Người Giữ Bản Đồ MâyC.8 / 44
Chương 8

Đối Thủ Từ Phường Bản Đồ

Mai Khuê đứng tựa lưng vào dãy lan can đúc bằng đồng đỏ của tầng gác lửng, từng lóng tay thon dài gõ nhịp đều đặn thân thước đo góc bằng bạc sáng loáng lên lòng bàn tay bọc găng da cừu non, ánh mắt sắc lẹm như một mũi trâm băng xoáy thẳng vào xấp giấy can lem nhem bụi than trên tay Lam Nhi.

Không gian bên trong Tháp Lịch Phong chìm trong thứ ánh sáng vàng nhạt, lạnh lẽo hắt xuống từ vòm kính ghép đá hoa cương trên đỉnh cao hàng chục trượng. Những chùm sáng xiên khoai cắt qua bụi mờ lơ lửng, rọi rực lên cầu vai cứng cáp của chiếc áo khoác đồng phục chuẩn mực thuộc Phường Giữ Bản Đồ. Từng đường cắt may trên người Mai Khuê phẳng phiu đến mức tàn nhẫn, không một nếp gấp thừa thãi, không một hạt bụi bám lại trên nền vải dạ xanh thẫm viền chỉ kim tuyến. Nơi ngực trái của cô, huy hiệu trắc đạc viên cao cấp—hình chiếc la bàn lồng trong đôi cánh chim ưng bạc dang rộng—lấp lánh một thứ ánh kim sắc lạnh, phản chiếu thứ trật tự tôn nghiêm bất khả xâm phạm của viện hàn lâm Tầng Sáng.

Từ người cô gái đối diện toát ra một mùi hương rất đặc trưng: hương thơm khô khan, hăng hắc của mực in chống ẩm chế từ bồ hóng thông tuyết, mùi dầu máy tinh luyện dùng cho các cỗ đồng hồ thiên văn tinh xảo, và hơi lạnh khô khốc vương vấn của những tầng khí quyển cao ngất ngưởng trên đỉnh mây. Tất cả những thứ ấy đối lập gay gắt, chan chát với mùi gió biển nồng vị muối mặn, mùi mỡ cừu cháy khét, bụi than đá ẩm ướt và mồ hôi phong trần bám chặt vào từng thớ vải thô bạc phếch trên chiếc áo chẽn của Lam Nhi và Tứ Hải. Đó là khoảng cách không thể san lấp giữa một kẻ ngồi trên tháp ngọc vẽ trời và những người phải dùng chính da thịt mình cọ xát với từng cơn giận dữ của gió trời.

“Chưa đầy mười lăm tuổi, không có văn bằng trung cấp do Viện Giám định Khí tượng cấp, không sở hữu con dấu trắc đạc viên độc lập hợp thức hóa bởi Thượng Viện,” Mai Khuê cất tiếng phá tan sự tĩnh lặng nặng nề. Thanh âm của cô trong veo, thanh mảnh nhưng lại lạnh lẽo và dứt khoát hệt như một nhát kéo thép sắc lẹm vừa cắt đứt một dải giấy can mới tinh. “Cô tự tiện mượn danh nghĩa con cháu trực hệ của dòng họ Vân để xâm nhập trái phép vào khu vực máy móc trung tâm tầng ba của Tháp Lịch Phong. Cô đã tự ý can thiệp vào cơ cấu van áp suất số bốn, làm đảo lộn chu kỳ xả khí định kỳ của cả phân khu bắc. Và nghiêm trọng hơn tất thảy mọi điều vừa kể...”

Ngón tay đeo găng da của Mai Khuê khẽ nhấc lên, đầu nhọn hoắt của chiếc thước đo góc bằng bạc chỉ thẳng tắp vào chiếc ống đồng bảo hộ dài ngoẵng đang đeo chéo bên hông Lam Nhi:

“... cô đang lén lút chiếm giữ một tài liệu trắc đạc tuyệt mật cấp quốc gia mà không hề có văn bản ủy thác hay lệnh lưu trữ hợp lệ từ Hội Đồng Trưởng Phường. Nhân danh Phường Giữ Bản Đồ và căn cứ theo Lệnh Thanh tra Đặc biệt số bốn mươi mốt về việc kiểm soát an toàn hải trình trước thềm mùa bão chuyển dời, tôi chính thức yêu cầu Lam Nhi nộp lại ngay lập tức tấm Bản Đồ Mây do cựu trưởng đoàn Vân Kính để lại. Toàn bộ các ghi chép thực địa, trắc đồ phụ lục và bản sao chép tay trái phép cô vừa thực hiện tại buồng máy này cũng phải được niêm phong bằng sáp chì để đưa về viện hàn lâm kiểm định theo đúng điều lệ hành chính.”

Từng từ, từng chữ cô thốt ra đều chuẩn xác, gãy gọn và lạnh lùng như những vạch khắc phân chia cung độ trên mặt đĩa trắc đạc bằng đồng. Bên cạnh lan can gác lửng, hai người lính canh mang phù hiệu chim ưng bạc đứng sừng sững như hai bức tượng đồng đen, nét mặt đanh lại dưới vành mũ sắt, những ngón tay thô ráp đã đặt hờ lên chuôi của những cây dùi đồng nặng trịch giắt bên thắt lưng da bò.

Lam Nhi vô thức lùi lại nửa bước, bàn tay gầy gò siết chặt lấy quai đeo bằng da bọc đồng của chiếc ống bản đồ. Dù cách một lớp kim loại dày và lớp lót nỉ nhung chống ẩm, các đầu ngón tay cô dường như vẫn cảm nhận được nhịp rung khe khẽ, ấm áp và sống động của tấm da mây dệt từ sợi rễ Đảo Neo bên trong—vật báu vừa ghi nhận trọn vẹn những dòng minh văn cổ xưa về ba điểm tựa định vị rễ sâu của vùng biển mây. Lồng ngực cô thắt lại, trái tim đập từng nhịp dồn dập vào màng nhĩ. Đối diện với một học viên kiệt xuất nhất của viện hàn lâm, người mang trên vai quyền lực tuyệt đối của cả một hệ thống quy chuẩn đã ngự trị Vân Quốc suốt hàng trăm năm, cổ họng Lam Nhi như có một khối đá nghẹn ứ, khô khốc và buốt giá.

Nhưng khi Lam Nhi còn chưa kịp tìm ra lời lẽ để đáp lại, một bóng người gầy gộc, lanh lẹ đã sấn tới phía trước.

Tứ Hải sải một bước dài, đôi chân vòng kiềng vững chãi cố tình chắn ngang tầm mắt sắc bén của Mai Khuê. Cậu hoa tiêu trẻ của Cảng Cánh Diều nhếch mép cười khẩy, hai tay đút hờ hững vào túi chiếc quần hộp lấm lem dầu máy đen sì, ngón chân đi đôi ủng da cá sờn rách nhịp nhịp trên mặt sàn đá sa thạch với vẻ tự nhiên đến trơ tráo, hệt như thể cậu đang đứng lắc lư trên sàn con thuyền buồm mục nát của chính mình giữa sóng gió quen thuộc.

“Chà chà, oai phong lẫm liệt gớm nhỉ!” Tứ Hải cất giọng the thé, cái giọng the thé lanh lảnh mang đậm cái chất bặm trợn, ngang tàng của đám dân lao động bến bãi chuyên vần chuyển hàng lậu lúc nửa đêm. “Lệnh thanh tra đặc biệt cơ đấy! Ghê gớm thật! Thưa cô học viên hạng danh dự cao quý vừa bước chân xuống từ mấy tầng mây êm ấm của viện hàn lâm, cái thước bạc của cô gõ lách cách nghe chừng êm tai và vui vẻ đấy. Nhưng hình như trong mấy căn phòng đọc sách lắp kính hai lớp mát rượi ở tầng trên, người ta chỉ phát cho các cô mực vẽ đắt tiền chứ quên không phát kèm cho cô một cặp mắt để biết đường ngó ra ngoài cửa sổ thì phải?”

Đôi mày lá liễu của Mai Khuê khẽ nhíu lại. Sống mũi thanh tú hơi giật nhẹ một thoáng ghê tởm trước điệu bộ suồng sã ấy, nhưng phong thái nghiêm cẩn rèn giũa từ trong học viện lập tức kéo nét mặt cô về trạng thái lạnh tanh như băng tuyết:

“Cậu là một kẻ phụ tàu không có tên trong danh bạ hàng hải chính ngạch, không đăng ký hộ tịch tại phân khu hoa tiêu cảng. Theo quy chế của Phường, tôi không có nghĩa vụ, và càng không có thời gian để đối thoại về mặt kỹ thuật chuyên môn với những kẻ trôi nổi kiếm ăn ngoài bến bãi không có lấy một tờ chứng chỉ hành nghề hợp pháp.”

“Không có chứng chỉ hành nghề à?” Tứ Hải bật ra một tràng cười giòn tan, tiếng cười dội vào vòm đá vang lên chan chát đầy vẻ mỉa mai. Cậu tiến thêm nửa bước, chĩa thẳng ngón tay trỏ chằng chịt những vết sẹo mờ do dây chão căng gió cứa vào mặt cô gái trên gác lửng. “Đúng rồi đấy! Lũ chúng tôi làm gì có cái phúc phận được đeo cái huy hiệu bằng bạc bóng lộn cài ngay trước ngực để làm màu làm cảnh với thiên hạ như cô! Nhưng cô mở to mắt ra mà nhìn xem, chính cái đám có chứng chỉ ngập ngụa trong túi các người vừa mới dán một mảnh giấy niêm phong bằng đồng ngu ngốc đến mức thối tha ngoài cổng tháp sáng nay kìa! Các người ôm khư khư lấy cái gọi là ‘bản đồ chuẩn mùa này’ in trên thứ giấy lụa đắt tiền ngâm hương xạ, rồi các người dõng dạc bố cáo cho dân chúng cả cái hòn đảo này rằng ba ngày nữa cửa gió Thiên Phong mới tới giờ mở luồng!”

Tứ Hải khạc nhổ một búng nước bọt vô hình xuống rãnh thoát nước bên cạnh sàn đá, khóe mắt nheo lại, lóe lên những tia nhìn sắc lẹm như mũi dao bấm:

“Trong khi đó thì sao hả quý cô thanh tra? Gió nghịch tầng trung đã chuyển hướng từ nửa đêm qua, nó giật đứt phăng cả dàn phao neo mạn nam của bến cảng, quăng quật ba chiếc thuyền chở lương thực va vào vách đá ngầm suýt vỡ tan tành! Và nếu như không nhờ có con bé học việc không bằng cấp này đây thức trắng đêm để lắng nghe nhịp thở của các túi khí ngầm dưới đáy vực, nếu nó không dám mạo hiểm trèo vào buồng máy này để gạt cần mở cổng xả áp tầng ba, thì tôi dám cá với cô là cả cái hòn Đảo Thiên Phong này đã nổ tung vì áp suất ứ đọng và biến thành một đống gạch vụn bốc cháy ngùn ngụt từ sáng sớm nay rồi!”

Ngực Tứ Hải phập phồng dữ dội dưới lớp áo vải thô, từng câu từng chữ cậu bắn ra như những viên sỏi nhọn hoắt tạt thẳng vào mặt sự tôn nghiêm hào nhoáng của Phường Giữ Bản Đồ:

“Các người chỉ biết ngồi gác chân lên đệm êm, ngửi mùi dầu thơm hảo hạng, lật đi lật lại những cuốn sách cũ rích mục nát từ mười năm trước rồi dùng thước gióng những đường thẳng tắp, sạch sẽ trên mặt giấy can bóng bẩy! Còn ngoài kia, mớn mây đã tụt xuống tận đáy vực thẳm, các luồng lượn chuyển dịch từng khắc từng giờ! Đảo Tiêu Sa của chúng tôi đã trôi tuột đi gần ba hải lý, biến cả cái hẻm gió Thiên Phong thành một cái cối xay thịt khổng lồ sẵn sàng nghiền nát bất cứ ai dại dột lao vào! Nếu như ban sáng chúng tôi mà ngoan ngoãn ngồi im chờ đợi cái ‘quy trình hành hải cấp phép’ chết tiệt và rườm rà của các người, thì chiếc thuyền Mầm Gió cùng quả chuông bão quý báu của Đội trưởng Hạ Vũ đã sớm biến thành một mớ củi mục nát dưới đáy rãnh nứt không đáy rồi! Ở đó mà vênh váo hạch sách bằng cấp với chứng chỉ!”

Không khí trong buồng máy như vừa bị một ngọn lửa vô hình đốt cháy xém. Lời lẽ thô bạo nhưng chứa đầy sự thật tàn khốc của Tứ Hải đánh thẳng vào mặt hai người lính canh. Mặt họ đỏ bừng lên vì giận dữ và tự ái bị xúc phạm. Hai bàn tay hộ pháp lập tức rút mạnh thanh dùi đồng ra khỏi bao da, tiếng kim loại cọ xát rít lên một chuỗi âm thanh chói gắt, họ toan lao xuống cầu thang gác lửng để trấn áp tên hoa tiêu xấc xược.

Nhưng Mai Khuê đã giơ một bàn tay bọc da lên, dứt khoát chặn ngang bước tiến của lính gác.

Dù trong đáy mắt cô gái trẻ vừa lóe lên một tia lửa phẫn nộ trước những lời lăng mạ ngang tàng của một kẻ hạ đẳng, nhưng những ngón tay cô vẫn giữ chặt lấy chiếc thước bạc. Sự kỷ luật thép và tính kiêu hãnh của một nhà trắc đạc hàn lâm được đào tạo bài bản không cho phép cô tự hạ thấp bản thân để đôi co hay giải quyết vấn đề bằng bạo lực của một cuộc ẩu đả bến bãi.

“Những biến động cục bộ bất thường của các luồng khí quyển tầng mặt chỉ là những biến số ngẫu nhiên mang tính chu kỳ thường niên, và chúng luôn được kiểm soát chặt chẽ thông qua các bản thông cáo điều chỉnh bổ sung,” Mai Khuê gằn giọng, âm lượng không lớn nhưng từng tiếng phát ra đều mang sức nặng đè nén, ánh mắt cô hoàn toàn phớt lờ Tứ Hải, xuyên qua khoảng trống bên vai cậu để găm thẳng vào Lam Nhi. “Nhưng những nguyên lý nền tảng của bản đồ học Vân Quốc được xây dựng bằng xương máu suốt ba thế kỷ thì tuyệt đối không thể bị phá vỡ hay bóp méo bởi những suy đoán cảm tính của những kẻ nghiệp dư. Lam Nhi, cô chọn cách hèn nhát trốn sau lưng một kẻ chèo đò thô lỗ, vô học để trốn tránh trách nhiệm pháp lý của mình sao? Tấm Bản Đồ Mây là di sản chung của cả quốc gia, nó là tài sản đo đạc thuộc về lịch sử, không phải là món đồ chơi trẻ con để một đứa bé học việc mang ra đánh cược với an nguy và sinh mạng của hàng ngàn con người trên các hải trình.”

Không gian buồng máy bỗng chốc chìm sâu vào một sự tĩnh lặng ngột ngạt đến nghẹt thở.

Phía sau bức tường đá sa thạch kiên cố, hệ thống bánh răng khổng lồ kết hợp giữa đồng thau và đá hoa cương vẫn đang rầm rì quay những vòng quay nặng nhọc, phát ra tiếng kim loại cọ xát trầm đục. Nhưng ẩn sâu bên dưới nhịp điệu cơ khí tưởng chừng bất biến ấy, tiếng *rắc... rắc...* khô khốc, ghê rợn vẫn thi thoảng lại vang lên từng chặp, kèm theo những vệt bột đá màu xanh ngọc bích mịn như phấn rỉ ra từ kẽ hở của vành răng khinh thạch chính—một dấu hiệu rạn nứt vì quá tải mà dường như ngoài Lam Nhi với đôi tai được tôi luyện bên cạnh người ông mù lòa, chưa một ai trong căn phòng này đủ tinh tế và nhạy cảm để nhận biết.

Lam Nhi khẽ vươn tay, đặt những ngón tay gầy gò nhưng chai sạn vì cầm thước đo lên bờ vai áo đang căng cứng của Tứ Hải, nhẹ nhàng kéo cậu sang một bên.

Tứ Hải quay phắt đầu lại, đôi mày rậm chau chặt, cậu toan mở miệng cản cô lại vì không muốn cô gái nhỏ phải chịu sự sỉ nhục của đám người viện hàn lâm. Nhưng khi chạm phải ánh mắt của Lam Nhi—một ánh mắt phẳng lặng như mặt hồ không gợn sóng giữa cơn giông, sâu thẳm và kiên định một cách kỳ lạ—cậu hoa tiêu trẻ bỗng khựng lại. Cậu chép miệng một tiếng thật to, hậm hực lùi lại nửa bước, nhưng bàn tay vẫn không rời khỏi thanh đo gió bằng đồng dắt ngang hông, sẵn sàng ứng biến.

Trên thanh xà gỗ lim đen bóng vắt ngang trần buồng máy, con chim Bông khẽ cựa mình, phát ra những tiếng kêu *khẹc... khẹc...* cảnh giác. Nó đập đôi cánh tròn lông xù lướt xuống, nhẹ nhàng đáp lên mỏm vai Lam Nhi, chiếc mỏ nhỏ khẽ rỉa vào vành tai cô như muốn truyền thêm sự can đảm.

Lam Nhi bước lên phía trước, đứng đối diện trực diện với Mai Khuê. Khoảng cách giữa hai cô gái giờ đây chỉ vỏn vẹn chừng ba bước chân—một khoảng cách đủ gần để Lam Nhi nhìn thấy từng đường chỉ thêu tỉ mỉ trên cổ áo Mai Khuê, và Mai Khuê có thể ngửi thấy mùi gió bão còn bám nồng nặc trên mái tóc cắt ngắn vụng về của cô bé nhà họ Vân.

“Tôi chưa bao giờ trốn tránh,” Lam Nhi cất tiếng. Giọng nói của cô không hề gay gắt, không cao giọng the thé hay hằn học như Tứ Hải, mà trầm tĩnh, rành rẽ và rõ ràng đến từng âm tiết, tựa như tiếng những giọt nước mưa rơi đều đặn xuống phiến đá lạnh. “Và tôi cũng không có ý định đứng ở đây để tranh cãi với chị xem ai là người xứng đáng cầm giữ di sản mà ông nội tôi đã để lại bằng cả sinh mệnh của ông. Những con dấu pháp lý bằng sáp đỏ hay những tờ trát ủy thác lộng lẫy trên giấy da cừu không thể tự mình bay ra ngoài kia để cứu sống một con tàu đang lao đầu vào bẫy áp suất ngược.”

Lam Nhi chậm rãi mở chiếc túi đồ nghề may bằng vải bạt thô bạc phếch đeo bên hông. Cô không hề chạm vào chiếc ống đồng bảo vệ tấm Bản Đồ Mây thiêng liêng, mà rút ra một xấp giấy can thô ráp đã ngả sang màu vàng ố vì sương gió và hơi ẩm biển mây. Những mép giấy đã sờn rách, quăn queo, bề mặt chằng chịt những nét phác thảo bằng bột than chì, những vết mực phong vũ đỏ quạch chống nước và cả những giọt mồ hôi khô lại thành vệt muối mờ.

Cô bước tới chiếc bàn điều phối bằng đá sa thạch nguyên khối đặt ngay chính giữa gian phòng—nơi các thợ máy dùng để tính toán lưu lượng khí nén. Lam Nhi hít một hơi thật sâu, dứt khoát trải rộng ba tờ giấy đo đạc thực địa của mình lên mặt bàn đá phẳng lì. Cô lấy bốn thỏi đồng chốt góc nặng trịch từ khay dụng cụ, cẩn thận chặn chặt bốn góc giấy để gió từ các khe thông khí không thể làm chúng xô lệch.

“Chị luôn miệng nhắc về quy chuẩn hàn lâm và những quy trình bất khả xâm phạm của Phường,” Lam Nhi đặt ngón tay trỏ mảnh dẻ của mình lên tờ giấy can đầu tiên, nơi vẽ chi chít những vòng tròn đồng tâm lồng vào nhau, những đường cong hyperbol đan xen và các góc phương vị được định hình bằng những nét compa phân độ sắc sảo đến kinh ngạc. “Vậy thì, xin mời trắc đạc viên cao cấp Mai Khuê hãy bước xuống đây và dùng chính đôi mắt của một nhà chuyên môn để xem qua những số liệu thực địa này.”

Đôi chân mày của Mai Khuê khẽ nhướng lên. Nửa tò mò, nửa hoài nghi và không giấu nổi vẻ trịch thượng, cô gái của viện hàn lâm bước xuống bậc thang đồng, tiến lại gần mép bàn đá sa thạch.

Ánh mắt soi mói của Mai Khuê lướt nhanh qua những nét vẽ chì trên mặt giấy can thô ráp. Ngay trong khoảnh khắc đầu tiên nhìn vào các đường cong tọa độ, một tia kinh ngạc tột độ đã vụt qua nơi đáy mắt cô gái trẻ, dù cô đã cố hết sức kiềm chế để không bộc lộ ra ngoài. Những nét vẽ chì kia tuy được thực hiện trên một chất liệu giấy rẻ tiền và trong điều kiện thực địa lắc lư ngoài boong thuyền, nhưng độ chính xác của chúng, độ vuốt nhọn ở các điểm giao cắt và kỹ thuật thể hiện các mặt cắt vi khí hậu lại đạt đến một đẳng cấp kinh điển—thứ phong cách trắc đạc đỉnh cao chỉ có thể xuất phát từ bàn tay và tư duy của huyền thoại Vân Kính, hoàn toàn không vướng một chút vụng về, non nớt nào của một đứa trẻ học việc thông thường.

“Đây là số đo mớn mây tại khu vực rạn ngoài của Đảo Tiêu Sa mà đích thân tôi đã dùng ống đo chân không đo được vào lúc chín giờ sáng nay, ngay trước khi con thuyền Mầm Gió buộc phải cắt luồng để lao qua cửa gió lốc xoáy,” Lam Nhi chỉ đầu ngón tay vào một vạch phân độ có ghi chú chi tiết về độ sâu áp suất. “Chỉ số áp suất chân không cho thấy mật độ của tầng mây đệm nâng đỡ dưới đáy đảo đã sụt giảm nghiêm trọng tới hai mươi bảy phần trăm so với chỉ số quy ước tiêu chuẩn của mùa Gió Nảy Mầm. Đảo Tiêu Sa hiện tại không còn trôi trên dầm mây chính như trong hải đồ năm ngoái nữa. Toàn bộ trọng tâm địa chất của hòn đảo đã tụt sâu xuống ba mươi hai trượng so với mốc cao độ chuẩn mà Phường đã ấn định cho mùa này.”

Ngón tay Lam Nhi không dừng lại, cô lướt nhanh sang tờ giấy can thứ hai, nơi cô phác thảo sơ đồ mặt cắt cơ học của hệ thống cối gió Thiên Phong và góc đón gió thực tế của các cánh buồm tháp:

“Và đây, xin chị hãy nhìn vào góc lệch thực tế của các cánh quạt cối gió trên Đảo Thiên Phong. Bảng giờ quy chuẩn hành hải của Phường các người vẫn đóng đinh một cách cứng nhắc rằng nhịp mở cửa gió tự nhiên luôn diễn ra ở góc bốn mươi lăm độ theo hướng đông bắc. Nhưng hãy nhìn các van xả áp thực địa ngoài quảng trường và nhịp rung của trục tháp mà xem: luồng đối lưu ngầm từ đáy vực bốc lên đã dịch chuyển hẳn sang góc ba mươi tám độ, lệch tròn bảy độ về phía bắc! Đó chính là lý do sống còn vì sao các thợ máy kỳ cựu ở đây buộc phải dùng tời xích để xoay hướng chân đế cối gió ba ngày một lần. Không phải họ muốn tự tiện làm sai quy trình cấp phép của các người để bị phạt tiền, mà là vì nếu họ không chủ động bẻ góc cối gió, luồng khí nén cực đại từ vực thẳm sẽ xé toạc toàn bộ các ổ trục truyền động và hất văng cánh quạt vào khu dân cư!”

Mai Khuê đứng bất động, ngón tay bọc da cừu siết chặt lấy thân chiếc thước bạc đến mức các khớp ngón tay trắng bệch ra dưới lớp da thuộc.

Từng lời phân tích của Lam Nhi hệt như một mũi dùi nhọn hoắt đâm trúng vào tử huyệt kỹ thuật mà chính đội thanh tra của Phường sáng nay đã gặp phải nhưng hoàn toàn bế tắc—khi kiểm tra các cối gió ở quảng trường phía tây, đoàn thanh tra của viện hàn lâm đã nhìn thấy các thợ máy dùng xích kéo lệch góc đón gió so với thiết kế chuẩn, nhưng họ chỉ biết áp dụng đúng điều lệ cứng nhắc để lập biên bản xử phạt hành chính và yêu cầu trả về vị trí cũ, bởi vì không một ai trong số các nhà trắc đạc hàn lâm hiểu được tại sao các cỗ máy lại phát ra tiếng gầm rú rung chuyển mặt đất khi bị ép chạy đúng góc bốn mươi lăm độ.

“Vớ vẩn! Toàn là những lời ngụy biện vô căn cứ!” Mai Khuê lạnh lùng thốt lên, giọng cô tuy vẫn giữ vẻ đanh thép nhưng trong đáy mắt đã bắt đầu gợn lên những đợt sóng dao động dữ dội. “Đó chỉ là những biến động vi khí hậu cục bộ mang tính tức thời do hiện tượng bão im gây ra trước khi một hoàn lưu lớn hình thành. Một kẻ học việc chưa từng một lần bước chân qua cánh cửa kỳ sát hạch Tầng Sáng, chưa từng chạm tay vào một cỗ máy vi phân thiên văn như cô thì làm sao có đủ tư cách và hiểu biết để bàn luận về phép chiếu cầu phương vị phức hợp? Cô chỉ đang góp nhặt vài ba con số đo đạc chắp vá, méo mó bằng những dụng cụ thủ công thô thiển, lạc hậu từ thế kỷ trước rồi tự huyễn hoặc bản thân bằng những kết luận giật gân!”

“Dụng cụ có thể thô thiển, nhưng số liệu thực tế thì không bao giờ biết nói dối để chiều lòng các vị trưởng phường,” Lam Nhi ngẩng cao đầu, ánh mắt đen láy nhìn thẳng, không một chút chớp động vào đồng tử sắc lạnh của Mai Khuê. “Nếu như chị không tin vào chiếc ống đo áp suất làm bằng xương cá voi tuyết hay cây compa lăng kính thạch anh do chính tay ông nội tôi mài giũa, vậy thì tại sao... tại sao chị không dám lấy tấm hải đồ chuẩn cấp phép mùa này của Phường ra đây để chúng ta cùng đối chiếu công khai trên mặt bàn đá này?”

Một nụ cười nhạt, pha chút giễu cợt đầy cay đắng hiện lên trên khóe môi Mai Khuê:

“Cô nghĩ rằng một trắc đạc viên chính quy của viện hàn lâm lại sợ việc đối chiếu số liệu với một kẻ học việc lang bạt sao? Được lắm! Để tôi cho cô tận mắt chứng kiến sự khác biệt một trời một vực giữa phương pháp trắc đạc hàn lâm đỉnh cao được kiểm định nghiêm ngặt bằng máy đo phản xạ thạch anh với mớ ghi chép cảm tính, nham nhở của những kẻ chỉ biết nhìn trời đoán gió ngoài boong thuyền!”

Mai Khuê quay phắt người lại, giơ cao cánh tay bọc găng ra hiệu cho hai người lính gác.

Một người lính lập tức bước nhanh tới chiếc hòm gỗ mun bọc nẹp đồng đặt ở góc gác lửng, cẩn thận nâng ra một chiếc hộp bằng da bò thuộc màu nâu thẫm dài chừng bốn gang tay, trên thân hộp có khóa đồng mạ kền sáng loáng bóng loáng không một vết xước. Mai Khuê rút từ trong cổ áo ra một chiếc chìa khóa bạc nhỏ xíu treo trên sợi dây chuyền bạch kim, tra vào ổ khóa. Một tiếng *tách* thanh gọn vang lên. Cô mở nắp hộp, dùng đôi găng tay cẩn trọng nâng ra một cuộn giấy da trắng muốt, dày dặn và tỏa ra mùi dầu thơm quý phái—đây chính là bản in khắc đồng chính thức tối mật của Phường Giữ Bản Đồ, mang dấu mộc đỏ chói bằng sáp niêm của Hội Đồng Khảo Sát Tối Cao cùng con dấu nổi chống làm giả bằng bạc lá của Thượng Viện.

Mai Khuê tiến lại bàn đá, dứt khoát trải phẳng tấm hải đồ quy chuẩn ra, đè trực tiếp lên mép tờ giấy can của Lam Nhi.

Mặt bàn đá sa thạch lập tức bị choáng ngợp bởi vẻ đẹp lộng lẫy của tấm bản đồ hoàng gia. Giấy lụa cao cấp ngâm hóa chất chống ẩm mốc có màu trắng ngà mịn màng như da thịt, từng đường kinh tuyến, vĩ tuyến được khắc in bằng mực đen chế từ khoáng thạch óng ánh, các dải mây dẫn đường huyết mạch được tô điểm bằng sắc xanh lam trong suốt như ngọc bích. Từng hòn đảo, từng bãi cạn, từng mỏm đá ngầm của toàn bộ Tầng Hành Trình trong chu kỳ gió hiện tại đều được thể hiện với độ tinh xảo tuyệt luân của những cỗ máy khắc tinh vi nhất thế giới.

“Hãy nhìn cho thật kỹ vào đây, Lam Nhi,” Mai Khuê cầm chiếc thước bạc, mép thước thẳng tắp như một đường cắt kim cương đặt dọc theo tuyến hàng hải huyết mạch số ba—hành lang kinh tế sống còn nối liền từ trung tâm thương mại Đảo Lam Bến, xuyên qua Đảo Tiêu Sa và kết thúc tại đỉnh tháp hoa cương của Đảo Thiên Phong này. “Tọa độ của Đảo Tiêu Sa được ấn định chính xác tuyệt đối tại giao điểm của kinh tuyến số bảy và vĩ tuyến mười hai độ nam. Độ cao mớn mây đệm nâng đỡ đảo được xác lập cố định ở mức bốn trăm trượng tính từ tầng mù đáy vực. Đây không phải là một con số tùy tiện, mà là kết quả tính toán trung bình từ ba trạm trắc đạc quang học độc lập đặt trên các đỉnh núi cao nhất của Tầng Sáng, được thẩm định và phê duyệt bởi mười hai vị trưởng phường trước khi mùa gió mở luồng. Một kẻ học việc ranh con như cô, lấy tư cách gì để dám mở miệng khẳng định rằng những khối óc vĩ đại nhất của viện hàn lâm đã tính toán sai lệch tới ba mươi hai trượng mớn mây?”

Mai Khuê đặt ngón tay bọc da trượt dọc theo đường kẻ mực đen tuyền sắc sảo, tự tin chuẩn bị vạch ra những sai số thô thiển mà cô tin chắc là do sự non nớt và cẩu thả của Lam Nhi tạo ra.

Nhưng đúng vào cái khoảnh khắc ngón tay cô lướt qua điểm giao nhau định mệnh của đường kinh tuyến số bảy...

Bỗng nhiên, ngón tay Mai Khuê khựng lại giữa không trung.

Cả cơ thể cô gái như bị một luồng sét vô hình đánh trúng, cứng đờ ra trong tích tắc. Chiếc thước bạc tinh xảo trong tay cô khẽ run lên một biên độ cực nhỏ, kim loại chạm nhẹ vào mặt giấy lụa phát ra một tiếng *cạch* rất khẽ nhưng nghe rõ mồn một trong buồng máy tĩnh lặng.

Đôi mắt phượng sắc sảo của Mai Khuê mở to hết cỡ, đồng tử co rút lại, dán chặt vào một điểm nút giao cắt vô cùng đặc biệt giữa các đường đẳng áp vi mô nằm ngay sát đường in kinh tuyến số bảy.

Trên mặt giấy lụa cao cấp chống ẩm, ngay bên cạnh đường rãnh mực in khắc đồng sắc nét của bản đồ chuẩn, có một chấm tròn nhỏ màu đỏ son rất mờ—một dấu vết trắc đạc thủ công bằng mực son viện hàn lâm, mảnh như một sợi tơ nhện. Đó không phải là một nét in của xưởng bản đồ, mà chính là điểm đo đạc độc lập mà đích thân Mai Khuê đã cẩn thận chấm lên vào rạng sáng nay, khi cô đứng trên đài quan sát cao nhất của soái hạm chiến thuyền Bạch Ưng, sử dụng chiếc kính ngắm phản xạ quang học thế hệ mới nhất vừa được chuyển từ Tầng Sáng xuống để bí mật đo đạc lại tọa độ thực tế của Đảo Tiêu Sa trước khi bão về.

Lam Nhi với trực giác nhạy bén của một người thừa kế dòng máu Vân Kính đã lập tức bắt trọn lấy sự khựng lại bất thường ấy.

Không bỏ lỡ dù chỉ là một cái chớp mắt, cô bé lặng lẽ thò tay vào túi đồ nghề, rút ra cây compa hai chân bằng đồng thau gắn lăng kính thạch anh tím. Đôi bàn tay nhỏ nhắn nhưng vô cùng chuẩn xác nhẹ nhàng đặt một chân kim loại vào tâm điểm Đảo Tiêu Sa trên tờ giấy can thực địa lem nhem của mình, rồi giữ nguyên góc mở của compa, nhấc bổng lên và ướm thẳng đầu kim còn lại vào ngay chính giữa chấm mực đỏ son mờ ảo của Mai Khuê trên tấm hải đồ lụa hoàng gia.

Đầu kim compa thạch anh và chấm mực son... khớp nhau một cách hoàn hảo đến rợn người. Không lệch một phần mười milimét.

“Chị cũng đã đo lại rồi, có phải không?” Lam Nhi khẽ thì thào, giọng nói của cô không hề mang một chút đắc thắng hay giễu cợt, mà trĩu nặng một nỗi âu lo chân thành đến thắt lòng. “Chính chị cũng không hề tin tưởng vào những con số in sẵn trên tấm bản đồ quy chuẩn của Phường. Sáng sớm nay, khi chiến thuyền Bạch Ưng vừa thả neo ở bến thượng tầng, chính chị đã một mình trèo lên đài cao để đo lại tọa độ thực tế của Tiêu Sa bằng kính ngắm quang học.”

Gương mặt Mai Khuê tái nhợt đi trông thấy dưới ánh sáng vàng lạnh của vòm đá hoa cương. Bàn tay

bọc găng da của cô hơi siết lại quanh thân thước bạc.

Mép kim loại sắc lẹm tì sâu vào lớp da hoẵng nhuộm xám tro, tạo nên những nếp gấp hằn rõ trên mu bàn tay. Những khớp ngón tay của Mai Khuê trắng bệch ra dưới áp lực của cái nắm chặt ấy, như thể toàn bộ sức nặng tinh thần, toàn bộ sự hoang mang vừa ập xuống đang dồn cả vào việc bám víu lấy món đồ nghề bất ly thân.

“Cô...” Mai Khuê mấp máy môi, vẻ kiêu hãnh lạnh lùng thường ngày như bị một vết rạn nứt vô hình xé toạc.

Khẩu khí sắc bén, thứ ngữ điệu uy nghi của một giám sát viên cao cấp vừa nãy còn vang vọng dưới vòm đá hoa cương, giờ đây tan biến vào khoảng thinh không đặc quánh của buồng máy tháp. Cổ họng cô khô khốc, nghẹn lại ở thanh âm đầu tiên, để lộ một sự chới với mà ngay cả lớp quân phục lụa dày viền chỉ bạc cũng không thể che giấu nổi.

“Chị hãy nhìn đi,” Lam Nhi tiến sát lại gần bàn đá, ngón tay cô đặt cạnh ngón tay Mai Khuê, cùng hướng về đường kinh tuyến số bảy.

Hai ngón tay đặt gần nhau trên mặt giấy tạo nên một sự tương phản sâu sắc: một bên là ngón tay thon dài được bọc kín trong lớp da thuộc đắt tiền của tầng lớp học thuật thượng lưu, một bên là đầu ngón tay trần thô ráp, lấm lem bụi than chì và vệt đồng ten của một đứa trẻ lớn lên giữa lòng khoang thuyền và những gờ đá lộng gió. Nhưng lúc này, cả hai điểm chạm ấy đều không hề run rẩy; chúng cùng ghim chặt sự chú ý vào một dải không gian hẹp giữa hai đường nét trắc đạc.

“Số liệu của tôi lấy từ mớn mây thực tế và nhịp áp suất đáy tháp,” giọng Lam Nhi rành rọt, từng âm tiết rơi xuống mặt bàn đá hoa cương như những viên bi đồng lăn trên mặt phẳng thăng bằng. “Những ghi chép ấy được tích lũy qua ba thế hệ hoa tiêu của dòng họ Vân Kính, đo bằng những phong vũ biểu thủy ngân cổ điển và ống nghiệm áp suất mây treo dưới đáy dầm Mầm Gió. Còn số liệu của chị, nó được lấy từ trắc đạc quang học trên boong chiến thuyền Bạch Ưng—bằng chiếc kính phản xạ lăng kính đôi tối tân nhất mà Tầng Sáng vừa đúc thành vào đầu mùa gió này. Hai phương pháp hoàn toàn khác nhau, hai công cụ đo đạc hoàn toàn độc lập...”

Lam Nhi ngước nhìn thẳng vào mắt Mai Khuê, ánh mắt phẳng lặng như mặt nước không gợn sóng trước giờ dông bão, giọng nói đanh lại:

“... nhưng cả hai chúng ta đều ra cùng một kết quả: vị trí thực tế của Đảo Tiêu Sa và cửa gió Thiên Phong đều lệch so với hải đồ quy chuẩn của Phường đúng hai phẩy bốn hải lý về hướng đông bắc!”

Hai phẩy bốn hải lý!

Con số ấy thốt ra từ miệng Lam Nhi như một quả tạ ngàn cân ném thẳng vào khoảng không tĩnh lặng của buồng máy. Âm vang của nó không dội lại bằng tiếng thét gầm, mà chìm sâu vào từng khối bánh răng khinh thạch đang chậm rãi quay tròn sau vách kính, nén chặt bầu không khí lại đến mức nghẹt thở.

Tứ Hải đứng bên cạnh huýt sáo một tiếng dài, hai mắt sáng rực. Cậu nhấc thanh đo gió bằng đồng thau lên, gõ nhẹ một nhịp cộc cộc lên đế ủng da, khóe môi nhếch lên một nụ cười ngạo nghễ:

“Ha! Hai phẩy bốn hải lý! Nghe thì có vẻ chỉ bằng một cái chớp mắt trên bản vẽ thu nhỏ của các vị viện sĩ, nhưng trên biển mây mù mịt giữa mùa trở gió, hai phẩy bốn hải lý là đủ để một đoàn thuyền buôn mười hai cánh buồm đâm sầm vào vách đá ngầm của rạn Tiêu Sa rồi chìm nghỉm mà không kịp hiểu vì sao mình chết đấy, hỡi quý cô Phường Giữ Bản Đồ!”

Mai Khuê không hề nghe thấy lời mỉa mai của Tứ Hải. Mọi giác quan của cô lúc này dường như đã bị hút cạn vào hai lớp giấy đang chồng lên nhau trên mặt phiến đá hoa cương lạnh buốt.

Dưới ánh sáng vàng nhạt hắt ra từ những bóng đèn khí dầu tháp gió, tờ giấy can dầu thô ráp, ố vàng của Lam Nhi nằm đè lên tấm bản đồ lụa viền chỉ vàng danh giá của Phường Giữ Bản Đồ. Hai đường cong trắc đạc độc lập—một đường được vạch bằng những vệt than chì thô vụn, lam lũ của kẻ dãi gió dầm sương, một đường được chấm bằng thứ mực son tinh chế từ bột chu sa và dầu thông của viện hàn lâm—đang chạy song song một cách tàn nhẫn. Chúng uốn lượn theo từng gợn sóng áp suất, rồi tại điểm giao cắt của cửa gió Thiên Phong, cả hai đường nét ấy hoàn toàn trùng khít lên nhau.

Và khoảng trống mà chúng cùng tạo ra so với đường rãnh mực in khắc đồng sắc lạnh của kinh tuyến số bảy... là một khoảng hở rộng ngoác, đo đạc chính xác bằng đúng hai phẩy bốn hải lý.

Về hướng đông bắc. Không thừa, không thiếu một li.

Một sự trùng hợp ngẫu nhiên ư? Tuyệt đối không thể!

Trong giáo trình cơ bản nhất của Phường Giữ Bản Đồ mà bất kỳ đứa trẻ nào bước qua cổng vòm đá hoa cương ở Tầng Sáng cũng phải học thuộc lòng, nguyên lý kiểm chứng kép đã được khắc sâu vào tâm khảm: nếu một phép đo bị lệch, đó là sai sót của hoa tiêu; nếu hai phép đo bằng cùng một công cụ bị lệch, đó là lỗi quang sai của thấu kính; nhưng khi hai phép đo độc lập, sử dụng hai hệ thống công cụ khác biệt bản chất và hai phương pháp luận đối nghịch nhau, cùng cho ra một độ lệch duy nhất tới từng phần mười hải lý, thì trong ngôn ngữ của bản đồ học, điều đó chỉ mang một ý nghĩa duy nhất.

Đó là một **sai số hệ thống**!

Một giọt mồ hôi lạnh bắt đầu rỉ ra từ chân tóc sau gáy Mai Khuê, chầm chậm trượt dọc theo sống lưng bên dưới lớp áo khoác nghiêm trang lót nỉ dày. Lồng ngực cô phập phồng gấp gáp. Những làn sương lạnh từ khe thông gió dưới sàn tháp phả lên, nhưng cô lại cảm thấy hai bên thái dương nóng rực như có lửa thiêu.

Là học viên xuất sắc nhất của Phường Giữ Bản Đồ trong suốt một thập kỷ qua, người từng đứng đầu kỳ sát hạch trắc đạc địa hình phức tạp tại Vực Gió Hú, Mai Khuê hiểu rõ hơn bất kỳ ai trong căn phòng này về ý nghĩa hủy diệt tiềm ẩn của con số hai phẩy bốn hải lý ấy.

Hải đồ chuẩn của Phường không phải chỉ là một bức vẽ trang trí treo trong phòng khánh tiết. Nó không phải là tài liệu riêng cho một con thuyền buôn nhỏ nhoi như Mầm Gió, cũng không phải chỉ dùng để dẫn đường cho tuần dương hạm Bạch Ưng. Nó là *Khuôn Mẫu Gốc*. Nó là bản thảo mẹ bằng đồng nguyên khối được cất giữ trong hầm sâu của Tòa Thước Ngắm, nơi từ đó hàng vạn bản in dập nổi bằng lụa và giấy dầu được phân phối ra khắp các bến cảng, trạm hải đăng, trạm kiểm soát biên thùy và các nghiệp đoàn vận tải trên toàn cõi Vân Quốc!

Nếu kinh tuyến số bảy—trục chuẩn định hình toàn bộ hành lang bay phía đông của quần đảo—bị lệch hai phẩy bốn hải lý... thì điều đó đồng nghĩa với việc toàn bộ mạng lưới kinh vĩ tuyến được dựng lên xung quanh nó đã bị vặn vẹo.

Các góc ngắm của hoa tiêu sẽ bị sai lệch lũy tiến theo từng hải lý bay. Các bãi đá ngầm sẽ không nằm ở nơi chúng được vẽ. Các luồng gió ngầm trong lòng mây sẽ không thổi theo hướng mà thuyền trưởng dự đoán. Hàng ngàn cánh buồm đang căng gió ngoài kia trong mùa bão này, thực chất, đều đang lao đi trên một mặt phẳng hư cấu được vẽ ra bởi một chiếc compa đã trật khớp.

Và điều đáng sợ nhất, điều khiến lồng ngực Mai Khuê đau nhói như bị một thanh thép lạnh đâm xuyên qua, chính là nhận thức rõ ràng: sai số này không thể nào mới xuất hiện vào sáng nay. Một sai số hệ thống có quy mô bao trùm cả một vùng biển mây rộng lớn như thế này phải mất hàng năm, thậm chí hàng thập kỷ để tích tụ và dịch chuyển.

“Không... không thể nào...” Mai Khuê lẩm bẩm, thanh âm run rẩy tựa hồ một sợi dây đàn sắp đứt. Đôi môi cô tái nhợt, mất đi toàn bộ huyết sắc kiêu kỳ thường nhật. “Toàn bộ hệ thống bản đồ mùa này... đã được hiệu chỉnh trực tiếp từ Đài Quan Trắc Sao Dẫn Lộ ở Tầng Sáng... Vào ngày phân kỳ gió tháng trước, đích thân các giáo sư, các bậc thầy trắc đạc kỳ cựu nhất của Viện Hàn Lâm đã tề tựu tại đài cao... Họ đã kiểm tra lại từng vạch khắc trên đĩa chia độ bằng vàng, đã ký tên và đóng dấu sáp đỏ xác nhận vào bản thảo gốc...”

“Họ ký tên xác nhận vì họ tin vào chiếc kính thiên văn đặt trên Đài Quan Trắc,” Lam Nhi khẽ nói, thanh âm trầm buồn và sâu lắng như tiếng chuông vọng từ đáy thung lũng sương mù.

Trong tâm trí cô bé lúc này, từng dòng chữ nguệch ngoạc nhưng sắc nhọn như dao cạo trong bức thư tuyệt mệnh mà ông nội Vân Kính giấu dưới đáy hộp compa lại hiện lên rõ mồn một. Từng vết mực nhòe nhoẹt vì nước mắt và bụi đá xanh của người thợ già bỗng chốc sống dậy: *‘Đừng tin vào những chiếc kính ngắm mạ vàng ở Tầng Sáng, Lam Nhi... Trục ngắm của Đài Quan Trắc đã bị lệch ba phần mười độ suốt mười năm qua, và không một ai trong bọn họ dám nhìn thẳng vào vết nứt ấy...’*

Lam Nhi ngước nhìn Mai Khuê, trong ánh mắt cô không hề có sự đắc thắng của một kẻ vừa hạ gục đối thủ trong cuộc tranh luận, cũng không có vẻ khinh miệt của một kẻ ngoài lề chiến thắng giới hàn lâm. Chỉ có một sự đồng cảm nghề nghiệp chân thành đến nhói lòng—sự đồng cảm giữa những con người cùng dành trọn cuộc đời để kiếm tìm trật tự giữa sự hỗn mang của mây trời.

“Họ tin vào đài quan trắc, hoặc giả... họ biết nó có sai số, nhưng đã cố tình làm ngơ,” Lam Nhi nói tiếp, giọng cô như một mũi khoan chậm rãi xuyên qua lớp vỏ bọc kiêu hãnh cuối cùng của đối phương. “Bởi vì nếu thừa nhận trục chuẩn bị lệch, toàn bộ các tuyến buôn bán độc quyền đã được phân chia theo hiệp ước mười năm trước sẽ phải vẽ lại từ đầu. Các hải trình an toàn của Hội Kim Phong sẽ biến thành vùng tử địa. Hàng ngàn bản đồ đã bán ra sẽ trở thành giấy vụn. Chi phí để trắc đạc lại toàn cõi Vân Quốc sẽ làm lung lay uy quyền tuyệt đối của Phường, và làm cạn kiệt túi tiền của các phường hội lớn đang nắm giữ huyết mạch bến cảng.”

Mai Khuê cắn chặt môi dưới. Vị tanh nồng của máu khẽ lan ra trên đầu lưỡi, kéo cô giật lùi về với thực tại nghiệt ngã. Bàn tay bọc da của cô tì mạnh lên mép phiến đá hoa cương, vô tình làm mép tấm bản đồ lụa quý giá nhăn nhúm lại dưới sức ép của những ngón tay.

Một cuộc giằng xé dữ dội, tàn bạo đang bùng nổ trong tâm trí người nữ giám sát viên trẻ tuổi.

Từ khi còn là một cô bé mười tuổi gầy gò được tuyển chọn vào học viện bản đồ ở Tầng Sáng, Mai Khuê đã được dạy rằng Phường Giữ Bản Đồ là ngọn hải đăng duy nhất của chân lý giữa thế giới bồng bềnh này. Thế giới của Vân Quốc không có rễ cắm sâu vào đất đá kiên cố; nó trôi nổi, bấp bênh trên những luồng gió vô định và những Mạch Neo bí ẩn. Thứ duy nhất ngăn cách hàng triệu sinh linh khỏi việc rơi tõm vào cõi chết của Tầng Mù chính là sự chuẩn xác tuyệt đối của những con số, những góc phương vị, những đường kinh tuyến được kẻ bằng mực tàu bất biến.

Cô đã nỗ lực hơn bất kỳ ai. Cô đã dành hàng ngàn đêm thức trắng bên bàn vẽ, mắt cay xè vì khói đèn dầu cải, đo từng góc nghiêng của các vì sao, tính toán từng đạo hàm của áp suất khí quyển. Cô đã vượt qua hàng trăm kỳ thi sát hạch tàn khốc, chịu đựng sự cô lập của bạn bè đồng trang lứa để giành lấy tấm học bổng trắc đạc danh giá nhất, trở thành người trẻ nhất được khoác lên mình chiếc áo choàng viền bạc của Phường. Cô tôn thờ sự chuẩn xác ấy như một thứ tôn giáo thiêng liêng.

Thế nhưng, sự thật trần trụi và nhục nhã đang nằm phơi bày ngay trước mắt cô.

Một sai số hệ thống hai phẩy bốn hải lý. Một khoảng hở chết người không thể chối cãi. Và sự thật ấy không được phát hiện bởi các bậc viện sĩ râu tóc bạc phơ với hàng chục huân chương trên ngực áo, mà lại bị vạch trần bởi một cô bé học việc mười lăm tuổi mặc áo vá vai và một cậu thiếu niên hoa tiêu thậm chí còn không có nổi một mảnh bằng hành nghề tử tế.

Mai Khuê nhắm nghiền mắt lại trong giây lát. Hơi thở cô run rẩy phả ra từng làn sương mỏng trong buồng máy lạnh lẽo. Cô hít một hơi thật sâu, nén chặt sự bàng hoàng đang cuộn xoáy trong lồng ngực như một cơn lốc nhỏ. Khi cô mở mắt ra một lần nữa, ánh nhìn sắc sảo thường ngày dường như đã được gột rửa qua một tầng nhận thức mới—nó không còn vẻ băng giá của sự trừng phạt quyền lực, mà đượm một nỗi cay đắng, hoang mang, nhưng sâu thẳm bên trong lại le lói một tia sáng của sự kính trọng kín đáo.

“Lam Nhi,” Mai Khuê cất tiếng. Thanh âm của cô đã lấy lại được vẻ bình tĩnh và chuẩn mực của một học viên ưu tú, nhưng lớp băng giá cách biệt đã hoàn toàn tan rã. “Cô có biết ai là người thực sự tài trợ cho học bổng nghiên cứu trắc đạc cao cấp mà tôi đang mang trên vai không?”

Lam Nhi ngẩn người, đôi bàn tay đang giữ mép compa hơi khựng lại. Cô lắc đầu.

Mai Khuê nở một nụ cười, một nụ cười chua chát đến thắt lòng, khóe môi khẽ giật giật:

“Nó được mang tên Quỹ Phát Triển Tuyến Gió Mới. Đó là một tổ chức danh nghĩa, một cái tên mỹ miều được chạm khắc trên bảng đồng ở lối vào giảng đường. Nhưng thực chất, toàn bộ nguồn ngân sách dồi dào ấy, từng đồng bạc chu cấp cho dụng cụ của chúng tôi, hoàn toàn do Hội Kim Phong rót vào. Họ tài trợ cho viện hàn lâm, họ trang bị cho chúng tôi những kính ngắm quang học tốt nhất chuyển từ Tầng Sáng xuống, những chiếc thước đo góc bằng bạc tinh xảo nhất... nhưng tất cả đều đi kèm với một điều kiện ngầm được ký kín trong phòng họp tối.”

Mai Khuê dừng lại một nhịp, ánh mắt cô lướt qua những bánh răng đang quay chầm chậm của cỗ máy tháp:

“Điều kiện đó là: mọi dữ liệu khảo sát thực địa, mọi bản đồ phác thảo mới của các tuyến gió biên thùy đều phải được nộp thẳng về cho hội đồng thẩm định của Hội Kim Phong trước khi được công bố rộng rãi ra công chúng. Họ có quyền phủ quyết bất kỳ bản vẽ nào mà họ cho là ‘chưa hoàn thiện’ hoặc ‘gây nguy hại cho trật tự vận tải’.”

Tứ Hải đứng dựa lưng vào cột đá, nghe đến đây liền khạc nhẹ một tiếng xuống sàn gạch, thanh đo gió trong tay cậu gõ mạnh một tiếng cắc khô khốc:

“Tôi đã bảo từ đầu rồi mà! Cái mùi tanh tưởi của lũ con buôn Kim Phong thì trốn đằng trời nào cũng không giấu được! Chúng mua đứt cả bầu trời, mua đứt cả hải đăng, và giờ thì mua đứt luôn cả những kẻ vẽ đường đi cho thiên hạ!”

Mai Khuê liếc nhìn Tứ Hải một cái. Kỳ lạ thay, lần này cô không hề nổi giận, cũng chẳng buồn cất giọng trừng phạt hay đe dọa tống giam cậu hoa tiêu ngỗ ngược như lúc mới bước chân vào buồng máy. Cô chỉ khẽ thở dài, một tiếng thở dài trĩu nặng của một người vừa nhận ra chiếc lồng vàng lộng lẫy giam cầm mình bấy lâu nay.

Cô quay lại nhìn thẳng vào Lam Nhi:

“Cách đây hai tuần, khi tôi tiếp nhận tập hồ sơ số liệu sơ bộ từ trạm đo sao ở Tầng Sáng để chuẩn bị cho kỳ biên tập hải đồ bão mùa đông, các thông số gửi về đã bắt đầu xuất hiện những biến thiên kỳ dị. Góc nghiêng của chòm sao Dẫn Lộ luôn lệch ba phần mười độ so với lịch thiên văn cổ của triều đại trước. Tôi đã lập tức làm một bản tường trình chi tiết dài mười hai trang gửi lên Hội Đồng Trưởng Phường, đề nghị tạm hoãn việc ban hành hải đồ mùa mới để cử đoàn thanh tra kỹ thuật lên Tầng Sáng kiểm tra lại toàn bộ trục kính và bệ đỡ thạch anh.”

Mai Khuê cười lạnh, ánh mắt nhìn xoáy vào khoảng không vô định:

“Nhưng bức thư phúc đáp mà tôi nhận được ba ngày sau đó không hề nhắc tới một chữ ‘kiểm tra’. Đó chỉ là một lời khen ngợi suông về tinh thần cẩn trọng của tôi, kèm theo bản Lệnh Thanh Tra Đặc Biệt có đóng dấu sáp niêm phong đỏ này. Họ yêu cầu tôi lập tức theo tàu chiến Bạch Ưng xuống Thiên Phong, lấy danh nghĩa giám sát áp suất để tịch thu tấm Bản Đồ Mây của Vân Kính và phong tỏa toàn bộ những ghi chép bất thường về mớn mây mà trạm khí tượng này thu thập được.”

Các ngón tay bọc da của Mai Khuê từ từ buông lỏng khỏi chiếc thước bạc. Cây thước trượt nhẹ trên mặt bàn đá, phát ra một tiếng rít kim loại khe khẽ.

“Họ bảo với tôi rằng Vân Kính đã già lú lẫn,” Mai Khuê nói tiếp, giọng cô trầm xuống như một lời tự thú muộn màng. “Họ bảo rằng những lý thuyết của ông ấy về sự rạn nứt của Mạch Neo và sự sụt giảm của mớn mây chỉ là ảo tưởng hoang đường của một kẻ thất chí muốn gây hoang mang dư luận. Họ bảo tôi phải thu hồi bản đồ để bảo vệ sự ổn định của Vân Quốc, bảo vệ niềm tin của dân chúng vào hệ thống định vị của Phường. Nhưng hóa ra... kẻ mù quáng nhất, kẻ ngây thơ nhất trong toàn bộ vở kịch này... lại chính là tôi.”

Không gian buồng máy chìm vào một sự im lặng trang nghiêm. Tiếng nước nhỏ giọt từ ống làm mát của cỗ máy hơi nước vang lên đều đặn, điểm từng nhịp thời gian nặng nề.

“Chị không mù quáng,” Lam Nhi nhẹ nhàng nói, phá vỡ bầu không khí ngột ngạt. Cô bé thu ngón tay mình lại, cẩn thận đặt hai bàn tay lên mép bàn đá. “Chị chỉ tin vào những gì người ta đã sắp đặt một cách hoàn hảo để chị tin. Nhưng bây giờ, chính mắt chị đã nhìn thấy số liệu thực tế. Chính đôi tay chị đã chấm vệt mực son đó lên bản đồ.”

Mai Khuê đưa mắt nhìn xuống ống đồng bảo hộ cũ kỹ, trầy xước đang đeo lủng lẳng bên hông Lam Nhi. Bên trong ống đồng ấy là tấm Bản Đồ Mây—di vật cuối cùng của Vân Kính, bản ghi chép chân thực và trần trụi nhất về những vết thương vô hình của bầu trời Vân Quốc.

Sự do dự hiện rõ mồn một trên gương mặt thanh tú của người nữ giám sát viên. Lệnh thanh tra đặc biệt trong túi áo ngực cô là một văn bản quyền lực tối thượng; nó mang ấn tín của Trưởng Phường và chữ ký bảo trợ của đại diện Hội Kim Phong. Chỉ cần một cái phất tay, hai người lính canh gác sau lưng cô sẽ lập tức tước đoạt ống đồng ấy, khống chế Lam Nhi và Tứ Hải, ném họ vào ngục tối của trạm tuần tra.

Nếu cô làm theo lệnh, vị trí của cô sẽ được bảo đảm. Cô sẽ tiếp tục là học viên ưu tú nhất, sẽ được thăng chức thành bản đồ trưởng trẻ tuổi nhất lịch sử viện hàn lâm, được chu cấp tiền tài và danh vọng vô tận.

Nhưng nếu cô làm vậy, chiếc compa lương tâm của một nhà trắc đạc trong cô sẽ vĩnh viễn gãy đôi. Tấm Bản Đồ Mây sẽ bị thiêu hủy trong lò nung bí mật của Phường, sai số hai phẩy bốn hải lý sẽ bị chôn vùi dưới những chồng hồ sơ niêm phong, và hàng ngàn con thuyền cùng sinh mạng của vô số thủy thủ ngoài kia sẽ tiếp tục lao đầu vào cõi chết theo những tấm hải đồ giả tạo.

Mai Khuê hít một hơi thật sâu. Lưng cô từ từ thẳng dậy. Đôi vai gầy nhưng cứng cỏi nâng lên dưới lớp cầu vai mạ bạc. Bàn tay đeo găng dứt khoát cầm lấy chiếc thước bạc, tra nó trở lại vào bao da bên hông với một tiếng ‘tách’ dứt khoát.

Khi cô ngẩng đầu lên, đôi mắt đen láy đã lấy lại được vẻ sắc bén, kiên định và lạnh lùng vốn có, nhưng đó không còn là sự lạnh lùng của quyền uy giáo điều, mà là sự kiên định của một nhà khoa học chân chính vừa tìm lại được la bàn định hướng cho chính mình.

“Lệnh thanh tra đặc biệt của Phường vẫn còn đầy đủ hiệu lực pháp lý,” Mai Khuê cất giọng, từng từ từng chữ rõ ràng, vang dội khắp bốn góc tường hoa cương. “Tuy nhiên, theo Điều ba mươi bảy của Quy chế Khảo sát Thực địa Quốc gia, với tư cách là giám sát viên trắc đạc độc lập tại hiện trường, tôi có toàn quyền tạm hoãn việc tịch thu tang vật nếu phát hiện có sự mâu thuẫn trọng yếu chưa thể giải thích giữa dữ liệu quy chuẩn và thực tế đo đạc.”

Tứ Hải nhướn một bên lông mày lên thật cao, khóe môi giật giật, rồi huých nhẹ cùi chỏ vào cánh tay Lam Nhi, để lộ một nụ cười ranh mãnh đầy thích thú.

“Tôi chưa chịu lùi bước đâu đấy, Lam Nhi họ Vân,” Mai Khuê nhìn thẳng vào đôi mắt trong veo của cô bé học việc, giọng cô mang theo sự thách thức đanh thép của một đối thủ ngang tài ngang sức. “Số liệu của cô ở Tiêu Sa và Thiên Phong có thể đúng. Phép đo áp suất đáy tháp của cô có thể rất chuẩn xác. Nhưng để chứng minh toàn bộ bản đồ của Vân Quốc đang mang một sai số hệ thống, cô cần nhiều hơn là hai điểm đo cục bộ bé nhỏ này. Một sai số trên diện rộng mang tính cấu trúc chỉ có thể được khẳng định một cách khoa học khi nó khớp hoàn toàn với trục sao dẫn đường ở Tầng Sáng và những ghi chép thiên văn cổ xưa nhất còn sót lại!”

“Tôi biết,” Lam Nhi gật đầu, ánh mắt không hề chớp lấy một lần trước cái nhìn thiêu đốt của Mai Khuê. “Thời gian của gió, Ký ức được lưu giữ, và Điểm sao cố định. Ba mảnh ghép mà ông nội tôi đã để lại trong di ngôn. Chúng tôi đã tìm thấy mảnh ghép đầu tiên ngay tại Tháp Lịch Phong này—nhịp đập thời gian của gió thông qua áp suất mớn mây. Điểm đến tiếp theo của chúng tôi là Thư Viện Phi Diệp, nơi lưu giữ ký ức cổ xưa nhất của Những Người Canh Neo.”

“Thư Viện Phi Diệp...” Mai Khuê khẽ lẩm bẩm cái tên ấy. Một thoáng trầm ngâm lướt qua đáy mắt cô.

Nơi đó là một hòn đảo trôi nổi kỳ dị, một mê cung sách cổ nằm chênh vênh ở rìa ranh giới giữa Tầng Nắng và Tầng Mù, nơi mà ngay cả các tàu tuần tra bọc thép của Phường cũng hiếm khi dám bén mảng tới vì những luồng gió xoáy khó lường. Cô nhìn sâu vào gương mặt còn non nớt nhưng đã hằn lên sự can trường của Lam Nhi, như muốn khắc sâu từng đường nét của cô gái nhỏ này vào ký ức.

“Chiến thuyền Bạch Ưng sẽ không đuổi theo các người,” Mai Khuê dứt khoát nói. “Tôi sẽ hạ lệnh cho thuyền trưởng quay mũi tàu trở lại Tầng Sáng ngay trước khi bão đổ bộ. Tôi sẽ tự mình trèo lên Đài Quan Trắc Sao Dẫn Lộ. Tôi sẽ tự tay tháo dỡ từng khớp bánh răng, kiểm tra từng thấu kính thạch anh trên bệ xoay của kính thiên văn khổng lồ ấy. Tôi sẽ tự mình chứng thực xem trục ngắm ngạo mạn của Viện Hàn Lâm có thực sự bị lệch ba phần mười độ như lời cảnh báo đẫm máu của ông nội cô hay không.”

Dứt lời, Mai Khuê đưa tay ra, dứt khoát gập đôi tấm bản đồ quy chuẩn bằng lụa lại, nhét gọn gàng vào chiếc hộp da hình trụ có khóa đồng bên hông. Cô xoay người lại, hướng ánh nhìn băng giá về phía hai người lính gác vẫn đang đứng bất động như tượng đá:

“Thu vũ khí lại. Chúng ta rời khỏi đây ngay lập tức. Ghi vào nhật ký thanh tra hiện trường: buồng máy trung tâm Tháp Lịch Phong đang vận hành hoàn toàn trong giới hạn áp suất an toàn. Không có dấu hiệu can thiệp, phá hoại hay làm sai lệch thiết bị đo đạc.”

Hai người lính canh gác nhìn nhau qua khe hở của chiếc mũ giáp đồng thau, trong mắt họ hiện rõ vẻ ngơ ngác và hoang mang tột độ. Lệnh xuất quân sáng nay là bắt giữ và tịch thu, nhưng trước phong thái uy nghiêm không thể lay chuyển và ánh mắt sắc như dao cạo của vị nữ giám sát viên có quyền sinh sát tối cao này, họ không dám hé răng thắc mắc nửa lời. Cả hai đồng loạt cúi đầu:

“Tuân lệnh, Giám sát viên!”

Họ nhanh chóng thu hồi những chiếc dùi đồng nặng trịch vào thắt lưng, bước lùi lại ba bước theo đúng nghi thức quân đội rồi quay người tiến ra phía cửa vòm đá.

Mai Khuê dừng lại ở ngưỡng cửa vòm hoa cương. Cô quay đầu lại nhìn Lam Nhi một lần cuối. Dưới ánh sáng vàng vọt của ngọn đèn khí tháp, khóe môi cô khẽ cong lên một nụ cười cực kỳ mờ nhạt—nụ cười đầu tiên, mong manh như một sợi tơ nhện nhưng chân thật đến nghẹn ngào, xóa tan toàn bộ vẻ lạnh lùng xa cách kể từ khoảnh khắc cô bước chân vào buồng máy:

“Bảo trọng, Lam Nhi họ Vân. Đừng để con thuyền ọp ẹp của các người rơi xuống Tầng Mù trước khi tôi kịp chứng minh cô đã sai.”

Dứt lời, tà áo choàng viền bạc của Mai Khuê tung bay một cách dứt khoát trong luồng gió lạnh luồn qua cửa tháp. Tiếng gót ủng da của cô nện đều đặn, kiêu hãnh và vang vọng trên nền đá sa thạch, xa dần, xa dần về phía cầu thang xoắn ốc dẫn lên âu tàu thượng tầng, nơi chiến thuyền Bạch Ưng đang gầm rú động cơ chờ đợi.

Cánh cửa gỗ sồi bọc đồng nặng nề khép lại sau lưng họ với một tiếng ‘ầm’ khô khốc.

Không gian buồng máy rộng lớn bỗng chốc trở nên thênh thang đến lạ kỳ. Chỉ còn lại Lam Nhi, Tứ Hải và tiếng thở phù phù nhẹ nhõm của chim Bông đang rúc đầu vào cổ cô bé.

“Chà...” Tứ Hải thở hắt ra một hơi dài thườn thượt, như thể vừa trút bỏ được một tảng đá đè nặng lên lồng ngực suốt từ sáng sớm. Cậu đưa bàn tay lem nhem dầu mỡ lên vuốt ngược mái tóc rối bù đẫm mồ hôi, rồi quay sang nhìn Lam Nhi với vẻ mặt đầy thán phục: “Một cô nàng kiêu kỳ, khó ưa, miệng lưỡi sắc như dao cạo... nhưng mà nói thật, cũng không đến nỗi tệ hại và thối nát như cái đám quan chức thuế vụ ở bến cảng. Ít ra thì cô ta còn biết phân biệt giữa một con số thực tế và một tờ giấy lộn có đóng dấu đỏ!”

Lam Nhi không đáp lời ngay. Cô đứng lặng bên bàn đá, đôi mắt dõi theo những hạt bụi li ti đang lơ lửng trong luồng sáng vàng nhạt. Bàn tay nhỏ nhắn của cô từ từ cuộn lại từng tờ giấy can đo đạc mỏng manh, miết nhẹ từng góc giấy nhăn nheo rồi cẩn thận cất trở lại vào túi đồ nghề bên hông.

Những ngón tay cô dừng lại thật lâu trên thân ống đồng khắc hoa văn gia tộc Vân Kính.

Cuộc đối đầu vừa rồi với Mai Khuê không hề mang lại cho cô cảm giác thỏa mãn hay kiêu hãnh của một người vừa giành chiến thắng trong cuộc tranh biện sinh tử. Ngược lại, nó chỉ làm tăng thêm sức nặng vô hình nhưng khủng khiếp đang đè nặng lên đôi vai nhỏ bé của cô.

Sai số hai phẩy bốn hải lý.

Những bánh răng khinh thạch đang rỉ ra từng vệt bột đá màu xanh lục—dấu hiệu của sự ma sát quá tải do cấu trúc địa tầng bị vặn xoắn.

Sự thỏa hiệp ngầm giữa Hội Kim Phong và Viện Hàn Lâm.

Và sự mù quáng có hệ thống của những kẻ đang nắm giữ sinh mệnh của toàn bộ Vân Quốc.

Tất cả những chi tiết rời rạc ấy giờ đây đang ghép nối lại thành một bức tranh toàn cảnh đáng sợ—một viễn cảnh về sự sụp đổ dây chuyền mà ông nội cô đã nhìn thấy từ mười năm trước, một bi kịch đang âm thầm tích tụ năng lượng dưới đáy biển mây sâu thẳm.

“Chúng ta phải đi thôi, Tứ Hải,” Lam Nhi ngước nhìn bạn đồng hành, giọng nói của cô đã lấy lại được sự điềm tĩnh và nghiêm túc thường trực của một người kế thừa gia tộc Vân Kính. “Chúng ta phải rời khỏi Đảo Thiên Phong ngay lập tức, trước khi những kẻ khác của Hội Kim Phong đánh hơi thấy những gì vừa diễn ra ở đây. Mầm Gió phải lấy gió xuôi để vượt qua Cửa Gió Bắc và hướng thẳng tới Thư Viện Phi Diệp ngay trong đêm nay.”

“Được thôi, vị thuyền phó nghiêm khắc của tôi!” Tứ Hải nhe răng cười toe toét, vẻ căng thẳng biến mất không còn một dấu vết. Cậu xốc lại bao đựng thanh đo gió trên vai, xoay xoay chiếc compa dẫn đường bằng đồng thau trên đầu ngón tay cái một cách điệu nghệ. “Quả chuông bão của Đội trưởng Hạ Vũ thì đã được bàn giao an toàn cho trạm máy rồi. Giấy phép lưu thông tạm thời của con thuyền rách nát chúng ta cũng vừa được bà chúa thanh tra kia ngầm đóng một cái dấu an toàn to tướng trong nhật ký. Giờ thì trời cao biển rộng, gió xuôi nước chảy, Mầm Gió chúng ta lại là bá chủ của—”

Lời nói ngập tràn vẻ huênh hoang của Tứ Hải đột ngột bị bẻ gãy giữa chừng.

Một âm thanh kỳ dị, một thứ tiếng rên xiết trầm đục không thể diễn tả bằng lời bỗng nhiên trồi lên từ sâu thẳm trong lòng tháp.

Bên dưới lớp sàn đá sa thạch dày ba thước mà họ đang đứng, một rung chấn dữ dội bất ngờ truyền thẳng lên gót chân. Cú chấn động không giống như những rung lắc thông thường do gió bão xô đẩy vào thân tháp; nó là một sự co giật cục bộ xuất phát từ chính cấu trúc nền móng của hòn đảo máy.

Những khối đá hoa cương nặng hàng tấn trên vách tường rùng mình cọ xát vào nhau kèn kẹt, phát ra những tiếng nghiến răng rợn người của vật chất đang bị vặn xoắn quá giới hạn đàn hồi. Vữa vôi xám và bụi đá từ các kẽ hở trên trần vòm rơi lả tả xuống như một trận mưa phùn khô khốc, phủ lên mái tóc hai người một lớp tro bụi nhợt nhạt.

Chiếc đèn khí dầu treo trên xà ngang lắc lư dữ dội, hắt những bóng đen méo mó, hỗn loạn lên khắp các bức tường.

Chim Bông trên vai Lam Nhi đột ngột tung cánh bay vút lên trần tháp. Bộ lông trắng muốt của nó dựng đứng lên như một quả cầu gai, đôi mắt tròn xoe ánh lên vẻ kinh hãi tột độ—thứ bản năng sinh tồn hoang dã của loài chim mây nhạy cảm nhất với những biến động của bầu khí quyển. Chiếc mỏ nhọn hoắt của nó ngoác ra, phát ra những tiếng rít the thé, chói tai xé toạc không gian buồng máy:

*Két! Két! Quác! Quác!*

Và rồi...

*BOONG...*

*BOONG...*

*BOONG...*

Hồi chuông áp suất trên đỉnh cao nhất của Tháp Lịch Phong đột ngột rung lên từng hồi dồn dập, điên cuồng, với một âm sắc trầm đục và méo mó đến nghẹt thở!

Tiếng chuông ấy hoàn toàn không mang âm vang trong trẻo, thánh thót như nhịp đếm thời gian quen thuộc của hòn đảo máy Thiên Phong mỗi khi báo giờ phân luồng gió. Nó đục ngầu, nặng nề, run rẩy và nghẹn ứ, tựa hồ như tiếng rên xiết tuyệt vọng của một khối kim loại khổng lồ đang bị bóp nghẹt dưới đáy vực sâu không đáy.

Từng đợt sóng âm trầm đục dội thẳng từ đỉnh tháp xuống buồng máy, mang theo một tần số rung động hạ âm làm lồng ngực Lam Nhi thắt nghẹn lại, khiến cho từng tế bào, từng giọt máu trong huyết quản cô như muốn đông cứng lại vì một nỗi sợ hãi nguyên thủy.

Đó không phải là hồi chuông báo gió mùa.

Đó cũng không phải là tiếng chuông báo hiệu một cơn bão thông thường của Tầng Nắng.

Đó là hồi chuông cộng hưởng kim loại—thứ âm thanh chết chóc mà Đội trưởng Hạ Vũ từng hạ giọng cảnh báo trong bóng tối của âu thuyền trước khi họ rời bến: dấu hiệu đầu tiên của một cơn bão im đang sụp đổ ở tầng sâu, mang theo xung lực hủy diệt của Mạch Neo đứt gãy quét thẳng vào toàn bộ vùng trời Thiên Phong!

Chương này thế nào?Đánh giá giúp Readeep đề xuất đúng hơn cho bạn