vào hang cống xả đáy, chỉ cần ba người liều mạng quai búa đập vỡ chốt hãm rỉ sét, cạy bung then van trượt, dòng bùn sẽ thoát ra từ từ theo đường mương đá cũ sang hố sỏi phía tây, không dồn ứ lại làm sập đập! Tao đi... tao đi ngay bây giờ...

Lời còn chưa dứt, thân hình Lê Cẩn bỗng khựng lại giữa chừng như bị sét đánh trúng. Lồng ngực anh co giật dữ dội từng chập, một cơn ho như xé rách cuống họng bộc phát khiến toàn thân anh gập gập lại như con tôm luộc trên chảo nóng. Anh ôm chặt lấy ngực trái, gục đầu xuống bàn ho rũ rượi, tiếng thở rít lên the thé như chiếc ống bễ lò rèn bị rách toang màng da bọc.

— Khụ... khụ khụ... ọe!

Một búng đờm đặc quánh đen sì lẫn những sợi nhớt tanh tưởi bắn văng ra mặt sàn đất nện, bốc lên một mùi lưu huỳnh và kim khí nồng nặc đến nghẹt thở. Lê Cẩn lảo đảo nghiêng ngả, hai mắt trợn trừng trắng dã, hai đầu gối khuỵu xuống va mạnh vào chân bàn khiến chiếc bàn gỗ rung lên bần bật.

— Đứng yên đấy! Anh muốn chết ngay đêm nay sao?!

Một giọng nói đanh thép, lạnh lùng nhưng đầy uy lực vang lên từ góc buồng thuốc dã chiến. Đào Nguyệt bước vội tới, vạt áo chàm buộc gọn gàng, trên tay cầm sẵn một chiếc khăn vải gai tẩm giấm chua bốc khói nhẹ và chiếc hộp kim bạc cứu thương. Cô ngồi sụp xuống bên cạnh Lê Cẩn, một tay đỡ lấy gáy anh, tay kia dứt khoát ấn mạnh hai ngón tay trỏ và giữa vào huyệt Chiên Trung nằm giữa ngực người thợ đào giếng. Một luồng thanh khí dịu mát, thuần khiết từ đầu ngón tay cô lập tức truyền qua lớp vải áo ướt sũng, chặn đứng cơn co thắt phế quản dữ dội đang chực làm vỡ tung các mạch máu phổi của anh.

Đón lấy búng đờm đen trên chiếc khăn tay, Đào Nguyệt đưa lên mũi ngửi lướt qua một thoáng rồi chăm chú nhìn những vệt móng tay của Lê Cẩn đã chuyển sang màu xanh xám rỉ đồng rõ rệt. Đôi mày thanh tú của cô cau lại thật sâu, ánh mắt nhìn thẳng vào khuôn mặt đang tái ngắt của Lê Cẩn ngập tràn sự phẫn nộ đanh thép của một người thầy thuốc bị chính bệnh nhân của mình coi thường sinh mạng:

— Phổi của anh đã loét nát vì ngấm trọc tức kim loại từ cái lần vỡ vỉa đá ngầm tháng trước, lại thêm hàn khí ẩm lạnh ngấm sâu vào kinh lạc! Giờ đây các phế nang của anh đang rỉ máu đen, chỉ cần hít thêm một ngụm khí ẩm bão hòa trọc tức ở vùng sạt lở Khe Táng Thủy, toàn bộ kinh mạch dẫn khí ở lồng ngực sẽ lập tức đông kết lại! Anh chưa kịp leo lên đến chân đập phụ thì đã chết ngạt vì phù phổi cấp ngay giữa dốc đá rồi!

— Nguyệt... cô... cô để tao đi... — Lê Cẩn thở dốc từng hồi ngắt quãng, nước mắt trào ra khóe mi hòa cùng mồ hôi lạnh chảy ròng ròng trên trán, bàn tay run rẩy bấu chặt lấy gấu áo chàm của Đào Nguyệt van lơn. — Cả cái làng này... cả sáu xóm trông vào vụ lúa này... nếu đập vỡ, ruộng mất, giếng hỏng, thì tao sống mà thở bằng cái gì... để tao đi cạy then... tao còn sức quai búa...

— Tôi cấm anh! — Đào Nguyệt gằn từng tiếng, giọng cô đanh lại như một mệnh lệnh sắt đá. — Chiểu theo Khế ước Y tế của Hội giữ đất, tôi là người phụ trách chuyên môn về sinh mạng và sức khỏe của mọi thành viên lao động! Bệnh phổi tro giai đoạn hai của anh tuyệt đối không được phép tiếp xúc với vùng áp suất thấp và khí ẩm ngập độc! Việc anh đòi lên núi lúc này không phải là hành động dũng cảm cứu làng, mà là một sự tự sát ngu xuẩn, tự biến mình thành gánh nặng khiến những người khác phải liều mạng cõng xác anh về! Ngồi yên đây, uống cạn bát thuốc giải độc bách bộ này cho tôi!

Nói đoạn, Đào Nguyệt quay ngoắt sang nhìn Mộc Tầm, ánh mắt kiên định rực lửa không cho phép bất kỳ sự thương lượng nào:

— Mộc Tầm, anh là người đứng đầu điều phối kỹ thuật của Hội. Anh phải lập tức ra lệnh trói anh ta lại nếu anh ta dám bước nửa bước ra khỏi cửa điếm canh này! Muốn cứu bờ đập, các anh phải dùng biện pháp kỹ thuật khác, tuyệt đối không thể đem mạng sống của một kẻ phế nhân phổi tàn đi chọi với đá núi và bùn độc!

Mộc Tầm siết chặt hai nắm tay đến mức móng tay hằn sâu vào da thịt. Anh nhìn người bạn nối khố đang thở hắt ra từng cơn đau đớn dưới nền đất lạnh, rồi ngước nhìn sang gương mặt trầm mặc của Kỷ Vân. Anh hiểu rõ Đào Nguyệt nói đúng từng chữ. Lê Cẩn đã cống hiến tất cả sức tàn và tính mạng của mình cho mảnh đất này, xương máu của anh không thể bị phung phí một cách mù quáng trong một canh bạc vô vọng.

— Kỷ tiên sinh, — Mộc Tầm cất giọng trầm thấp, cố nén nhịp thở dồn dập đang đè nặng lồng ngực. — Ngoài việc cạy then cống xả đáy số ba, trên hệ thống hồ chứa Thanh Lộ còn có cửa thoát nào khác có thể chia cắt lưu lượng lũ ngay trong đêm nay không?

Kỷ Vân không chần chừ, lập tức vung đầu bút than chỉ thẳng vào mép phía bắc của tấm bản đồ da dê:

— Có! Phía bắc hồ chứa có một hệ thống van xả tràn bề mặt gồm ba cửa cống bằng đá phiến nguyên khối dẫn nước vòng qua triền đá Lãnh Hỏa, đổ thẳng xuống lưu vực sông mẹ nằm ngoài ranh giới quản hạt của huyện. Cửa xả này được tiền nhân thiết kế riêng biệt để chia lũ khẩn cấp mỗi khi mực nước hồ dâng cao vượt đỉnh an toàn. Nếu nâng toàn bộ ba cửa xả tràn phía bắc lên, lưu lượng nước mặt sẽ giảm đi ít nhất một nửa, áp lực thủy tĩnh đè lên cống xả đáy số ba phía nam sẽ lập tức hạ xuống dưới ngưỡng nguy hiểm, thân đập phụ sẽ không bị xé toạc! Nhưng... quyền điều khiển và mở van xả tràn phía bắc hoàn toàn nằm trong tay Chấp sự phòng của Thanh Lộ Tông! Bọn họ giữ chìa khóa xích và pháp ấn vận hành!

— Chúng ta có công văn pháp lý của huyện quan! — Mộc An lập tức lên tiếng, đôi mắt cô sáng lên một tia hy vọng sắc bén. — Lệnh bảo toàn hiện trạng địa giới và nguồn nước của Huyện quan Ngô Trực vẫn còn đầy đủ hiệu lực hành chính. Chiểu theo Phụ lục Giáp-Tý của bản Khế ước Địa Mạch đã được đôi bên ký nhận, Thanh Lộ Tông có nghĩa vụ pháp lý bắt buộc phải bảo đảm an toàn dòng nước chảy qua vùng dân cư!

Kỷ Vân gật đầu dứt khoát:

— Báo cáo đo đạc khẩn cấp của ta có đầy đủ căn cứ thực địa và số liệu thủy văn, đã được niêm phong bằng ấn tín Ty Địa sư triều đình. Mộc An, lấy giấy bổi và mực đỏ ra đây ngay! Ta sẽ ký chứng thư khẩn nguy địa chất ngay tại chiếc bàn này!

Dưới ánh đèn bão bập bùng lay lắt, ngọn bút lông trong tay Kỷ Vân thoăn thoắt hạ từng nét mực dứt khoát. Từng dòng chữ ghi rõ cao trình nước hồ đã vượt ngưỡng báo động, lưu lượng dòng chảy nội sinh đang đe dọa làm bục cống đáy số ba, kèm theo lời cảnh báo đanh thép về nguy cơ vỡ đập phụ, kiến nghị bắt buộc phía tông môn phải mở toang cửa xả tràn phía bắc để cứu nguy tính mạng của sáu xóm vùng hạ du. Mộc An nhanh chóng cầm lấy con dấu gỗ khắc nổi của Hội giữ đất, chấm đẫm mực chu sa, đóng mạnh một nhát giáp lai bên cạnh ấn triện của Ty Địa sư.

Không đầy nửa khắc sau, một gã trượng dịch mang áo tơi da hươu thuộc trạm liên lạc dã chiến của huyện nha đóng ở đầu thôn Thạch Nê đã nhận lấy phong thư hỏa tốc từ tay Kỷ Vân. Gã trượng dịch nhét vội bức thư vào túi da chống nước trước ngực, nhảy phốc lên lưng ngựa, giật mạnh dây cương rồi quất roi vun vút. Tiếng vó ngựa dồn dập gõ cồm cộp trên nền đường đá dăm, nhanh chóng chìm nghỉm vào màn mưa gió mịt mùng đang gầm rú ngoài trời, lao thẳng về hướng trạm công vụ huyện Bình Xuyên.

***

Tại công đường dã chiến dựng tạm bằng gỗ thông già đặt ở trạm dịch ngoài cửa núi, Huyện quan Ngô Trực đang đứng chắp hai tay sau lưng, ánh mắt đăm chiêu nhìn qua khung cửa sổ lớn hướng ra màn mưa trắng xóa ngoài trời. Tiếng sấm rền rĩ từ rặng núi Thanh Lộ dội về từng chập làm những chiếc tách trà bằng gốm thô đặt trên bàn làm việc khẽ rung rinh, nước trà bên trong sóng sánh từng vòng tròn đồng tâm.

Cánh cửa gỗ dày bỗng bật mở toang ra một tiếng “rầm”. Người trượng dịch ướt sũng như chuột lột, thở không ra hơi, quỳ rụp xuống mặt sàn ván gỗ, hai tay dâng cao bức thư da dê có đóng dấu niêm phong bằng sáp màu tro lạnh của Ty Địa sư:

— Báo... báo cáo khẩn cấp từ Địa sư Kỷ Vân ở lòng chảo Hạ Khê gửi về! Thượng nguồn hồ chứa Thanh Lộ đang lâm vào tình trạng đại nguy cấp! Cống xả đáy số ba bị kẹt cứng sắp bục vỡ, nguy cơ vỡ đập phụ tràn trọc tức vùi lấp toàn bộ lòng chảo trong đêm nay!

Ngô Trực sải bước tới, giật phắt lấy lá thư rồi xé toạc phong bì bọc ngoài. Dưới ánh nến bừng sáng của ngọn đèn lồng công đường, đôi mắt vị huyện quan lướt nhanh qua từng dòng số liệu đanh thép, từng phép tính áp suất thủy tĩnh và những lời cảnh báo rợn người về hàng vạn khối bùn đặc ngậm trọc tức kim loại nặng đang chực chờ nuốt chửng hàng ngàn dân đinh cùng toàn bộ mùa màng lúa giống Thạch Nê. Bàn tay cầm thư của ông run lên bần bật vì một nỗi căm phẫn tột độ đan xen với nỗi kinh hoàng tột bực. Vùng lòng chảo Hạ Khê một khi sụp đổ, điều đó không chỉ đơn thuần là mất đi một vụ mùa thí điểm, mà con đường quan huyết mạch nối liền các huyện biên viễn sẽ bị cắt đứt hoàn toàn, hàng ngàn bách tính sẽ trở thành lũ lưu dân đói khát bạo loạn, và chiếc mũ cánh chuồn cùng chiếc ghế huyện quan của ông chắc chắn sẽ bị phủ đường cách chức, tống giam vào ngục tối vì tội tắc trách để xảy ra thảm họa hủy diệt dân sinh!

— Khốn kiếp! Thật là một lũ súc sinh coi trời bằng vung! — Ngô Trực đập mạnh bàn tay xuống mặt bàn làm chiếc nghiên mực nhảy dựng lên, nước mực bắn tung tóe. — Lũ tu sĩ này dám giấu nhẹm chuyện cống xả đáy bị hư hỏng suốt ba năm trời để trục lợi linh thạch! Chúng nó coi tính mạng của con dân triều đình như cỏ rác!

Thư lại Lưu Tố đứng bên cạnh lập tức trải một tờ công văn bằng giấy sắc vàng óng ra mặt bàn, nhanh tay mài một thỏi mực chu sa đỏ au trong chiếc nghiên đá:

— Đại nhân, tình thế ngàn cân treo sợi tóc, xin ngài hãy lập tức phát Công văn Hỏa tốc khẩn cấp mang tính cưỡng chế! Viện dẫn toàn bộ điều khoản của *Khâm định Điền trạch Luật lệ* và Phụ lục Giáp-Tý của Khế ước Địa Mạch, buộc tên Chấp sự Tống Khuê phải lập tức đích thân nâng toàn bộ then ba van xả tràn phía bắc! Nếu hắn dám chần chừ nửa khắc làm vỡ đập phụ, nha môn ta sẽ lập tức làm sớ tấu trình vượt cấp lên tận Binh bộ và Tuần phủ ti, khép tông môn vào tội cố ý phá hoại quan lộ trọng yếu và đồ sát dân lành vô tội!

Ngô Trực không chút do dự, cầm chiếc bút lông quản trúc chấm đẫm thứ mực chu sa đỏ rực, vung tay viết những dòng lệnh đanh thép như lưỡi đao chém đá. Từng nét chữ sắc lẹm mang theo toàn bộ uy quyền hành chính thế tục của triều đình dồn nén xuống mặt giấy vàng. Viết xong, ông nhấc chiếc ấn đồng vuông vức nặng trịch của Huyện nha Bình Xuyên, dằn mạnh xuống góc dưới tờ công văn. Dấu triện đỏ tươi rực lên như máu tươi chảy tràn trên trang giấy.

— Cầm lấy đạo công văn này! — Ngô Trực gầm lên, trao tờ sắc lệnh vào tay người trượng dịch. — Ngươi hãy chọn con ngựa khỏe nhất, phi thẳng lên sảnh nghị sự Thanh Lộ Tông giao tận tay Chấp sự Tống Khuê! Yêu cầu hắn phải thi hành mở van xả ngay lập tức, không được phép chậm trễ dù chỉ một khắc đồng hồ! Nếu hắn dám cản trở, coi như công khai làm loạn đối đầu với triều đình!

***

Gió rít gào thét như tiếng hú của bầy thú dữ quanh đỉnh Hỏa Linh Phong, quất từng luồng mưa xối xả làm rát rạt mặt đá nơi những dãy hành lang lát đá hoa cương nguy nga của sảnh Chấp sự phòng Thanh Lộ Tông.

Tống Khuê đứng chắp tay bên lan can đá chạm trổ hình hoa sen lửa tinh xảo, tà áo thụng màu xám tro của gã phần phật bay trong gió bão dữ dội. Đôi mắt lạnh lẽo, hẹp dài của một tu sĩ Trúc Cơ trung kỳ nhìn xuống mặt hồ chứa Thanh Lộ đang sủi bọt ngầu đục, cuộn trào sóng dữ trong bóng đêm đen đặc. Mặt nước dâng cao sát sàn sạt mép kè đá hoa cương, từng con sóng lớn đập ầm ầm vào chân vách núi như những tiếng đại bác nổ rền vang từ đáy địa ngục.

Phía sau lưng gã, hai tên đệ tử Chấp pháp mặc đạo bào màu lam đậm đang áp giải người lính dịch của huyện nha. Gã lính dịch toàn thân ướt sũng, bùn đất bết dính đầy người, đang run rẩy quỳ mọp trên nền đá ướt lạnh buốt. Tờ công văn chữ đỏ đóng dấu triện của Huyện quan Ngô Trực nằm trơ trọi trên chiếc bàn trà bằng ngọc thạch bóng loáng.

Tống Khuê chậm rãi quay người lại, bước từng bước ung dung, khoan thai tới trước chiếc bàn. Gã liếc mắt nhìn lướt qua tờ công văn sắc vàng, khóe môi mỏng khẽ nhếch lên thành một nụ cười khinh miệt, lạnh buốt thấu tận xương tủy.

— Mở van xả tràn phía bắc? — Giọng Tống Khuê vang lên trầm đục, mang theo một tầng uy áp linh lực Trúc Cơ vô hình ép thẳng xuống sảnh đường khiến người lính dịch bên dưới nghẹt thở, hai vai run rẩy ép sát trán xuống mặt đá lạnh ngắt. — Huyện quan Ngô Trực của các ngươi ăn phải gan hùm mật gấu rồi hay sao, mà dám dùng cái giọng điệu quan nha thối tha này để ra lệnh cho Chấp sự phòng của Thanh Lộ Tông ta?

— Bẩm... bẩm Chấp sự đại nhân khai ân! — Người lính dịch run rẩy lắp bắp, từng lời nói run rẩy bật ra khỏi kẽ răng. — Địa sư Kỷ Vân của triều đình đã trực tiếp đo đạc... cống xả đáy số ba phía nam đã rỉ sét kẹt cứng, sắp vỡ tung vì áp lực bùn độc! Nếu quý tông không chịu xả tràn phía bắc để chia bớt lưu lượng lũ, đập phụ nhất định sẽ sụp đổ, toàn bộ bùn trọc tức sẽ quét sạch sành sanh ruộng đất và hàng ngàn dân chúng vùng Hạ Khê...

— Ruộng đất của một lũ sâu bọ phàm nhân thấp hèn thì đáng giá mấy đồng bạc vụn? — Tống Khuê lạnh lùng cắt ngang, thanh âm tàn nhẫn không một chút gợn sóng lướt qua không gian ẩm ướt. — Ngươi có biết nếu mở van xả tràn phía bắc, dòng lũ đó sẽ chảy đi đâu không? Dòng nước lũ ngập trọc tức đó sẽ quét thẳng qua kho quặng tinh luyện của Hỏa Linh Phong chúng ta, làm ngập úng và hư hại toàn bộ mười vạn cân xỉ hỏa thạch quý giá đang tích trữ! Chưa hết, chân tháp trận hộ sơn của tông môn ta nằm ngay tại sườn dốc phía bắc, nền móng vốn đang bị rạn nứt do thiếu linh khí bổ trợ trong mùa khô. Nước lũ xả qua đó sẽ làm xói mòn chân tháp, phá vỡ toàn bộ phong ấn của đại trận hộ trì sơn môn!

Gã đưa bàn tay gầy guộc ra, khẽ nhấc tờ công văn đỏ rực của huyện quan lên ngang tầm mắt. Một đốm linh hỏa màu lam nhạt bỗng bùng cháy từ đầu ngón tay trỏ của gã. Ngọn lửa thiêu đốt tờ lệnh hỏa tốc của quan huyện trong tích tắc, biến những dòng chữ son đanh thép và con dấu triện đồng đỏ rực thành một nhúm tàn tro đen bay lả tả, bị cơn gió bão tạt văng ra ngoài khoảng không thăm thẳm.

— Về bảo với tên Ngô Trực nông cạn kia: tính mạng của cả cái lòng chảo Hạ Khê cộng lại, cũng không đáng giá bằng một mảnh ngói vỡ trên tháp trận hộ sơn của Thanh Lộ Tông ta! — Tống Khuê cười khẩy, ánh mắt sắc như dao cạo. — Hồ chứa nước này, ta tuyệt đối không mở một giọt nào xả về phía bắc hết! Cứ để cho cống xả số ba tự mình chịu áp lực. Nếu nó có vỡ toác ra thì âu cũng chỉ là một trận thiên tai lũ bùn chảy xuống khe rãnh tự nhiên của trời đất, tiện thể cuốn trôi luôn lũ giòi bọ bên dưới mà thôi. Thanh Lộ Tông ta tuyệt đối không bao giờ vì một đám dân cày ti tiện mà tự tay hủy hoại căn cơ phòng thủ của tông môn! Cút ngay!

Vừa dứt lời, Tống Khuê phất mạnh tay áo rộng. Một luồng kình khí linh lực Trúc Cơ vô hình hung bạo bộc phát, hất tung người lính dịch văng bổng ra khỏi bậc thềm đá của sảnh đường. Gã lính dịch kêu thét lên một tiếng rồi lăn lông lốc xuống từng bậc đá dốc đứng, trơn tuột ngoài màn mưa bão.

Tống Khuê quay lưng lại, lạnh lùng tựa tay lên lan can đá, đưa mắt nhìn xuống màn đêm đen kịt đặc quánh đang bao trùm lấy toàn bộ lòng chảo Hạ Khê tít tắp bên dưới chân núi. Trên đôi môi mỏng của gã nở một nụ cười thâm độc, tàn nhẫn. Nếu cống xả đáy số ba vỡ tung, bùn độc tràn ngập Hạ Khê, mạng rễ Tức Căn của cái hội nông dân kia bị tiêu diệt hoàn toàn, thì mọi bằng chứng về tội ác xả thải quặng lậu suốt mười năm qua của tông môn cũng sẽ bị chôn vùi vĩnh viễn dưới lớp bùn đen sâu hoắm. Đối với gã và tông môn, việc vỡ đập này không phải là một thảm họa, mà chính là một nhát chổi quét sạch sẽ lũ sâu bọ phiền toái dám ngóc đầu lên chống lại uy quyền của đạo môn.

***

Tin dữ từ huyện nha truyền ngược về điếm canh Thạch Nê tựa như một tiếng sét đánh ngang tai giữa cơn dông bão mù mịt.

— Hắn... hắn từ chối thẳng thừng rồi! — Mộc An buông thõng hai cánh tay xuống, gương mặt tái nhợt, giọng nói của cô lạc hẳn đi trong tiếng mưa gió gầm réo rắt bên ngoài vách nứa. — Tống Khuê đã châm lửa đốt nát công văn hỏa tốc của huyện quan! Hắn kiên quyết giữ kín nước trên hồ chứa để bảo vệ kho quặng và chân tháp trận hộ sơn của tông môn! Hắn bỏ mặc chúng ta chết chìm trong biển bùn độc!

Bên trong điếm canh, không gian bỗng chốc ngưng đọng lại đặc quánh như chì nấu chảy. Không một ai cất tiếng thở dài, chỉ có tiếng gió thốc từng cơn vào mái lá. Trịnh Bách đứng tựa vào cột nhà, hai bàn tay gân guốc siết chặt lấy cán gỗ của cây búa tạ mười cân đến mức các khớp ngón tay kêu lên răng rắc, từng đường gân xanh nổi cuồn cuộn trên cánh tay sạm đen vì khói bụi đập đá:

— Tiên sư quân súc sinh! — Trịnh Bách nghiến răng trét từng tiếng căm hờn qua kẽ răng. — Chúng nó coi mạng sống của cả làng chúng ta không bằng một cục xỉ quặng hỏa linh! Bây giờ thì chạy đi đâu được nữa hả trời? Đàn bà, con nít, người già yếu trong xóm làm sao mà leo qua nổi trạm gác Bến Tro giữa đêm mưa gió nước ngập tới thắt lưng thế này?!

Mộc Tầm đứng lặng sừng sững giữa căn phòng chật chội. Ánh mắt anh không hề dao động, chăm chú nhìn sâu vào từng đường kẻ vẽ trên tấm bản đồ da dê của Lê Cẩn, rồi chậm rãi bước tới bên khung cửa sổ, phóng tầm mắt nhìn qua màn mưa mịt mùng hướng về phía cánh đồng Thạch Nê. Dưới những tia chớp sáng lóa liên tiếp rạch ngang bầu trời đêm tăm tối, bốn thửa ruộng lúa non đang dập dờn trong gió bão, những ngọn lá xanh biếc rạp mình xuống mặt nước rồi lại kiên cường ngóc đầu dậy như một phép màu vừa đâm chồi từ cõi chết. Xa hơn một chút về phía tây nam, mái che bằng gỗ thông của Giếng Cạn vẫn đứng vững chãi — nơi mầm Tức Căn đầu tiên đang cắm sâu những sợi rễ sáng ánh lam quang vào lòng đất mẹ để lọc sạch từng tấc độc chất qua từng canh giờ.

Nếu lũ bùn đen ập xuống, tất cả mọi hy vọng, mọi sự sống vừa hồi sinh sẽ vĩnh viễn chấm dứt. Không còn một con đường lùi nào nữa. Không có bất kỳ quan nha nào có thể kịp thời điều binh đến cứu vớt họ, và cũng chẳng có một vị tiên nhân nào đoái hoài đến sự sống chết của những kẻ phàm trần cày thuê cuốc mướn.

Muốn sống sót, họ chỉ có một con đường duy nhất: tự đứng lên cứu lấy chính mình!

Mộc Tầm hít một hơi thật sâu lồng ngực đầy ắp mùi đất ẩm nồng nặc và vị mặn mòi của mưa giông. Anh quay ngoắt người lại đối diện với mọi người, ánh mắt rực sáng lên một ngọn lửa kiên định sắt đá chưa từng thấy:

— Không chạy đi đâu cả! Chúng ta sẽ giữ đất đến cùng!

Anh bước nhanh tới mép bàn, giọng nói đanh gọn, dứt khoát và chặt chẽ vang lên khắp không gian điếm canh:

— Mộc An, lập tức giật dây rung chuông đồng báo động khẩn cấp trên nóc điếm canh! Triệu tập toàn bộ tráng đinh của sáu xóm và dân đinh Thạch Nê tập hợp ngay về bờ kênh chính! Bác Phạm Nghi, cho mở toang kho hậu cần của Hội, phân phát toàn bộ bao tải gai, cuốc xẻng, đòn khiêng và thắp sáng tất cả đèn bão mang ra đồng!

Lão nông Phạm Nghi run rẩy chống chiếc gậy tre bước lên một bước, giọng nghẹn ngào:

— Tầm ơi... hàng vạn khối bùn đặc trên núi trút xuống với độ dốc ba mươi trượng, chúng ta chỉ có cuốc xẻng với tay không, lấy cái gì mà cản nổi sức tàn phá của lũ trời hả con?!

— Chúng ta không cản trực diện! — Mộc Tầm vung tay chỉ thẳng vào con mương đệm tự nhiên uốn lượn men theo bờ tây cánh đồng Thạch Nê trên bản đồ. — Nếu lũ bùn trọc tức tràn qua bờ kè Khe Táng Thủy đổ xuống lòng chảo, theo quán tính cơ học nó sẽ dội thẳng vào tim mương chính dẫn nước về ruộng lúa và Giếng Cạn. Chúng ta sẽ đào một con rãnh nắn dòng khẩn cấp hình chữ bát ngay tại họng nghẽn của bãi đá dăm! Dùng hàng trăm bao cát trộn tro trấu đắp một con đê bao chuyển hướng góc nghiêng bốn mươi lăm độ, bẻ gãy hoàn toàn động năng dòng chảy của lũ bùn độc, ép nó trút toàn bộ vào khu đầm lầy trũng hoang phế ở cực nam!

Ánh mắt Mộc Tầm khóa chặt lấy gương mặt dữ dằn của Trịnh Bách:

— Bác Bách! Bác chỉ huy toàn bộ đội đập đá và hai mươi tráng đinh khỏe nhất, vác xà beng, cuốc chim chia làm hai cánh hành động ngay lập tức. Cánh thứ nhất phải bổ vỡ toàn bộ các bờ đá chắn ở rãnh thoát nước cũ phía cực nam để mở rộng tối đa lòng thoát lũ vào đầm lầy. Cánh thứ hai xúc đất sỏi Thạch Nê đóng thật chặt vào các bao tải gai, kết hợp với các bè gỗ lim đã chuẩn bị sẵn để đắp bờ kè chặn đứng ngay đầu mương dẫn nước vào Giếng Cạn! Chúng ta phải bảo vệ mạng rễ mẹ Tức Căn và bốn thửa ruộng giống bằng mọi giá, dù phải đổi bằng máu!

Trịnh Bách hất hàm, đưa bàn tay sần sùi quệt mạnh dòng nước mưa trên mặt, tiếng quát vang dội lấn át cả tiếng sấm rền ngoài trời:

— Được! Đã đến cái nước này thì liều mạng một phen với trời đất và lũ tu sĩ! Anh em thợ đá theo tao! Đứa nào lùi bước nửa bước, tao đập nát đầu cuốc!

Tiếng chuông đồng trên nóc điếm canh Thạch Nê lập tức dồn dập ngân vang, xé toạc màn đêm giông bão mịt mùng. Từng hồi chuông trầm hùng, gấp gáp, dứt khoát vang vọng khắp các bờ ruộng, lay động toàn bộ xóm Giếng Cạn và lan xa tới các ngõ ngách của sáu xóm phụ cận. Ánh đuốc bùng cháy rực rỡ khắp các ngả đường mòn lầy lội. Hàng chục, rồi hàng trăm bóng người khoác áo tơi tơi tả, tay cầm cuốc xẻng, tay xách đèn bão hối hả chạy rầm rập về phía bờ kênh chính của cánh đồng Thạch Nê.

Mộc An đứng dưới chân cột điếm canh, đôi bàn tay nhanh thoăn thoắt phát từng chiếc xẻng sắt, từng bó bao tải gai cho dòng người đang túa ra như thác lũ. Không một ai buông lời than vãn, không một tiếng khóc lóc bi lụy. Nỗi sợ hãi tột cùng trước thảm họa hủy diệt đã biến thành một thứ sức mạnh kết đoàn dữ dội và gan góc. Những người nông dân vốn cả đời chỉ biết cúi đầu nhẫn nhục trước áp bức và bóc lột của tông môn nay đứng tựa lưng vào nhau, quai từng nhát cuốc xới tung đất đá trong màn mưa quất xối xả rát mặt, quyết tâm đào nên một con đường sống giữa lằn ranh sinh tử mong manh.

Đào Nguyệt cùng nhóm thợ thuốc khẩn trương dựng lều cứu nạn dã chiến ngay trên gò đất cao cạnh Lò Đất Kín, chuẩn bị sẵn hàng chục bình gốm chứa nước sắc bồ hòn, tro trấu và bột thảo dược giải độc để sẵn sàng ứng cứu cho những người đào rãnh nếu chẳng may trọc tức kim loại rò rỉ sớm.

Mộc Tầm đứng sừng sững trên bờ kênh chính, bàn tay nắm chặt cán xẻng sắt ướt lạnh, ánh mắt anh đăm đăm nhìn ngược lên vách núi Khe Táng Thủy đen ngòm như họng một con thú dữ khổng lồ đang chực nuốt chửng toàn bộ lòng chảo. Mưa mỗi lúc một nặng hạt, xối xả như trút nước từ chín tầng mây xuống trần gian, nước ngập bì bõm dưới chân từng người phu đất.

Bỗng nhiên, mặt đất dưới chân mọi người khẽ chao đảo.

Một tiếng nổ trầm đục vang lên từ vách núi Khe Táng Thủy; dòng nước đen ngòm cuồn cuộn bùn độc bắt đầu tràn qua bờ kè.

Chương này thế nào?Đánh giá giúp Readeep đề xuất đúng hơn cho bạn