Ly Cà Phê Đầu TiênC.21 / 45
Chương 21

Lời xin lỗi chân thành

Chiếc tạp dề vải thô rơi xuống mặt bàn làm việc phát ra một tiếng trầm đục giữa căn phòng họp ngột ngạt của Bản Đỏ tại Sài Gòn.

Tấm vải canvas màu nâu sẫm vắt ngang qua mớ tài liệu hỗn độn, đè lên những dải hóa đơn in dở cong queo mép giấy và góc chiếc máy tính xách tay đang sáng rực các biểu đồ tương tác mạng xã hội. Đó là chiếc tạp dề Hứa Bảo Ngọc luôn nâng niu như báu vật, thứ kỷ vật đã cùng cô trải qua những vòng thi barista quốc tế khốc liệt, nơi từng giọt chiết xuất, từng phần mười giây của dòng chảy và từng độ mịn của bột cà phê đều phải đánh đổi bằng kỷ luật sắt đá. Lúc này, trên bề mặt thô ráp của lớp vải dày vẫn còn thoang thoảng mùi khói nồng đượm của mẻ rang mẫu mà cô vừa cặm cụi suốt mười hai tiếng đồng hồ ở xưởng ngoại thành, thứ hương thơm của hạt Robusta sẻ được nâng niu tỉ mỉ giờ đây bị bóp nghẹt bởi mùi nhựa cháy âm ỉ từ quạt thông gió và sự bức bối của căn phòng bốn bức tường vôi vữa loang lổ.

Ánh mắt Bảo Ngọc lạnh buốt, sắc lẻm như lưỡi dao gạt bột cà phê bằng thép không gỉ. Cô đứng sừng sững bên mép bàn, lồng ngực phập phồng sau từng nhịp thở dồn dập dưới lớp áo sơ mi trắng giản dị cài kín cổ. Cô nhìn thẳng vào Đoàn Minh Khôi, không một lần chớp mắt, ánh nhìn chứa đựng sự phẫn nộ bị đè nén đến cực hạn.

“Khôi, tôi chỉ nói một lần duy nhất,” giọng cô không lớn, nhưng từng âm tiết đanh thép như đá tảng nện thẳng xuống sàn gạch men xám xịt của căn phòng tĩnh mịch. “Hoặc là anh tiếp tục kiếm tiền trên sự thương hại rẻ rúng này và tôi rút khỏi Bản Đỏ ngay lập tức; hoặc là anh lập tức xóa sạch toàn bộ chiến dịch rác rưởi đó, trả lại phẩm giá cho người trồng và hạt cà phê.”

Khôi như bị một cú đấm vô hình giáng thẳng vào chấn thủy. Cổ họng anh nghẹn ứ lại, một vị đắng ngắt trào lên tận cuống lưỡi. Hai bàn tay buông thõng bên hông run rẩy siết chặt thành nắm đấm, móng tay găm sâu vào lòng bàn tay đau nhói. Những lời nói nghẹn ngào, run rẩy vì uất ức trong điện thoại của anh Tư và Y Bih cách đây chưa đầy ba mươi phút vẫn còn ong ong bên tai anh như tiếng búa nện vào màng nhĩ. Từng câu chữ của họ mộc mạc, chất phác nhưng rát bỏng như tro than vừa gắp ra khỏi bếp lò.

Nhưng trước khi Khôi kịp mở miệng định nói một lời phân trần, Lý Gia Hân đã bật dậy khỏi chiếc ghế xoay bọc da giả. Chiếc ghế trượt lùi về phía sau phát ra tiếng rít chói tai trên sàn nhà. Đôi mắt kẻ mascara sắc sảo của cô chuyên viên truyền thông đỏ hoe vì thiếu ngủ và căng thẳng, nhưng trên gò má ửng đỏ vẫn hằn rõ sự bướng bỉnh đầy thực dụng của một người xuất thân từ các agency quảng cáo hàng đầu thành phố, nơi những chiến dịch được đo đếm bằng chuyển đổi và chỉ số hoàn vốn.

“Chị Ngọc, chị nói nghe thì thanh cao lắm, nhưng chị có thèm nhìn vào con số thực tế không?” Gia Hân chìa ngón tay run rẩy chỉ thẳng vào màn hình máy tính xách tay, nơi đồ thị biểu diễn lượng đơn hàng đang dựng đứng như một vách đá thẳng tắp. “Hai ngàn bốn trăm đơn hàng trong vòng chưa đầy ba mươi sáu tiếng đồng hồ! Doanh thu thực tế đã vượt mốc ba trăm triệu đồng và đang tăng gấp bốn lần tốc độ bán sỉ thường nhật của chúng ta suốt nửa năm qua cộng lại! Chị có biết mười lăm tấn nhân xanh Robusta đặc sản ngoài Cư M'Rao đang đối mặt với cái gì không? Mùa mưa Tây Nguyên đang tràn về từng ngày, từng giờ! Những cơn mưa dầm dề tháng Bảy sắp biến cao nguyên thành một vùng sũng nước! Nếu không có tiền mặt để luân chuyển, nếu không tẩu tán số hàng đó bằng kênh bán lẻ D2C ngay lúc này, toàn bộ kho hạt ngoài kia sẽ hút ẩm, thâm kim, ẩm mốc và biến thành một đống rác thải nông nghiệp trị giá hai tỷ rưỡi!”

Gia Hân bước dồn dập tới mép bàn đối diện Bảo Ngọc, giọng nói cô the thé lên vì kích động, từng hơi thở gấp gáp phả ra giữa không gian ngột ngạt:

“Anh Khôi vừa bị quỹ đầu tư của bà Mai Thanh Vy từ chối thẳng thừng vào sáng thứ Hai tuần trước! Chị có biết số dư quỹ tiền mặt của chúng ta trong két sắt và tài khoản thanh toán hiện tại chỉ còn vỏn vẹn mười bốn triệu hai trăm năm mươi ngàn đồng không? Mười bốn triệu đó thậm chí không đủ trả tiền thuê căn phòng rách nát này cho tháng sau! Khách hàng thành phố không ai rảnh rỗi ngồi đọc bảng phân tích độ Brix hai mươi mốt phẩy năm, cũng chẳng ai thèm bận tâm xem cái quy trình Yellow Honey phơi trên giàn lưới cước cách mặt đất sáu mươi phân phức tạp, tốn công ra sao đâu! Họ chỉ mua khi họ thấy xúc động! Họ chỉ mở ví khi nhìn thấy những hoàn cảnh khó khăn cần được chìa tay nâng đỡ! Đây là cách duy nhất, là con đường ngắn nhất và thực tế nhất để Bản Đỏ sống sót qua mùa vụ này. Danh dự có mài ra ăn được không khi công ty tuyên bố phá sản, khi anh Khôi mất luôn cả ba hécta đất rẫy hương hỏa của cha mẹ đã đem đi thế chấp ngân hàng?!”

“Đủ rồi, Gia Hân!”

Khôi gằn giọng, âm thanh trầm đục bộc phát từ lồng ngực khiến hai tai Gia Hân ù đi. Từng sợi gân xanh trên trán và thái dương anh giật nảy dưới làn da rám nắng.

Căn phòng họp lập tức rơi vào một khoảng lặng nghẹt thở, nặng nề như thể không khí vừa bị rút cạn. Tiếng quạt tản nhiệt của chiếc máy tính kêu ro ro rầu rĩ, đều đặn đến phát điên. Ở góc phòng, Trần Quốc Lâm vẫn ngồi bất động trên chiếc ghế xếp bằng inox, hai bàn tay đan chặt vào nhau che khuất nửa khuôn mặt mỏi mệt. Đôi mắt cậu sau tròng kính cận dày cộp phản chiếu những cột số nhảy múa trên màn hình phụ, một sự giằng xé tột cùng giữa bài toán dòng tiền sinh tồn của một giám đốc tài chính và giới hạn đạo đức kinh doanh của những kẻ khởi nghiệp tay trắng.

Bảo Ngọc không hề liếc nhìn Gia Hân lấy một lần. Ánh mắt cô vẫn găm chặt vào Khôi, kiên định, buốt giá và tuyệt đối không khoan nhượng.

“Anh nghe rõ chưa, Khôi?” Bảo Ngọc khẽ nói, nụ cười nhạt nơi khóe môi cô chứa đựng một sự thất vọng sâu cay. “Cô ấy nói đúng tim đen bản chất của cái chiến dịch này rồi đấy. Kiếm tiền bằng cách bêu riếu người khác. Anh biến đôi bàn chân nứt nẻ vì sương muối của anh Tư—đôi chân đã cày xới, gìn giữ từng gốc Robusta sẻ cổ thụ suốt mười lăm năm ròng rã—thành hình ảnh một kẻ khốn cùng ngửa tay xin bố thí giữa chợ đời. Anh biến căn chái bếp vách nứa cũ kỹ của đời ông nội Y Bih để lại thành biểu tượng của sự cùng quẫn, bần hàn nhằm câu từng lượt nhấp chuột, từng giọt nước mắt thương vay khóc mướn của cư dân mạng.”

Cô bước thêm một bước chậm rãi, tiếng gót giày gõ dứt khoát trên sàn. Ngón tay thon dài của cô chỉ thẳng vào gói cà phê mẫu in hình logo Bản Đỏ mạ nhũ vàng nằm trơ trọi giữa bàn:

“Chúng ta lập ra Bản Đỏ để làm gì? Ngày rời phòng thí nghiệm ở thành phố để theo anh lên cái buôn làng heo hút đó, chúng ta đã nói với nhau những gì? Chúng ta muốn chứng minh cà phê Robusta Việt Nam có thể đạt tám mươi tư, tám mươi lăm điểm theo thang chuẩn SCA bằng khoa học, bằng sự chuẩn xác của nông học và sự tỉ mỉ của người nông dân! Chúng ta muốn họ ngẩng cao đầu tự hào vì làm ra một sản phẩm tinh hoa của đất trời, được thị trường trả giá sòng phẳng bằng mồ hôi và trí tuệ, chứ không phải biến họ thành những kẻ ăn mày lòng trắc ẩn để bán tháo một gói cà phê gắn mác ‘giải cứu’! Nếu anh chọn con đường đó để sống sót, thì cái thương hiệu này đã chết thối rữa ngay từ lúc anh gật đầu duyệt đoạn clip đó rồi. Và tôi, Hứa Bảo Ngọc, không bao giờ đứng chung hàng ngũ với một kẻ lừa dối danh dự của nông dân.”

Từng lời, từng chữ của Bảo Ngọc như lưỡi dao mổ sắc lẹm rạch toang lớp vỏ ngụy biện mà bấy lâu nay sự túng quẫn tài chính và nỗi sợ hãi phá sản đã che mờ tâm trí Khôi.

Trong tâm tưởng anh bỗng chốc hiện về rõ mồn một ánh mắt rạng ngời đầy kiêu hãnh của anh Tư vào buổi trưa hôm nào, khi người nông dân ấy cẩn thận dùng khúc gỗ gạt phẳng mặt mẻ hạt trên giàn phơi, tự hào khoe độ ẩm đã rút đều xuống mười một phần trăm mà không hạt nào bị lên men chua. Anh nhớ nụ cười rạng rỡ của Y Bih khi run run đón nhận những phong bao tiền thưởng chất lượng cho từng tạ quả hái chọn lọc chín mọng chín mươi lăm phần trăm. Những người nông dân ấy mộc mạc như đất bazan, kiêu hãnh như cây kơ-nia giữa rừng. Họ không sợ nhọc nhằn, không sợ nắng cháy lưng hay gai cào rách toạc da thịt, họ chỉ sợ bị khinh rẻ, sợ bị nhìn bằng con mắt thương hại của người miền xuôi.

Vậy mà chỉ vì một khoảnh khắc nóng vội, vì áp lực của mười lăm tấn nhân xanh đang đè nặng và con số mười bốn triệu tiền mặt cạn kiệt, anh đã thỏa hiệp. Anh đã để những thuật toán truyền thông giẫm đạp lên lòng tự trọng thiêng liêng nhất của họ.

Một gói cà phê bán đi bằng sự thương hại sẽ vĩnh viễn không bao giờ có được sự tôn trọng thực chất của người uống. Người ta mua vì rủ lòng thương, người ta uống một lần rồi sẽ vứt bỏ bao bì vào thùng rác mà chẳng thèm quan tâm bên trong là Robusta sẻ hay thứ hạt vụn thải loại. Một thương hiệu xây dựng trên sự hạ thấp phẩm giá của người làm ra nó thì vĩnh viễn chỉ là một món hàng cứu trợ rẻ tiền, không bao giờ có cửa bước ra đấu trường quốc tế, không bao giờ có thể tự hào ngẩng cao đầu trước các nhà mua hàng ngoại quốc.

“Gia Hân,” Khôi lên tiếng.

Giọng anh không còn gắt gỏng mà trầm xuống, đặc quánh như lớp đất đỏ sau cơn mưa nguồn, mang theo một sức nặng khiến người ta phải lạnh gáy.

“Đưa quyền quản trị hệ thống cho tôi.”

Gia Hân sững sờ, đôi mắt mở to bàng hoàng: “Anh Khôi... anh bị làm sao thế? Anh mất trí rồi à? Đơn hàng đang đổ về từng giây! Khách hàng đang chuyển khoản tiền tươi thóc thật vào tài khoản công ty! Anh có biết nếu dừng lại lúc này thì toàn bộ...”

“Tôi bảo cô chuyển quyền quản trị toàn bộ các kênh lại cho tôi. Ngay lập tức!” Khôi quát lên, âm thanh chấn động làm rung rinh cả tấm bảng foamex gắn trên vách kính.

Gia Hân run bắn người trước cái nhìn dữ dội, dứt khoát đến mức tàn nhẫn của Khôi. Trong ánh mắt ấy không còn chút do dự hay nao núng nào của một kẻ đang bị dồn vào chân tường. Nhận ra không thể lay chuyển được người đàn ông này, cô run rẩy bước thụt lùi lại, hai tay buông thõng, rời khỏi con chuột máy tính.

Khôi bước tới, kéo mạnh chiếc ghế xoay lại gần. Ánh sáng xanh từ màn hình hắt lên khuôn mặt góc cạnh của anh, soi rõ những quầng thâm sâu hoắm dưới mắt. Anh nhìn vào giao diện quản trị mạng xã hội của Bản Đỏ. Dưới video ngắn mang dòng tiêu đề giật gân: *“Cà phê đẫm nước mắt của đồng bào Tây Nguyên — Hãy chung tay giải cứu”*, hàng ngàn bình luận thương cảm, xót xa xen lẫn những lời lẽ tội nghiệp dành cho buôn làng Cư M'Rao đang nhảy múa liên hồi. Người ta tán dương lòng tốt của chính họ, người ta thương xót cho những phận người lam lũ bằng sự trịch thượng vô thức của cư dân đô thị. Từng dòng chữ ấy giờ đây như những mũi kim nung đỏ đâm thẳng vào mắt Khôi.

Khôi không hề do dự thêm một giây nào nữa. Ngón tay anh rê chuột, bấm vào thanh trạng thái của video có hơn hai triệu lượt tương tác: *Chuyển vào thùng rác*.

*Click.*

Đoạn video clip biến mất hoàn toàn khỏi dòng thời gian. Toàn bộ lượng chia sẻ, những con số hiển thị triệu view tan biến trong một phần mười giây.

Không dừng lại ở đó, Khôi tiếp tục mở sang nền tảng bán hàng thứ hai, rồi tài khoản quảng cáo thứ ba. Toàn bộ các bài viết đang được đổ ngân sách chạy tiếp thị liên kết, những thước phim bi kịch hóa cảnh nghèo túng, những hình ảnh cắt cúp đầy dụng ý về căn bếp tuềnh toàng của Y Bih và đôi bàn chân trần nứt nẻ của anh Tư đều lần lượt bị anh đánh dấu và ấn lệnh xóa vĩnh viễn.

Hệ thống quản trị liên tục hiện lên các cảnh báo màu đỏ: *“Hành động này sẽ làm giảm bảy mươi phần trăm lượng truy cập hiện tại. Bạn có chắc chắn không?”* Khôi lạnh lùng ấn nút xác nhận không một thoáng chần chừ.

“Lâm,” Khôi quay sang người bạn phụ trách tài chính, giọng anh đã lấy lại sự bình tĩnh sắc bén vốn có của một kỹ sư nông nghiệp. “Mở một khung thông báo khẩn cấp trên trang chủ và đồng bộ sang tất cả các kênh thông tin chính thức của Bản Đỏ. Chúng ta sẽ đăng thông cáo đính chính công khai ngay trong sáng nay.”

Lâm từ từ ngẩng đầu lên. Cậu tháo chiếc kính cận, dùng vạt áo lau vội vết mờ rồi đeo lại cẩn thận. Cậu thở hắt ra một hơi thật dài, một tiếng thở như trút bỏ được cả một khối đá nặng ngàn cân đang đè nghẹt buồng phổi suốt hai ngày qua. Cậu đẩy nhẹ gọng kính, gật đầu dứt khoát: “Được. Cậu đọc, mình gõ trực tiếp lên hệ thống.”

Khôi đứng thẳng lưng bên bàn làm việc, ánh mắt nhìn ra khoảng trời mù mịt khói bụi ngoài ô cửa sổ Sài Gòn. Từng lời anh thốt ra đều được cân nhắc chậm rãi, rành rọt và chuẩn xác:

*“Kính gửi quý khách hàng và cộng đồng yêu cà phê. Trong bốn mươi tám giờ qua, Bản Đỏ Coffee đã cho đăng tải một chiến dịch truyền thông mang tính bi kịch hóa đời sống của các nông hộ tại buôn Cư M'Rao. Đây là sai lầm đặc biệt nghiêm trọng xuất phát từ sự buông lỏng kiểm duyệt và tư duy thương mại sai lệch của ban điều hành, đứng đầu là tôi — Đoàn Minh Khôi.*

*Nông dân buôn Cư M'Rao không phải là những đối tượng nghèo khổ cần được giải cứu bằng lòng thương hại. Họ là những nghệ nhân thực thụ của vùng đất bazan, những đối tác canh tác kiên cường đang ngày đêm cùng chúng tôi tạo ra những hạt Robusta sẻ đạt tiêu chuẩn đặc sản quốc tế bằng khoa học và phẩm giá lao động. Bản Đỏ xin gửi lời xin lỗi chân thành và sâu sắc nhất tới cộng đồng nông dân Cư M'Rao cùng toàn thể quý khách hàng vì sự thiếu tôn trọng này.*

*Chúng tôi đã gỡ bỏ hoàn toàn toàn bộ chiến dịch nói trên. Đối với tất cả những đơn hàng đã được đặt trong hai ngày qua vì mục đích từ thiện hoặc thương hại hoàn cảnh, quý khách có toàn quyền hủy đơn và chúng tôi cam kết hoàn lại một trăm phần trăm tiền thanh toán ngay lập tức mà không kèm theo bất kỳ điều kiện nào.”*

Khi ngón trỏ của Lâm gõ mạnh vào phím *Enter* để phát đi thông cáo báo chí, chiếc máy in vận đơn tự động đặt ở góc phòng đang chạy rèn rẹt bỗng chốc ngưng bặt. Âm thanh cơ học sắc nhọn đột ngột dừng lại tạo nên một khoảng im ắng đến rợn người.

Hiệu ứng đảo chiều ập đến tàn khốc và tức thì. Trên bảng điều khiển bán hàng trực tuyến, đồ thị đơn hàng bắt đầu lao dốc không phanh. Từ con số hàng trăm lượt đặt mỗi giờ, những chấm xanh báo hiệu đơn mới thưa thớt dần rồi tụt xuống mức nhỏ giọt. Chỉ trong vòng chưa đầy sáu tiếng đồng hồ sau khi thông cáo phát đi, tỷ lệ hủy đơn và sụt giảm đơn hàng mới đã chạm mức kinh hoàng: bảy mươi phần trăm.

Hàng ngàn người mua cảm thấy “bị hụt hẫng” vì hành vi từ thiện của họ bị từ chối; hàng trăm bình luận quay ngoắt lại công kích, chửi bới Bản Đỏ là “làm màu”, “quay xe”, “bày đặt dạy đời khách hàng”.

Gia Hân nhìn chằm chằm vào những con số đỏ lòm trên màn hình, cả người cô run rẩy rồi ngồi sụp xuống ghế. Cô bưng lấy hai bàn tay, úp mặt khóc nức nở. Toàn bộ công sức cày xới số liệu, xây dựng kịch bản viral và tạo dựng hiệu ứng đám đông của cô bỗng chốc vỡ vụn thành mây khói.

Lâm nhìn vào bảng đối soát doanh thu thực tế, giọng cậu khô khốc và đều đều như một chiếc máy đếm nhịp vô hồn: “Số đơn còn giữ lại chỉ còn chưa đầy ba mươi phần trăm, tương đương khoảng sáu trăm đơn hàng thực tế của những người thực sự muốn uống cà phê ngon vì chất lượng. Dòng tiền dự kiến ba trăm triệu chỉ còn lại chưa đầy chín mươi triệu đồng. Sau khi trừ chi phí bao bì nhôm màng năm lớp, tiền vận chuyển hỏa tốc và phí xử lý cổng thanh toán, chúng ta hầu như không có thặng dư để bù đắp bất kỳ khoản nợ nào.”

Khôi không nhìn vào những con số đó nữa. Anh quay người sang nhìn Bảo Ngọc.

Người con gái ấy vẫn đứng im bên bàn làm việc, nhưng sự lạnh lẽo trong mắt cô đã hoàn toàn tan biến, thay vào đó là một vẻ trầm tĩnh, thấu suốt và một sự tôn trọng vừa được thắp lại. Bảo Ngọc bước tới, hai tay nhặt chiếc tạp dề vải thô màu nâu sẫm trên bàn lên. Cô dùng lòng bàn tay phủi nhẹ những nếp gấp nhăn nhúm, cẩn thận gấp lại vuông vắn rồi đặt gọn gàng vào hai bàn tay thô ráp của Khôi.

“Giờ thì anh biết mình phải đi đâu rồi đấy,” Bảo Ngọc nói khẽ, giọng cô trầm ấm lạ thường. “Đừng ở lại Sài Gòn đối diện với những con số chết tiệt này nữa. Danh dự của Bản Đỏ không nằm ở căn phòng này, càng không nằm trên mạng xã hội. Nó nằm ở rẫy.”

Khôi siết chặt chiếc tạp dề thô ráp trong tay, cảm nhận mùi hương cà phê rang mộc vẫn còn vương vấn sâu trong từng thớ vải. Anh quay sang nhìn Lâm, giọng dứt khoát: “Cậu ở lại thành phố, phối hợp với kế toán xử lý triệt để việc hoàn tiền cho tất cả những khách muốn hủy đơn, minh bạch từng đồng một, không để ai phải phàn nàn dù chỉ một câu. Tôi đi chuyến xe sớm nhất.”

***

Chiếc xe đò liên tỉnh đêm muộn rồ ga gầm rú, rung lắc dữ dội khi lao vút trên quốc lộ 14 gồ ghề đầy những ổ gà và vết nứt lở sau những trận mưa đầu mùa. Cả khoang xe chìm trong bóng tối lờ nhờ, nồng nặc mùi dầu máy, mùi cao su cháy khét và hơi thở ẩm ướt của những hành khách ngủ vùi.

Khôi ngồi ở hàng ghế sát cửa kính, trán anh tì chặt vào lớp kính ố bẩn rung bần bật theo từng nhịp xóc nảy của hệ thống giảm xóc cũ kỹ. Suốt sáu tiếng đồng hồ xe vượt đèo dốc quanh co, anh không hề chợp mắt dù chỉ một giây. Nhắm mắt lại, anh chỉ thấy đôi bàn chân nứt nẻ của anh Tư và ánh mắt bừng bừng phẫn nộ của Y Bih qua màn hình điện thoại. Lương tâm anh bị cào xé dữ dội bởi sự hổ thẹn. Anh đã làm tổn thương những con người đã đặt trọn vẹn niềm tin vào anh, những người đã dám giao phó cả vụ mùa và danh dự của dòng họ cho một kẻ non nớt như anh dẫn đường.

Trời vừa hửng sáng, sương mù dày đặc như những dải bông ẩm ướt còn bao phủ kín các triền đồi bazan khi chiếc xe đò thả Khôi xuống ngã ba buôn Cư M'Rao. Gió cao nguyên buổi sớm thốc vào mặt lạnh buốt thấu xương.

Đất đỏ ẩm ướt sau cơn mưa đêm dính chặt lấy đế giày Khôi, nhão nhoét và nặng trịch theo từng bước đi. Khôi không ghé về căn nhà nhỏ của cha mẹ ở đầu thôn. Anh khoác chiếc ba lô bạc màu, rảo bước thật nhanh qua con đường mòn đất đỏ ngoằn ngoèo men theo sườn đồi, hướng thẳng về phía chái nhà gỗ của anh Tư.

Sương sớm phả từng làn khói mờ ảo qua những rặng muồng đen chắn gió, nhưng trong lồng ngực Khôi lại như có một lò than đang âm ỉ cháy.

Từ xa, qua hàng rào dâm bụt trổ những bông hoa đỏ sẫm còn đọng nước mưa, Khôi đã nhìn thấy bóng dáng quen thuộc của anh Tư. Người nông dân ngoài năm mươi tuổi đang ngồi xổm bên bậc thềm đá trước hiên nhà, trên tay là chiếc liềm cắt cỏ có phần cán gỗ đã mòn vẹt. Ông đang miệt mài mài lưỡi thép vào một viên đá mài thô nhám đặt ngập trong chiếc chậu nhôm cũ.

Âm thanh *xoèn xoẹt... xoèn xoẹt* vang lên khô khốc, đều đặn và nặng nề giữa không gian tĩnh mịch của thung lũng buổi sớm mai. Từng vệt bọt nước xám xịt từ mặt đá mài chảy tràn xuống sân đất.

Khôi bước qua cánh cổng tre kêu cọt kẹt. Tiếng bước chân anh giẫm lên lớp cỏ ướt đẫm sương khiến anh Tư dừng tay lại một nhịp, nhưng người đàn ông luống tuổi không hề ngẩng đầu lên. Ông chỉ nhúng mạnh lưỡi liềm vào chậu nước đục bên cạnh, tiếng kim loại rít lên ken két lạnh lùng.

“Anh Tư...” Khôi cất tiếng gọi, giọng anh khản đặc và run rẩy sau một đêm dài thức trắng.

Anh Tư vẫn cúi gầm mặt xuống phiến đá, tiếp tục liếc lưỡi thép sắc nhọn qua lại, giọng nói mỉa mai khô khốc cất lên: “Cậu về đây làm gì sớm thế? Về để chụp thêm vài tấm hình cái áo rách với đôi chân lấm bùn của thằng già này lên mạng cho thiên hạ ngoài phố họ thương tình bố thí thêm tiền à?”

Từng lời nói của anh Tư như những nhát liềm phạt thẳng vào da thịt Khôi, buốt nhói.

Khôi tiến lại gần hơn, dừng lại cách bậc thềm đá đúng ba bước chân. Rồi trước sự ngỡ ngàng của người nông dân kỳ cựu, Khôi gập người xuống, cúi đầu một góc chín mươi độ, giữ nguyên tư thế tạ tội ấy giữa khoảng sân rẫy ướt đẫm sương mù và gió lạnh.

“Anh Tư, em sai rồi,” Khôi nói, từng âm thanh nghẹn lại nơi cuống họng nhưng vang lên rành rọt giữa không gian vắng lặng. “Em là một thằng quản lý tồi tệ. Em để áp lực tiền bạc làm mờ mắt, em buông lỏng kiểm duyệt nội dung, để người ta xúc phạm đến nhân cách và sự nhọc nhằn suốt mười lăm năm qua của anh trên mảnh đất này. Em không có bất kỳ lời nào để biện minh cho sự hèn nhát và tắc trách của mình. Em về đây là để cúi đầu xin lỗi anh.”

Tiếng mài liềm *xoèn xoẹt* bỗng chốc ngưng bặt hoàn toàn.

Anh Tư sững người. Bàn tay gân guốc, đen đúa đầy những vết sẹo ngang dọc do cành cà phê cào xước của ông bất giác run lên. Suốt hơn ba mươi năm làm thuê cho các đồn điền, rồi tự khai hoang làm rẫy, va chạm với không biết bao nhiêu đời thương lái ép giá, lừa lọc từ khắp nơi đổ về, ông chỉ toàn thấy sự trịch thượng, tráo trở và coi thường của giới buôn bán lắm tiền. Chưa từng có một người có học thức từ thành phố trở về, mang danh giám đốc công ty, lại chịu cúi rạp đầu tạ tội một cách chân thành, hạ mình và run rẩy đến thế trước một người làm nông nghèo nàn như ông.

Anh Tư ngồi im lìm như một pho tượng đá giữa màn sương. Một lát sau, ông thở dài một hơi thật sâu, ném mạnh viên đá mài vào góc chân tường rồi đứng dậy, hai tay phủi lớp bụi đất bám trên ống quần bộ đội sờn rách.

“Cậu đứng thẳng cái lưng lên đi,” anh Tư nói, giọng đã chùng xuống đôi phần nhưng vẫn giữ nguyên sự nghiêm khắc của một người bề trên. “Đã làm thằng đàn ông ở đời, cái đầu chỉ được cúi trước bàn thờ tổ tiên với cha mẹ sinh ra mình thôi.”

Ông bước tới lu nước mưa cạnh chái bếp, múc một gáo nước lạnh rửa sạch những vết bùn đất trên đôi bàn tay thô ráp: “Hôm qua tao nghe thằng cháu làm cán bộ đoàn ở xã mở điện thoại cho xem rồi. Tao thấy cái bài xin lỗi đính chính của cậu rồi. Cả cái đoạn cậu tuyên bố cho người ta hủy đơn hàng, trả lại tiền nữa. Mày... mày dám bấm nút xóa sạch cả cái đống tiền ba trăm triệu bạc đó thật à?”

“Em xóa sạch rồi anh,” Khôi ngẩng đầu lên, đôi mắt anh đỏ hoe, thâm quầng nhưng cái nhìn thẳng thắn và sáng rõ. “Tiền kiếm được bằng cách giẫm đạp lên danh dự và mồ hôi của người trồng thì vĩnh viễn không phải là tiền của Bản Đỏ. Em thà chịu cảnh kho hàng Cư M'Rao ứ đọng, thà chấp nhận công ty phá sản, đất đai bị siết nợ, chứ nhất quyết không để anh và buôn làng bị người đời coi là phường ăn mày xin xỏ lòng thương hại.”

Anh Tư nheo mắt nhìn sâu vào gương mặt hốc hác của Khôi một hồi lâu. Nét mặt căng thẳng, khắc khổ của người đàn ông ngoài năm mươi tuổi dần dần giãn ra. Bất thình lình, ông vung tay vỗ mạnh một cái vào bả vai Khôi. Cú đập mạnh bạo của người làm rẫy khiến Khôi lảo đảo suýt ngã, nhưng trong lồng ngực anh, một luồng hơi ấm kỳ lạ bỗng chốc lan tỏa khắp châu thân.

“Thôi, biết sai mà dám nhận, dám vứt bỏ cả đống tiền tươi để giữ lại cái mặt mũi cho nông dân thì mày vẫn còn là thằng Khôi của đất Cư M'Rao này,” anh Tư chặc lưỡi, quay người bước vào trong chái nhà tối om. “Uống chén trà nóng cho ấm bụng đi rồi cùng tao qua nhà thằng Y Bih. Chiều hôm qua nó giận đến mức đòi xé toạc cái hợp đồng liên kết thu mua quả chín đấy. Bên đó mới là cửa ải khó khăn nhất của mày.”

Khôi khẽ lắc đầu từ chối chén trà, anh chỉ xin một ngụm nước lã từ gáo dừa để làm dịu đi bờ môi khô nẻ, rồi lập tức cùng anh Tư rảo bước băng qua con mương cạn đầy sỏi đá, men theo con dốc đất đỏ trơn trượt để tiến sâu vào buôn hạ Cư M'Rao.

***

Căn nhà sàn dài truyền thống của gia đình Y Bih Niê nằm im lìm dưới bóng những cây sầu riêng cổ thụ sum suê. Khói bếp buổi sớm bảng lảng bay qua mái ngói rêu phong, hòa vào màn sương mù đặc quánh bao phủ cả buôn làng.

Ngay dưới chân cầu thang gỗ đẽo hình đôi bầu sữa mẹ, già Ama H'Rin cùng hai thanh niên vạm vỡ trong buôn là Y Khen và Y Lem đang ngồi trầm ngâm quanh một đống lửa củi sưởi ấm. Bầu không khí bao trùm lấy khoảng sân đất đặc quánh một sự căng thẳng, nghi kỵ và dò xét.

Khi thấy bóng Khôi và anh Tư lầm lũi xuất hiện từ đầu con dốc, không một ai trong số họ đứng dậy cất tiếng chào như mọi lần Khôi ghé thăm. Từ trên sàn nhà, Y Bih bước xuống từng bậc thang gỗ. Khuôn mặt người đàn ông Ê-đê trẻ tuổi đanh lại như một thanh gỗ trắc, đôi mắt đen láy nhìn Khôi rực lên sự tổn thương sâu sắc xen lẫn vẻ cảnh giác cao độ.

“Anh Khôi còn đến đây làm gì nữa?” Y Bih lên tiếng trước, giọng lạnh băng như nước suối đầu nguồn mùa đông. “Hôm qua trên điện thoại tôi đã nói rõ ràng toàn bộ rồi. Người Ê-đê ở buôn Cư M'Rao này nghèo thì có nghèo thật, nhưng chúng tôi không thể tiếp tục bắt tay làm ăn với những kẻ đem con cái, gia đình và nếp nhà của chúng tôi ra làm trò hề cho thiên hạ thương hại để kiếm chác.”

Già Ama H'Rin rít một hơi thuốc lá cuốn sâu cay, làn khói xám xịt phả ra từ đôi môi thâm sì. Đôi mắt mờ đục của vị già làng nhìn Khôi đầy thất vọng:

“Cái bụng người thành phố các anh nhiều mưu mô, nhiều ngóc ngách quá. Ban đầu anh đến đây, anh nói hay lắm. Anh bảo sẽ trả giá công bằng cho hạt cà phê chín mọng, bảo người buôn này là nghệ nhân làm ra hạt ngọc cho đời. Thế mà sau lưng, các anh lại đem cái chái bếp dột nát của đời ông nội thằng Y Bih lên cho thiên hạ xúm vào chỉ trỏ, bảo buôn này đói rách, cơ hàn. Chiều qua, lũ trẻ con đi học ở trường huyện bị bạn bè trêu chọc là phường ăn mày cứu trợ, chúng nó về khóc sưng cả mắt dưới gầm sàn. Danh dự của dòng họ Niê chúng tôi, bao nhiêu tiền bạc của các anh có đền bù lại được không?”

Trước ánh nhìn phẫn nộ của những người nông dân nòng cốt trong tổ hợp tác, Khôi bước lên phía trước hai bước dài. Anh không hề né tránh ánh mắt của già H'Rin, cũng không hề tìm cách chối bỏ trách nhiệm.

Trước sự chứng kiến của tất cả mọi người, Khôi quỳ một chân xuống nền đất đỏ ướt át trước mặt già Ama H'Rin và Y Bih. Anh run run rút từ trong túi áo khoác ra tờ thông cáo báo chí chính thức đã được in sẵn ra giấy cùng bản lưu trữ toàn bộ các lệnh xóa bài trên hệ thống.

“Già Ama H'Rin, anh Y Bih, và toàn thể bà con buôn làng,” Khôi nghẹn ngào cất tiếng, từng lời nói run rẩy nhưng mang theo một sức nặng ngàn cân của sự hối lỗi tận đáy lòng. “Con về đây hôm nay không phải để xin bà con tha thứ ngay lập tức, mà để nhận toàn bộ trách nhiệm về mình. Lỗi lầm khủng khiếp này hoàn toàn do con buông lỏng quản lý, do sự thiếu hiểu biết và chạy theo áp lực tài chính của ban điều hành Bản Đỏ, để nhân viên truyền thông làm bậy, xúc phạm đến thể diện và thanh danh của buôn làng.”

Khôi ngước nhìn thẳng vào đôi mắt đang rực lửa giận của Y Bih:

“Tờ thông cáo này con đã cho phát đi khắp cả nước từ sáng sớm hôm nay, tuyên bố rõ ràng trước toàn thể xã hội rằng bà con Cư M'Rao là những nghệ nhân làm cà phê xuất sắc nhất, không ai có quyền thương hại hay ban ơn cứu trợ cho buôn làng chúng ta. Chiều qua, ngay khi phát hiện ra đoạn clip bẩn thỉu đó, chính tay con đã bấm nút xóa bỏ toàn bộ, chấp nhận mất đi bảy mươi phần trăm lượng đơn hàng, chấp nhận vứt bỏ hàng trăm triệu đồng doanh thu thực tế. Con làm điều đó không phải để chứng minh mình hào hiệp hay thanh cao, mà để khẳng định một điều duy nhất: Với Bản Đỏ, danh dự của anh Y Bih, của già Ama H'Rin và của từng hạt cà phê chín mọng trên mảnh đất Cư M'Rao này quý giá hơn bất kỳ đồng tiền nào trên đời!”

Khôi đặt tờ thông cáo xuống bên cạnh đống lửa, giọng anh vang lên đanh thép:

“Nếu bà con buôn làng quyết định không tiếp tục hợp tác với Bản Đỏ nữa, con hoàn toàn chấp nhận và xin chịu mọi hình phạt bồi thường hợp đồng. Nhưng xin bà con hãy tin, cái tâm của thằng Khôi này khi quay về quê hương chưa bao giờ có ý định đem mồ hôi và lòng tự trọng của bà con ra để buôn bán trục lợi!”

Khoảng sân nhà sàn lại chìm vào một sự im lặng kéo dài đến nghẹt thở.

Chỉ còn tiếng những thanh củi dẻ nổ lách tách trong đống lửa đỏ và tiếng gió xào xạc luồn qua những tán lá cà phê xum xuê ngoài bờ rào.

Y Bih đứng bất động, ánh mắt anh nhìn chằm chằm vào người kỹ sư trẻ đang quỳ gối dưới chân mình. Anh nhìn thấy đôi mắt đỏ ngầu vằn lên những tia máu vì thức trắng nhiều đêm của Khôi, nhìn thấy bờ môi nứt nẻ rớm máu và những vệt bùn đất đỏ quạch bám đầy trên gấu quần, mũi giày của người thanh niên thành thị. Y Bih biết tin Khôi xóa sạch chiến dịch và chấp nhận mất hàng trăm triệu từ tối hôm qua qua lời kể của mấy đứa em trong buôn dùng mạng xã hội, nhưng anh không bao giờ ngờ được rằng người đứng đầu Bản Đỏ lại dám bỏ lại tất cả sau lưng, bắt chuyến xe đò bão bùng trong đêm chỉ để về đây quỳ xuống nhận lỗi trước mặt dòng tộc mình một cách trần trụi và thành khẩn đến thế.

Y Bih thở dài một hơi thật mạnh, bước tới hai bước, cúi người xuống nắm chặt lấy cùi chỏ của Khôi rồi dùng sức kéo anh đứng dậy. Bàn tay thô ráp, chai sạn như vỏ cây rừng của người nông dân Ê-đê bóp chặt lấy cánh tay Khôi:

“Anh Khôi, đứng dậy đi! Người đàn ông Cư M'Rao chúng tôi chỉ trọng những kẻ dám làm dám chịu, biết sai mà sửa, chứ không bao giờ thèm chấp những kẻ chỉ biết ngụy biện quanh co.”

Y Bih quay sang nhìn già Ama H'Rin và hai người em Y Khen, Y Lem, rồi lại nhìn thẳng vào đôi mắt vẫn còn ngân ngấn nước của Khôi:

“Bà con chúng tôi có thể tiếp tục gắn bó với Bản Đỏ, tiếp tục bán cho các anh những quả cà phê chín mọng, ngọt ngào nhất của mùa sau. Nhưng tôi đặt ra một điều kiện duy nhất, và đây là lằn ranh đỏ tuyệt đối không bao giờ được phép bước qua: Bản Đỏ vĩnh viễn không bao giờ được phép biến nông hộ Cư M'Rao chúng tôi thành đối tượng cầu xin từ thiện thêm một lần nào nữa! Chúng tôi có đôi bàn tay chai sạn này, có đất đai màu mỡ của ông bà để lại, có khối óc để học hỏi kỹ thuật làm ra hạt cà phê ngon đạt tiêu chuẩn quốc tế. Chúng tôi bán mồ hôi, bán trí tuệ và chất lượng sản phẩm, tuyệt đối không bao giờ bán lòng tự trọng để đổi lấy sự thương hại của bất kỳ ai!”

“Con xin thề trước đống lửa này!” Khôi siết chặt bàn tay Y Bih, giọng anh rung lên bần bật vì xúc động nghẹn ngào. “Nếu Bản Đỏ tái phạm điều này một lần nữa, con sẽ tự tay giải thể thương hiệu và vĩnh viễn rời khỏi mảnh đất Tây Nguyên này, không bao giờ quay lại!”

Già Ama H'Rin khẽ gật đầu, khuôn mặt nhăn nheo như vỏ cây rừng của cụ giãn ra một nét cười hiếm hoi. Cụ vứt mẩu tàn thuốc lá vào đống tro tàn, cất giọng trầm đục: “Đã nói được thì cái bụng phải giữ cho bền như cây lim giữa rừng. Thằng Y Bih đã chịu bỏ qua thì cái bụng già này cũng không để bụng nữa. Mau bước lên sàn nhà, cùng uống một chén rượu cần để xua đi hết cái mùi dơ bẩn của những lời đồn thổi độc ác ngoài kia.”

Cơn khủng hoảng tưởng chừng như đã đào một hố sâu chôn vùi vĩnh viễn toàn bộ nền móng non trẻ của Bản Đỏ cuối cùng đã được hàn gắn lại, không phải bằng những hợp đồng pháp lý phức tạp hay những khoản tiền bồi thường kếch xù, mà bằng chính sự trung thực đến tận cùng và lòng dũng cảm dám đối diện với sai lầm của những người làm rẫy.

***

Buổi chiều muộn hôm đó, tại căn nhà kho nông cụ cũ kỹ của gia đình họ Đoàn ở lưng chừng đồi—nơi mẻ cà phê Yellow Honey đầu tiên của Bản Đỏ từng ra đời trong những ngày đầu khởi nghiệp—một cuộc họp đặc biệt và trang nghiêm đã diễn ra.

Trần Quốc Lâm và Hứa Bảo Ngọc đã bắt chuyến xe đò sớm nhất từ Sài Gòn lên để kịp có mặt trước khi mặt trời lặn. Lý Gia Hân cũng đi cùng họ. Cô gái trẻ thành thị bước vào căn nhà kho lợp mái tôn xi măng với vẻ mặt rụt rè, bẽn lẽn và im lặng khác hẳn vẻ tự tin, sắc sảo thường ngày. Đứng giữa căn nhà kho thoang thoảng mùi trấu khô và hương thơm ngọt ngào của nhân xanh lên men, nhìn thấy những giàn phơi lưới cước sạch bóng không một hạt bụi, nhìn những bao nhân xanh GrainPro chuyên dụng xếp ngay ngắn trên pallet gỗ và chứng kiến ánh mắt cương nghị, chất phác nhưng đầy kiêu hãnh của anh Tư và Y Bih, Gia Hân mới thực sự thấm thía thế nào là giá trị thực chất của một vùng nguyên liệu. Cô hiểu ra rằng những con số chuyển đổi ảo trên màn hình số chẳng là gì so với mồ hôi và lòng tự trọng của những con người bằng xương bằng thịt nơi đây.

Khôi trải phẳng một tập tài liệu dày cộp, còn thơm mùi mực in vừa lấy từ bưu điện huyện, lên chiếc bàn gỗ thông mộc mạc giữa kho. Trên trang bìa đầu tiên in đậm những dòng chữ in hoa màu đen nổi bật: *QUY CHẾ QUẢN TRỊ TRUYỀN THÔNG VÀ BẢO VỆ PHẨM GIÁ NÔNG HỘ — BẢN ĐỎ COFFEE.*

Tất cả mọi người—từ nhóm sáng lập gồm Khôi, Lâm, Bảo Ngọc, chuyên viên truyền thông Gia Hân cho đến hai đại diện nòng cốt của nông dân là anh Tư và Y Bih—đều ngồi quây quần quanh chiếc bàn gỗ thô sơ dưới ánh đèn dây tóc vàng vọt.

“Sau biến cố sinh tử vừa qua, chúng ta hiểu rằng Bản Đỏ không thể tiếp tục vận hành bằng sự tin tưởng cảm tính hay sự tùy tiện của bất kỳ cá nhân nào được nữa,” Khôi cất lời mở đầu, ánh mắt nghiêm cẩn và kiên định quét qua từng gương mặt trong phòng. “Hôm nay, trước sự chứng kiến của anh Tư và Y Bih, Bản Đỏ chính thức ban hành Quy chế truyền thông nghiêm ngặt này. Quy chế này có hiệu lực pháp lý nội bộ cao nhất và mang tính chất sống còn đối với sự tồn tại của thương hiệu.”

Khôi lật giở trang tài liệu đầu tiên, đọc to và giải thích cặn kẽ từng điều khoản cốt lõi:

*“Thứ nhất: Nguyên tắc đồng thuận bằng văn bản của nông hộ.* Mọi hình ảnh, video clip, bài viết hay bất kỳ câu chuyện nào liên quan đến đời sống cá nhân, hoàn cảnh gia đình, nông trại và quy trình canh tác của nông dân bắt buộc phải có văn bản đồng thuận có chữ ký hoặc điểm chỉ rõ ràng của chính nông hộ đó trước khi sản xuất nội dung. Trong văn bản phải nêu rõ nội dung quay chụp, mục đích sử dụng và phạm vi phát hành. Tuyệt đối nghiêm cấm việc tự ý ghi hình các góc máy gợi sự cơ hàn, rách rưới, bệnh tật hoặc cố tình dàn dựng, biến tướng hoàn cảnh sống của bà con nhằm mục đích tạo kịch tính truyền thông.”

Khôi dừng lại một nhịp, ánh mắt anh hướng thẳng về phía Gia Hân. Cô gái trẻ khẽ cúi đầu xuống, hai tay bấu chặt vào vạt áo, cắn nhẹ bờ môi rồi gật đầu một cách nghiêm túc: “Em hiểu rồi anh Khôi. Em thành thật xin lỗi anh Tư, anh Y Bih và mọi người vì tư duy câu view độc hại, thực dụng của mình trước đây. Em cam kết từ nay về sau sẽ tuân thủ tuyệt đối quy định này trong từng khung hình.”

Khôi khẽ gật đầu rồi gõ nhẹ ngón tay lên trang thứ hai của bản quy chế:

*“Thứ hai: Quyền phủ quyết chuyên môn tối cao của Giám đốc Chất lượng.* Mọi nội dung truyền thông trước khi được đăng tải ra công chúng, dù là trên mạng xã hội, trang thông tin điện tử, tờ rơi hay trên chính bao bì sản phẩm, bắt buộc phải có chữ ký phê duyệt chuyên môn của Hứa Bảo Ngọc. Giám đốc Chất lượng có quyền phủ quyết tuyệt đối bất kỳ thông điệp nào có dấu hiệu phóng đại hương vị, sai lệch hồ sơ cupping cảm quan, hoặc có xu hướng biến tướng sản phẩm thành hàng cứu trợ, hàng từ thiện. Nếu không có chữ ký phê duyệt của Bảo Ngọc, không một ký tự nào, không một hình ảnh nào được phép xuất bản ra thị trường.”

Bảo Ngọc đón lấy cây bút mực đen ngòi kim loại từ tay Khôi. Đôi mắt cô ánh lên một sự kiên định sắt đá và niềm tin cậy tuyệt đối dành cho người bạn đồng hành. Không một chút ngập ngừng hay do dự, cô ký xoẹt một chữ ký sắc sảo, dứt khoát vào vị trí người giám sát chất lượng tối cao trên văn bản.

“Và điều khoản thứ ba,” Khôi nhìn sang Lâm và hai người nông dân Cư M'Rao, giọng anh đanh thép như một lời thề danh dự. “Mọi chiến dịch truyền thông của Bản Đỏ từ nay về sau chỉ được phép tập trung vào ba trụ cột bất di bất dịch: Nông học thực chứng, Quy trình sơ chế minh bạch và Điểm số hương vị độc lập. Chúng ta sẽ bán từng gói cà phê bằng chính sự xuất sắc của chất lượng hạt, bằng sự ngọt ngào tự nhiên của đất trời và kỹ thuật sơ chế đỉnh cao, chứ vĩnh viễn không bao giờ bán bằng bi kịch hay nước mắt của bất kỳ ai!”

Từng người một lần lượt tiến lên mặt bàn, cầm lấy cây bút mực đen ký tên vào bản quy chế. Khi nét bút run rẩy nhưng chắc nịch của anh Tư và chữ ký dứt khoát của Y Bih hoàn tất dưới đáy trang giấy cuối cùng, một bản khế ước mới về danh dự và phẩm giá đã chính thức được thiết lập, dựng lên một bức tường thành kiên cố bảo vệ Bản Đỏ khỏi những cám dỗ tầm thường của thị trường số hóa đầy rẫy chiêu trò.

Trước khi bóng tối buông xuống hoàn toàn, nhóm sáng lập bước ra khoảng sân rộng tiễn anh Tư và Y Bih trở về buôn. Đứng trên giàn phơi lộng gió đón những luồng gió đối lưu từ thung lũng thổi ngược lên triền đồi, không khí trong lành mang theo mùi vỏ quả cà phê lên men ngọt ngào như mật ong rừng khiến tâm can ai nấy đều nhẹ bẫng sau những giông bão ngột ngạt vừa trải qua.

Thế nhưng, thực tại kinh doanh khốc liệt của thương trường chưa bao giờ cho phép họ được phép chìm đắm trong sự bình yên quá lâu.

Lâm kéo nhẹ vạt áo Khôi, ra hiệu cho anh bước lùi ra một góc khuất phía sau chái kho, nơi những bao vỏ cà phê khô chất cao ngang đầu người. Cậu cẩn thận rút từ trong chiếc cặp da sờn rách ra một tập bảng biểu báo cáo tài chính tuần, những trang giấy A4 vừa được in vội bằng mực đen lem nhem tại bưu điện thị trấn lúc trưa.

Dưới ánh sáng le lói của bóng đèn tròn treo ngoài hiên, những con số màu đỏ nổi bật một cách tàn nhẫn trên nền giấy trắng phau. Doanh thu bán lẻ trực tuyến sau đợt thanh lọc và làn sóng hủy đơn hàng loạt chỉ còn lại vỏn vẹn hai mươi tám triệu đồng mỗi tuần. Trong khi đó, các khoản chi phí tối thiểu để duy trì đội ngũ nhân sự kỹ thuật, tiền thuê kho bãi, tiền bao bì và chi phí vận hành máy móc sơ chế đã ngốn gần bốn mươi triệu đồng mỗi tuần. Khoản thâm hụt tài chính đang như một vết rách ngày càng toác rộng, đe dọa nuốt chửng công ty bất cứ lúc nào.

Lâm đưa cho Khôi báo cáo doanh thu tuần, gương mặt cậu bạn thân lại trở về nét căng thẳng thường trực:

“Bán online không đủ nuôi đội ngũ, chúng ta cần một điểm chạm thực tế.”

Chương này thế nào?Đánh giá giúp Readeep đề xuất đúng hơn cho bạn