Một Năm Học Lại Cách SốngC.18 / 24
Chương 18

Tiếng nói thầm lặng của bà Liên

Con hẻm nhỏ dẫn sâu vào khu nhà trọ công nhân bốc lên thứ mùi nồng nặc và quen thuộc của những ngày mưa dầm: mùi ẩm mốc bám chặt trên những bức tường gạch ba-vanh chưa trát vữa, mùi dầu máy khét lẹt phả ra từ các xưởng gia công bán lộ thiên, cùng mùi rác ẩm dồn ứ nơi miệng cống lộ thiên chưa kịp khơi thông dòng chảy. Sau cơn mưa rào sầm sập lúc xế chiều, bầu trời sụp xuống thành một vòm chì xám xịt, nặng nề trĩu xuống những mái tôn lượn sóng rỉ sét. Từng chặp gió thổi thốc qua hẻm hẹp chỉ làm cho cái không khí oi nồng, quánh đặc thêm ngột ngạt, mang theo tiếng lách cách ròn rã, đều đặn đến gai người của hàng chục chiếc máy may công nghiệp đang chạy hết công suất từ những căn phòng chật chội chưa đầy mười lăm mét vuông nằm san sát nhau hai bên lối đi.

Nước mưa ứ đọng thành từng vũng lớn màu xám đục loang loáng váng dầu trên mặt đường bê tông đã vỡ vụn trơ cả sỏi đá, phản chiếu chằng chịt những sợi dây phơi bằng thép bọc nhựa giăng mắc ngang dọc như mạng nhện. Trên đó, những bộ quần áo bảo hộ lao động dày cộp bạc phếch màu chàm, những chiếc áo thun cáu bẩn vệt mồ hôi muối và cả những tấm tã lót trẻ con đang rỏ nước tong tòng xuống nền đất nhầy nhụa. Khói từ những bếp than tổ ong nhóm dở đặt ở góc chân cầu thang chung quẩn quanh không thoát đi đâu được, cay xè, quyện chặt với bụi xơ vải bông bay lơ lửng, khiến lồng ngực người ta cứ thắt lại sau mỗi nhịp thở.

An bước chậm lại, chiếc đế giày vải đã ngấm nước lạnh buốt. Cô cẩn thận né một gờ cống xi măng sứt mẻ trơn tuột vì rêu xanh, mắt chăm chú nhìn theo bóng lưng của Đỗ Hải Yến đang đi phía trước. Yến che chiếc ô vải màu xanh sẫm đã sờn mép, một tay giữ chắc quai chiếc túi vải thô nặng trĩu mấy hộp sữa kim loại và một túi cam sành trĩu mọng nước mua vội ở sạp hoa quả đầu dốc.

“Căn số mười hai ở tận cuối dãy hành lang bên phải,” Yến nói nhỏ, hơi nghiêng đầu về phía An để giọng nói không bị nuốt chửng bởi tiếng rè rè đinh tai nhức óc phát ra từ những chiếc quạt lồng sắt cũ kỹ đang quay lắc lư trong các ô cửa sổ mở he hé. “Mấy hôm trước chị gọi điện ba lần vào các khung giờ khác nhau, nhưng đầu dây bên kia chỉ nghe tiếng chuông đổ dồn dập đến hết hồi rồi tự ngắt ngang. Nhắn tin Zalo hỏi thăm tình hình cũng chỉ hiện một dấu tích màu xám tro lì lợm suốt mấy ngày liền. Chị đoán chỉ có hai khả năng: hoặc là xưởng may dồn ép ca kíp đến mức cô ấy không còn lấy một phút rảnh tay để nhìn vào màn hình, hoặc là cô ấy đã quyết định lẳng lặng rút lui như cái cách mà cô ấy từng trốn tránh trong đợt sinh hoạt đầu tiên.”

An khẽ siết chặt quai ba lô trước ngực. Một cảm giác bồn chồn, nôn nao quen thuộc lại âm ỉ dâng lên sau gáy cô. Trong danh sách theo dõi tiến độ của Nhóm Bản Đồ Mở tại Thư viện Bình Minh, ba ô trống màu xám tro nằm thẳng hàng bên cạnh cái tên Hoàng Thị Liên cứ ám ảnh An suốt cả tuần nay. Ba dấu vắng mặt liên tiếp không một lời nhắn, không một dòng giải thích, nó lạnh lùng như một vết rạch dứt khoát trên tờ giấy chấm công.

Sau đợt sóng gió dữ dội với Nhóm Học Nhanh của Tạ Hoàng Long và cơn bão độc hại về thành tích vừa được dập tắt trên không gian mạng, An dần nhận ra một quy luật đau đớn: những người chịu tổn thương sâu sắc nhất bởi thứ giáo dục bề nổi, chạy theo áp lực hào nhoáng thường không phải là những người lớn tiếng tranh cãi hay viết những bài phân trần dài dòng trên mạng xã hội. Họ là những người luôn chọn cách biến mất trong sự im lặng tuyệt đối. Họ không phẫn nộ, không đòi hoàn tiền, không tranh luận đúng sai; họ chỉ lẳng lặng thu mình lại, nép sâu hơn vào bóng tối của những xưởng may gia công mịt mù bụi vải và những căn phòng trọ ẩm thấp không bao giờ có ánh mặt trời rọi tới.

Đi hết dãy hành lang dài hun hút phảng phất mùi ẩm mốc của xi măng mục, hai người dừng lại trước cửa phòng số mười hai. Cánh cửa bằng tôn mỏng dính sơn màu xanh lá mạ đã bong tróc từng mảng lớn, để lộ những mảng rỉ sét màu nâu sẫm lở loét quanh mép và then cài.

Yến đưa tay gõ nhẹ ba tiếng dứt khoát lên mặt tôn: *Cộc. Cộc. Cộc.*

Bên trong phòng, tiếng quạt sắt đang rít rền bỗng im bặt vài giây ngắn ngủi. Tiếp đó là tiếng dép xốp mòn gót kéo lê lẹt xẹt, ngập ngừng trên nền gạch tàu. Cánh cửa hé mở thật chậm, tạo thành một khe hẹp chỉ vừa bằng bàn tay. Qua khe cửa, gương mặt hốc hác, nhợt nhạt với hai quầng mắt thâm đen của bà Hoàng Thị Liên dần lộ ra. Chiếc áo thun bạc màu bà đang mặc bám đầy những sợi chỉ vụn li ti và lớp bụi vải bông trắng xóa bám dính trên ngực áo. Khi nhận ra hai vị khách ướt sũng đang đứng dưới mép mái tôn đang dột từng giọt nước mưa lộp độp, đôi mắt bà mở to, rồi một thoáng bối rối xen lẫn nỗi ái ngại, ngượng ngùng lập tức quét qua đôi con ngươi đục mờ vì thiếu ngủ.

“Chị Yến... cháu An? Sao... sao hai người lại tìm tới tận đây?”

Bà Liên lắp bắp, vội vàng kéo then cài mở rộng cánh cửa hơn một chút. Nhưng bàn tay khô ráp gầy guộc của bà lại lúng túng túm chặt lấy vạt áo thun bạc màu, ngập ngừng kéo xuống như muốn che đi sự ngổn ngang, bừa bộn đến trần trụi bên trong căn phòng phía sau lưng mình.

“Tụi cháu ghé thăm cô một chút thôi ạ,” Yến mỉm cười dịu dàng, bước lên nửa bước, thanh âm ấm áp và tự nhiên như thể việc lặn lội qua quãng đường ngập ngụa nước bùn chỉ là một chuyến tản bộ thông thường. “Thấy cô vắng mặt ba tuần liền ở thư viện, điện thoại gọi mấy lần không liên lạc được, cả nhóm ai cũng lo lắng sợ cô bị cảm sốt hay ốm đau giữa lúc thời tiết thất thường thế này.”

“Trời đất ơi, vào... vào trong nhà đi hai người. Nhà cửa chật chội, bừa bộn quá, tôi vừa chợp mắt dậy chưa kịp dọn dẹp quét tước gì cả.”

Bà Liên vội vã né người sang một bên, ngượng ngùng giục hai người bước qua bậc cửa cao hơn một gang tay—chiếc gờ xi măng được xây chắp vá cốt để ngăn nước cống tràn vào mỗi khi triều cường hoặc mưa lớn.

Căn phòng trọ chưa đầy mười lăm mét vuông ngập tràn một thứ ánh sáng vàng vọt, tù mù phát ra từ bóng đèn tuýp ba mươi sáu oát đã đen sẫm hai đầu sợi đốt. Không gian chật đến mức dường như mọi đồ vật đều phải đè nghiến lên nhau để giành chỗ thở. Một chiếc đệm đơn bằng mút xẹp lép gấp mép kê sát góc tường gỉ sét; ngay sát bên cạnh là chiếc máy may gia đình đạp chân loại cổ lỗ sĩ, bàn đạp sắt đã hoen rỉ lem nhem, bên trên phủ tạm một tấm bao bố gai sờn rách. Trên chiếc bàn xếp bằng nhựa màu đỏ đã bạc màu kê cạnh bình ga mini và chiếc bếp đơn cáu bẩn dầu mỡ là hai vỏ hộp mì tôm ăn dở sợi mì khô cứng dính chặt vào đáy xốp, vài vỉ thuốc giảm đau sủi bọt đã bị bóc nham nhở, cùng một cuốn sổ tay bìa cứng gấp nếp nằm chỏng chơ bên cạnh chiếc kéo cắt chỉ bằng thép đen.

Bà Liên cuống quýt đưa tay vơ vội mấy mảnh vải vụn cùng mớ chỉ rối vương vãi trên chiếc ghế nhựa duy nhất trong phòng, rồi hấp tấp kéo thêm chiếc thùng các-tông đựng mì tôm lật úp lại ở góc nhà, lấy vạt áo lau thật mạnh lên mặt bìa để làm chỗ ngồi cho An.

“Hai người ngồi tạm... ngồi tạm xuống đây, tôi rót miếng nước sôi. Mưa gió thế này mà phải lặn lội xuống tận cái xóm công nhân nước ngập này, khổ quá, tôi ngại với hai người quá.”

“Cô Liên đừng bận tâm, tụi cháu ngồi đâu cũng được mà,” An vội vàng bước tới đỡ lấy chiếc thùng các-tông từ tay bà, khẽ đặt túi cam sành trĩu nặng lên mép chiếc bàn nhựa ọp ẹp.

Ở khoảng cách gần, cô nhìn thấy rất rõ đôi bàn tay của người phụ nữ lớn tuổi đang run rẩy nhè nhẹ khi với lấy chiếc phích nước bằng sắt rỉ sét để rót nước vào hai chiếc cốc thủy tinh cáu cặn trà vàng khè. Đôi bàn tay ấy thô ráp đến tội nghiệp: những ngón tay gầy guộc cong queo vì cầm kéo và giữ vải suốt mấy chục năm trời, các đầu ngón tay chai sần đóng thành từng mảng sừng dày cộp, móng tay gãy cụt và nứt nẻ sâu hoắm thành từng kẽ đen vì tiếp xúc liên tục với hóa chất tẩy màu công nghiệp và sự cọ xát không ngừng nghỉ của sợi chỉ thô.

Yến hai tay đón lấy ly nước ấm bốc khói mỏng manh, áp lòng bàn tay vào thành cốc để tìm chút hơi ấm xua đi cái lạnh của mưa gió ngoài đường, rồi nhẹ nhàng nhìn vào mắt bà Liên:

“Xưởng may đợt này ép hàng gắt gao lắm phải không cô?”

Chỉ một câu hỏi ngắn gọn chạm đúng vào nỗi niềm u uất đang đè nặng, đôi vai gầy guộc của bà Liên bỗng chùng xuống rõ rệt, như thể lớp vỏ bọc gượng gạo, cố tỏ ra bình thản mà bà vừa gắng gượng khoác lên nãy giờ đã vỡ vụn. Bà ngồi thụp xuống mép tấm đệm đơn xẹp lép, hai tay buông thõng trên đầu gối, thở hắt ra một hơi dài khô khốc nghe như tiếng gió rít qua khe cửa tôn.

“Không giấu gì chị Yến với cháu An... cả tháng nay xưởng may Thành Đạt nhận cái hợp đồng gia công gấp lô áo khoác gió xuất khẩu sang bên châu Âu. Quản đốc ép toàn bộ công nhân phải tăng ca đêm liên tục, từ sáu giờ tối hôm trước ròng rã cho đến tận sáu giờ sáng hôm sau. Mỗi tiếng đồng hồ trôi qua, định mức giao xuống là phải ráp cho xong bốn mươi cái cổ áo khoác hai lớp. Cổ áo này may khó lắm, đường may phải thẳng tắp, đường viền không được lệch một ly, chỉ cần chậm một phút thôi là tổ trưởng đứng ngay sau lưng ghi biên bản, cắt sạch tiền chuyên cần của cả tháng.”

Bà giơ hai bàn tay lên ngang mặt. Dưới ánh đèn tuýp leo lắt, những đường gân xanh nổi ngoằn ngoèo, giật giật từng hồi dưới lớp da mỏng dính đầy vết đâm của đầu kim may.

“Cứ mỗi lần chuông báo hết ca reo lên, bước chân rời khỏi cái máy may công nghiệp là hai mắt tôi hoa lên, đầu óc quay cuồng lảo đảo như say sóng. Về đến cái phòng trọ này là đã hơn bảy giờ sáng, người ngợm mệt lả không buồn tắm rửa, chỉ kịp đổ nước sôi nuốt vội gói mì tôm cho có cái vào bụng rồi lăn ra đệm ngủ thiếp đi. Nhưng mà ban ngày ở cái xóm trọ này thì làm sao mà ngủ cho tròn giấc được hả cô Yến? Tiếng trẻ con khóc thét bên phòng cạnh, tiếng cãi cọ chửi bới, tiếng xe tải chở hàng gầm rú ngoài đường lớn cứ dội thẳng vào tai làm tôi giật mình thon thót suốt. Ngủ chập chờn được ba bốn tiếng thì mồ hôi ướt đầm cả lưng vì mái tôn hầm hập như cái lò nung, lại phải lục đục thức dậy nấu cơm, giặt giũ mấy bộ quần áo dính đầy bụi vải rồi chuẩn bị đồ đạc để sáu giờ lại xách cặp lồng vào xưởng bắt đầu ca mới. Người ngợm rã rời, xương cốt từ thắt lưng xuống đến hai đầu gối đau nhức buốt đến tận óc. Chiều thứ Bảy vừa rồi, tôi cũng định bụng tắm rửa tử tế để đón xe buýt lên thư viện với mọi người, nhưng vừa ngồi xuống mép giường xỏ quai dép thì mắt díp lại, ngủ gục luôn xuống đệm tới tận tối mịt. Tôi kiệt sức quá... thật sự không thể nào nhấc nổi hai cái chân lên để theo kịp lịch sinh hoạt ban ngày của mọi người được nữa.”

An ngồi lặng đi trên chiếc thùng các-tông, đưa mắt nhìn những vết bầm tím loang lổ trên cẳng tay bà Liên—dấu tích của việc tì quá lâu vào thanh chắn kim loại của chiếc bàn máy may công nghiệp trong suốt mười hai tiếng đồng hồ mỗi đêm. Trong khoảnh khắc ấy, cô bất giác nhớ lại cảm giác tê liệt, trống rỗng tột cùng của chính bản thân mình trong căn phòng họp ngột ngạt ở công ty Sao Bắc vào những ngày tháng bị cuốn vào guồng quay nhồi nhét caffeine vô tội vạ. Nhưng cô hiểu sâu sắc rằng, cái mệt mỏi của một người lao động chân tay nơi đáy tầng xã hội thậm chí còn tàn khốc và trần trụi hơn gấp bội. Nó hoàn toàn không cho phép người ta có một khoảng đệm an toàn nào để hít thở, không có một ngày nghỉ ốm có lương, bởi vì mỗi một giờ đồng hồ dừng lại, mỗi một ca làm việc bỏ dở đều đồng nghĩa với việc bị trừ bớt đi những đồng tiền còm cõi dùng để đong từng bát gạo, mua từng vỉ thuốc giảm đau cho những cơn sốt bất chợt.

“Cô không cần phải áy náy hay tự trách mình đâu ạ,” An nói khẽ, giọng cô chùng xuống, chất chứa một sự xót xa chân thành. “Sức khỏe và sự an toàn của cô luôn là điều quan trọng nhất đối với tụi cháu. Tụi cháu tìm tới đây chỉ vì sợ cô gặp chuyện không may, ốm đau một mình giữa xóm trọ mà không có ai hay biết để đỡ đần thôi.”

Bà Liên ngước nhìn An. Trong đôi mắt kèm nhèm đục mờ vì khói bụi xưởng may ánh lên một vẻ biết ơn sâu sắc, nhưng ngay sau đó, ánh nhìn ấy lại vội vã cụp xuống, lảng tránh sang góc nhà ẩm ướt. Đôi môi thâm khô nứt nẻ của bà khẽ mấp máy, run rẩy. Bà đưa bàn tay gầy guộc với lấy chiếc điện thoại thông minh loại cũ nát màn hình chằng chịt như mạng nhện đang cắm dây sạc ở góc tường. Trên màn hình mờ đục, các dải đèn thông báo cứ nhấp nháy sáng liên tục bởi những tin nhắn tự động nhắc nợ.

“Thực ra... không phải chỉ có mỗi chuyện tăng ca kiệt sức đâu hai cháu,” giọng bà Liên bỗng nghẹn lại, lạc hẳn đi giữa tiếng mưa rỉ rích đang gõ lộp bộp trên mái tôn. “Tôi xấu hổ lắm. Ba tuần nay tôi không dám bước chân đến thư viện, cũng không dám nhắn một dòng tin cho chị Yến... là vì tôi thấy bản thân mình vô dụng quá. Tôi thấy mình như một cục nợ, một gánh nặng của cái nhóm Bản Đồ Mở ấy.”

“Sao cô lại nghĩ như vậy ạ?” Yến ngồi dịch lại gần hơn trên chiếc ghế nhựa, nhẹ nhàng đặt bàn tay ấm áp của mình lên đầu gối khẳng khiu, run rẩy của bà Liên.

Lời hỏi han dịu dàng như chiếc chìa khóa mở toang chiếc van chịu đựng cuối cùng. Những giọt nước mắt bắt đầu ứa ra từ khóe mắt chằng chịt nếp nhăn của người đàn bà năm mươi hai tuổi. Bà vội vàng đưa mu bàn tay thô ráp quệt ngang gò má, nhưng dòng nước mắt mặn chát cứ thế trào ra không dứt, lăn dài qua những rãnh nhăn sâu hoắm in hằn dấu vết của nửa đời người lam lũ.

“Từ bé đến lớn... tôi chưa từng dám mở miệng nói với ai chuyện này, kể cả với chồng con tôi trước đây,” bà Liên sụt sùi, từng tiếng nói nghẹn ngào bật ra từ lồng ngực như bị ai bóp nghẹt. “Hồi nhỏ nhà nghèo rớt mồng tơi, tôi chỉ học hết lớp ba trường làng rồi phải nghỉ học ở nhà đi chăn trâu, cắt cỏ, mót khoai mót sắn. Nhưng sự thật không phải chỉ vì nhà nghèo mà tôi bỏ học... mà là vì cái đầu óc của tôi nó có tật từ trong trứng nước. Cứ mỗi lần mở trang sách in chữ ra nhìn vào, là các mặt chữ cái nó cứ nhảy múa, xoay tròn, đảo lộn tung tóe hết cả lên. Chữ nọ nó xọ sang chữ kia, mắt nhìn thấy chữ ‘A’ mà đầu lại đọc ra chữ ‘O’, đánh vần một dòng ngắn ngủn mà mất cả buổi trời vẫn không ghép nổi thành một câu có nghĩa. Hồi đó thầy giáo trường làng mắng tôi là đồ dốt nát, đồ lười biếng, lấy thước kẻ lim vụt tím cả mu bàn tay. Lớn lên đi làm công nhân may, tôi chẳng dám nhìn vào bảng hướng dẫn quy trình, chỉ biết đứng nhìn người ta làm mẫu rồi bắt chước làm theo từng đường kim mũi chỉ. Ở xưởng may hay mỗi lần phải ra phường làm giấy tờ gì, tôi toàn phải nói dối quanh co là mình để quên kính lão ở nhà, rồi ngượng ngùng nhờ người ta đọc hộ hoặc nhắm mắt ký bừa vào góc dưới tờ giấy.”

Bà đưa cả hai bàn tay ôm chặt lấy mặt, bờ vai gầy nhom rung lên bần bật theo từng tiếng nấc nghẹn. Nỗi mặc cảm đè nén, giấu kín suốt hơn năm mươi năm cuộc đời bỗng chốc phơi bày trần trụi giữa bốn bức tường xi măng ẩm thấp.

“Đợt trước ngồi ở thư viện, thấy cháu An phát tài liệu in chữ li ti chi chít, thấy thằng bé Huy ngồi gõ bàn phím máy tính thoăn thoắt nhoay nhoáy, tôi ngồi ở góc bàn mà sợ đến toát mồ hôi hột ra ướt đẫm cả sống lưng. Tôi thèm học lắm chứ! Tôi thèm tự đọc được cái bảng thông báo tăng ca, thèm đọc được cái phiếu lương xem người ta trừ tiền bảo hiểm của mình thế nào, thèm tự tay tra được cái sổ bảo hiểm xã hội xem sau này về già mắt mờ chân chậm có được hưởng đồng lương hưu nào không... Nhưng mà tôi không đọc nổi! Càng cố căng mắt ra nhìn vào những con chữ in ngay ngắn trên trang giấy, đầu óc tôi lại buốt nhói lên như có hàng trăm mũi kim châm thẳng vào màng tang. Tôi thấy mình dốt nát quá, ngồi giữa một đám người giỏi giang như thế, tôi chỉ làm vướng chân vướng tay mọi người...”

An siết chặt hai bàn tay lại trong lòng, móng tay bấm sâu vào da thịt. Từng lời thú nhận đẫm nước mắt của bà Liên như một gáo nước lạnh tạt thẳng vào những tư duy giáo dục hàn lâm mà bấy lâu nay cô vẫn vô thức mang theo. Đó chính là chứng khó đọc mặt chữ—một dạng rối loạn học tập mang tính thần kinh sinh học vốn đã được y học và tâm lý học thế giới công nhận từ lâu. Thế nhưng, đối với những đứa trẻ sinh ra trong cảnh nghèo đói cùng cực ở những làng quê hẻo lánh như bà Liên cách đây mấy chục năm, làm gì có ai biết đến hai chữ “chẩn đoán”. Xã hội và trường học thời đó chỉ đơn giản dán lên trán những đứa trẻ ấy một chiếc nhãn tàn nhẫn: “chậm chạp”, “kém cỏi” hay “dốt nát bẩm sinh”. Và thế là, họ phải mang theo bản án bất công đó, sống cả một đời trong sự tự ti, mặc cảm và nỗi sợ hãi tri thức đến cùng cực.

“Chưa hết đâu cô Yến, cháu An ơi...” Bà Liên gạt nước mắt, run rẩy đứng dậy bước tới mép chiếc bàn nhựa. Bà kéo ngăn kéo nhỏ xộc xệch, lôi ra một tờ giấy in nhiệt mỏng dính, chữ mực in đã mờ căm và mép giấy đã nhàu nát vì bị vò đi vò lại nhiều lần. “Hồi năm ngoái, nghe mấy đứa trẻ con trong xưởng may kháo nhau ầm ĩ trên mạng xã hội về mấy cái lớp học làm giàu cấp tốc, học cách thay đổi số phận của cậu Tạ Hoàng Long gì đấy bên Nhóm Học Nhanh. Họ quảng cáo trên mạng hay lắm, họ bảo chỉ cần mua khóa học là có chuyên gia cầm tay chỉ việc, công nhân hay người quét rác ít học cỡ nào cũng làm chủ được công nghệ, cũng kiếm được tiền triệu mỗi ngày mà không cần phải bục mặt bên máy may nữa. Tôi khát khao đổi đời quá, tôi muốn kiếm chút tiền dưỡng già... nên tôi đã giấu tiệt mọi người, bấm bụng đi vay nóng trên một cái ứng dụng điện thoại hết năm triệu bạc để đóng tiền mua cái gói bài giảng trực tuyến của họ...”

Bà Liên ném tờ biên nhận nợ nhàu nhĩ lên mặt bàn xếp, bật ra một tiếng cười cay đắng, xót xa đến thắt lòng.

“Năm triệu bạc đối với người thành phố các cháu có khi chỉ là vài bữa ăn, nhưng với một bà thợ may như tôi, nó là mồ hôi nước mắt của cả một tháng rưỡi ròng rã tăng ca đêm, lưng còng rạp bên bàn máy. Đóng tiền xong xuôi, họ gửi cho tôi mấy cái đường dẫn vào xem video bài giảng. Tôi hý hửng mở lên xem, nhưng trời ơi, trong màn hình toàn là những thuật ngữ đao to búa lớn bằng tiếng Tây tiếng U mà cả đời tôi chưa từng nghe thấy bao giờ: nào là ‘chuyển đổi tư duy đột phá’, nào là ‘quản trị thời gian ma trận’, rồi ‘tối ưu hóa năng suất đa tầng’. Tôi nghe như vịt nghe sấm, nhìn lên màn hình điện thoại thì chữ nghĩa với sơ đồ chạy loằng ngoằng như mạng nhện. Tôi không hiểu nổi một chữ, không tiếp thu được một câu nào cả! Đến khi tôi đánh bạo bấm số gọi lên tổng đài hỗ trợ của họ để xin người ta hướng dẫn lại từ từ, thì cái cô nhân viên đầu dây bên kia lạnh lùng bảo tôi rằng: nếu không hiểu là do bản thân tôi thiếu quyết tâm, do tôi không có đủ tính kỷ luật của người thành công, và nếu muốn có người kèm riêng một-một thì phải nộp thêm mười triệu đồng nữa! Bây giờ khóa học thì bỏ xó không dùng được một giây nào, mà mỗi tháng tôi vẫn phải cắn răng trích ra một triệu hai trăm ngàn tiền lương mồ hôi nước mắt để trả góp cả tiền gốc lẫn tiền lãi cắt cổ cho cái ứng dụng vay tiền đó. Tôi dại dột quá... tôi xấu hổ đến mức không còn mặt mũi nào dám bước chân tới cái thư viện thanh sạch của các cháu nữa!”

Căn phòng trọ chìm nghỉm vào một khoảng lặng nặng nề, ngột ngạt. Chỉ còn lại tiếng trục quạt sắt kêu lạch cạch đều đặn và tiếng những giọt nước mưa rỉ qua mái tôn rơi cồm cộp xuống chiếc chậu nhôm góc tường.

An dán chặt mắt vào tờ giấy biên nhận in nhiệt mờ căm nằm chỏng chơ trên bàn. Một ngọn lửa phẫn nộ đan xen với cảm giác đau đớn nghẹn đắng nơi cuống họng bùng lên trong lòng cô. Những kẻ như Tạ Hoàng Long và cỗ máy kinh doanh giáo dục cấp tốc của Nhóm Học Nhanh không chỉ đơn thuần là kiếm tiền trên sự bất an và nỗi lo âu của tầng lớp nhân viên văn phòng trẻ tuổi như cô; tàn nhẫn hơn thế, chúng còn giăng những chiếc bẫy tinh vi bằng ảo tưởng đổi đời để bòn rút đến đồng bạc cuối cùng của những người lao động nghèo khổ, ít học nhất trong xã hội. Chúng đóng gói những khẩu hiệu rỗng tuếch, những ma trận sáo mòn thành một thứ “phép màu tri thức”, rồi khi người học không thể tiếp thu vì khoảng cách văn hóa và năng lực nền tảng, chúng quay ngoắt lại dùng chính thứ ngôn từ thao túng tâm lý để đổ lỗi cho họ là “lười biếng”, “thiếu ý chí”.

Mười tám tháng trước, chính An cũng từng mù quáng ném sạch mười lăm triệu đồng tiền tiết kiệm phòng thân vào đúng cái hố sâu không đáy đó. Nhưng dẫu sao, cô vẫn là một cử nhân đại học, vẫn có một công việc văn phòng với mức lương cố định để gượng dậy làm lại từ đầu. Còn bà Liên, mỗi một đồng tiền rơi vào tài khoản của tập đoàn giáo dục kia đều đánh đổi bằng những bữa cơm đạm bạc chỉ có rau muống luộc chấm tương, bằng những đêm thức trắng vắt kiệt tủy sống bên chiếc máy may để gánh từng đồng lãi ngày.

Nhìn người phụ nữ lớn tuổi đang co rúm người lại trên mép đệm, đầu cúi gằm trong nỗi tủi hổ tột cùng, trong lòng An bỗng trỗi dậy một thôi thúc mãnh liệt muốn cất lời an ủi.

Một vài câu khẩu hiệu quen thuộc, những lời động viên mẫu mực suýt chút nữa đã tuôn ra khỏi đầu cô: *“Cô đừng nản lòng, chỉ cần cô kiên trì từng chút một là sẽ làm được hết,”* hay *“Từ ngày mai cháu sẽ sắp xếp thời gian chạy xe xuống tận phòng trọ kèm riêng cho cô mỗi tối.”*

Nhưng ngay trong tích tắc ấy, An đã cắn chặt môi, nuốt ngược những lời nói đó vào trong.

Đó là bài học xương máu mà cô đã phải trả giá đắt để học được từ Đỗ Hải Yến và từ chính cơn suy sụp kiệt quệ của bản thân trong phòng sinh hoạt cộng đồng bốn tuần trước. Những lời khuyên sáo rỗng về sự “cố gắng” thực chất chỉ là một sự trốn tránh cảm xúc đầy trịch thượng của những người có điều kiện; còn việc vội vàng đứng ra nhận hứa hẹn kèm riêng lại là biểu hiện của căn bệnh tái phát: cái tôi anh hùng, khao khát được làm một vị cứu tinh vĩ đại để xoa dịu cảm giác bất an của chính mình. Nếu cô áp đặt một giải pháp từ trên xuống, biến việc học thành một nghĩa vụ cần sự thương hại, cô sẽ chỉ càng khoét sâu thêm vào nỗi mặc cảm và bóp nghẹt lòng tự trọng vốn đã vô cùng mong manh của bà Liên. Người học nơi đáy tầng không cần sự thương hại đạo mạo; họ cần một lối đi thực tế, bình đẳng và tôn trọng tuyệt đối hoàn cảnh sinh tồn của chính họ.

An hít một hơi thật sâu, điều hòa lại nhịp tim đang đập dồn dập trong lồng ngực. Cô hơi nghiêng người về phía trước, ánh mắt điềm tĩnh, ấm áp và kiên định nhìn thẳng vào đôi mắt ướt nhòe của bà Liên.

“Cô Liên, cô hãy nghe cháu nói này,” giọng An phát ra chậm rãi, rành rọt và chắc nịch từng tiếng một. “Cô không có bất kỳ một lỗi lầm nào trong tất cả những chuyện này cả. Việc cô không đọc nhanh được mặt chữ in trên giấy không phải là do cô kém cỏi hay lười biếng, mà đó là do hệ thống giáo dục ngày xưa chưa hiểu đúng về cách bộ não tiếp nhận hình ảnh và thông tin. Đó là một sự khác biệt về mặt sinh học, hoàn toàn không phải là tội lỗi. Và việc cô bị Nhóm Học Nhanh lừa mua khóa học... cháu hiểu rất rõ cảm giác đau đớn và bế tắc đó của cô. Bởi vì chính cháu, cách đây mười tám tháng, cũng đã từng rút sạch mười lăm triệu đồng tiền tiết kiệm khẩn cấp để ném vào đúng cái khóa học cấp tốc của Tạ Hoàng Long.”

Bà Liên ngẩng phắt đầu lên, đôi mắt kèm nhèm trố ra nhìn An đầy kinh ngạc:

“Cháu... một người làm việc văn phòng có học thức đàng hoàng như cháu mà cũng... cũng bị họ gạt sao?”

“Cháu cũng từng bị họ thao túng tâm lý y hệt như cô, và cháu cũng đã phải bỏ cuộc vào đúng ngày thứ mười bốn vì đầu óc kiệt quệ không chịu nổi,” An thành thật thừa nhận, không một chút giấu giếm. “Mô hình của họ được thiết kế ra không phải để dạy học, mà là để đánh vào nỗi sợ hãi và sự tự ti của chúng ta. Họ vẽ ra những thuật ngữ rực rỡ, phức tạp cốt để người học cảm thấy mình dốt nát, rồi từ đó bắt người học phải tự dằn vặt, tự trách bản thân mình. Vì vậy, cô đừng bao giờ cho rằng mình là gánh nặng hay có lỗi với thư viện. Thư viện Bình Minh và Nhóm Bản Đồ Mở mở ra là để phục vụ cho những người như cô, chứ không bao giờ bắt cô phải gồng mình lên để trở thành một con người khác.”

Bà Liên nhìn trân trân vào gương mặt kiên định của An. Đôi bàn tay chai sần đang bấu chặt lấy vạt áo thun dần dần nới lỏng ra từng chút một. Khoảng cách vô hình giữa một cô chuyên viên văn phòng tri thức trẻ tuổi và một người nữ công nhân may già nua bỗng chốc tan biến hoàn toàn, chỉ còn lại sự đồng cảm sâu sắc giữa hai con người đã từng bước qua cùng một nỗi đau bị thao túng.

Yến mỉm cười, khẽ gật đầu tán đồng với An rồi nhẹ nhàng tiếp lời:

“Đúng như An nói đấy cô Liên. Tự học không có nghĩa là tất cả mọi người đều phải đi chung trên một con đường mòn duy nhất mang tên sách vở hay chữ viết. Nếu con đường bằng chữ in làm cho mắt cô mệt mỏi và đầu óc cô đau buốt, thì chúng ta hoàn toàn có quyền mở ra một con đường khác để đi.”

An rút cuốn sổ tay bìa cứng từ trong ba lô ra, lật sang một trang giấy trắng tinh nhưng không cầm bút viết, chỉ đặt nó nằm phẳng phiu ngay ngắn trên mặt bàn xếp.

“Cô Liên ơi, cháu có một phương án cụ thể thế này muốn bàn với cô,” An nói, ánh mắt lấp lánh sự hào hứng đầy thuyết phục. “Hàng ngày cô làm việc theo ca kíp, mắt của cô đã phải căng ra hết cỡ để nhìn theo từng đường kim mũi chỉ suốt mười hai tiếng đồng hồ, khi về đến nhà mà bắt đôi mắt đó phải tiếp tục nhìn vào màn hình điện thoại hay những trang sách in chữ nhỏ thì chắc chắn hệ thần kinh thị giác sẽ bị quá tải ngay lập tức. Nhưng mà tai của cô thì vẫn nghe rất tốt, có phải không ạ?”

Bà Liên chớp mắt ngơ ngác gật đầu:

“Tai tôi thì thính lắm. Ngồi giữa cái xưởng may cả trăm cái máy chạy rầm rập ầm ầm thế thôi, chứ cái máy của ai cách tôi mấy dãy bàn bị lỏng ốc hay chỉ trên bị căng quá trớn là tôi nghe tiếng máy gõ lạch cạch biết ngay.”

“Đúng là như vậy đấy ạ!” An hào hứng vỗ nhẹ tay xuống mặt bàn. “Vậy thì từ nay về sau, chúng ta sẽ không dùng tài liệu giấy in hay bắt cô phải nhìn vào màn hình điện thoại nữa. Cháu sẽ ngồi lại với bạn Huy và các bạn trẻ phụ trách kỹ thuật trong nhóm. Tụi cháu sẽ chuyển đổi và biên tập lại toàn bộ những nội dung hướng dẫn thiết thực nhất—từ cách tra cứu bảo hiểm xã hội qua giọng nói, cách tính toán chi tiêu tiết kiệm trong gia đình, cho đến những bài tập xoa bóp xương khớp đơn giản sau ca làm việc nặng—thành những tệp âm thanh thật ngắn gọn. Mỗi tệp chỉ kéo dài từ ba đến năm phút thôi, và toàn bộ ngôn ngữ sẽ được diễn đạt bằng lời ăn tiếng nói bình dân, mộc mạc nhất hàng ngày, tuyệt đối không có một thuật ngữ chuyên môn xa lạ nào cả.”

An chỉ tay vào chiếc điện thoại cũ nát màn hình của bà Liên:

“Huy sẽ giúp cô cài đặt một ứng dụng nghe ngoại tuyến đơn giản nhất, toàn bộ các bài nói sẽ được tải sẵn vào thẻ nhớ máy, cô không cần phải tốn tiền đăng ký mạng 4G đắt đỏ làm gì. Cháu còn dư một chiếc tai nghe có dây loại tốt, có nút bấm to rất dễ dùng. Mỗi ngày, trong mười lăm phút nghỉ giữa ca ăn cơm hộp ở xưởng, hay lúc ngồi trên xe buýt, cô chỉ cần cắm tai nghe vào tai, bấm một nút duy nhất là có thể nghe. Nghe một lần chưa hiểu thì cô bấm nghe lại lần thứ hai, lần thứ ba. Nghe chính là một hình thức học tập hoàn toàn bình đẳng và chuẩn xác. Tuyệt đối không ai bắt cô phải đọc chữ hay làm bài kiểm tra tính điểm nào cả.”

Bà Liên trố mắt nhìn An, dường như bà vẫn chưa thể tin nổi vào những điều mình vừa nghe thấy:

“Chỉ cần... cắm tai nghe vào nghe như nghe radio thôi sao cháu? Thật sự không phải căng mắt ra đọc chữ nữa à?”

“Dạ thật một trăm phần trăm ạ,” Yến mỉm cười rạng rỡ, giọng nói ấm áp bao bọc lấy căn phòng nhỏ. “Đó gọi là phương pháp học tập thích ứng với hoàn cảnh sống của người học. Bản đồ học tập mở ra là để phục vụ cho đời sống của cô Liên, chứ cuộc đời và sức khỏe của cô Liên không bao giờ phải bẻ cong đi để phục vụ cho một bản đồ cứng nhắc nào cả.”

Những nếp nhăn căng cứng, khắc khổ trên vầng trán sạm đen của bà Liên từ từ giãn ra. Một nụ cười ngập ngừng, rụt rè nhưng ấm áp vô cùng bắt đầu hé nở trên khuôn mặt đã hằn sâu vết chân chim của người phụ nữ lam lũ. Thế nhưng, chỉ được một thoáng, ánh mắt bà lại chùng xuống, giọng nói thoáng chút tự ti ngập ngừng:

“Nhưng mà... các cháu với thư viện tốt bụng, giúp đỡ tôi nhiều đến thế, trong khi bản thân tôi thì chẳng có cái tài cán hay kiến thức gì để đóng góp lại cho mọi người cả. Ở thư viện toàn là các thầy cô giáo, các cháu sinh viên có bằng nọ cấp kia, tôi vừa già cả lại dốt nát thế này, nhận mãi sự giúp đỡ của mọi người tôi thấy cắn rứt lương tâm lắm...”

“Ai bảo với cô là cô không có gì để đóng góp cho thư viện?”

Yến cất lời ngắt ngang, giọng nói của chị không hề có chút bông đùa mà mang theo một sự trang trọng, trân quý xuất phát tự đáy lòng. Chị đưa mắt nhìn thẳng về phía chiếc máy may gia đình cũ kỹ đang phủ tấm bao bố gai ở góc phòng trọ.

“Hôm nay chị với cháu An lặn lội mưa gió xuống tận đây, ngoài việc đến thăm sức khỏe của cô, tụi chị còn mang theo một lời mời vô cùng quan trọng và chính thức từ Ban điều hành Thư viện Bình Minh muốn gửi tới cô Liên.”

Bà Liên ngơ ngác, hai bàn tay luống cuống chỉ vào ngực mình:

“Mời tôi? Các... các cô mời một bà thợ may già này việc gì cơ chứ?”

“Thư viện Bình Minh đang chuẩn bị khai trương một không gian sinh hoạt hoàn toàn mới vào mỗi sáng Chủ nhật hàng tuần, tụi chị gọi đó là ‘Góc kỹ năng may vá và sửa chữa đồ dùng’,” Yến chậm rãi, rõ ràng giải thích từng lời. “Khu vực quanh thư viện chúng mình có rất nhiều bạn sinh viên nghèo từ quê lên ở trọ, nhiều em học sinh gia đình khó khăn bị rách gấu quần bò, đứt cúc áo sơ mi, hay hỏng khóa kéo ba lô đi học mà không biết làm sao để sửa, toàn phải cắn răng vứt đi rất lãng phí. Các bạn trẻ tri thức như An, như Huy, hay cả chị đây, tuy có thể giỏi máy tính, thạo ngoại ngữ, nhưng thú thật là cứ cầm vào cái kim sợi chỉ là ngượng nghịu đâm chảy máu tay, không biết mạng lại một đường chỉ sao cho thẳng thớm. Thư viện chúng tôi đang vô cùng tha thiết cần một người có hơn ba mươi năm kinh nghiệm tay nghề thực tế, am hiểu từng thớ vải đường kim như cô Liên đứng ra làm chủ nhiệm cái góc đó, để trực tiếp hướng dẫn cho bà con và các bạn trẻ cách vá may, sửa chữa lại vật dụng sinh hoạt trong gia đình.”

Bà Liên sững sờ toàn tập. Đôi mắt kèm nhèm mở to hết cỡ, nhìn trân trân vào Yến rồi lại quay sang nhìn An như thể không tin vào tai mình:

“Tôi... tôi làm chủ nhiệm một góc của thư viện á? Nhưng... nhưng tôi làm sao mà đứng lên bục giảng bài được, tôi có biết nói chữ nghĩa văn hoa gì đâu...”

“Ở thư viện tụi cháu không có cái bục giảng nào hết cô ơi,” An bật cười thành tiếng, một nụ cười nhẹ nhõm, sảng khoái và ấm áp lan tỏa khắp gian phòng. “Ở đó chỉ có một chiếc bàn gỗ dài mộc mạc, vài ba chiếc kéo bấm, mấy cuộn chỉ màu và những con người đang cần mẫn học cách vá lại chiếc áo rách của mình thôi ạ. Ở góc may vá đó, cô Liên không phải là một người đến để nhận sự giúp đỡ hay thương hại của ai cả. Cô chính là người thầy thực hành, là người mang đến thứ tri thức đời sống vô giá bằng đôi bàn tay mà sách vở hay máy vi tính không bao giờ dạy nổi. Tụi cháu và cả cộng đồng này đang thực sự cần cô giúp đỡ.”

Căn phòng trọ chật chội dường như bừng sáng hẳn lên. Không phải nhờ vào thứ ánh sáng vàng vọt leo lắt của bóng đèn tuýp ba mươi sáu oát đã đen đầu, mà bằng chính luồng sinh khí đang cuộn trào trở lại trong đôi mắt của người phụ nữ lao động.

Từ một đối tượng luôn mang nặng mặc cảm, tự ti, luôn nghĩ mình là kẻ thất học bên lề xã hội đáng bị bỏ rơi, bà Liên bỗng chốc nhận ra giá trị độc nhất vô nhị và không thể thay thế từ đôi bàn tay chai sần mà bấy lâu nay bà luôn xấu hổ giấu kín sau vạt áo. Sự trao quyền ấy không phải là một món quà ban ơn từ trên cao rủ lòng thương hại ném xuống, mà là sự thừa nhận hoàn toàn công bằng, sòng phẳng đối với phẩm giá và tri thức thực hành của một người thợ.

“Nếu... nếu như các cháu và mọi người thực sự không chê cười hoa tay vụng về của một bà thợ may già này,” bà Liên nghẹn ngào nói, những giọt nước mắt lăn dài nhưng lần này đi kèm với một nụ cười rạng rỡ, bàn tay run run đưa lên khẽ vuốt ve tấm vải bố phủ trên chiếc máy may gia đình, “thì sáng Chủ nhật tới đây, ca đêm của tôi tan lúc sáu giờ sáng, tôi sẽ về phòng chợp mắt đúng hai tiếng đồng hồ, rồi chín giờ sáng tôi sẽ xách hộp đồ nghề may vá sang thư viện. Tôi sẽ dạy cho tụi trẻ cách mạng lại gấu quần bò cho phẳng phiu, cách đơm lại con bọ và cúc áo khoác sao cho giặt máy cả năm trời cũng không bao giờ bị tuột!”

“Tụi cháu nhất định sẽ là những học trò xếp hàng đầu tiên để xin cô chỉ dạy!” An reo lên, ánh mắt lấp lánh niềm vui thuần khiết.

Ba người ngồi lại bên nhau trong căn phòng trọ thêm hơn nửa tiếng đồng hồ nữa. Họ cùng nhau uống cạn những cốc nước ấm, vừa nhâm nhi mấy quả cam mọng nước vừa bàn bạc tỉ mỉ về quy trình thu âm những tệp bài giảng bằng âm thanh ngắn, cũng như việc chuẩn bị kim chỉ, vải vụn và kéo cắt cho buổi sinh hoạt đầu tiên của góc may vá vào cuối tuần.

Bên ngoài hiên, cơn mưa rào mùa hạ dai dẳng đã dứt hẳn tự lúc nào. Bầu trời sau mưa quang đãng đến lạ kỳ, những tia nắng muộn màng của buổi hoàng hôn màu vàng óng như mật ong rọi nghiêng qua những kẽ lá bàng non, hắt những vệt sáng ấm áp xuống lòng con hẻm nhỏ đã bắt đầu ráo nước.

Khi An và chị Yến đứng dậy xin phép ra về để kịp chuyến xe buýt, bà Liên nằng nặc không chịu để hai người đi một mình mà đòi khoác chiếc áo khoác mỏng, xỏ dép bước theo tiễn hai người ra tận đầu hẻm lớn. Nhìn từng bước chân của người đàn bà năm mươi hai tuổi giờ đây dường như đã nhẹ nhõm, thanh thản và vững chãi hơn rất nhiều trên mặt đường bê tông lồi lõm, An cảm thấy một tảng đá vô hình đè nặng bấy lâu nay trong lồng ngực mình cũng vừa được nhấc bỏ.

Tự học và giáo dục cộng đồng chưa bao giờ là một cuộc chạy đua khốc liệt trên những bảng xếp hạng số liệu, những chứng chỉ lấp lánh hay những thuật ngữ đao to búa lớn; tự học đích thực là sự học cách lắng nghe sâu sắc, học cách tôn trọng và dung chứa những nhịp điệu sinh tồn khác nhau, và hơn hết, là tìm thấy phẩm giá thiêng liêng của con người ngay trong những hoàn cảnh ngặt nghèo, lấm láp nhất của đời sống.

Bước ra đến ngã ba đường lớn—nơi những quán nước mía, quán chè vỉa hè bắt đầu lục đục dọn bàn ghế nhựa ra mép đường để đón dòng người công nhân tan ca chiều đổ về—bà Liên dừng bước lại bên cột đèn đường. Bà nắm chặt lấy bàn tay An, cái nắm tay đầy vẻ lưu luyến. Nhưng rồi, ánh mắt bà bỗng chùng xuống, thoáng hiện lên một nét đăm chiêu, ngập ngừng khó nói:

“À này cháu An... suýt chút nữa thì cái đầu óc lú lẫn của cô quên khuấy mất chuyện này.”

An hơi nghiêng đầu, ngạc nhiên nhìn bà:

“Dạ, có chuyện gì thế cô Liên?”

Bà Liên ngập ngừng nhìn quanh dòng xe cộ đang bắt đầu nườm nượp qua lại, rồi kéo An lùi lại sát mép tường, hạ thấp giọng xuống chỉ vừa đủ cho hai người nghe:

“Hôm thứ Năm tuần trước, con bé Hà bạn thân nhất của cháu có ghé qua trạm y tế phường nằm ngay sát cạnh tường rào xưởng may của cô để lấy mấy vỉ thuốc bổ hộ cho cô. Cô nhìn thấy sắc mặt của nó dạo này xanh xao xao xác lắm, người ngợm gầy rộc hẳn đi, hai má hóp lại nhìn mà xót cả ruột. Lúc hai cô cháu ngồi uống vội cốc nước mía ở đầu cổng trạm, cô thấy nó cứ gặng hỏi cô kỹ càng lắm về mấy chuyến xe khách giường nằm đường dài chuyên nhận chở đồ đạc cồng kềnh vào tận trong miền Nam, rồi nó còn hỏi han cặn kẽ cả thủ tục xin chuyển tuyến bảo hiểm y tế giữa các bệnh viện tỉnh thành nữa... Cháu là đứa bạn thân thiết nhất của nó từ trước tới giờ, cháu xem thế nào lựa lời mà hỏi han chia sẻ với nó xem sao, chứ cô nhìn ánh mắt của con bé hôm đó thấy tâm trạng nó nặng nề, u uất lắm, trông hệt như thể một người đang âm thầm chuẩn bị thu xếp mọi thứ cho một chuyến đi rất xa vậy...”

Từng lời nói của bà Liên như một nhát búa vô hình giáng mạnh vào lồng ngực An. Trái tim cô bỗng thắt nghẽn lại, hẫng đi một nhịp sâu hoắm.

Hình ảnh tập hồ sơ tuyển sinh học bổng phục hồi chức năng chuyên sâu tại một trường đại học y dược phía Nam—tập hồ sơ mà An từng vô tình nhìn thấy rơi ra từ đáy túi xách của Hà trong buổi chiều nhập viện bốn tuần trước—bỗng chốc hiện về rõ mồn một, sắc nét đến nhức nhối trong tâm trí cô.

Cơn giận dữ khác thường của Hà khi kiên quyết từ chối làm người giám sát mục tiêu cho cô; những lời cảnh báo lạnh lùng, sắc lẹm về sự phụ thuộc cảm xúc; sự vắng mặt liên tục trong các buổi gặp mặt chung; và cả cái cách mà ánh mắt Hà luôn vội vã lảng tránh mỗi khi An hào hứng nhắc đến những kế hoạch dài hạn của Thư viện Bình Minh... Tất cả những chi tiết vụn vặt, rời rạc tưởng chừng như ngẫu nhiên suốt cả tháng qua bỗng chốc khớp nối lại với nhau một cách hoàn hảo thành một bức tranh sự thật tàn nhẫn mà bấy lâu nay An vẫn cố tình nhắm mắt làm ngơ để trốn tránh.

“Dạ... cháu cảm ơn cô Liên đã nói cho cháu biết,” An cố gắng gượng giữ cho giọng nói của mình nghe thật bình thản, nhưng những ngón tay cô đã vô thức siết chặt lấy quai túi xách đến mức trắng bệch cả khớp xương. “Cháu sẽ nói chuyện rõ ràng với Hà ngay tối nay ạ.”

Sau khi chia tay bà Liên và bước lên chuyến xe buýt cùng chị Yến để trở về trung tâm thành phố, An xin phép xuống trước ở trạm dừng chân ven bờ kênh. Cô muốn đi bộ một mình.

Hoàng hôn mùa hạ sụp xuống thật nhanh, nhuộm đỏ ối cả một khúc sông rộng đang gợn sóng lăn tăn. Gió từ mặt nước dòng kênh thổi thốc lên mát rượi, xua tan đi cái oi ả, nồng nặc của bùn đất và khói than sau cơn mưa, nhưng trong lòng An lúc này lại đang cuộn lên những đợt sóng ngầm ngổn ngang, xáo động khôn nguôi. Cô bước từng bước vô định trên vỉa hè lát đá, tâm trí hoàn toàn bị bủa vây bởi nỗi hoang mang tột độ về sự im lặng bấy lâu nay của người bạn thân nhất.

Đúng lúc ấy, chiếc điện thoại giấu sâu trong túi áo khoác của An bỗng rung lên bần bật hai nhịp ngắn ngủi.

Cô run rẩy rút chiếc máy ra. Trên màn hình sáng loáng vừa hiện lên một thông báo tin nhắn mới được gửi đến cách đây đúng năm phút từ cái tên quen thuộc: Trần Thu Hà.

Không có bất kỳ một biểu tượng cảm xúc trêu đùa hay dòng xưng hô tếu táo như mọi ngày, tin nhắn chỉ vỏn vẹn đúng một dòng chữ khô khốc, ngắn ngủi:

*“Tao có chuyện quan trọng cần nói. Tối nay ra quán nước mía Bờ Kênh nhé.”*

Chương này thế nào?Đánh giá giúp Readeep đề xuất đúng hơn cho bạn