Người Trồng Linh Mạch — Phần 1: Hạt Giống Dưới Đất ChếtC.11 / 36
Chương 11

Mắt Sinh Đầu Tiên

Ánh sáng mờ nhạt từ miệng Giếng Cạn rọi xuống những phiến đá ẩm mục, dừng lại ở một đốm chồi xanh ngọc mọng nước đang nhô hẳn lên khỏi lớp vỏ rễ cái xù xì của Tức Căn.

Giữa tầng bùn xám nhờ ngập ngụa mùi quặng lưu huỳnh sót lại từ các vỉa trầm tích cổ, đốm chồi ấy trong veo như một giọt ngọc bích vừa ngưng tụ giữa đêm sương. Nó hoàn toàn tách biệt khỏi cái vẻ xơ xác, gân guốc của những đoạn rễ già đang oằn mình chống chọi với trọc khí độc hại bên dưới lòng đất; thân mầm tròn lẳn, bóng bẩy, từng đường vân nhỏ li ti trên lớp vỏ mầm khẽ phập phồng theo từng nhịp rỉ nước ngầm nơi kẽ đá. Ngay sát cuống của nó, nốt rễ độc bão hòa to bằng quả trứng ngỗng vẫn đen kịt, tỏa ra hơi nóng râm ran và chực rỉ ra từng giọt dịch quánh ăn mòn phiến đá vôi lót nền giếng. Sự đối nghịch nghiệt ngã giữa sinh cơ thuần khiết và tử khí cô đặc chỉ cách nhau chưa đầy hai đốt ngón tay, mong manh đến mức khiến lồng ngực Mộc Tầm thắt nghẹn lại sau mỗi nhịp thở.

Tầm đứng chôn chân trong bóng tối lờ nhờ, hai bàn tay buông thõng bên sườn siết chặt lấy nếp áo thô. Anh không dám đưa tay chạm thẳng vào chồi non. Bài học đắt giá từ ngón tay trỏ từng bị hoại tử đến tận xương tủy vẫn còn hằn nguyên vết sẹo co rúm nơi bàn tay phải: bất kỳ luồng linh khí ngoại lai nào xao động lúc này, hay chỉ một thoáng hấp tấp thô bạo, cũng có thể kích nổ nốt độc bên cạnh, biến mầm sống duy nhất thành một bọc mủ than cháy rụi không còn manh giáp.

Hít sâu một hơi để nén nhịp tim đang đập thình thịch vào lồng ngực, Tầm với lấy sợi thừng gai bện ba treo lơ lửng giữa lòng giếng. Bằng những động tác thuần thục của kẻ đã trèo lên tụt xuống hàng trăm bận, anh đạp chân vào các hốc đá trơn nhẫy rêu nhớt, vọt người lên miệng giếng. Không kịp giũ lớp bùn ẩm bám nơi gấu quần, Tầm sải bước thật nhanh qua bờ rào dâm bụt khô xơ xác, hướng thẳng sang căn lều thuốc dã chiến dựng tạm ở góc vườn Mộc gia.

Bên trong lều, bà giáo Bùi Sương đang ngồi trên chiếc chõng tre ọp ẹp, lưng hơi còng xuống, tỉ mẩn dùng chiếc chày đá mòn nhẵn nghiền từng nắm quả bồ hòn khô trong lòng cối đá xanh. Tiếng chày giã *cộc, cộc* đều đặn, khô khốc vang lên giữa không gian oi nồng của buổi sớm mai.

"Bà Sương," Tầm bước qua ngưỡng cửa liếp, hạ giọng thật thấp, nhưng hơi thở gấp gáp vẫn làm lộ rõ cơn chấn động trong lòng anh, "dưới đáy giếng... mắt sinh đã nứt vỏ rồi. Nó nhú lên cao gần nửa lóng tay, nằm ngay sát nách cuống nốt độc cũ."

Tiếng chày đá đột ngột ngừng bặt. Đôi bàn tay gầy guộc chằng chịt những vết sẹo nông sâu do nhựa độc ăn mòn của Bùi Sương khựng lại giữa không trung. Bà đặt chiếc chày xuống mép cối, từ từ ngước cặp mắt đục mờ vì khói quặng lên nhìn thẳng vào Tầm. Dưới đôi lông mày bạc phếch, ánh nhìn của bà sắc lẻm như lưỡi dao cạo vừa mài qua đá bùn:

"Cậu nhìn cho kỹ chưa? Chắc chắn đó là mắt sinh mọc độc lập, hay chỉ là một nhánh rễ độc non vừa phân nhánh đâm chồi?"

"Cháu nhìn rất kỹ, tuyệt đối không nhầm," Tầm bước tới gần hơn, giọng khẳng khái, quả quyết. "Màu xanh ngọc bích trong suốt, rễ tơ quanh gốc nó rỉ nước mát rượi chứ không hề bốc hơi nóng hầm hập như nốt rễ độc. Nhưng cháu không dám tự ý đụng vào. Mầm ấy... nó bám sâu quá."

Bùi Sương không hỏi thêm nửa lời. Bà đứng dậy, phủi sạch lớp bột thuốc màu xám tro bám trên vạt áo chàm đã sờn rách mép, rồi với lấy chiếc đèn bão có chụp kính chắn gió máng trên cột tre. Dù tuổi tác đã ngoài sáu tuần, thân hình lại gầy guộc như một thanh củi khô, nhưng từng bước đi của bà ra mé giếng vẫn nhanh nhẹn, vững vàng đến lạ thường.

Đến bên bờ giếng xếp bằng đá hộc, bà thắt chặt dải rút áo, một tay giữ đèn, một tay nắm lấy dây thừng rồi dứt khoát tụt người xuống lòng giếng sâu bốn trượng. Tầm lập tức bám theo sau, giữ thừng cho bà và che chắn những vụn đá lở rơi xuống từ thành giếng.

Xuống đến đáy, Bùi Sương cẩn thận quỳ gối trên phiến ván gỗ kê tạm để mũi chân không dẫm nát lớp bùn mịn ngậm dưỡng khí quanh gốc. Bà nâng ngọn đèn dầu lên ngang tầm mắt, xoay chụp kính chắn gió sang một bên để luồng sáng vàng vọt rọi thẳng vào đoạn rễ cái. Đưa ngón tay cái ráp như vỏ cây huỳnh đàn nhẹ nhàng rê dọc theo sống rễ nứt nẻ, bà dừng lại cách chồi ngọc đúng một phân. Đầu ngón tay bà khẽ rung rinh theo từng nhịp co thắt vô hình; bà đang dùng chút cảm ứng mộc đạo tàn dư của một dược sư già để lắng nghe dòng dịch thể luân chuyển bên trong thớ gỗ.

"Cứng cáp rồi," Bùi Sương thì thầm, thanh âm khàn đặc nhưng rành rọt từng tiếng giữa lòng giếng vọng. "Lớp màng ngoài đã hóa sừng nhẹ, đủ độ dẻo dai để tự bọc lấy lõi sinh cơ mà không sợ trọc khí bên ngoài thẩm thấu ngược vào tim chồi non. Đây đúng là một nhánh cây độc lập, có thể tách rời. Nhưng Tầm này, cậu mở to mắt ra mà nhìn cho kỹ cái cuống rễ đang nối nó với thân mẹ kia kìa."

Bà nghiêng ngọn đèn, đưa ánh lửa lại sát kẽ nứt:

"Cuống rễ này không mọc ngoài vỏ. Nó ăn sâu vào tận mạch lõi tủy của rễ cái. Nó chính là cái van xả sinh khí giúp cây mẹ duy trì thế cân bằng nội tại trong lúc nốt độc bên cạnh điên cuồng hút trọc tức bão hòa từ lòng đất. Nếu cậu chiết nhánh này đi, vết thương hở sẽ chạm thẳng vào cốt tủy cây mẹ. Toàn bộ dịch lọc độc sẽ trào ra ngoài, dòng tuần hoàn nuôi sống tán lá trên kia lập tức đứt đoạn. Cây mẹ sẽ rơi vào cơn suy kiệt nghiêm trọng: nhẹ thì đình trệ bài tiết hai tuần ròng, nặng thì trút sạch lá rồi chết khô rụi. Mất cây mẹ, cái giếng này coi như phế bỏ. Cậu đã tính đến cái giá ấy chưa?"

Mộc Tầm cúi đầu nhìn chồi non xanh biếc đang lấp lánh như ngọc bích dưới ánh lửa vàng, rồi lại nhìn sang khoảnh rễ cái sần sùi đang gồng mình chịu tải cho cả vùng đất quanh miệng giếng. Trong tâm trí anh, hình ảnh cánh đồng Thạch Nê cằn cỗi xám xịt ngoài kia lại hiện lên rõ mồn một. Nơi đó, Lê Cẩn vừa mới thoát chết trong gang tấc dưới hố trọc khí sâu hoắm, hàng chục phu thợ đang mòn mỏi ngóng chờ từng giọt nước ngọt, và từng tấc đất quê hương đang chờ được giải cứu khỏi lớp váng đá vôi ngột ngạt.

"Cháu hiểu, thưa bà," Tầm trầm giọng, ánh mắt kiên định không hề dao động. "Nhưng nếu chúng ta không chiết mầm này mang ra Thạch Nê, chúng ta sẽ mãi mãi bị giam hãm quanh ba mươi mét vuông đất giếng này cho đến chết đói. Hợp đồng khai hoang với Tạ Hạnh ở Lò Đất Kín đã ký, hạn nợ của Vạn Thạch Hành đang đếm lùi từng ngày từng giờ, và số củ mài khô Đào Nguyệt cho mượn chỉ đủ cho cả xóm cầm cự chưa đầy hai tuần nữa. Chúng ta không còn một con đường lùi nào khác."

Bùi Sương nhìn sâu vào đôi mắt đen thẳm của người học trò. Trong đáy mắt bà, sự nghiêm khắc dần nhường chỗ cho một nỗi xót xa, nhưng khóe môi khẽ giật giật, thoáng hiện một nét bằng lòng đầy cay đắng:

"Đã quyết thì phải làm cho chuẩn xác. Sai một ly, cả giếng nước lẫn tính mạng người trong xóm này đều đi tong. Lấy dao tre ra."

Dưới sự chỉ dẫn khắt khe từng li từng tí của Bùi Sương, Tầm cẩn thận rút từ trong túi vải thô đeo bên hông ra một lưỡi dao tre cật vót mỏng như cánh ve sầu. Lưỡi dao này đã được anh ngâm kỹ trong nước sắc lá bồ hòn đặc suốt ba ngày ba đêm để tẩy sạch mọi tạp chất và xua tan uế khí. Tuyệt đối không thể dùng dao sắt hay dao đồng; kim khí mang hàn tính sắc lạnh sẽ kích thích mộc khí co rút cục bộ, đồng thời làm xáo trộn từ trường yếu ớt đang ngậm trọc tức dưới đáy giếng.

"Cách cuống ba phân, chém vát góc bốn mươi lăm độ," giọng Bùi Sương chùng xuống, căng thẳng tột độ. "Một nhát dứt khoát. Không được cưa kéo làm giập nát thớ gỗ. Giữ trọn vẹn hơi thở ở đan điền, tuyệt đối không được để một tia mộc linh khí nào rò rỉ qua đầu ngón tay làm kinh động đến nó."

Mộc Tầm nín thở. Đôi bàn tay vốn quen với việc bới đất lật đá, chai sần thô ráp của anh lúc này vững vàng như tảng đá hoa cương. Anh hạ mép cật tre xuống đúng lằn ranh mỏng manh giữa lớp vỏ xù xì màu nâu sẫm và đoạn cuống non xanh nõn.

Cảm giác từ đầu lưỡi dao truyền ngược về ngón tay: ban đầu là lớp vỏ ngoài dai cứng như da trâu, sau đó là một tiếng *khực* cực nhỏ, thanh thoát và giòn giã khi lưỡi tre cắt ngọt qua lõi rễ ngậm no nước.

Một giọt dịch trong vắt, mang theo mùi hương thanh khiết tựa như sương sớm đầu ngọn cỏ, lập tức rỉ ra từ vết cắt của nhánh con.

Không chậm trễ dù chỉ một phần mười cái chớp mắt, Tầm nhẹ nhàng dùng hai ngón tay nâng nhánh rễ mang mắt sinh đặt ngay vào giữa một nắm bùn cộng sinh đã được anh vét sẵn từ lớp trầm tích quen thuộc quanh rễ cái. Lớp bùn này chứa đầy những vi sinh và trọc tức loãng đã được thuần hóa qua hơn một tháng trời, tạo thành một chiếc kén bảo vệ hoàn hảo. Anh thoăn thoắt dùng các ngón tay nắn chặt lớp bùn, bọc kín lấy phần gốc rễ thành một bầu đất tròn trĩnh to bằng nắm tay trẻ con, bên ngoài cẩn thận quấn thêm một lớp vải gai ẩm đã ngâm đẫm bùn đáy giếng để giữ độ ẩm tuyệt đối. Mắt sinh màu xanh ngọc bích kiêu hãnh nhô ra khỏi bầu bùn đen nhánh, lấp lánh như một viên ngọc sống dưới ánh đèn dầu leo lét.

Thế nhưng, niềm vui chiết cành thành công chưa kịp nhen nhóm trong lồng ngực thì biến cố dữ dội đã lập tức giáng xuống đáy giếng sâu.

Ngay khoảnh khắc nhát dao tre dứt đoạn mối liên kết sinh mệnh, thân rễ của cây mẹ bỗng co giật kịch liệt.

Một tiếng thở dài trầm đục như tiếng gió rít qua kẽ đá nứt vang lên từ sâu thẳm trong lòng đất. Nhánh rễ cái to bằng bắp tay đàn ông thoái lui dữ dội, cuộn tròn lại như một con mãng xà trúng tên độc. Từ vết cắt hở hoác trên thân rễ mẹ, một dòng dịch màu xám đục lẫn bọt khí cay nồng phì mạnh ra ngoài, xèo xèo ăn mòn lớp đất bùn xung quanh, làm bốc lên một mùi chua gắt, khét lẹt của quặng xỉ chưa qua gạn lọc.

Cùng lúc đó, trên miệng giếng cao vút, tán lá Tức Căn vốn xanh mướt, bóng bẩy bỗng rũ rượi đổ nghiêng. Toàn bộ các phiến lá dày sẫm màu rũ xuống rũ rượi, mép lá co quắp lại như bị lửa hun, chuyển dần từ xanh thẫm sang một màu vàng úa bệnh hoạn. Việc tiết dịch ngậm bọt khí lọc độc ngưng bặt hoàn toàn. Khe nước ngỉ vốn ngày đêm tí tách chảy tràn ra máng đá bỗng chốc tắt ngấm, chỉ còn lại những giọt nước đục ngầu, chát đắng nhỏ giọt rời rạc xuống lòng giếng rồi cạn kiệt hẳn.

Cây mẹ đã rơi vào trạng thái bế khí tự vệ, khép chặt toàn bộ mạch sống để dồn sức hàn gắn vết thương cốt tủy.

***

Trong suốt hai tuần tiếp theo, bầu không khí bao trùm lấy xóm Giếng Cạn ngột ngạt tựa như một cơn giông khô hạn giữa mùa hè cháy bỏng.

Lời cảnh báo nghiệt ngã của Bùi Sương đã trở thành hiện thực đến từng chi tiết nhỏ nhất. Mất đi sự điều tiết lọc độc liên tục của rễ Tức Căn, vùng đất ẩm ba mươi mét vuông quanh miệng giếng bắt đầu thoái hóa với một tốc độ đáng sợ khiến ai nhìn thấy cũng phải rùng mình.

Ngày thứ ba sau khi chiết cành, lớp đất mùn vốn tơi xốp, phì nhiêu bắt đầu se lại, khô khốc. Bề mặt đất đóng thành một màng váng trắng nhờ nhờ, mỏng dính như muối ăn, cạo ra nghe ráp rốn đầu ngón tay.

Đến ngày thứ bảy, những luống rau cải non—vốn là nguồn sống mỏng manh và là niềm hy vọng duy nhất của cả xóm—bắt đầu vàng lá từ ngọn lan dần xuống gốc. Thân rau teo tóp lại, rễ cám bị trọc tức ngầm dưới lòng đất ngấm ngược trở lại làm thối rữa đen sì, bốc lên mùi ngai ngái ẩm mốc khó chịu. Nước giếng múc lên bằng gàu không còn giữ được độ ngọt thanh khiết như trước nữa; nó mang theo vị chát lợ lờ lợ của tro quặng, người uống vào cổ họng khô rát, ho khan từng cơn không dứt.

Đến ngày thứ mười hai, khoảnh vườn thuốc Mộc gia nứt nẻ toác ra thành những rãnh sâu hoắm như mai rùa. Không một ngọn rau nào mọc thêm được một đốt ngón tay. Khẩu phần nước ngọt chia theo đầu người mỗi ngày bị tụt giảm hơn một nửa, đẩy mười hai hộ gia đình nghèo khổ đang bám trụ nơi đây vào bờ vực của sự hoảng loạn tột cùng. Bát cháo củ mài nấu loãng dần qua từng bữa, ánh mắt người lớn trũng sâu vì đói khát và kiệt quệ, tiếng trẻ con khóc ngặt nghẽo đòi nước ngọt xé toạc màn đêm tĩnh mịch, buốt giá của lòng chảo Hạ Khê.

Mỗi ngày trôi qua, Tầm gần như không chợp mắt. Ban ngày, anh cùng Bùi Sương liên tục theo dõi độ ẩm của bầu ủ nhánh non đặt trong góc tối buồng riêng; ban đêm, anh lại chong đèn tụt xuống đáy giếng, dùng bùn sạch đắp nhẹ lên vết sẹo của cây mẹ, canh chừng từng giọt dịch xỉ rỉ ra. Gương mặt Tầm hốc hác, hai gò má nhô cao, đôi mắt thâm quầng nhưng tia nhìn vẫn chưa từng tắt đi ngọn lửa kiên trì.

Và rồi, sự kìm nén uất ức suốt mười bốn ngày ròng rã cuối cùng cũng vỡ òa thành một cơn phẫn nộ tập thể vào một buổi sáng sớm mịt mùng sương muối.

"Mộc Tầm! Bước ra đây nói chuyện cho ra nhẽ!"

Tiếng quát tháo ầm ĩ phá tan sự yên tĩnh ngột ngạt của xóm giếng. Trịnh Bách dẫn đầu một đám đông gồm bảy tám người đàn ông lực lưỡng trong xóm, tay lăm lăm cuốc, xẻng và đòn gánh, hùng hổ xông vào vây kín lấy miệng giếng và cổng rào tre nhà họ Mộc. Gương mặt Bách sạm đen, hốc hác, chòm râu quai nón lởm chởm rung lên bần bật, đôi mắt vằn lên những tia máu đỏ ngầu vì thiếu ngủ và lo âu.

"Bác Trịnh, bà con cô bác, có chuyện gì mà sáng sớm tinh mơ đã làm ầm ĩ lên thế này?" Phạm Nghi từ con ngõ xóm vội vã chống gậy trúc tập tễnh chạy ra, cố gắng chen thân hình gầy còm vào giữa đám đông đang sôi sục để dàn xếp.

"Bác Nghi, bác đừng có một mực bênh vực nó nữa!" Trịnh Bách dộng mạnh cán cuốc gỗ xuống nền đất nứt nẻ nghe *thình* một tiếng chát chúa, gầm lên giận dữ. "Bác mở mắt ra mà nhìn xem! Nước giếng hai tuần nay cạn sạch trơn, múc lên toàn mùi xỉ lò hôi thối! Mấy luống rau của cả xóm chết rũ đến ba phần tư rồi! Trong khi đó, nửa tháng trước chính mắt người ta thấy thằng Tầm lén lút trượt xuống giếng cắt cái gì đó đem giấu vào buồng riêng. Nó biển thủ giống tốt! Nó đem mầm cây thần thảo của giếng chung về làm của riêng nhà nó, hại chết mạch nước ngọt đang nuôi sống cả cái xóm này!"

Đám phu thợ và đinh tráng phía sau lập tức nhao nhao phụ họa, tiếng chửi bới, tiếng gậy gộc gõ xuống đất, tiếng đòi xông vào giật cửa lục soát gian nhà tranh Mộc gia vang lên chói tai. Nỗi sợ hãi cái đói và sự tuyệt vọng kéo dài suốt nửa tháng qua đã biến những người nông dân chất phác, nhẫn nhục thành những kẻ hung hãn, sẵn sàng xé nát bất cứ ai bị nghi ngờ tước đoạt miếng ăn manh áo của con cái họ.

Cánh cửa liếp khẽ kêu kẽo kẹt. Mộc Tầm bước ra khỏi cửa. Nét mặt anh tiều tụy, chiếc áo nâu sờn vai ướt đẫm sương sớm vì hai tuần liền thức trắng đêm. Anh không hề tỏ ra hoảng sợ, cũng không lùi lại nửa bước trước những mũi cuốc xẻng đang chĩa về phía mình, mà đứng thẳng lưng, giọng điềm tĩnh:

"Bác Trịnh, bà con. Cháu không hề biển thủ giống tốt về làm của riêng cho gia đình mình. Nhánh rễ con đó là mắt sinh duy nhất nứt ra từ trước đến nay, chúng ta buộc phải chiết lấy để đem đi mở rộng diện tích đất sống ngoài Thạch Nê—"

"Mày còn chối cãi à?" Trịnh Bách cắt ngang lời anh, chỉ thẳng ngón tay thô ráp, nứt nẻ vào tận mặt Tầm. "Thạch Nê cái con khỉ gì! Đất Thạch Nê đã vỡ xong đâu? Bao nhiêu công sức đinh tráng chúng tao bỏ ra phá đá xẻ mương, cơm thì ăn đói rạc họng, nước thì cạn dần từng gáo. Ai biết mày có đem bán trộm nhánh cây đó cho con buôn ngoài Bến Tro lấy bạc trắng đút túi không? Hai tuần nay cây mẹ chết dở dưới giếng, rau héo quắt queo, nhà tao ba miệng ăn đang phải nhai củ chuối với vỏ cây cầm hơi đây này!"

Bách gào lên, cơn giận dữ pha lẫn nỗi cay đắng dường như vượt quá mức bình thường của một người chỉ đơn thuần lo đói. Trong đáy mắt ông ta lóe lên một sự bối rối chập chờn, một nỗi sợ vô hình nào đó bị đè nén quá mức—tựa như một kẻ đang bị dồn ép bởi những món nợ ngập đầu hoặc những lời hứa hẹn ngầm từ bóng tối mà không thể thốt ra thành lời.

"Đủ rồi đấy, bác Trịnh!"

Một giọng nói đanh thép, lạnh lùng vang lên từ đầu ngõ rào.

Mộc An rảo bước tiến vào, trên tay ôm chặt cuốn sổ bìa da mộc dày cộp đã ngả màu ố vàng. Cô không thèm liếc nhìn đám cuốc xẻng đang giơ lên tua tủa, mà bước thẳng đến đứng chắn bên cạnh anh trai mình, lật phanh từng trang giấy bổi xám xịt ra trước mặt mọi người.

"Bác bảo anh Tầm giấu giếm? Bảo anh Tầm biển thủ của chung?" An giơ cao trang sổ chi chít những dòng chữ mực tàu ngay ngắn, rành rọt từng nét. "Bác nhìn cho kỹ đây! Từng ngày, từng cữ sáng, trưa, tối trong suốt mười bốn ngày qua đều có chữ ký xác nhận của bác Phạm Nghi và bà giáo Bùi Sương ở đây!"

Đám đông đang hò hét bỗng khựng lại. Phạm Nghi vội vàng bước lên một bước, rút cặp kính lão gọng đồng cũ kỹ đeo vào mắt, cúi đầu nhìn trang giấy rồi gật đầu quả quyết: "Đúng... đúng là như vậy! Ngày nào tôi cũng cùng bà giáo xuống giếng đo mực nước và kiểm tra rễ cây với thằng Tầm..."

"Ngày mùng ba," Mộc An cất giọng đọc to từng con số, thanh âm trong trẻo mà đanh thép vang vọng khắp khoảnh sân đất nứt: "Nhiệt độ đáy giếng tăng ba phân, trọc tức nội sinh trào ngược do rễ cái bị tổn thương, độ ẩm đất mặt giảm từ sáu phần xuống còn bốn phần. Ngày mùng sáu: dịch mủ tiết ra từ vết cắt khô lại, bắt đầu đóng vảy xơ, công suất lọc nước tụt bảy mươi phần trăm. Toàn bộ lượng nước múc lên hai tuần qua, nhà họ Mộc chúng tôi chỉ nhận đúng nửa gáo mỗi ngày cho mẹ tôi sắc thuốc, còn lại đều đổ dồn vào rãnh chung để cứu luống cải của xóm! Có một gáo nước nào chảy riêng vào luống rau nhà này không, bác Trịnh?"

Trịnh Bách cứng họng, mặt hết đỏ bừng lại chuyển sang tái mét: "Nhưng... nhưng tại sao chúng mày không nói trước việc cắt rễ sẽ làm giếng mất nước? Chúng mày giấu nhẹm đi để cả xóm lâm vào cảnh chết đói này!"

"Không hề có chuyện giấu giếm!" Mộc An trừng mắt nhìn Bách, từng lời nói sắc bén như kim châm vào da thịt. "Trong biên bản họp thành lập Hội giữ đất Hạ Khê ngày mười lăm tháng trước, điều khoản thứ hai ghi rõ: Mộc Tầm chịu trách nhiệm kỹ thuật nhân giống để cứu đất Thạch Nê. Bất kỳ cây cối nào bị chặt nhánh cũng phải trải qua chu kỳ hồi phục vết thương. Cây mẹ rút sinh lực vào thân để tự cứu lấy mình, đó là quy luật tự nhiên của trời đất, chứ không phải do anh tôi thiên vị hay phá hoại! Hôm nay là ngày thứ mười bốn, vảy xơ trên rễ mẹ đã bong ra, mạch ngầm bắt đầu rỉ nước ngọt trở lại. Bác không tin thì tự mình ghé mắt xuống giếng mà ngửi xem có mùi gì!"

Tiếng xì xào trong đám đông bỗng chốc lắng xuống hoàn toàn. Vài người nông dân đứng gần miệng giếng tò mò bước lại, cúi rạp đầu xuống hít hà luồng khí từ lòng giếng bốc lên. Quả nhiên, mùi khét lẹt, chua loét của trọc tức trào ngược đã dịu đi từ lúc nào, thay vào đó là một luồng hơi ẩm mỏng manh, mát rượi thoang thoảng mùi đất tươi đang chầm chậm bốc lên từ kẽ đá sâu hun hút. Tiếng nước nhỏ giọt *tí tách, tí tách* đều đặn cũng vừa bắt đầu vang vọng trở lại.

Phạm Nghi thở phào nhẹ nhõm, đưa bàn tay gầy gò vỗ mạnh vào vai Trịnh Bách:

"Bách này, con bé An nói có sách, mách có chứng đàng hoàng. Chú nóng nảy quá rồi đấy. Thằng Tầm nó thức trắng mười mấy đêm rộc cả người ra cũng chỉ vì giữ cho cái mầm non sống sót để đem ra Thạch Nê cấy cho ruộng nhà chú đấy thôi. Mau giải tán bà con về đi, đừng để người ngoài nhìn vào lại cười chê Hội giữ đất chúng ta tàn sát lẫn nhau vì mấy bó rau cải héo!"

Trịnh Bách đứng chôn chân tại chỗ, bàn tay siết chặt cán cuốc run lên bần bật. Ông ta cúi gằm mặt xuống, cố né tránh ánh nhìn soi mói sắc sảo của Mộc An và vẻ điềm tĩnh bao dung của Mộc Tầm. Không một ai trong đám đông để ý thấy rằng, ở mép túi áo bà ba rách rưới của Bách, một góc vải bố buộc túm mang ký hiệu con dấu vuông màu mực đỏ của một hiệu gạo lớn ngoài Chợ Bến Tro vừa khẽ thò ra, rồi lại vội vã thụt sâu vào trong bóng tối của lớp vải áo sờn.

"Được... coi như tao hồ đồ," Bách lẩm bẩm trong cổ họng, giọng nghẹn lại đầy vẻ cay cú, rồi hậm hực quay lưng, vung tay xua đám đinh tráng: "Giải tán! Về lấy cuốc chuẩn bị ra đồng!"

Đám đông dần tản đi, để lại khoảnh sân đất nứt nẻ và làn sương sớm đang tan dần dưới ánh bình minh ảm đạm.

***

Đến đầu giờ chiều, khi ánh mặt trời yếu ớt rọi qua lớp mây tro xám xịt của lòng chảo Hạ Khê, Mộc Tầm cùng tổ kỹ thuật của Hội giữ đất mới bắt đầu cuộc hành trình quan trọng nhất mà họ đã chuẩn bị suốt nửa tháng qua.

Đi cùng Tầm có bà giáo Bùi Sương, Mộc An cắp theo cuốn sổ theo dõi sát bên sườn, và Lê Cẩn—lúc này đã bình phục được một phần sau tai nạn trúng độc, khoác chiếc áo vải dày che kín ngực, đảm nhận vai trò người quan sát an toàn và đo đạc phong thủy địa khí.

Chiếc bầu đất bọc nhánh cây con được Tầm đặt cẩn thận trong một chiếc giỏ mây đan thưa lót rơm ẩm. Dưới lớp bùn sẫm màu, đốm chồi xanh ngọc bích vẫn kiên cường tỏa ra luồng sinh cơ dịu mát. Nhưng Tầm hiểu rất rõ rằng, thử thách nghiệt ngã thực sự giờ mới bắt đầu. Mang một mầm cây non nớt quen sống dưới đáy giếng sâu bốn trượng, nơi được che chở tuyệt đối khỏi nắng gắt, gió độc và biến động hàn nhiệt, ra cắm thẳng giữa cánh đồng Thạch Nê nham nhở đầy quặng xỉ là một canh bạc sinh tử mà cái giá phải trả là toàn bộ tương lai của họ.

Hố thử nghiệm số một tại Thạch Nê nằm ở góc phía nam của thửa ruộng nửa mẫu, cách xa cái hố sâu từng bục túi trọc tức suýt lấy mạng Lê Cẩn chừng hai mươi trượng.

Mặt ruộng ở khu vực này đã được đội đinh tráng dùng xà beng đập vỡ lớp váng đá vôi dày ba tấc, để lộ ra tầng bùn đáy màu xám chì nén chặt như đá nung. Đất ở Thạch Nê không hề có được độ tơi xốp như lớp bùn đáy giếng; nó quánh đặc lại, bốc lên mùi hăng hăng cay nồng của phèn và quặng kim loại nặng bị nước xả từ các lò luyện đan của Thanh Lộ Tông ngâm hàng chục năm ròng rã.

"Đặt giỏ xuống," Bùi Sương ra lệnh khi cả nhóm dừng bước bên miệng hố thử nghiệm đã được đào sâu nửa thước từ hôm trước. "Cẩn, đo vỉa khí trước đã."

Lê Cẩn gật đầu, rút từ trong ống tay áo ra một chiếc que thăm bằng đồng dài hai thước có buộc dải lụa trắng tẩm nước vôi trong ở đầu. Anh cẩn thận cắm sâu que thăm xuống đáy hố, đợi chừng nửa tuần trà rồi rút lên quan sát. Dải lụa trắng chỉ hơi ngả sang màu xám tro nhạt chứ không chuyển sang màu đen kịt như lần trước. Anh thở phào nhẹ nhõm, lau mồ hôi trên trán:

"Trọc tức tự do dưới đáy hố này ở mức dung nạp được, không có túi khí ngầm tích tụ. Nhưng đất rất chua và hàn khí bốc lên mạnh."

"Đương nhiên là lạnh," Bùi Sương gật đầu, quay sang nhìn Tầm với ánh mắt nghiêm cẩn. "Cây con chưa thể tự ăn thẳng vào tầng đất Thạch Nê này ngay được đâu. Rễ non mà gặp phải nồng độ trọc tức nguyên chất ngoài này sẽ bị sốc độc lập tức, cháy rụi chỉ trong vòng nửa ngày. Quy trình thuần hóa thế nào, cậu còn nhớ rõ chứ?"

"Cháu nhớ từng bước một," Tầm đáp chắc nịch.

Anh quỳ một chân xuống bờ đất ẩm, lấy chiếc gàu gỗ múc một phần ba lượng nước giếng thanh sạch mang theo từ nhà, đổ vào một chiếc chậu sành nhỏ đặt cạnh miệng hố. Sau đó, anh cúi người múc hai phần ba lượng nước bùn sền sệt lấy từ chính con rãnh quặng Thạch Nê gần đó, đổ chung vào chậu sành, rồi dùng một que tre cật khuấy đều thật chậm rãi theo chiều kim đồng hồ.

Đây chính là phương pháp dung hòa nồng độ bằng chất đệm. Nước giếng thanh khiết đóng vai trò làm dịu, làm loãng bớt độc tính gắt gao của nước Thạch Nê, tạo ra một môi trường trung gian chuyển tiếp để hệ thống mao mạch non nớt của rễ cây tập thích nghi từng bước một mà không bị cháy rễ.

Tầm quỳ cả hai gối bên miệng hố, hai bàn tay nhẹ nhàng bóc lớp vải gai ẩm bao ngoài bầu đất. Bầu bùn cộng sinh mang từ đáy giếng lên vẫn giữ được độ ẩm mịn màng và mùi thơm ngai ngái quen thuộc. Anh cẩn thận nâng bầu cây bằng cả hai tay, đặt nó vào chính giữa hố đất Thạch Nê, rồi dùng hai tay gạt những mảng bùn xám chì xung quanh chèn chặt, nén nhẹ vào chân bầu.

Tiếp đó, Tầm cầm chiếc muôi gỗ nhỏ, múc từng thìa nước pha loãng trong chậu sành, rưới từ từ, từng giọt từng giọt quanh mép tiếp giáp giữa bầu đất cũ và đất Thạch Nê mới.

Ngay khoảnh khắc dòng nước pha tạp đầu tiên thấm qua lớp bùn cộng sinh và chạm vào những sợi rễ tơ màu lam mỏng manh, một phản ứng sinh học lập tức diễn ra trước mắt bốn người.

Mắt sinh xanh ngọc bích khẽ rung rinh. Những sợi rễ non trắng ngà như sợi cước đang vươn ra bỗng co rúm lại, rụt rè né tránh luồng nước lạ lùng đầy cặn quặng xỉ. Đầu rễ hơi ngả sang màu xám tro, các lỗ hút li ti khép chặt lại trong một phản xạ phòng ngự bản năng đầy sợ hãi.

Mộc Tầm nín thở, trán anh lấm tấm những giọt mồ hôi hột dù gió đồng đang thổi lạnh buốt. Anh không hề hấp tấp rót thêm nước, mà áp nhẹ lòng bàn tay thô ráp của mình lên lớp bùn quanh gốc cây, truyền đi hơi ấm cơ thể tự nhiên—tuyệt đối không dùng đến mộc linh khí, chỉ thuần túy là sự kiên nhẫn vô bờ bến của một người làm vườn hiểu rõ từng hơi thở của đất đai.

"Chờ nó thở," Bùi Sương đứng bên cạnh nhắc nhở bằng giọng trầm thấp, mắt không rời khỏi đốm mầm xanh. "Đừng ép nó. Đất chết hai mươi năm không thể sống lại trong một khắc được đâu. Phải để nó tự nếm mùi đất mới."

Một khắc trôi qua trong sự im lặng căng thẳng như dây đàn. Gió chiều thổi tung những vạt tro xám bay là đà trên mặt ruộng nứt nẻ.

Dưới lớp bùn ẩm, sợi rễ non sau vài phút co rúm dường như đã dần nhận ra: trong luồng nước lạ đầy cay đắng kia vẫn có những phân tử nước ngọt ngào quen thuộc từ Giếng Cạn che chở, nâng đỡ nó. Cảm giác bỏng rát hủy diệt không ập đến như bản năng mách bảo.

Từ từ, rất chậm rãi, những sợi rễ tơ bắt đầu giãn ra. Đầu rễ hé mở trở lại, ngập ngừng hút lấy ngụm nước bùn pha loãng đầu tiên. Một vệt sáng lam quang mờ nhạt, yếu ớt như ánh đom đóm trong đêm mưa nhưng vô cùng bền bỉ, khẽ lóe lên dưới lớp bùn Thạch Nê xám xịt. Đốm chồi ngọc bích trên ngọn hơi ngẩng cao lên, kiêu hãnh đón lấy làn gió lạnh đầu tiên của cánh đồng hoang vu.

"Nó nhận đất rồi!" Lê Cẩn khẽ reo lên, giọng run run vì xúc động, lồng ngực anh phập phồng sau lớp áo dày.

Mộc An nhanh chóng cúi người chấm mực, ghi ngay vào cuốn sổ bìa da mộc: *Giờ Thân ngày mười bốn, cây con số một hạ thổ tại Thạch Nê. Tỷ lệ nước đệm một phần ba. Rễ non co rút nhẹ rồi giãn nở dung nạp an toàn.*

Tầm thở phào một hơi dài nhẹ nhõm, chống tay lên đầu gối từ từ đứng dậy. Lưng anh mỏi nhừ sau một buổi trưa cúi gập người, nhưng trong đáy lòng trào dâng một cảm giác thanh thản vô bờ bến. Bước chân đầu tiên để đưa Tức Căn ra khỏi bóng tối ngột ngạt của chiếc giếng sâu đã hoàn thành một cách trọn vẹn.

Thế nhưng, niềm thanh thản của tổ kỹ thuật chỉ kéo dài được trong gang tấc.

Từ phía con đường mòn dẫn từ rặng đồi phía nam—lối đi duy nhất nối thung lũng Hạ Khê với đường thiên lý dẫn ra huyện lỵ Bình Xuyên—những tiếng bước chân dồn dập, hỗn loạn cùng tiếng đòn gánh kẽo kẹt bỗng phá tan bầu không khí tĩnh lặng của buổi chiều tà.

Bụi đường bốc lên mù mịt giữa làn gió hanh khô. Một đoàn người đông đúc mang theo quang gánh cồng kềnh, cuốc thuổng và những cuộn giấy tờ đất đai bất ngờ xuất hiện ở đầu bờ ruộng Thạch Nê, rầm rộ tiến về phía họ, dẫn đầu là bóng dáng quen thuộc của Vũ Liên.

Chương này thế nào?Đánh giá giúp Readeep đề xuất đúng hơn cho bạn