Ly Cà Phê Đầu TiênC.31 / 45
Chương 31

Bão qua triền dốc

Tiếng cần gạt nước rít lên từng hồi ken két chói gắt trên mặt kính chắn gió của chiếc xe khách giường nằm khi nó lảo đảo đổ dốc đèo Phượng Hoàng giữa màn mưa quất rát mặt lúc tảng sáng.

Trong khoang xe mờ tối, không khí nồng nặc và ngột ngạt bởi thứ hỗn hợp xộc thẳng vào cuống họng: mùi máy lạnh ẩm mốc lâu ngày không cọ rửa, mùi dầu máy diesel khét lẹt bốc ngược từ khoang động cơ dưới gầm, và mùi mồ hôi chua nồng của hàng chục con người đang vùi mình trong giấc ngủ li bì sau một chặng đường dài vượt qua vùng giông bão duyên hải. Đoàn Minh Khôi không tài nào chợp mắt nổi dù chỉ một phút. Anh nằm ở dãy giường tầng dưới sát cửa sổ, hai bàn tay đan chặt vào nhau đặt trước bụng, mỗi cú xóc dằn nảy người của chiếc xe khi sụp qua những ổ trâu, ổ gà ngập ngụa nước trên Quốc lộ 26 lại như một cú nện thẳng vào lồng ngực. Từng khớp xương sống anh ê ẩm, nhưng cảm giác đau nhức thể xác ấy chẳng thấm tháp gì so với nỗi cồn cào đang bóp nghẹt dạ dày.

Bên cạnh anh, Hứa Bảo Ngọc ngồi tựa trán vào lớp kính lạnh buốt. Mái tóc ngắn buộc vội của cô xơ xác sau một đêm thức trắng, đôi quầng thâm hằn rõ dưới mắt, kéo dài nét mệt mỏi trên gương mặt thường ngày vốn sắc sảo. Cô nhìn trừng trừng ra khoảng không gian đen đặc quánh bên ngoài cửa sổ, nơi những vệt nước mưa xối xả đập rầm rập vào kính xe, vỡ toang thành những đường rạn ngoằn ngoèo loang loáng dưới ánh đèn pha vàng vọt cắt qua màn sương mù dày đặc.

Khôi siết chặt chiếc điện thoại trong lòng bàn tay ướt mồ hôi lạnh. Màn hình điện thoại nứt một đường chéo nhỏ vẫn còn lưu lại tin nhắn vắn tắt của anh Tư gửi đến lúc nửa đêm, khi chiếc xe khách vừa bắt đầu bò lên những khúc cua tay áo đầu tiên của con đèo nối liền đồng bằng với cao nguyên: *Mưa không dứt một giây nào. Nước trên rẫy dồn về như thác. Về nhanh không thì mất trắng cả vụ.*

Chiếc xe đò trườn bánh nặng nề rồi tấp vội vào bến xe phía đông Buôn Ma Thuột lúc năm giờ sáng. Không có lấy một tia rạng đông nào le lói ở đường chân trời. Bầu trời xứ cao nguyên chỉ là một mảng xám xịt, đùng đục như một tấm chì khổng lồ đè nghiến xuống nóc phố thị và những rặng thông ven đồi. Gió giật từng cơn thốc qua những hàng muồng đen rũ rượi, bẻ gãy những cành non quăng quật trên nền nhựa loang lổ rác rưởi và nước bẩn. Cái lạnh vùng cao ngấm theo hơi ẩm quất thẳng vào da thịt khiến cả Khôi và Bảo Ngọc rùng mình run rẩy ngay khi vừa bước xuống bậc cửa xe.

Không còn thời gian để chờ những chuyến xe buýt liên huyện uể oải bắt đầu ngày mới, Khôi kéo tay Bảo Ngọc chạy băng qua bãi đậu xe lầy lội, vẫy vội một chiếc xe lôi chở hàng quen thuộc của một người buôn bán trong vùng. Sau vài câu trao đổi gấp gáp, chấp nhận mức giá cao gấp ba lần ngày thường, chiếc xe nổ máy giòn giã, xé toang màn mưa mịt mùng để lao thẳng về hướng xã Cư M'Rao.

Khi chiếc xe lôi rẽ khỏi con đường nhựa liên tỉnh để ngoặt vào con đường đất đỏ độc đạo dẫn sâu vào vùng lõi Cư M'Rao, Khôi bàng hoàng trước cảnh tượng đang phơi bày ra trước mắt. Thứ đất đỏ bazan trứ danh của xứ sở này—thứ đất tơi xốp, mịn màng và màu mỡ đến mức chỉ cần nắm trong tay vào những ngày nắng đã thấy thoảng mùi hương nồng nàn của khoáng chất—giờ đây dưới sức tàn phá của trận áp thấp nhiệt đới kéo dài đã hóa thành một bãi bùn nhão nhoét, quánh đặc và dẻo quẹo như keo dán. Bánh xe lôi chém xuống mặt đường ngập nước, phát ra những tiếng *xoẹt, xoẹt* nặng nhọc, lớp bùn đỏ văng lên tận vách xe, bám chặt vào ống quần và giày của hai người.

Nước lũ đỏ quạch từ các triền đồi dốc phía tây cuồn cuộn đổ về như những vòi rồng khổng lồ, tràn phăng qua hệ thống mương rãnh thoát nước vốn đã quá tải từ chiều hôm trước, biến lòng đường liên thôn thành một con suối bùn hung hãn gầm gừ. Rác hữu cơ, lá khô, cành cà phê bị gió bẻ gãy cùng vô số những chùm quả xanh non bị dòng lũ bứt khỏi cành trôi dập dềnh theo dòng nước đục ngầu, thỉnh thoảng lại va vào các cọc tiêu bê tông ven đường kêu lục bục.

“Khôi! Nhìn rãnh thoát nước bên rẫy anh Y Bih kìa!” Bảo Ngọc phải hét thật lớn để át đi tiếng động cơ xe lôi đang gầm rít trong tuyệt vọng, ngón tay run rẩy của cô chỉ chếch về phía sườn dốc thoai thoải phía đông.

Khôi chồm người ra khỏi mép thùng xe, nheo mắt nhìn qua màn nước dội xối xả. Tim anh như thắt lại. Con mương dẫn dòng bằng đất đào dọc theo ranh giới tự nhiên giữa hai quả đồi đã bị sạt lở một đoạn dài hơn mười mét. Khối đất taluy sụp xuống kéo theo cả một mảng bờ cỏ voi, mở đường cho dòng lũ phù sa đỏ ngầu ùa thẳng vào chân các gốc Robusta sẻ cổ thụ. Nước xoáy tròn khoét sâu hoắm thành những hố xói mòn nham nhở, làm trơ trọi cả những chùm rễ con trắng ởn đang run rẩy bám víu vào lòng đất bạc màu. Gió bão vẫn không ngừng gầm thét trên các bình nguyên cao nguyên lộng gió, quật qua những tán cây cà phê trĩu trịt quả khiến chúng oằn mình rên rỉ từng đợt như muốn gãy gập. Từng đợt quả chín mọng, vốn đã ngậm no nước mưa suốt mấy ngày đêm, nay nứt toác lớp vỏ ngoài dưới áp lực thẩm thấu nội tại, rụng lả tả xuống mặt bùn, rồi bị dòng nước đỏ cuốn trôi đi không một chút thương tiếc. Đó là những chùm quả đẹp nhất, chín đều nhất mà người ta phải mất gần một năm ròng chăm bón, tỉa cành, chờ đợi.

Chiếc xe lôi trượt bánh một đoạn dài rồi khựng lại hẳn trước cánh cổng gỗ nghiêng ngả của trạm sơ chế Bản Đỏ. Bác tài xế lắc đầu quầy quậy, dứt khoát không chịu chạy tiếp vì sợ lún sình chết máy. Không đợi xe tắt máy hay thối lại tiền thừa, Khôi và Bảo Ngọc nhảy ào xuống dòng nước đục đang ngập ngang mắt cá chân. Đôi chân Khôi lún sâu vào lớp bùn dẻo quánh, từng bước đi nặng trịch như đeo chì, nhưng anh cùng Ngọc vẫn lảo đảo chạy như bay qua khoảng sân đất rộng dẫn thẳng tới dãy lán kho và khu nhà giàn phơi phía sau.

Nhưng cảnh tượng phơi bày ra bên trong trạm sơ chế còn thảm khốc hơn gấp bội những gì Khôi đã mường tượng trong suốt chuyến xe đêm.

Khu vực nhà giàn phơi lưới hở rộng gần bốn trăm mét vuông—nơi lưu giữ toàn bộ mồ hôi, hy vọng và thành quả lao động của ba ngày thu hái đầu vụ đầy phấn khởi—đang biến thành một chiến trường ẩm ướt, tàn tạ đến mức xé lòng. Gió bão giật ở cấp sáu, cấp bảy, đổi hướng liên tục, đã đánh bạt qua toàn bộ phần mái tôn che chắn sơ sài vốn chỉ được thiết kế để che nắng gắt và sương đêm. Mưa chéo góc quất thẳng vào các tầng giàn phơi bằng lưới cước xanh thẫm. Hơn tám tấn quả cà phê Robusta sẻ chín mọng, được thu hái tuyển lựa nghiêm ngặt từ các vườn nòng cốt của anh Y Bih, già Ama H'Rin và rẫy của chính gia đình họ Đoàn, đang nằm ứ đọng ken dày trên các mặt lưới.

Khôi lao thẳng tới mép giàn phơi đầu tiên. Không kịp tháo ba lô, anh thọc sâu cả hai bàn tay vào đống quả dầy cộm.

Một cảm giác nhớp nháp, trơn tuột và lạnh ngắt truyền thẳng từ đầu ngón tay chạy dọc lên sống lưng anh. Độ ẩm không khí trong khu lán lúc này đã chạm ngưỡng bão hòa tuyệt đối một trăm phần trăm; hơi nước li ti đọng thành màng sương mỏng lơ lửng, quánh lại trong không gian nồng nặc mùi chua ủng khó chịu. Lớp vỏ thịt của những quả cà phê vốn căng mọng lượng đường tự nhiên với nồng độ Brix đo được trên hai mươi phần trăm trước ngày bão, nay đã bị ngậm nước mưa dư thừa đến mức nứt toác từng kẽ dài. Lớp chất nhầy ngọt ngào chứa đầy đường fructose và pectin tự nhiên—thứ nguyên liệu quý giá để tạo nên thể chất đầm đà và hậu vị ngọt sâu cho Robusta cao cấp—khi gặp nước mưa tù đọng đã bắt đầu chuyển hóa thành một lớp nhớt nhầy nhụa màu thâm đen. Nó bốc lên mùi rượu thiu ủng pha lẫn mùi giấm chua gắt, thứ mùi hương chết chóc của vi khuẩn axetic hoang dại đang sinh sôi nảy nở với tốc độ cấp số nhân.

Bảo Ngọc quỳ sụp xuống bên cạnh giàn phơi, hai đầu gối cô dính chặt vào mép lưới ướt sũng. Cô bốc vội một nắm quả lên sát mũi, hít một hơi thật sâu rồi mở to mắt, sắc mặt cô trong khoảnh khắc tái mét đi không còn một giọt máu:

“Nhiệt độ đống ủ tự phát bên dưới lớp quả đã lên tới ba mươi tám độ C rồi! Lên men tự do không kiểm soát! Nấm mốc và vi khuẩn lactic dại đang ăn thủng lớp màng nhầy rồi ngấm vào nhân. Nếu không tách nước và hạ ẩm ngay trong vòng hai mươi bốn tiếng nữa, toàn bộ lớp phôi hạt bên trong sẽ thối rữa, biến thành phế phẩm rách vỏ thâm kim!”

Giọng cô run rẩy nhưng từng từ thốt ra đều mang sức nặng của kiến thức chuyên môn chính xác đến tàn nhẫn. Cô luồn tay sâu hơn xuống đáy lớp quả, rút ra một vốc hạt nhớt nhầy nhụa, bóp nát một quả giữa hai ngón tay. Lớp thịt quả mềm nhũn tan ra như bùn, để lộ hạt thóc bên trong đã bắt đầu ngả sang màu xám đục chết chóc.

“Mất bao nhiêu rồi?” Giọng Khôi khản đặc, nghẹn lại nơi cổ họng. Mắt anh dán chặt vào những dòng nước màu đỏ nhờ nhờ đang rỉ ra từ đáy giàn phơi, tí tách nhỏ xuống nền đất bên dưới thành từng vũng nhớt bốc khói mỏng.

“Nếu cứ để thế này, một trăm phần trăm số quả trên giàn sẽ bị lỗi ẩm mốc và chua giấm. Không một nhà rang specialty nào trên thế giới chấp nhận một hạt cà phê có mùi này!” Bảo Ngọc siết chặt bàn tay lại, nước mưa hòa lẫn với lớp nhớt đen kịt chảy ròng ròng qua kẽ ngón tay cô, nhỏ xuống mu bàn chân trần đang tím tái vì lạnh. “Chúng ta sẽ mất tất cả, Khôi à. Toàn bộ tám tấn này sẽ bị đánh tụt xuống hạng cà phê rác!”

Ở góc sân phía sau nhà kho cũ, tiếng cãi vã chát chúa bất ngờ bùng lên, xuyên qua màn mưa xối xả và tiếng gió rít từng hồi trên vách tôn.

Khôi giật mình quay lại. Anh nhìn thấy bóng lưng quen thuộc của cha mình—ông Đoàn Văn Hậu—cùng bốn người nông dân lớn tuổi trong buôn làng đang hì hục vần một đống củi cà phê khô từ chái bếp ra khoảng đất trống trước cửa lò sấy cũ. Ông Hậu mặc chiếc áo tơi chằm bằng lá tơi rách bươm, khuôn mặt xạm đen vì gió sương nay xám xịt lại vì nhiều đêm thức trắng canh nước lũ. Đôi mắt ông vằn đỏ những tia máu căm phẫn, nhìn trừng trừng vào bầu trời như muốn thách thức sự tàn nhẫn của thiên tai. Trên tay ông là chiếc cào sắt ba răng cỡ lớn—thứ nông cụ quen thuộc dùng để đảo cà phê xô phơi sân đất từ hàng chục năm qua.

“Cào hết xuống! Đổ hết vào buồng lò!” Ông Hậu gào lên với mấy người bạn già, giọng khàn đặc nhưng chát chúa vì kiệt sức. “Vần củi gộc vào, nhóm lửa lên! Sấy cưỡng bức ba ngày ba đêm cho nó khô queo lại! Chứ để trên cái giàn gió này thì đến mai là dòi bọ nó bò lúc nhúc, đổ cho heo heo còn chê!”

“Khoan đã bác Hậu!” Y Bih từ phía lán sau lao ra, cả người ướt sũng, chiếc áo thun dính chặt vào lồng ngực vạm vỡ. Anh giơ hai tay ra níu chặt lấy cánh tay đang cầm cào của ông Hậu, giọng nghẹn ngào van vỉ: “Cà này là cà hái lựa chín một trăm phần trăm tụi cháu còng lưng hái từng trái cả tuần nay! Giờ đổ vào lò sấy lửa trực tiếp của bác, khói nó xộc thẳng vào buồng hạt, vỏ cháy đen thui rồi ám mùi khói củi nồng nặc thì công ty người ta làm sao xuất bán giá cao cho tụi cháu được? Uổng công bà con mình lắm bác ơi!”

“Mày còn mơ mộng giá cao hả Bih?” Ông Hậu giật phắt chiếc cào sắt ra khỏi tay Y Bih, ngực ông phập phồng dữ dội dưới lớp áo tơi mỏng manh. “Mày nhìn trời coi! Bão nó quần nát cả cái Tây Nguyên này rồi, mười ngày nữa cũng chưa thấy mặt trời đâu! Mày muốn bán cà xô ám khói vớt vát được ba mươi ngàn một ký để lấy tiền trả công thợ, mua gạo đút vào mồm con mày, hay mày muốn giữ cái thứ đặc sản của thằng Khôi để rồi ba hôm nữa xúc từng xẻng thối đổ ra gốc cao su làm phân?”

Mấy người nông dân lớn tuổi đi cùng ông Hậu cũng nhao nhao tiếp lời, ánh mắt họ hằn rõ vẻ hoảng loạn, sợ hãi và tuyệt vọng của những người cả đời sống dựa vào sự bố thí của thời tiết:

“Đúng đó chú Hậu ơi, sấy đại đi! Năm kia bão sớm nhà tui cũng phải sấy khói kiểu này. Hạt có đen, có khét lẹt mùi bồ hóng thì thương lái như thằng cha Sang nó vẫn ép giá mua cà xô thương phẩm chứ không tới mức vứt thùng rác!”

“Phải đó, cào vô lò đi! Khói củi còn hơn thối rữa! Giữ lại hạt nhân là còn tiền, ham chi ba cái điểm số với hương hoa cỏ của tụi nó!”

Khôi bước vội tới, lội qua vũng bùn sâu chắn ngang trước cửa buồng lò sấy xây bằng gạch thẻ đã ám muội đen kịt:

“Ba! Con xin ba, dừng lại đã!”

Ông Hậu khựng lại, ngước nhìn đứa con trai vừa từ thành phố trở về. Đôi mắt già nua của ông lóe lên một tia giận dữ xen lẫn đớn đau, chiếc cào sắt trong tay ông rung lên bần bật:

“Mày về rồi đó hả Khôi? Mày nhìn đi! Đây là cái kết của việc làm cao lương mỹ vị giữa trời đất đấy! Năm tấn quả ngoài kia, nếu tao không nhóm lửa sấy ngay bây giờ, chỉ hai ngày nữa thôi là toàn bộ mồ hôi nước mắt của cả nhà này, của cả cái buôn Cư M'Rao này biến thành bùn đất! Mày muốn giữ uy tín hão huyền của mày hay mày muốn cứu lấy mạng sống của gia đình này trước hạn nợ ngân hàng?”

Bảo Ngọc bước lên đứng sóng đôi bên cạnh Khôi. Dù toàn thân ướt sũng, những giọt nước mưa chảy dài từ cằm xuống cổ áo, ánh mắt cô nhìn thẳng vào ông Hậu vẫn sắc lạnh và kiên định:

“Bác Hậu, cháu hiểu bác sốt ruột và lo lắng cho mồ hôi của mọi người. Nhưng buồng sấy củi thủ công này không có giàn trao đổi nhiệt gián tiếp. Khói từ củi ướt sẽ mang theo bồ hóng, hydrocacbon thơm đa vòng và khí CO2 thốc thẳng vào lớp quả đang ướt nhẹp. Lớp nhớt ngọt sẽ hút trọn vẹn mùi khói độc đó vào tận tâm phôi hạt. Một khi đã ngấm mùi creosote và khói củi, dù bác có rửa bằng nước sạch mười lần hay đem rang lên, ly cà phê đó cũng chỉ có mùi gạt tàn thuốc lá cháy khét. Điểm cảm quan sẽ rớt xuống dưới năm mươi điểm. Bản Đỏ đã ký cam kết chất lượng đặc sản, chúng cháu không thể mang thứ cà phê đó đi lừa dối khách hàng, và cũng không thể bán rẻ danh dự của hạt cà phê Cư M'Rao!”

“Danh dự có mài ra ăn được không cô Ngọc?” Một lão nông hét lên, giọng run rẩy, nước mắt hòa lẫn nước mưa chảy ròng ròng trên những nếp nhăn nheo khắc khổ nơi khóe mắt. “Chúng tôi cần tiền trả nợ phân bón tuần sau! Đại lý họ siết sổ đỏ rồi kìa!”

Không khí trong khoảng sân trạm sơ chế căng thẳng đến nghẹt thở. Tiếng gió bão rít qua những khe vách tôn như tiếng cười nhạo báng cay độc vào sự bất lực của con người trước quy luật nghiệt ngã của tự nhiên. Khôi đứng sững giữa hai lằn ranh: một bên là sự sụp đổ kinh tế tức thì của những người nông dân đã tin tưởng đi theo anh, một bên là sự thỏa hiệp biến toàn bộ lý tưởng về hạt cà phê chất lượng cao thành trò hề rẻ tiền.

Bỗng nhiên, một bàn tay thô ráp, nứt nẻ với những móng tay cáu bẩn bùn đất chộp lấy bả vai Khôi, giật mạnh anh lùi lại phía góc lán phụ—nơi chất cao những cây tre lồ ô bánh tẻ và những đống bao tải gai cũ kỹ.

Là anh Tư.

Người đàn ông rẫy miền Trung dầm mưa suốt từ đêm hôm trước, chiếc áo bảo hộ lao động sờn rách hai bên vai ướt sũng dính chặt vào lồng ngực gầy gò lộ rõ từng dải xương sườn. Đôi bàn chân trần nứt nẻ như ruộng hạn của anh cắm phập xuống nền đất đỏ, nhưng đôi mắt nhỏ sâu hoắm dưới đôi mày rậm lại lóe lên một tia sáng kỳ lạ—thứ ánh sáng sắc sảo của một con người đã từng sống mái, vật lộn với mảnh đất khắc nghiệt này suốt hơn ba mươi mùa mưa bão.

“Khôi, vô đây nói chuyện lẹ với tao!” Anh Tư gằn giọng, bàn tay cứng như kìm sắt kéo luôn cả Bảo Ngọc vào khoảng không gian khuất gió sau bức tường tôn rỉ sét.

“Anh Tư, tình hình tệ quá...” Khôi thở dốc, hai bàn tay buốt cóng run rẩy vì lạnh và áp lực đè nặng.

“Tao biết nó tệ! Tao thức trắng hai đêm nay hứng từng thùng nước mưa dột trên mái tao lạ gì!” Anh Tư ngắt lời Khôi, giọng trầm đục nhưng rành rọt từng chữ, không hề có chút hoảng loạn nào. “Nhưng ông Hậu với mấy ông già làm liều như vậy là tự sát. Cho cà vô lò sấy trực tiếp là chết chắc, không ai mua cái thứ tro than đó đâu. Nhưng để trơ trọi trên giàn lưới đón mưa tạt như bây giờ cũng chết. Phải có cách thứ ba!”

“Cách gì hả anh?” Bảo Ngọc sốt sắng hỏi, đôi mắt trũng sâu của cô bừng lên một tia hy vọng mong manh.

Anh Tư cúi xuống, nhặt một mẩu que đóm khô dưới sàn lán, vạch nhanh những đường dứt khoát lên mặt chiếc thùng phuy rỗng đang dựng nghiêng:

“Mày nhớ cái khoảnh tre lồ ô già tao với mày chặt hồi đầu năm để dành làm chuồng gà sau rẫy không Khôi? Tre lồ ô dẻo quẹo, uốn cong không gãy. Giờ tao với mày, kêu thêm thằng Y Bih với mấy đứa thanh niên khỏe mạnh trong buôn, chặt tre vót nan, uốn cong thành từng cái khung vòm cắm thẳng vào khung sắt của các giàn phơi lưới!”

Khôi nhìn trừng trừng theo từng nét vẽ nguệch ngoạc nhưng chuẩn xác của anh Tư trên mặt kim loại rỉ sét. Tim anh đập dồn dập trong lồng ngực:

“Khung vòm lều nilon dã chiến kiểu nhà kính nông nghiệp?”

“Đúng!” Anh Tư đập mạnh que đóm xuống mặt thùng phuy vang lên một tiếng *chát* khô khốc. “Dùng bạt nilon trắng loại dày phủ kín nóc vòm, kéo căng rồi nẹp chặt bằng dây kẽm và đá tảng hai bên mép sàn giàn. Nilon che mưa dột từ trên mái tôn tạt xuống, tạo thành một cái lồng kín ngăn nước mưa tuyệt đối. Nhưng quan trọng nhất là cái này nè...”

Anh Tư hạ giọng, ngón tay trỏ đen đúa chỉ thẳng xuống khoảng không bên dưới gầm giàn phơi:

“Dưới gầm giàn phơi lưới, gió không lùa vô được vì nước đọng đầy sân. Quả cà phê nó đang bị nghẹt thở bởi lớp nước bao quanh. Mày phải chạy ngay ra tiệm điện máy Kim Phát ngoài ngã ba thị trấn, gom hết mấy cái quạt hút gió công nghiệp loại cánh sắt công suất lớn về đây cho tao! Đặt quạt thổi thốc ngược từ dưới đáy giàn phơi lên! Gió quạt sẽ xé toang lớp màng nước đọng dưới mắt lưới, đẩy hơi ẩm bốc ngược lên trên rồi thoát ra hai đầu hồi vòm nilon!”

Khôi đứng chết trân mất ba giây. Toàn bộ kiến thức của một kỹ sư nông nghiệp được đào tạo bài bản lập tức kết nối với kinh nghiệm thực địa lão luyện của anh Tư, tái hiện thành một phương trình trao đổi nhiệt ẩm và động lực học chất lưu hoàn chỉnh trong tâm trí anh:

“Cơ chế đối lưu cưỡng bức dã chiến! Quạt gió không chỉ thổi bay nước bề mặt, mà luồng không khí chuyển động liên tục sẽ phá vỡ lớp biên ẩm bão hòa bao quanh từng quả cà phê, ngăn không cho nhiệt độ đống ủ vượt quá ba mươi độ C! Không có nhiệt độ cao, vi khuẩn axetic sẽ bị ức chế, nấm men tự do ngừng sinh độc tố. Chúng ta sẽ biến quá trình thối rữa này thành chế độ ủ ráo có kiểm soát!”

Bảo Ngọc lập tức chộp lấy ý tưởng, bổ sung bằng tư duy kiểm soát chất lượng chuẩn xác đến từng chi tiết:

“Nếu chúng ta hạ được nhiệt độ khối hạt xuống dưới hai mươi sáu độ C và duy trì lưu thông khí liên tục, lớp nhớt sẽ không bị thối đen mà sẽ bắt đầu se mặt lại theo cơ chế bốc hơi vi khí hậu! Quả cà phê sẽ rơi vào trạng thái ngủ đông chuyển hóa chậm! Chúng ta cứu được hương vị nguyên bản!”

“Nhưng quạt công nghiệp cần điện ba pha!” Khôi giật mình nhớ ra thực tế cay đắng. “Bão làm đứt đường dây điện hạ thế toàn xã Cư M'Rao từ bốn giờ sáng rồi! Lưới điện tê liệt hoàn toàn!”

“Thuê máy phát điện!” Anh Tư nhìn thẳng vào mắt Khôi, ánh mắt không một chút do dự, đanh thép như đá tảng. “Lão Bảy Cơ Khí ngoài ngã tư có hai cái máy nổ công nghiệp chạy dầu diesel mười lăm kVA chuyên kéo máy bơm trạm xăng. Mày phải thuê bằng được hai cái máy đó về đây, chạy xuyên ngày đêm!”

Khôi nhìn sang Bảo Ngọc. Cô gật đầu dứt khoát, ánh mắt không một gợn chần chừ:

“Em ở lại trạm sơ chế với anh Tư chỉ huy dàn thợ dựng khung tre và cào mỏng các lớp quả ra. Anh lấy xe máy chạy ra thị trấn gom bạt nilon dày, quạt gió và máy phát điện về ngay lập tức! Từng phút trôi qua là hàng triệu tế bào đường trong quả cà phê bị phá hủy!”

“Được!” Khôi nghiến chặt răng.

Anh quay người chạy trở lại phía sân lò sấy. Ông Hậu vẫn đang cầm chiếc cào sắt, đứng trơ trọi giữa trời mưa nhìn dòng nước lũ đỏ lòm tràn qua sân. Khôi bước tới, hai bàn tay siết chặt lấy bờ vai run rẩy của cha mình:

“Ba! Con không cản ba cứu cà phê, nhưng xin ba cho con và anh Tư đúng bốn tiếng đồng hồ! Bốn tiếng thôi! Nếu phương án lều vòm và quạt thông gió của con không hạ được nhiệt độ đống hạt và làm se mặt nhớt quả, con sẽ tự tay vần củi vào lò sấy giúp ba!”

Ông Hậu trừng mắt nhìn đứa con trai. Trong đáy mắt đỏ ngầu của Khôi, ông nhìn thấy ngọn lửa quyết liệt của chính mình thời trai trẻ—cái thời ông từng dám cắm sổ đỏ đi khai hoang quả đồi này bất chấp mọi lời can ngăn. Ông nhìn sang anh Tư, người đồng hành cùng ông qua bao mùa mưa nắng gắt gao. Chiếc cào sắt trong tay người nông dân già chầm chậm hạ xuống, rơi trúng một tảng bùn nhão, phát ra tiếng *thịch* nặng nề.

“Bốn tiếng.” Ông Hậu gằn giọng qua kẽ răng, quay phắt mặt đi chỗ khác để giấu đi sự xúc động và nỗi âu lo tột cùng đang cuộn lên trong lồng ngực. “Sau bốn tiếng mà quả vẫn bốc mùi thối, đừng trách tao!”

Mười lăm phút sau, chiếc xe máy của Khôi lao vút đi trong màn mưa trắng trời trắng đất. Tiếng máy xe gầm rú trong bùn lầy, bánh xe quẫy tung từng mảng đất đỏ bazan nhão nhoét trên con đường độc đạo dẫn ra thị trấn.

Những gì diễn ra trong suốt tám tiếng đồng hồ tiếp theo tại trạm sơ chế Bản Đỏ giống như một trận đánh sinh tử không khoan nhượng giữa con người và cơn thịnh nộ của đất trời.

Khôi trở về trên thùng chiếc xe tải chở hàng nặng trịch mượn được từ xưởng cơ khí. Trên xe là một cỗ máy phát điện diesel mười lăm kVA cũ kỹ nhưng nồi đồng cối đá, sáu chiếc quạt công nghiệp cánh thép đường kính sáu mươi centimet lấm lem dầu mỡ, và mười cuộn bạt nilon trắng nông nghiệp loại dày hai trăm micromet nguyên đai nguyên kiện.

Sân trạm sơ chế ngay lập tức biến thành một công trường khẩn cấp trong cơn giông bão. Không ai bảo ai, hơn hai mươi con người—gồm Khôi, Bảo Ngọc, anh Tư, Y Bih, ông Hậu và toàn bộ cánh thanh niên trai tráng trong buôn—lao vào trận địa mà không một ai thèm khoác áo mưa để tránh vướng víu tay chân.

Tiếng rựa chém vào thân tre chan chát vang lên rộn rã át cả tiếng mưa gió. Anh Tư đứng giữa sân, thoăn thoắt chẻ từng gióng tre lồ ô bánh tẻ, dùng sống rựa róc sạch mắt gai rồi uốn cong thân tre thành những thanh nan hình cánh cung đều tăm tắp, dẻo dai như những chiếc lò xo thép. Khôi và Y Bih trèo lên các thanh giằng của giàn phơi, hai chân bấu chặt vào khung sắt trơn trượt, dùng dây kẽm ly buộc chặt từng thanh nan tre vào hệ cột trụ định hình của giàn, dựng nên một hệ khung vòm liên hoàn cao cách mặt lưới phơi đúng một mét hai mươi.

“Bạt tới đâu nẹp tới đó! Gió giật dữ lắm, bung một góc là bay sạch cả lều!” Bảo Ngọc đứng trên sàn giàn phơi hét lớn, mái tóc ướt sũng bết chặt vào trán và hai bên má.

Đôi bàn tay mềm mại thường ngày của cô gái thành phố—đôi bàn tay vốn chỉ quen nâng niu chiếc ấm pour-over bằng đồng thanh thoát hay cầm chiếc thìa cupping mạ bạc chuẩn xác—giờ đây chằng chịt những vết xước rớm máu do cọ xát vào mắt tre sắc lẹm và đầu dây kẽm gỉ sét. Máu hòa cùng nước mưa rỉ ra từ kẽ móng tay, nhưng Bảo Ngọc không hề chớp mắt lấy một lần. Cô quỳ gối trên sàn giàn phơi trơn trợt, một tay kéo căng mép bạt nilon dày, một tay dùng kìm bấm siết chặt từng mối kẽm vào khung sắt, vừa làm vừa liên tục thọc sâu chiếc nhiệt kế kim loại vào đống quả cà phê để theo dõi diễn biến nhiệt.

Ở bên dưới, dưới gầm các giàn phơi ngập ngụa bùn đất, Khôi cùng anh Tư và hai người thợ máy hì hục lắp đặt hệ thống quạt công nghiệp. Bùn đất đỏ bazan bắn tung tóe lên mặt mũi, đầu tóc, chui cả vào khóe mắt cay xè. Sáu chiếc quạt công nghiệp khổng lồ với lồng sắt nặng trịch được kê kích cẩn thận trên những khúc gỗ thông tạm bợ, chĩa thẳng họng gió hướng ngược lên mặt đáy lưới cước. Từng đường dây điện ba pha bọc cao su dày được quấn kín bằng băng keo cách điện chuyên dụng, treo lơ lửng trên những chiếc cọc tre cắm cách biệt khỏi mặt nước lũ đang mấp mé bậc thềm kho lán.

“Bật máy phát! Đóng cầu dao số một!” Khôi hét lớn, toàn thân anh run lên bần bật vì lạnh buốt sau nhiều giờ ngâm mình trong dòng nước lũ.

*Phành... phành... roooo...!*

Cỗ máy phát điện gầm lên những tiếng nổ đanh giòn làm rung chuyển cả nền đất ẩm ướt, nhả ra từng luồng khói xám nồng nặc mùi dầu diesel hòa quyện vào không khí ẩm lạnh. Cánh quạt thép của chiếc quạt công nghiệp đầu tiên bắt đầu quay tít, xé toang khối không khí đặc quánh dưới gầm sàn. Một luồng gió cực mạnh với lưu lượng hàng nghìn mét khối một giờ thổi thốc từ dưới đáy giàn phơi xốc thẳng lên trên.

Cảnh tượng kỳ diệu lập tức diễn ra trước mắt những con người đang đứng chôn chân trong bùn đất.

Hàng triệu giọt nước mưa đang đọng quánh dưới các mắt lưới cước bị áp lực gió cực mạnh thổi bung ra, bắn tung tóe thành một màn sương mỏng dạt về hai đầu hồi. Luồng không khí khô cưỡng bức liên tục xé toạc các kẽ hở giữa hàng triệu quả cà phê, cuốn phăng hơi ẩm bão hòa đang ứ đọng bên trong đống ủ. Lớp bạt nilon vòm bên trên lập tức phồng căng lên như một cánh buồm căng gió giữa đại dương, chặn đứng từng đợt nước mưa rò rỉ từ mái tôn dột tạt xuống, đồng thời hoạt động như một đường ống dẫn khí định hướng hoàn hảo, ép luồng hơi ẩm thoát nhanh ra ngoài qua hai cửa sổ thông gió ở đầu hồi nhà lán.

Bảo Ngọc cầm chiếc cào gỗ chuyên dụng, lội chân trần thoăn thoắt trên lối đi hẹp giữa hai giàn phơi, cào đảo lớp quả mỏng đều ra khắp mặt lưới. Cô phân chia tám tấn quả thành các lớp mỏng không quá ba centimet:

“Đảo quả liên tục mười lăm phút một lần! Không để quả nằm đè lên nhau quá ba lớp! Gió thổi đến đâu, cào đảo đến đó cho nhớt se lại!”

Y Bih và cánh thanh niên trong buôn làng nhìn thấy mặt dưới của giàn phơi ráo dần từng phút, nước rỉ ra thưa dần rồi ngưng hẳn, ai nấy như được tiếp thêm một luồng sinh khí mới, lao vào cào đảo quả không ngơi tay.

Ở một góc giàn, ông Hậu đứng lặng lẽ dựa lưng vào cột lán, chiếc tẩu thuốc bằng gỗ trên môi đã tắt ngấm từ lâu vì nước mưa tạt. Ông im lặng nhìn đứa con trai đang quỳ rạp dưới gầm giàn phơi kiểm tra độ rung của từng chiếc mô-tơ, rồi nhìn sang cô gái trẻ thành phố đang dốc toàn bộ sức lực đảo từng vốc quả với đôi mắt rực lửa quyết tâm. Đôi bàn tay chai sạn của người nông dân già khẽ run lên. Ông không nói một lời nào, lẳng lặng cúi xuống nhặt lấy một chiếc cào gỗ phụ, bước lên giàn phơi, hòa mình vào dòng người đang hối hả làm việc giữa tiếng gầm rú của máy móc.

Đến ba giờ chiều, sau đúng tám tiếng đồng hồ dầm mình trong mưa bão mà không có lấy một hạt cơm lót dạ, toàn bộ trận địa dã chiến đã hoàn toàn định hình và vận hành ổn định.

Bên trong ba mái vòm nilon căng tròn, sáu luồng gió công nghiệp gầm rú liên tục đảo nhiệt đều đặn khắp các tầng lưới. Mặt trên của tám tấn quả Robusta chín mọng không còn bóng nhẫy nước mưa nữa. Lớp vỏ thịt quả bắt đầu se lại, chuyển dần từ màu đỏ thâm ướt át sang một lớp màng mờ khô ráo, căng chắc. Mùi giấm chua nồng nặc và mùi rượu thiu ban sáng đã bị luồng gió đối lưu xua tan hoàn toàn, nhường chỗ cho một mùi hương quả chín lên men thanh nhẹ, ngọt dịu và phảng phất hương vị tinh khiết như mùi táo chín ủ trong thùng gỗ sồi.

Bảo Ngọc rút chiếc nhiệt kế kim loại cắm sâu ở tầng giữa của giàn phơi số một lên, cẩn thận dùng vạt áo ướt lau sạch lớp nhớt bám trên đầu dò rồi nhìn vào mặt đồng hồ hiển thị số.

Hai mươi tư phẩy năm độ C.

Cô thở hắt ra một hơi dài, hai vai chùng xuống vì kiệt sức nhưng trên bờ môi tái nhợt bỗng nở một nụ cười rạng rỡ. Cô ngước nhìn Khôi đang đứng vịn vào thành giàn phơi bên cạnh, toàn thân anh bê bết bùn đất từ đầu đến chân, khuôn mặt hốc hác vì mệt mỏi nhưng đôi mắt sáng ngời:

“Chúng ta kiểm soát được quá trình rồi Khôi. Quả đã vào chế độ ủ ráo an toàn. Vi khuẩn axetic đã bị khóa hoạt tính. Giờ chỉ cần quạt chạy liên tục không ngừng, mẻ quả này sẽ qua khỏi cơn bão!”

Khôi nhìn cô, nhìn những vết xước rớm máu đã bắt đầu thâm lại trên mu bàn tay cô, lòng dâng lên một niềm cảm phục và xúc động khôn xiết. Anh đưa bàn tay run rẩy vì ngâm nước lạnh quá lâu, khẽ nắm lấy những ngón tay gầy guộc của cô. Ngọc không rút tay lại; cô siết nhẹ lấy tay anh, ánh mắt cả hai giao nhau giữa tiếng gầm rú đinh tai nhức óc của máy phát điện và quạt gió. Trong khoảnh khắc ấy, không cần bất kỳ một lời nói hoa mỹ nào, họ hiểu rằng sợi dây liên kết giữa họ không còn chỉ dừng lại ở một bản hợp đồng đồng sáng lập hay trách nhiệm công việc đơn thuần nữa—nó đã được tôi luyện qua bùn đất, mưa bão, máu và sự sống còn của từng hạt cà phê trên mảnh đất này.

Đúng lúc đó, chiếc điện thoại bọc kín trong túi nilon chống nước nhét sâu trong túi quần Khôi đổ chuông dồn dập.

Khôi run rẩy rút máy ra, lau vội lớp nilon mờ sương rồi bấm nút nghe, đồng thời bật loa ngoài. Là Trần Quốc Lâm gọi từ văn phòng đại diện tại Sài Gòn.

“Alo, Khôi hả? Tình hình trên rẫy thế nào rồi? Cứu được không?” Giọng Lâm gấp gáp vang lên giữa tiếng gõ bàn phím lách cách quen thuộc.

Khôi nuốt khan, cố gắng lấy lại nhịp thở bình tĩnh:

“Cứu được rồi Lâm. Anh Tư đề xuất dựng lều vòm nilon kết hợp quạt công nghiệp đảo gió dưới đáy giàn phơi. Bọn tao dầm mưa tám tiếng căng bạt xong hết rồi. Nhiệt độ hạ xuống hai mươi tư độ, toàn bộ tám tấn quả tươi đã chuyển sang chế độ ủ ráo có kiểm soát, không bị thối nhũn!”

Đầu dây bên kia im lặng mất vài giây, dường như Lâm đang thở phào nhẹ nhõm một cách vô thức. Nhưng ngay sau đó, giọng nói của người làm tài chính lập tức trở lại vẻ khô khốc, đanh thép thường ngày:

“Mày cứu được hạt cà phê, nhưng ví tiền của công ty thì vừa bị bắn thủng một lỗ chí mạng rồi đó Khôi.”

Khôi khựng lại, tim thắt lại:

“Sao vậy Lâm?”

Tiếng lách cách gõ phím của Lâm dồn dập hơn, kèm theo một tiếng thở dài não nề qua ống nghe điện thoại:

“Tao vừa rà soát lại toàn bộ dòng tiền và nhận được hóa đơn ủy nhiệm chi khẩn cấp mà mày gửi về hồi trưa. Mua hai mươi cuộn bạt nilon dày loại tốt hết tám triệu tư. Thuê hai cái máy phát điện công nghiệp mười lăm kVA trong mười ngày hết mười hai triệu. Tiền mua sáu cái quạt hút công nghiệp cánh thép hết chín triệu sáu. Và khủng khiếp nhất là tiền dầu diesel: để chạy hai cái máy phát điện đó ba ca liên tục hai mươi tư trên hai mươi tư giờ nhằm nuôi sáu cái quạt gió, mỗi ngày ngốn đứt một triệu tám tiền dầu. Dự kiến chạy liên tục một tuần đến khi bão tan hết gần mười ba triệu nữa!”

Lâm dừng lại một nhịp, giọng anh chùng xuống đầy áp lực nặng nề:

“Tổng chi phí ứng phó thiên tai dã chiến đợt này đã ngốn đứt bốn mươi ba triệu sáu trăm ngàn đồng tiền tươi thóc thật. Toàn bộ khoản quỹ dự phòng vận hành rủi ro tháng này của Bản Đỏ—khoản tiền mà tao đã vắt óc trích lập từ doanh thu của quán Tú Xương và đợt giải ngân của chị Mai Thanh Vy—đã bốc hơi sạch bách không còn một cắc!”

Khôi chết lặng giữa lán kho. Tiếng máy nổ vẫn gầm rú đều đặn dưới chân, nhưng từng nhịp pít-tông nổ lúc này nghe như tiếng đếm ngược của những đồng tiền mặt cuối cùng đang bị đốt cháy thành tro bụi.

“Lâm... tao không còn lựa chọn nào khác...” Khôi thì thào qua điện thoại. “Nếu không chi khoản đó, tám tấn quả này coi như vứt đi. Chúng ta sẽ mất trắng toàn bộ vốn thu mua của đợt một và mất trắng nguồn hàng cung cấp cho các quán sỉ.”

“Tao biết! Tao không trách quyết định kỹ thuật của mày và Ngọc!” Lâm lớn tiếng qua điện thoại, giọng anh nghẹn lại vì lo lắng tột cùng. “Nhưng thực tế là két sắt của Bản Đỏ hiện tại đã hoàn toàn cạn kiệt tiền mặt dự phòng. Từ giờ đến cuối tháng, nếu máy móc ở quán Tú Xương có hỏng, nếu đối tác thanh toán chậm, hay nếu có bất kỳ sự cố phát sinh nào khác... chúng ta sẽ không có lấy một đồng xu dính túi để xoay xở! Chúng ta đang đi trên dây xiếc mà không có lưới an toàn bên dưới, mày hiểu không Khôi?”

Khôi siết chặt chiếc điện thoại, ngước nhìn sang Bảo Ngọc. Cô đã nghe thấy toàn bộ cuộc đối thoại qua loa ngoài. Ánh mắt cô không hề né tránh, bình thản một cách kỳ lạ nhưng trĩu nặng âu lo.

“Tao hiểu rồi Lâm,” Khôi nói chậm rãi từng chữ. “Cảm ơn mày đã giữ chặt sổ sách. Bọn tao sẽ tằn tiện từng lít dầu, theo dõi sát sao từng giờ. Chỉ cần giữ được mẻ cà phê này, chúng ta sẽ có cách gỡ lại.”

Cuộc gọi kết thúc. Màn đêm buông xuống thung lũng Cư M'Rao nhanh như một tấm màn đen đặc. Bên ngoài, mưa bão vẫn quất điên cuồng vào triền dốc, nhưng bên trong lán kho Bản Đỏ, ánh đèn vàng từ máy phát điện vẫn rực sáng, soi rõ những con người đang kiên cường bám trụ bên từng giàn cà phê.

Ba ngày sau.

Áp thấp nhiệt đới cuối cùng cũng suy yếu thành một dải mây mù trôi dạt về phía sườn tây dãy Trường Sơn. Những tia nắng đầu tiên sau gần một tuần bão gió yếu ớt xuyên qua lớp bạt nilon dã chiến, rọi xuống trạm sơ chế Bản Đỏ.

Máy phát điện đã được tắt sau bảy mươi hai giờ vận hành liên tục hết công suất. Không gian trơ trọi trở lại với tiếng gió đồi xào xạc và tiếng nước róc rách rút dần dưới các mương rãnh. Nhờ hệ thống thông gió cưỡng bức của anh Tư, tám tấn quả chín đã không bị thối nhũn, lớp vỏ ngoài đã se quắt lại, khô ráo và chuyển sang màu cánh gián đậm của quá trình ủ ráo thành công.

Nhưng cái giá phải trả cho cuộc chiến sinh tồn này không hề rẻ.

Giữa khoảng sân đã rút cạn nước, Khôi và Bảo Ngọc đặt một chiếc máy xát vỏ mẫu cầm tay lên chiếc bàn gỗ thông. Bên cạnh là chiếc khay nhôm sáng loáng. Cả hai người im lặng, hốc mắt thâm quầng sau những đêm thức trắng luân phiên canh máy phát điện và đo nhiệt độ đống ủ.

Khôi bốc một vốc quả khô mẫu từ giàn phơi số hai—giàn nằm ở góc rìa ngoài cùng, nơi bị tạt nước nhiều nhất trong đêm bão đầu tiên—đưa vào phễu nạp của máy xát nhỏ. Anh quay đều tay quay cơ học. Tiếng vỏ thịt khô giòn vỡ lách tách dưới trục nghiền kim loại. Những hạt nhân xanh bọc trong lớp vỏ thóc màu vàng ngà rơi lả tả xuống khay nhôm bên dưới.

Bảo Ngọc cúi xuống, dùng đầu ngón tay khẽ gạt lớp vỏ thóc của một hạt nhân xanh vừa tách ra.

Một luồng không khí ẩm đặc quánh thoát ra từ đáy khay.

Khay thử mẫu nhân xanh đầu tiên sau ba ngày bão tan bốc lên mùi ẩm chua nhẹ, báo hiệu bài kiểm tra cảm quan đầy khắc nghiệt.

Chương này thế nào?Đánh giá giúp Readeep đề xuất đúng hơn cho bạn