Tấm Bản Đồ Bỏ Dở
Gió chuyển mùa lùa qua những khe nẹp bằng gỗ thông của Xưởng Vân Kính trên Đảo Lam Bến, rít lên từng hồi mỏng mảnh như mũi dùi xuyên qua lớp rèm dạ. Luồng khí lạnh từ tầng đối lưu phía bắc tràn xuống, mang theo hơi ẩm buốt giá của những khối mây tích điện trôi dạt, làm rung rinh chùm mô hình đảo treo lơ lửng trên trần nhà bằng dây đồng thau. Những khối gỗ hồ đào và đá bọt được đẽo gọt mô phỏng hình dáng các đảo nổi va vào nhau lanh lảnh, lúc khoan lúc nhặt, gõ nhịp cùng tiếng tích tắc nặng nề của con lắc đồng hồ đo biến thiên khí áp gắn trên vách đá ngầm phía tây trạm hải đăng.
Căn phòng áp mái nằm chót vót trên ngọn mỏm đá nhô ra mép vực ngập tràn mùi hương quen thuộc của bao năm tháng: mùi nhựa thông phơi khô hòa lẫn vị ngai ngái của bột đá phấn dùng để làm mịn mặt giấy; mùi hăng nồng của các loại mực khoáng chất nghiền từ quặng sulfur cùng vảy bạc; và trên hết là một chút hơi ẩm mằn mặn, ngai ngái đặc trưng bốc lên từ Biển Mây ngút ngàn, sâu không thấy đáy bên dưới sàn ván.
Lam Nhi không ngẩng đầu lên. Cô ngồi co ro trên chiếc ghế đẩu ba chân bọc da dê núi đã sờn rách bốn góc, đôi bờ vai gầy hơi nhô ra dưới lớp áo chẽn bằng vải sợi gai thô. Đôi mắt nâu sẫm của cô chăm chú dán vào phiến đá mài màu xám tro đặt nghiêng một góc ba mươi độ bên mép bàn vẽ.
Trên tay cô là một cây bút lông ngỗng bị tưa ngọn. Đây là loại bút đặc chế từ lông cánh chim âu mây non, chỉ dành riêng cho việc kẻ những đường kinh vĩ mảnh như sợi tơ nhện trên các bản hải đồ vi mô. Những sợi lông vũ nhỏ li ti ở đầu ngòi đã bị chẻ đôi sau nhiều giờ miệt mài vạch các cung độ gió. Lam Nhi cẩn trọng cầm chiếc dao trổ nhỏ bằng thép lạnh tôi dầu, ghìm chặt hơi thở, gạt nhẹ từng sợi lông xơ xác vướng víu. Lưỡi dao bén ngọt lướt qua lớp sừng mảnh dẻ với một tiếng sột soạt khô khốc. Cô nhúng nhẹ đầu bút vào chiếc chén mắt trâu đựng dầu hạt lanh nguyên chất, xoay tròn ba lần theo chiều kim đồng hồ để vuốt lại độ nhọn tinh xảo của ngòi lông. Đôi bàn tay mười lăm tuổi của cô tuy mảnh dẻ, cổ tay thon nhỏ, nhưng nơi các đốt ngón tay và lòng bàn tay đã sớm hình thành những vết chai sạn vàng sẫm — dấu tích không thể xóa nhòa của nhiều năm trời miệt mài cầm thước kẹp cơ học, compa vạch độ và những thanh đá mài mực nặng trịch.
Sau khi đặt cây bút vừa ý vào chiếc khay đồng khảm hoa văn sóng mây, Lam Nhi thở hắt ra một hơi dài, đưa tay kéo hộp dụng cụ bằng gỗ hồ đào của ông nội về phía mình.
Nắp hộp bằng gỗ nguyên khối mở ra với tiếng kêu lách cách êm ru của bản lề bọc da bò tót. Cô kiểm tra từng món một cách tuần tự, chậm rãi, như một nghi thức bắt buộc mỗi khi ráng chiều tà bắt đầu rạn nứt ngoài khung cửa. Chiếc thước đo góc bằng đồng thau khảm xà cừ ánh lên bảy sắc cầu vồng dưới ánh sáng nhá nhem; kính đo nghiêng ba trục có chứa bọt thủy ngân để cân bằng độ dốc của các dòng đối lưu tầng thấp; và cây compa đo khoảng cách hai chân bằng thép tôi, mũi kim nhọn hoắt đến mức có thể đâm xuyên qua một hạt kê mà không làm vỡ vỏ. Mọi thứ đều được lau chùi bóng loáng, sạch sẽ, không vương lấy một hạt bụi mịn hay một đốm gỉ xanh. Thế nhưng, chính sự ngăn nắp đến lạnh lẽo, sự trơ trọi bất động của những món đồ kim khí ấy chỉ càng khoét sâu thêm khoảng trống hoang hoải trong xưởng vẽ suốt những ngày qua.
Đã tròn bốn tuần trôi qua kể từ buổi sáng định mệnh đó.
Ký ức về buổi sớm hôm ấy vẫn còn sắc lẹm, tươi rói như một vết rạch mới trên thân cây thông còn đang rỉ nhựa. Sáng hôm đó, sương mù từ Tầng Mù dâng lên trắng xóa, cuồn cuộn như những đợt sóng sôi, nuốt chửng từng mỏm đá rêu phong nhô ra mép biển của Đảo Lam Bến. Ông nội Vân Kính thức dậy từ lúc chuông gió báo canh tư vừa dứt hạt âm thanh cuối cùng. Không một lời thông báo gửi trước cho các bậc trưởng lão trong làng, không một mảnh thông tri gửi đến phường bản đồ như thông lệ mỗi khi có cuộc viễn thám, ông chỉ lẳng lặng xếp vào chiếc rương khảo sát bằng da cá đuối bọc góc đồng vài ống giấy can bằng vỏ dó dày, chiếc kính thiên văn bỏ túi có bốn khúc trượt và chiếc địa bàn đo chênh lệch áp suất cổ lỗ sĩ của mình.
Khi Lam Nhi dụi mắt bước ra khỏi buồng ngủ, hai tay còn đang ôm chặt chiếc ấm đồng sứt quai pha trà gừng ấm nóng bốc khói nghi ngút, cô chỉ kịp nhìn thấy bóng lưng gầy gò khoác chiếc áo choàng hoa tiêu đã bạc màu sương gió của ông đang bước nhanh về phía bến tàu nhỏ ở mỏm tây hòn đảo.
"Ông đi đâu sớm thế ạ?" cô đã cất tiếng hỏi, giọng còn ngái ngủ, bước chân luống cuống trên sàn gỗ thông kêu cọt kẹt. "Hôm nay gió mùa đông nam mới bắt đầu xoay trục, các luồng khí ở Tầng Hành Trình đang nghịch lưu dữ dội, thuyền buồm ra khơi lúc này dễ trật đường đón gió lắm ông ơi."
Ông Vân Kính đã dừng bước ngay bên mép ván gỗ dẫn xuống cầu tàu nổi — nơi những tấm ván sàn đang bồng bềnh dập dềnh trên lớp đệm sương mù dày đặc. Ông quay đầu lại, mỉm cười với cô qua chòm râu hoa râm được tỉa tót cẩn thận nhưng đã vương đầy hơi nước. Ánh mắt ông khi ấy vừa bao la, dịu dàng, lại vừa chất chứa một sự âu lo sâu thẳm, nặng nề như những khối đá neo dưới đáy biển mây mà mãi về sau này, khi ngồi một mình giữa đêm thâu, cô mới lờ mờ thấu hiểu.
"Gió nghịch lại chính là lúc những dấu vết cũ lộ ra rõ nhất, Lam Nhi à," ông nói, giọng trầm ấm, vang rền át cả tiếng gầm rì rầm vô tận của đại dương mây sâu thẳm dưới chân cầu cảng. "Có những hòn đảo không bao giờ chịu nằm yên trên những đường kẻ mà người ta dùng mực để ấn định cho chúng. Bầu trời này không phải là một bức tranh đóng khung trên vách gỗ. Nếu không có ai chịu dấn thân đi đo lại từng nhịp thở của nó, cả Vân Quốc này sẽ sớm quên mất vì sao chúng ta vẫn còn bay được giữa hư không."
"Nhưng ông đi bao lâu? Cháu phải ghi vào sổ nhật trình của xưởng thế nào nếu người bên Phường Giữ Bản Đồ đến kiểm tra tiến độ hải đồ mùa gió mới?" Lam Nhi đã cất tiếng hỏi với theo, lòng nhen nhóm một nỗi bất an không tên khi nhìn thấy chiếc túi khảo sát căng phồng trên vai ông.
Ông Vân Kính không trả lời thẳng vào câu hỏi ấy. Ông chỉ sải bước quay lại ba bước ngắn, vỗ nhẹ lên vai cô. Bàn tay thô ráp đầy những vết sẹo do bỏng axit pha mực áp vào gò má cô, truyền qua một hơi ấm quen thuộc và vững chãi đến lạ lùng.
"Hãy chăm sóc xưởng vẽ thật chu đáo, con bé của ta. Nhớ kiểm tra áp suất khí quyển mỗi khi thấy mực phong vũ bắt đầu đổi màu. Và Lam Nhi này... hãy nhớ kỹ lời ta dặn: đừng bao giờ quá tin vào những đường kẻ thẳng tắp trên giấy trắng. Bầu trời thực sự không bao giờ có đường thẳng."
Đó là những lời nói cuối cùng của ông trước khi bước xuống chiếc thuyền buồm gió nhỏ không số hiệu, giương cánh buồm tam giác màu xám tro và tan biến hoàn toàn vào bức tường sương mù xám xịt của Tầng Mù. Kể từ giây phút cánh buồm ấy chìm vào lòng biển mây, không một lá thư bồ câu nào quay trở lại, không một cánh diều đưa tin lượn qua đỉnh tháp chuông, không một tín hiệu còi hơi hay pháo sáng nào từ ông được gửi về bến Lam Bến.
Những ngày sau đó, không gian quanh xưởng vẽ dần trở nên ngột ngạt. Phường Giữ Bản Đồ bắt đầu cử người đến xì xào, dò hỏi; những thương nhân mắt ti hí của Hội Kim Phong lượn lờ quanh chân đồi nhiều hơn thường lệ, buông ra những câu hỏi bóng gió về kho lưu trữ hải đồ cổ của gia đình; còn mẹ cô — bà Mộc Miên — thì đêm nào cũng thức trắng bên khung cửi dệt tơ mây ở gian nhà dưới. Tiếng thoi đưa lách cách khô khốc dội lên qua sàn gỗ suốt canh dài, hòa cùng tiếng thở dài trĩu nặng của người đàn bà sớm góa bụa lại vừa mất đi chỗ dựa tinh thần duy nhất trong dòng họ.
Lam Nhi khẽ cắn môi, đặt chiếc thước đo góc xuống tấm nỉ lót. Lời phàn nàn càu nhàu trẻ con của cô vào buổi sáng hôm ấy — về việc ông lại bỏ đi để lại cho cô hàng đống bản thảo dở dang cần vào mực — thỉnh thoảng vẫn dội về trong tâm trí cô như một chiếc gai nhọn nhức nhối cắm sâu vào da thịt. Cô tự dằn vặt mình, tự hỏi liệu có phải chính thái độ phụng phịu, bực dọc vô cớ của mình đã khiến ông nội quyết định ra đi vội vã mà không một lời từ biệt rõ ràng hay không. Nỗi mặc cảm tội lỗi ấy cứ âm thầm gặm nhấm tâm can cô bé qua từng đêm vắng, khi gió mùa rít từng cơn lạnh buốt qua khe cửa.
Một tiếng đập cánh dồn dập, sắc lẹm xé toạc bầu không khí tĩnh mịch của căn phòng áp mái.
Từ ô cửa sổ tròn mở toang trên vách tường phía đông, nơi những ngọn gió tầng trung lưu đang rít từng cơn lạnh thấu xương, một bóng trắng xao động vút qua như tia chớp. Đó là Bông. Con chim cánh mây với bộ lông vũ dày dặn, mềm mại như những cụm bông tuyết trôi bồng bềnh trên Tầng Sáng, chao liệng hai vòng quanh các mô hình đảo treo bằng đồng rồi đáp đánh "bộp" một tiếng dứt khoát xuống góc bàn vẽ lớn.
Bông rũ mạnh đôi cánh viền lông màu xám tro, làm bắn tung tóe những hạt sương mây li ti bám trên thân mình ra khắp mặt bàn. Nó nghiêng đầu sang một bên, đôi mắt tròn xoe đen láy như hai hạt cườm lấp lánh chớp chớp nhìn Lam Nhi đầy vẻ tinh quái. Trong chiếc mỏ ngắn màu vàng ngà, nó cẩn thận ngậm một nhánh quả mọng phát sáng cuống hãy còn tươi nguyên vết bẻ.
Đó là loại quả chỉ mọc trên những rạn san hô mây bám chặt vào vách đá dựng đứng của Đảo Lam Bến — một thứ thực vật kỳ lạ chỉ chịu tỏa ra thứ ánh sáng xanh lơ dìu dịu khi trời sắp chuyển luồng gió lạnh hoặc áp suất tầng đáy có biến động lớn.
"Lại mò sang vườn thực nghiệm của trạm hải đăng hái trộm rồi phải không?" Lam Nhi khẽ mắng, giọng điệu trách móc nhưng khóe môi bất giác nở một nụ cười hiếm hoi trong suốt bốn tuần u ám vừa qua. Cô chìa bàn tay nhỏ nhắn ra, đỡ lấy nhánh quả mọng từ mỏ con chim.
Bông phát ra một tràng âm thanh gù gù êm ái trong lồng ngực, chiếc mào lông tơ nhỏ xíu trên đỉnh đầu rung rinh một cách đắc chí. Nó dùng đầu mỏ cứng đẩy nhánh quả về phía khay đựng dụng cụ của Lam Nhi, sát cạnh một viên bi bằng thủy tinh trong suốt mà nó vẫn thường thích ngắm nghía mỗi buổi chiều, như muốn chứng minh rằng chuyến bay vừa rồi của nó hoàn toàn mang mục đích cao cả chứ chẳng phải vì thói háu ăn thường nhật.
Chiếc bàn vẽ lớn này vốn là kiệt tác của cuộc đời ông nội Vân Kính. Mặt bàn được xẻ nguyên khối từ một phiến gỗ gụ khổng lồ chở về từ Đảo Rừng Cổ — loại gỗ nặng trịch, thớ mịn và không bao giờ bị cong vênh dù độ ẩm của biển mây có thay đổi đột ngột đến đâu. Chạy dọc theo bốn mép bàn là hệ thống rãnh dẫn khí sâu đúng một tấc, được gọt giũa tỉ mỉ theo nguyên lý khí động học cánh cung. Mỗi khi những cơn gió quẩn bất chợt thốc qua khung cửa sổ áp mái, luồng khí hung hãn sẽ bị hút tụt vào các rãnh này rồi triệt tiêu toàn bộ lực nâng, giữ cho giấy vẽ, thước kẹp và ngòi bút đặt trên mặt bàn không bao giờ bị gió cuốn phăng xuống vực mây sâu thẳm. Chính tại chiếc bàn này, trong suốt hơn bốn mươi năm ròng rã, ông nội cô đã cặm cụi phác thảo hàng ngàn tấm hải đồ cho những đội thuyền buồm gió kiêu hãnh của Vân Quốc.
Lam Nhi đặt nhánh quả phát sáng sang mép đĩa sứ, để ánh sáng xanh lục dịu mát của nó rọi một vùng tròn nhỏ lên mặt gỗ gụ. Cô hít sâu một hơi lồng ngực, đưa tay kéo chiếc ống đựng bản đồ bằng đồng nguyên chất đặt sâu trong góc khuất nhất dưới gầm bàn vẽ.
Chiếc ống đồng này dài chừng ba gang tay, mặt ngoài chạm chìm hoa văn hình những luồng gió xoáy đan bện vào nhau. Ống không hề khóa bằng ổ khóa cơ học, nhưng nắp đậy của nó được niêm phong cẩn mật bằng một vòng sáp ong pha lẫn bột khinh thạch màu xám đục — dấu ấn cá nhân bất khả xâm phạm của bậc thầy bản đồ Vân Kính. Suốt bốn tuần lẻ loi vừa qua, Lam Nhi đã ngồi nhìn trân trân vào chiếc ống đồng ấy không biết bao nhiêu lần, nhưng sự kính sợ cùng lời răn dạy nghiêm khắc của gia tộc về tính bảo mật của nghề nghiệp đã ngăn không cho cô chạm vào nó.
Nhưng đêm nay thì khác. Gió mùa đang gầm rít ngoài vách đá với âm vực khác lạ, và một linh cảm mơ hồ, lạnh buốt chạy dọc sống lưng mách bảo cô rằng mình không thể tiếp tục ngồi yên chờ đợi trong sự im lặng vô vọng này thêm một khắc nào nữa.
Cô đặt ngón tay cái lên mép sáp niêm phong, khẽ dùng lực vặn ngược chiều kim đồng hồ. Một tiếng "tách" giòn tan vang lên xé rách sự im ắng; lớp sáp ong khô giòn nứt vỡ ra thành những mảnh vụn li ti như phấn hoa.
Lam Nhi cẩn thận tháo nắp đồng, ghé mắt nhìn vào khoảng tối bên trong. Không có mùi giấy da cừu nồng nặc hay mùi bột tre của giấy can thông thường thoảng ra. Thay vào đó, một làn hương thanh khiết, mát lạnh tựa như mùi rêu ướt sau cơn mưa rào đầu mùa ở những vùng bình lưu cao ngất ùa ra ôm lấy gương mặt cô.
Dùng chiếc kẹp bọc vải nhung mềm rút tài liệu ra ngoài, Lam Nhi khẽ nín thở. Vật nằm trong tay cô là một cuộn tài liệu dày dặn, dẻo quánh, bề mặt lóng lánh những đường vân tự nhiên đan xen chằng chịt như mạng nhện.
Đó là một tấm da mây dệt hoàn toàn từ sợi rễ Neo.
Trong giới hải hành và họa đồ của Vân Quốc, đây là loại chất liệu chỉ tồn tại trong những câu chuyện truyền khẩu lúc trà dư tửu hậu hoặc trong các văn bản mật của triều đình. Rễ Neo là phần rễ ăn sâu nhất của loài đại thụ ngàn năm chỉ mọc bám vào các vỉa khinh thạch khổng lồ nằm sâu trong tâm của những hòn đảo cổ trôi dạt. Để thu hoạch được chúng, người ta phải thả người xuống những khe nứt sâu hàng trăm trượng giữa sương mù dày đặc. Sợi rễ sau khi thu hoạch phải được đem ngâm trong nước ngưng tụ thu thập từ Tầng Sáng ròng rã suốt bảy tuần trăng tròn, rồi dệt thủ công bằng những khung cửi làm hoàn toàn bằng gỗ thị, tuyệt đối không được có một chiếc đinh sắt hay chi tiết kim loại nào để tránh làm nhiễm từ tính tự nhiên của đất trời.
Tấm da mây dệt từ rễ Neo mềm mại, rủ xuống êm như lụa thượng hạng nhưng lại dai bền hơn cả da bò mộng; nó không bao giờ thấm nước, không bắt lửa, và điều kỳ diệu nhất: cấu trúc phân tử của nó có khả năng ghi giữ, cộng hưởng với những biến đổi vi mô của khí áp và trường lực nâng tốt hơn bất kỳ loại chất liệu nhân tạo nào từng được biết đến trong thiên hạ.
Bông bước từng bước ngắn trên mặt bàn gỗ, móng vuốt nhỏ gõ lách cách từng nhịp đều đặn. Nó vươn cổ ra, chiếc mỏ khẽ rỉa một sợi lông tơ bên cánh nhưng đôi mắt hạt cườm đen láy thì dán chặt vào cuộn da mây. Khi tấm da bắt đầu từ từ mở rộng ra dưới bàn tay Lam Nhi, con chim bỗng khựng phắt lại. Hai cánh nó hơi giương lên một nửa, các sợi lông vũ quanh cổ dựng đứng như một chiếc quạt xòe, và từ sâu trong cuống họng nó phát ra một chuỗi âm thanh lách cách trầm đục, nghẹn ứ — thứ âm thanh mà loài chim cánh mây chỉ cất lên khi tổ của chúng bị đe dọa bởi những con ưng biển săn mồi từ Tầng Mù.
"Ngoan nào, Bông. Đứng yên đó, đừng làm xước mép bản đồ," Lam Nhi thì thầm trấn an, bàn tay cô khẽ run rẩy khi với lấy bốn viên đá chặn bằng thiên thạch đen đặt ở bốn góc. Bốn viên đá nặng trịch áp xuống, ghì phẳng phiu tấm da mây vào các rãnh chìm của mặt bàn gụ.
Toàn bộ bề mặt tấm bản đồ hiện ra trọn vẹn dưới thứ ánh sáng ma mị hòa trộn giữa sắc xanh lơ của quả mọng và ánh vàng le lói của ngọn đèn dầu thông.
Đó là một công trình đồ họa khổng lồ, phức tạp và kỳ vĩ đến mức khiến Lam Nhi phải choáng ngợp, lồng ngực thắt lại trong một cảm giác kinh ngạc tột cùng. Hàng trăm hòn đảo lớn nhỏ của toàn cõi Vân Quốc được tái hiện bằng những nét mực tinh xảo đến từng phân độ: Đảo Lam Bến của cô hiện lên với hình dáng một vầng trăng khuyết kiêu hãnh cắm sâu vào dòng đối lưu; Đảo Cảng Cánh Diều trải rộng với những mũi đá nhọn chĩa về bốn phương tám hướng như những cánh buồm đón gió; Quần Đảo Vườn Ươm kết nối chằng chịt bởi hàng ngàn đường dây võng và cầu treo mây; và xa hơn nữa về phía rìa bản đồ là những mỏm đảo hoang vu, trơ trọi đang chìm lấp trong những xoáy mây dữ dằn của Tầng Mù.
Thế nhưng, bức tuyệt tác này rõ ràng vẫn còn dang dở.
Nhiều vùng trời rộng lớn mênh mông chỉ mới được phác thảo bằng những nét gạch đứt quãng ngập ngừng; những con số đo độ cao so với đáy mây chưa hề có giá trị đối chiếu thực địa; và vô số mũi tên chỉ hướng gió mùa bị bỏ dở giữa chừng, ngọn mũi tên cụt lủn cắm vào khoảng không trắng xóa của nền da mây.
Lam Nhi cúi rạp người xuống, mũi gần như chạm vào mặt phẳng tài liệu. Theo một thói quen cơ thể đã được ông nội rèn giũa nghiêm ngặt từ năm cô mới lên bảy tuổi, Lam Nhi giơ bàn tay phải lên, nhẹ nhàng áp lòng bàn tay rồi miết năm đầu ngón tay mảnh dẻ lướt trên bề mặt thô ráp nhưng mịn màng kỳ lạ của những thớ sợi rễ Neo.
Và ngay khoảnh khắc ngón trỏ cùng ngón giữa của cô vừa chạm vào đường ranh giới mỏng manh phân định giữa Tầng Hành Trình và Tầng Sáng, Lam Nhi giật thót mình, toàn thân cô khẽ nảy lên như bị kim châm.
Một xung động vi tế, cực kỳ yếu ớt nhưng sắc nét đến rợn người, truyền thẳng qua lớp sợi rễ dệt, chạy dọc theo các đầu ngón tay, luồn qua các khớp xương rồi dội ngược lên sống lưng cô. Cảm giác ấy giống hệt như khi người ta áp sát tai vào một sợi dây đàn huyền cầm vừa buông lơi sau một nốt trầm hùng tráng, hay như khi ta chạm đầu ngón tay ướt vào một khối pha lê đang rung rinh dữ dội dưới tác động của tiếng chuông đại hồng chung ngân nga từ một ngôi chùa xa xăm trên đỉnh núi.
Lam Nhi nín thở, bất giác co rúm các ngón tay lại, giấu chặt bàn tay vào vạt áo chẽn.
Đây tuyệt đối không phải là lần đầu tiên cô trải qua cảm giác kỳ dị này.
Từ thuở còn là một đứa bé lẽo đẽo theo sau ông nội phân loại các mẫu mực khoáng chất hay phụ việc căng các tấm da mây lên giá gỗ, cô đã thỉnh thoảng cảm nhận được những nét vẽ như đang thở. Những vệt mực trên trang giấy đôi khi không phải là những đường nét vô tri vô giác, mà chúng rung rinh dưới da thịt cô như những sinh vật tí hon đang giãy giụa, co bóp tìm kiếm dưỡng khí.
Thế nhưng, chưa bao giờ cô dám hé răng nói nửa lời về điều đó với bất kỳ ai trên cõi đời này, kể cả với mẹ cô hay chính người ông nội kính yêu. Bởi lẽ, trong cái thế giới khuôn thước, xơ cứng của Phường Giữ Bản Đồ — nơi mà mọi thước tấc của bầu trời đều phải được quy chuẩn hóa bằng những chiếc thước kẹp cơ học lạnh tanh, những ống kính đo góc bằng đồng sáng loáng và các công thức toán học thực nghiệm khắt khe của Viện Hàn Lâm Khí Tượng — thì việc một đứa trẻ tuyên bố mình "cảm nhận được xung động của mực và nhịp đập của giấy" sẽ lập tức bị coi là trò tưởng tượng hão huyền, một biểu hiện của sự thiếu kỷ luật, hoặc tệ hại hơn cả, là dấu hiệu của chứng hoang tưởng tâm thần có thể làm sai lệch hoàn toàn các số liệu thực chứng của ngành hàng hải.
Lam Nhi vẫn nhớ như in mùa đông năm cô mười hai tuổi. Trong một buổi chiều phụ việc tại xưởng, cô đã lỡ tay dùng dao cạo sửa lại một con số đo áp suất trên bản nháp hải đồ Đảo Lam Bến chỉ vì một lý do ngây thơ: cô "cảm thấy con số cũ làm cho thớ giấy ở chỗ đó bị căng tức, đau đớn". Hậu quả của hành động bồng bột ấy là một trận lôi đình chưa từng có từ ông nội. Cô bị phạt úp mặt vào bức tường đá lạnh ngắt suốt nửa ngày trời, nhịn bữa tối, và phải chép phạt mười lần toàn bộ cuốn *Nguyên Lý Đo Khí Áp Thực Nghiệm* dày cộm của Viện Khí Tượng.
Từ sau biến cố cay đắng ấy, Lam Nhi đã tự tay chôn chặt bí mật kinh hoàng ấy vào tận đáy lòng sâu kín nhất. Cô học cách kìm nén mọi xúc cảm tự nhiên, dùng lý trí sắt đá và sự chính xác khô khan của các dụng cụ kim loại để khóa chặt giác quan kỳ lạ của mình lại, cố gắng trở thành một người học việc mẫu mực, ngoan ngoãn và chuẩn xác theo đúng khuôn mẫu mà xã hội mong muốn.
Nhưng ngay lúc này, xung động đang dội lên dưới mười đầu ngón tay cô rõ ràng đến mức không một lý lẽ thực nghiệm nào có thể phủ nhận được nữa.
Nó không phải là ảo giác sinh ra từ sự mệt mỏi hay căng thẳng. Nhịp đập ấy dồn dập, đều đặn và nhức nhối, mang một tần số rung động mãnh liệt hơn bất cứ thứ gì cô từng chạm vào trong suốt cuộc đời mình. Tấm da mây làm từ rễ cây đại thụ dường như đang trở thành một chiếc màng nhĩ khổng lồ, bắt trọn và cộng hưởng hoàn hảo với một lực kéo vô hình, tàn bạo nào đó đang trỗi dậy từ những tầng sâu thẳm nhất của Biển Mây. Nhịp đập ấy lúc trầm lắng như tiếng thở dài của đất đá, lúc lại rít lên chói gắt tương ứng với từng đường sợi dệt li ti.
Bông bước thêm hai bước ngắn lại gần mép giấy, chiếc mỏ nhọn màu vàng ngà của nó khẽ mổ nhẹ ba cái vào mu bàn tay Lam Nhi như một lời hối thúc, một sự sẻ chia can đảm đầy thầm lặng. Con chim nghiêng hẳn đầu sang một bên, cặp mắt tròn vo mở to trừng trừng nhìn vào khoảng không gian trống rỗng ở trung tâm tấm bản đồ. Toàn bộ lớp lông tơ quanh ngực nó phập phồng theo từng nhịp thở gấp gáp — một dấu hiệu bản năng không thể nhầm lẫn của loài chim mây khi chúng đánh hơi thấy một xoáy áp thấp kinh hoàng đang hình thành ngoài khơi xa, vượt ra ngoài tầm quan sát của mắt thường.
"Mày cũng cảm nhận được nó đang rạn nứt, đúng không Bông?" Lam Nhi thì thầm, giọng cô run rẩy trong bóng tối lờ nhờ.
Cô hít một hơi thật sâu, dằn lòng buông bỏ mọi sự phòng bị lý trí bấy lâu, rồi từ từ đặt cả hai bàn tay trần áp trọn lên mặt phẳng tấm da mây.
Lần này, Lam Nhi nhắm nghiền hai mắt lại. Bóng tối thị giác lập tức nhường chỗ cho sự bùng nổ của xúc giác. Toàn bộ ý thức của cô thu gọn lại nơi những đầu ngón tay nhạy cảm. Xung động từ tấm da mây truyền dẫn qua da thịt, biến thành một dòng chảy vô hình dẫn dắt bàn tay cô di chuyển lướt đi trên mặt phẳng. Bàn tay cô trượt qua vùng biển êm đềm của Đảo Lam Bến, lướt nhanh qua eo biển Gió Rít đầy hiểm trở, băng qua những bãi cạn mây xốp tích điện, rồi bất ngờ bị khựng lại, dính chặt vào một dải mực uốn lượn kỳ dị nằm ở góc phần tư phía đông bắc của bức đồ họa.
Khi Lam Nhi mở mắt ra, một cảnh tượng rùng mình ập vào võng mạc khiến hơi thở cô nghẹn cứng lại nơi cuống họng.
Những đường nét vẽ bằng mực phong vũ trên bề mặt tấm da mây đang thực sự biến đổi ngay trước mắt cô.
Mực phong vũ vốn là thành tựu rực rỡ và đáng tự hào nhất của các thế hệ bậc thầy bản đồ Vân Quốc. Được tinh chế từ túi mực của loài mực khổng lồ sống dưới đáy tầng sương đặc kết hợp với bột khoáng thạch cobalt nghiền mịn và nhựa của loài thông mây ngàn năm, loại mực này là một chất chỉ thị khí quyển sống động: nó luôn giữ một sắc lam ngọc thanh nhã, trong trẻo khi trời quang mây tạnh, áp suất khí quyển ở trạng thái cân bằng tuyệt đối; và chỉ khi trời chuyển mưa dông hay bão gió thông thường, mực mới từ từ sẫm màu lại thành một sắc xanh chàm trầm mặc.
Thế nhưng lúc này, sắc lam quen thuộc ấy đang nhanh chóng bị rút cạn đi như dòng máu rút khỏi một cơ thể đang chết dần.
Thay vào đó, từ sâu trong lõi của từng nét vẽ, một sắc tím ngắt, đục ngầu và nhờn nhợt bắt đầu đùn lên, loang lổ và gớm ghiếc.
Đó tuyệt đối không phải là màu tím dịu dàng của những đóa hoa chuông nở muộn trên vách đá hay ráng chiều tà nơi chân trời. Đó là thứ màu tím bầm giận dữ, nhớp nhúa của những khối mây tích điện cực hạn trước một cơn dông sét kim loại; màu của sự ngột ngạt ghê rợn khi toàn bộ áp suất của các tầng trời bị bóp nghẹt đến mức sắp vỡ tung. Từng vệt mực như đang sôi sùng sục một cách âm thầm; chất màu quánh đặc lại, phồng rộp lên, nổi gồ lên khỏi mặt phẳng của tấm da mây dệt từ rễ Neo như những đường gân máu đang co giật.
"Không thể nào... điều này không thể xảy ra được..." Lam Nhi lẩm bẩm trong sự hoảng loạn, hai đồng tử giãn to hết cỡ vì kinh hoàng. "Mực phong vũ chuyển sang sắc tím đục... Đây không phải là một cơn bão thông thường."
Những lời răn dạy nghiêm khắc của ông nội trong những đêm mùa đông hai ông cháu cùng ngồi trực bão bên ngọn đèn dầu bỗng chốc dội về trong tâm trí cô, rành rọt và sắc lạnh như từng nhát búa gõ vào đe:
*“Hãy nhớ cho kỹ, Lam Nhi: nếu một ngày nào đó con nhìn thấy mực phong vũ chuyển sang sắc tím ngắt đục ngầu, thì đó tuyệt đối không phải là sự biến đổi của thời tiết bề mặt hay những luồng gió tầng trung lưu. Đó là tiếng thét gào tuyệt vọng của Mạch Neo. Khi Mạch Neo bị rạn nứt hoặc chấn động ở tầng sâu, toàn bộ lực nâng vô hình của Vân Quốc sẽ bị xáo trộn tận gốc rễ, và các hòn đảo sẽ bắt đầu trôi dạt khỏi quỹ đạo sinh tồn ngàn đời của chúng.”*
Mạch Neo.
Mạng lưới năng lượng huyền thoại vô hình đan kết giữa các hòn đảo lơ lửng giữa trời, giữ cho toàn bộ nền văn minh của Vân Quốc không bị rơi tự do xuống khoảng không tăm tối vĩnh hằng bên dưới Tầng Mù. Suốt hàng trăm năm qua, những kẻ quan lại mũ cao áo dài trong Phường Giữ Bản Đồ và các học giả kiêu ngạo của Viện Hàn Lâm chỉ coi Mạch Neo như một giả thuyết mang tính biểu tượng trong những câu chuyện thần thoại cổ xưa của Những Người Canh Neo. Họ tự huyễn hoặc mình bằng những chiếc neo sắt và những sợi dây cáp đồng khổng lồ buộc nối giữa các mỏm đá.
Thế nhưng, sự biến đổi màu sắc dữ dội, nhớp nhúa của thứ mực sống này trên nền da mây rễ Neo chính là bằng chứng thực nghiệm tàn nhẫn và đanh thép nhất: Mạch Neo không phải là huyền thoại. Mạch Neo có thật, và nó đang phải chịu đựng những vết rạn nứt kinh hoàng.
Và thảm họa ấy đang diễn ra ngay trong chính những giây phút này, ở một góc trời xa xôi nào đó ngoài kia.
Tim đập thình thịch từng hồi như muốn xé toạc lồng ngực, Lam Nhi vội vã với tay kéo chiếc kính phóng đại quang học ba tròng mắt từ chiếc giá gỗ treo trên tường xuống. Đây là dụng cụ khảo sát quang học tinh xảo và đắt giá nhất mà ông Vân Kính sở hữu — chiếc kính với hệ thống thấu kính kép mài từ thạch anh nguyên khối khai thác ở Đảo Mỏ Sáng, có khả năng phân tách và bóc trần từng lớp mực phủ chồng lên nhau trên mặt giấy.
Cô run rẩy áp sát mắt vào thị kính bọc da, những ngón tay vặn nhẹ ốc vi chỉnh bằng đồng thau. Ánh sáng xanh lơ lạnh lẽo từ nhánh quả mọc rạn san hô của Bông rọi xiên qua lăng kính thạch anh, làm hiển lộ từng cấu trúc vi mô sâu kín nhất của những vệt mực màu tím bầm.
Ban đầu, khi mới nhìn lướt qua bằng mắt thường trong ánh sáng tù mù của căn phòng áp mái, Lam Nhi đã luôn đinh ninh rằng khu vực phía đông bắc tấm bản đồ này chỉ là những vệt mực loang hỏng do ông nội sơ ý làm rớt bút lông trong những đêm thức trắng mệt mỏi trước ngày lên đường.
Nhưng lúc này, dưới độ phóng đại mười lần của thấu kính thạch anh, sự thật trần trụi phơi bày khiến toàn thân cô run lên bần bật vì kinh ngạc.
Đó hoàn toàn không phải là những vết loang ngẫu nhiên của một nét vẽ hỏng.
Từng vệt mực tưởng chừng như hỗn loạn, vô trật tự ấy thực chất được tạo thành từ hàng ngàn đường đẳng áp khí động cực kỳ tinh vi, mảnh đến mức mắt thường chỉ có thể lầm tưởng là những thớ sợi tự nhiên của da mây. Ông nội đã dùng loại bút lông một sợi — thứ bút tỉ mỉ chỉ làm từ một sợi lông chồn tuyết duy nhất — để nén toàn bộ kiến thức khí tượng cả đời mình vào đây. Những đường cong áp suất ấy uốn lượn theo một quy luật khí động học nghiêm ngặt đến mức tàn nhẫn: chúng siết chặt lại ở các sườn dốc vô hình của các khối khí lạnh, dãn rộng ra ở những khoảng lặng gió nguy hiểm, và xoắn vặn ngược chiều kim đồng hồ quanh những túi khí rỗng không đáy.
Lam Nhi lia chậm rãi thấu kính theo dòng chảy cuồn cuộn của các đường đẳng áp. Đôi bàn tay cô nắm chặt lấy thân ống kính bằng đồng lạnh ngắt khi nhận ra hướng hội tụ kỳ dị của toàn bộ hệ thống khí động học phức tạp này.
Tất cả các dòng khí đối lưu, tất cả các véc-tơ gió mùa và những đường cong áp suất tím ngắt đều đang cuộn xoáy, đổ dồn về một tọa độ duy nhất.
Chúng vạch ra một hải trình vô hình xuyên qua những vùng trời cấm kỵ — nơi mà các bản đồ hàng hải thông thường chỉ dám đánh dấu bằng những biểu tượng đầu lâu xương chéo — men theo rìa ngoài đầy rủi ro của những rạn mây chết, và điểm mốc trung chuyển đầu tiên mà toàn bộ mạng lưới này nhắm thẳng tới chính là Đảo Đồng Hồ Thiên Phong.
"Đảo Thiên Phong..." Lam Nhi khẽ thốt lên qua bờ môi khô khốc.
Đó là hòn đảo bậc thang kỳ vĩ và cô lập của những cỗ máy thời gian khổng lồ và những cánh cối xay gió bằng đồng cao chọc trời, nơi cư dân không sống theo chu kỳ ngày đêm mà điều chỉnh nhịp sinh hoạt theo từng chu kỳ mở đóng của các cửa gió tự nhiên. Từ Đảo Lam Bến đến được Đảo Thiên Phong là một hành trình tử địa, phải vượt qua những luồng nghịch lưu xé toạc cánh buồm của Tầng Hành Trình, nơi không một thuyền trưởng thương mại nào dám bén mảng tới nếu không nắm trong tay một tấm hải đồ được cập nhật từng giờ theo nhịp thở của mây.
Tại sao ông nội lại bí mật vạch ra con đường dẫn tới hòn đảo cơ khí ấy? Và tại sao ông lại phải dùng đến thứ mực phong vũ cấm kỵ cùng chất liệu rễ Neo ngàn năm để mã hóa một tuyến đường nguy hiểm đến tột cùng như thế này?
Thế nhưng, chấn động ấy vẫn chưa dừng lại ở đó.
Khi Lam Nhi tiếp tục dịch chuyển thị kính theo những luồng khí xoáy đang gầm thét từ Đảo Thiên Phong hướng sâu hơn vào vùng bình lưu chưa từng có dấu chân người khám phá, cô chạm trán với tâm điểm thực sự của toàn bộ bức đồ họa.
Đó là một khoảng trống hình tròn hoàn hảo.
Khoảng trống ấy nhỏ thó, đường kính chỉ trơ trọi bằng một đồng xu bạc nhỏ, nằm lọt thỏm giữa những vòng xoáy khí động dữ dội và hỗn loạn nhất của biển mây. Điều kỳ quái đến mức phi lý, thách thức mọi định luật của ngành họa đồ chính là: ngay xung quanh mép của khoảng trống này, các đường đẳng áp tím ngắt bị bẻ cong một cách đột ngột và gắt gao, tựa như chúng vừa va phải một bức tường thành vô hình không thể nào xuyên thủng; thế nhưng ngay bên trong ranh giới của vòng tròn, bề mặt tấm da mây dệt từ sợi rễ Neo lại hoàn toàn phẳng lặng, sạch bong không tì vết.
Không có lấy một nét mực nào. Không có bất kỳ một con số kinh độ, vĩ độ nào được ghi chú. Không có chỉ số áp suất, không có độ cao so với Tầng Mù. Không có bất kỳ một ký hiệu hàng hải tiêu chuẩn nào của Phường Giữ Bản Đồ được phép xuất hiện tại đây.
Nó tựa như một lỗ đen nuốt chửng mọi thực tại, mọi thông tin của bầu trời Vân Quốc.
"Tại sao... tại sao ông lại để trống hoàn toàn ở điểm nút này?" Lam Nhi tự thì thầm với chính mình, trán cô rịn ra những giọt mồ hôi lạnh ngắt dù cho ngọn gió luồn qua khe cửa ngày một buốt giá.
Là một người học việc đã thấm nhuần từng điều răn của nghề nghiệp, cô hiểu sâu sắc nguyên tắc sống còn đầu tiên: một khoảng trống vô định trên hải đồ còn đáng sợ và nguy hiểm hơn gấp vạn lần một bãi đá ngầm hay một xoáy nước mây mù, bởi nó gieo rắc sự mù quáng và nỗi hoang mang tột độ cho người cầm lái giữa biển trời bao la. Một bậc thầy cẩn trọng, tỉ mỉ và luôn tôn sùng sự chính xác tuyệt đối như ông Vân Kính không bao giờ — tuyệt đối không bao giờ — để lại một khoảng trống vô nghĩa lý như thế này trên một tài liệu mang tính mạng của chính mình.
Lam Nhi cắn chặt môi đến mức nếm được vị tanh mằn mặn của máu. Cô ghé mắt sát hơn nữa vào thị kính, bàn tay run rẩy điều chỉnh lại góc chiếu của nhánh quả mọng phát sáng. Ánh sáng xanh lơ dìu dịu được bẻ cong, chiếu xiên một góc ba mươi độ quét ngang qua mặt phẳng của khoảng trống tròn trĩnh ấy.
Và rồi, dưới góc chiếu xiên đầy chuẩn xác của thứ ánh sáng thực vật huyền ảo, lớp màn bí mật cuối cùng ẩn giấu bên trong khoảng trống đã thực sự lộ diện.
Đó không phải là nét vẽ bằng mực. Đó là một ký hiệu được khắc chìm trực tiếp vào từng thớ sợi của rễ Neo bằng một công cụ nung nhiệt cực mảnh và sắc.
Một hình mỏ neo ba ngấn.
Chiếc mỏ neo không hề có dây xích buộc nối, ba chiếc ngấn cong vút xòe rộng ra như ba cánh hoa bằng thép tôi, kiêu hãnh ôm trọn lấy một vòng tròn đồng tâm nằm ở chính giữa. Từng đường khắc chìm mảnh mai như một sợi tơ nhện nhưng lại dứt khoát, sâu hoắm và sắc sảo đến mức làm đứt đoạn các mao mạch dẫn khí tự nhiên của lớp sợi dệt.
Trái tim Lam Nhi như ngừng đập trong một khoảnh khắc dài vô tận. Toàn bộ các giác quan của cô như bị hút chặt, bị ghim chết vào biểu tượng khắc chìm ma quái ấy.
Hình mỏ neo ba ngấn.
Đó tuyệt đối không phải là con dấu hay huy hiệu của bất kỳ bến cảng, trạm hải đăng, phường hội hay hoàng tộc nào đang cai trị cõi Vân Quốc hôm nay. Đó là biểu tượng độc nhất vô nhị chỉ từng xuất hiện trong những câu chuyện cổ tích xa xưa nhất, mông lung nhất mà mẹ cô thỉnh thoảng vẫn kể bên bếp củi thông vào những đêm bão tuyết mây mù mịt: dấu ấn của Những Người Canh Neo nguyên thủy, và là biểu tượng duy nhất của Đảo Neo huyền thoại.
Đảo Neo — hòn đảo thần thoại được xưng tụng là cội nguồn của mọi lực nâng, quả tim đang đập của toàn bộ thế giới nổi, nơi neo giữ hàng ngàn hòn đảo bồng bềnh không bị chìm nghỉm vào vực sâu không đáy của Tầng Mù. Người xưa vẫn truyền tụng rằng Đảo Neo không bao giờ đứng yên ở một tọa độ cố định trên bất kỳ một bản đồ nào; nó trôi dạt không ngừng theo nhịp thở sâu kín nhất của trời đất, và chỉ có những ai lắng nghe được tiếng thì thầm của gió, thấu hiểu được sự biến chuyển vi mô của Mạch Neo mới có thể tìm thấy cánh cửa bước vào.
Ông nội cô không hề mất tích trong một tai nạn khảo sát tầm thường như những lời đồn đại độc ác ngoài bến cảng.
Ông đã đi tìm Đảo Neo.
Và tấm Bản Đồ Mây kỳ vĩ này, với những đường mực tím ngắt đang run rẩy dưới sự xáo trộn kinh hoàng của áp suất, chính là cánh cửa, là một giao diện sống động mà ông đã đánh đổi cả cuộc đời nghiên cứu, chắt lọc từng giọt mồ hôi và máu để mở ra — một giao diện định mệnh mà ông buộc phải bỏ dở giữa chừng vì một biến cố thảm khốc nào đó đã ập đến với Mạch Neo.
Một cơn chấn động tâm lý khủng khiếp khiến Lam Nhi lảo đảo, bước chân cô lùi giật lại phía sau. Chiếc ghế đẩu ba chân va mạnh vào mép bàn gỗ gụ, phát ra một tiếng "cộc" khô khốc vang dội giữa căn phòng áp mái tĩnh mịch.
Cô bàng hoàng nhìn xuống đôi bàn tay trần của mình. Những đầu ngón tay vẫn còn cảm giác tê rần, buốt nhói, một xung động âm ỉ tựa như những luồng điện yếu ớt vẫn đang không ngừng luồn lách dưới từng thớ thịt. Lời dặn dò cuối cùng của ông nội lại một lần nữa vang vọng bên tai cô, sáng rõ, đanh thép và chói lòa như một tia chớp xé toạc màn đêm:
*“Bầu trời thực sự không bao giờ có đường thẳng... Có những hòn đảo không bao giờ chịu nằm yên trên những đường kẻ mà người ta ấn định cho chúng.”*
Ông đã để lại tấm bản đồ này cho cô.
Không phải cho những vị quan thanh tra hống hách của Phường Giữ Bản Đồ, không phải cho những tên lái buôn cơ hội, tham lam của Hội Kim Phong, mà là cho chính cô — đứa cháu gái mang trong mình khả năng bẩm sinh cảm nhận được nhịp đập của mực và tiếng thở của giấy, một khả năng mà chính ông đã âm thầm quan sát, che chở và tôi luyện suốt bao năm qua dưới cái vỏ bọc của sự nghiêm khắc, kỷ luật.
Nỗi sợ hãi mơ hồ, sự tự ti bấy lâu dần dần tan biến, nhường chỗ cho một ngọn lửa quyết tâm mãnh liệt bùng cháy trong lồng ngực gầy guộc của cô bé mười lăm tuổi. Ông nội đang mắc kẹt ở ngoài kia, giữa những dòng nghịch lưu dữ dội của một Mạch Neo đang rạn nứt, tại một tọa độ mà không một con tàu cứu hộ nào của triều đình có thể lần ra được. Nếu cô không hành động, nếu cô không can đảm bước tiếp để giải mã những bí mật còn dang dở trên tấm da mây này, thì trên cõi đời này sẽ vĩnh viễn không một ai có thể tìm thấy ông nữa.
Nhưng làm sao một đứa trẻ học việc non nớt, một kẻ thậm chí mỗi lần bước ra mép ván cầu tàu không có lan can bảo vệ vẫn còn run rẩy đến mức bủn rủn cả hai đầu gối, lại có thể vượt qua hàng ngàn dặm Biển Mây đầy rẫy hiểm nguy và bão tố?
Lam Nhi từ từ siết chặt hai bàn tay lại thành nắm đấm, móng tay cắm sâu vào lòng bàn tay đau nhói để níu giữ sự tỉnh táo và bình tĩnh cuối cùng. Cô quay sang nhìn Bông. Con chim cánh mây dường như cũng cảm nhận được ngọn lửa đang cuộn trào dữ dội trong tâm trí cô bé chủ nhân nhỏ; nó nhảy lùi lại một bước trên mặt gỗ, xòe rộng đôi cánh trắng muốt viền xám tro ra hết cỡ rồi thu lại một cách dứt khoát, chiếc đầu nhỏ ngẩng cao kiêu hãnh, đôi mắt hạt cườm đen ánh lên một sự tin cậy tuyệt đối.
Đúng lúc ấy, một ngọn gió lạ từ bên ngoài thốt nhiên thốc mạnh qua khung cửa sổ thông gió.
Gió đêm nay lạnh hơn thường lệ một cách bất thường. Nó mang theo mùi tanh nồng của hơi nước đóng băng từ Tầng Sáng và mùi khét lẹt đặc trưng của những đám mây sấm sét kim loại từ tầng cao đang cuồn cuộn tràn xuống. Những mô hình đảo treo bằng đồng thau trên trần xưởng vẽ va đập vào nhau loảng xoảng, chát chúa, tạo nên một bản hợp xướng hỗn loạn, gắt gao chưa từng thấy.
Ngọn đèn dầu thông đặt trên bàn bùng lên một tia lửa đỏ quạch rồi chao đảo dữ dội, hắt những cái bóng đen ngoằn ngoèo, méo mó nhảy múa điên cuồng trên vách tường gỗ thông.
Bông đột ngột quay ngoắt đầu về phía khung cửa sổ hướng ra biển mây. Toàn bộ lớp lông vũ trên lưng nó xù đứng lên như gai nhím, cổ vươn dài ra phía trước, đôi tai ẩn sâu dưới lớp lông tơ khẽ giật giật liên hồi như đang bắt trọn một tần số âm thanh kỳ dị vừa xé toạc màn sương đêm tĩnh mịch.
Từ phía bến cảng mờ mịt xa xăm của Đảo Lam Bến, tiếng một hồi chuông cảnh báo áp suất trầm đục từ trạm hải đăng bắt đầu gióng lên từng hồi dồn dập: ba tiếng ngắn xé lòng, nối tiếp bằng một tiếng ngân dài u uất — tín hiệu báo trước một đợt sụp đổ luồng khí quyển thảm khốc của mùa gió chuyển trục.
Thế nhưng, xen lẫn giữa tiếng chuông cảnh báo xa xăm và tiếng gầm gào của gió mùa, Lam Nhi nghe thấy một âm thanh khác.
Một âm thanh gần hơn rất nhiều, nặng nề, dồn dập và hung hãn.
Đó là tiếng cánh đập xé toạc màn sương gió, một tiếng rít cơ khí nặng trịch đang lao vun vút trong bóng đêm, nhắm thẳng về phía ngọn tháp áp mái của xưởng vẽ Vân Kính.
Bông rít lên một tiếng ngắn đầy cảnh giác, những chiếc móng vuốt sắc nhọn bám chặt vào mép rãnh bàn gỗ gụ, đôi mắt quắc lên nhìn trừng trừng vào khoảng tối đen ngòm thăm thẳm ngoài khung cửa sổ đang rung lên bần bật dưới sức ép nghẹt thở của ngọn gió đêm.