Tiếng Nói Của Tri Kỷ
Tiếng la ó toan bùng nổ từ phía khán đài lập tức bị chặn đứng bởi tiếng tra kiếm dứt khoát vào vỏ của Tạ Vân Khê.
Một thanh âm “cạch” khô giòn, dứt khoát và lạnh ngắt vang lên giữa võ đài số một. Thanh huyền sam mộc kiếm đã nằm trọn vẹn trong bao gỗ mun bên hông thiếu niên áo trắng. Động tác của Vân Khê dứt khoát đến mức vạt áo còn chưa kịp rủ xuống, gió kiếm tản mát chung quanh đã bị thu liễm sạch trơn. Mặt sàn đá xanh dưới chân hai người vẫn còn hằn sâu những vệt chém sắc lẹm đan xen cùng những dấu chân lún sâu nửa tấc của đòn thế giằng co kịch liệt vừa trôi qua, bụi đá li ti lơ lửng trong nắng sớm dần hạ xuống, phủ một lớp bạc mờ lên gấu quần thô sơ của Lục Thanh và tà lụa tuyết bạch của Tạ Vân Khê.
Không gian Kiếm Bình vốn đang sục sôi bởi những lời la hét, hò reo kích động từ đám môn khách Tạ thị bỗng chốc ngưng đọng. Hơn bảy trăm cặp mắt của đệ tử nội môn, ngoại môn cùng các chấp sự giám khảo đổ dồn về bóng lưng thẳng tắp của người đệ tử kiệt xuất nhất Kiếm Đường. Gió núi từ đỉnh Vân Phong tràn qua những rặng thông già, thổi lồng lộng qua các hàng ghế khán đài dựng bằng đá tảng, mang theo cái lạnh thấu xương của sương mai chưa tan hết, nhưng dường như chẳng một ai buồn rụt cổ hay chớp mắt. Tất cả đều nín thở chờ đợi một lời giải thích cho hành động buông kiếm quá đỗi đột ngột này.
Tạ Vân Khê không nhìn sang đám người cùng huyết thống đang nhốn nháo dưới khán đài, nơi những gương mặt đỏ gay vì cuồng nhiệt bỗng chốc sững sờ hóa đá. Cậu cũng không nhìn mũi mộc kiếm của Lục Thanh vừa rút về cách đó ba bước, nơi thiếu niên tạp dịch vẫn đang đứng vững chãi như một chiếc đe sắt ghim chặt vào lòng đất. Cậu chậm rãi quay người, vạt áo trắng phần phật bay theo làn gió núi buốt giá của đỉnh Vân Phong. Đôi mắt phượng sắc lẹm lướt qua hàng ghế đệ tử, thẳng tắp hướng về phía đài cao của ban giám khảo, nơi các vị trưởng lão và giáo tập đang ngồi uy nghiêm dưới mái vòm chạm trổ mây cuốn của Điện Khảo Công.
Cậu nâng hai tay lên ngang ngực, chắp tay hành một lễ kiếm khách tiêu chuẩn theo quy cách trang trọng nhất của tông môn, rồi dõng dạc cất lời:
“Khởi bẩm các vị trưởng khảo, trận đấu này, đệ tử tuyên bố kết quả là hòa!”
Thanh âm của thiếu niên mang theo linh lực Canh Kim sắc bén, xuyên qua kết giới giảm lực đã mở toang, vang vọng rõ mồn một vào từng góc ngách của quảng trường Kiếm Bình. Âm thanh ấy cứng cỏi, trong trẻo tựa tiếng ngọc thạch va vào nhau giữa hư không, không lẫn một tia do dự hay gượng ép.
Khán đài xôn xao như ong vỡ tổ. Vài đệ tử nội môn trợn tròn mắt không tin vào tai mình, những bàn tay đang giơ cao chuẩn bị vỗ tay ăn mừng chiến thắng áp đảo của đệ nhất kiếm mạch lập tức khựng lại giữa không trung. Một trận hòa? Đệ tử nắm giữ Canh Kim Kiếm Cốt bẩm sinh, kẻ chưa từng biết đến mùi vị bị cầm chân ở bất kỳ kỳ khảo hạch nào, kẻ được xưng tụng là hạt giống chân truyền trăm năm khó gặp của Kiếm Đường, nay lại chủ động mở miệng tuyên bố một trận hòa trước một tạp dịch Tàng Kinh Các mang ngũ hành tạp linh căn?
Những tiếng xì xào bắt đầu lan rộng như sóng triều, từ sự kinh ngạc thuần túy chuyển dần sang nỗi hoang mang tột độ. Đám môn khách Tạ thị nhìn nhau ngơ ngác, vài kẻ đứng bật dậy định gầm lên phản đối nhưng khi chạm phải ánh mắt lạnh lùng như băng hồ của Vân Khê thì lời nói nghẹn ứ lại nơi cổ họng.
Vân Khê không để sự kinh ngạc của đám đông kéo dài, cậu hít sâu một hơi, lồng ngực khẽ phập phồng dưới lớp cẩm bào thêu mây bạc. Giọng nói của cậu càng thêm vang rền, từng chữ như búa gõ vào chuông đồng, dội thẳng vào tâm thức của từng người có mặt:
“Không chỉ là hòa, mà trong cuộc so tài này, Lục Thanh mới là kiếm sĩ có đạo tâm vững vàng nhất mà Tạ Vân Khê ta từng đối diện từ trước đến nay!”
Lời vừa dứt, cả quảng trường Kiếm Bình chìm vào một khoảng lặng chết chóc. Gió như ngừng thổi, tiếng cờ xí phần phật nơi bốn góc đài cũng im bặt. Cả bảy trăm con người dường như hóa đá trước lời tự thú công khai đến mức tàn nhẫn ấy.
Vân Khê ngẩng cao đầu, ánh mắt không hề né tránh nhìn thẳng vào hàng ghế giám khảo:
“Ở đòn thứ bảy vừa rồi, khi nghe tiếng tung hô áp đặt từ dưới khán đài, tâm cảnh của đệ tử đã dao động dữ dội. Canh Kim bạo động, huyệt Khúc Trì tái phát thương tích khiến kiếm thức của ta lệch mất nửa tấc, để lộ sơ hở chết người ngay trước ngực. Nếu là trên chiến trường sinh tử, kiếm của Lục Thanh đã đâm xuyên yết hầu ta trước khi ta kịp nhận ra sai lầm của mình. Huynh ấy có đủ tốc độ, đủ lực đạo và thừa tư cách để giáng một đòn định đoạt chiến thắng vẻ vang trước mắt toàn thể tông môn. Nhưng Lục Thanh đã cưỡng ép đảo ngược chân khí, chấp nhận chịu phản chấn nội thương để dừng kiếm cách cổ họng ta nửa tấc. Huynh ấy dừng lại, không phải vì sợ hãi, mà vì khinh thường việc thắng một sơ hở do ngoại cảnh áp đặt lên đối thủ!”
Vân Khê quay sang Lục Thanh, ánh mắt tràn ngập sự trân trọng chân thành. Cậu hạ thấp giọng một chút, nhưng ngữ khí lại chân thật đến tận cùng tâm can:
“Một người cầm kiếm biết rõ khi nào nên vung ra và khi nào phải dừng lại, đặt phẩm giá của kiếm đạo lên trên hư danh thắng bại, đó mới là kiếm tâm chân chính. Nếu chối bỏ điều đó để nhận lấy một chiến thắng gượng ép, Tạ Vân Khê ta từ nay về sau không còn xứng đáng cầm kiếm!”
Từng lời nói của Vân Khê như những nhát roi quất thẳng vào bầu không khí trang nghiêm của Kiếm Bình. Những đệ tử ngoại môn từng bị khinh thị bỗng thấy sống mũi cay cay, trong khi đám đệ tử nội môn kiêu ngạo thì bàng hoàng cúi đầu. Lời tự thuật ấy không chỉ bóc trần sự thật về bảy nhát kiếm giằng co nghẹt thở vừa diễn ra, mà còn phơi bày sự tàn khốc của một tâm lý háo thắng mù quáng bấy lâu nay vẫn âm thầm ăn mòn tâm thức của những kẻ tự xưng là thiên tài.
“Hồ đồ! Càn quấy!”
Một tiếng quát tháo giận dữ như sấm rền bất thần nổ tung từ đài cao giám khảo.
Âm thanh chói gắt ấy xé toang sự tĩnh lặng bao trùm quảng trường. Giáo tập Trần Chấp Ngôn đập mạnh lòng bàn tay xuống mặt bàn đá thanh ngọc, làm nứt toác một đường dài chạy dọc từ mặt bàn xuống tận chân đài. Những mảnh vụn đá văng tung tóe trên sàn gỗ mun. Gã đứng bật dậy, sắc mặt từ tái nhợt chuyển sang tím ngắt vì phẫn nộ tột cùng. Đôi mắt ti hí dưới hàng mày rậm bắn ra những tia nhìn sắc như dao cạo nhắm thẳng vào Tạ Vân Khê:
“Vân Khê! Ngươi có biết mình đang nói cái gì không? Ngươi là đích tử Tạ thị, là niềm hy vọng lớn nhất của Kiếm Đường Nội Môn thế hệ này! Dòng máu kiếm tu cao quý chảy trong người ngươi, truyền thống trăm năm bất bại của gia tộc ngươi, ngươi lại dám vứt bỏ sạch sành sanh chỉ vì một khắc mủi lòng ngu xuẩn hay sao?”
Trần Chấp Ngôn bước tới sát mép đài cao, tà áo bào xanh thẫm phần phật tung bay theo cơn thịnh nộ cuồng bạo. Từng sợi gân xanh trên trán gã hằn lên giật giật, ngón tay run rẩy chỉ thẳng xuống Lục Thanh đang đứng bình thản giữa võ đài:
“Còn ngươi, tên tạp dịch giảo hoạt kia! Đừng tưởng trò mèo của ngươi có thể qua mắt được bản giáo tập! Ngươi mang tạp linh căn, tu vi cặn bã, vốn dĩ biết rõ bản thân không thể chống đỡ nổi bảy kiếm kế tiếp của Vân Khê nên mới giở trò quỷ quyệt, giả vờ dừng kiếm ra vẻ từ bi đại độ! Đó không phải là kiếm tâm, đó là sự xảo trá của kẻ yếu thế hòng né tránh một thất bại thảm hại! Ngươi dùng lời lẽ đường mật và cái gọi là đạo lý thợ rèn để làm lung lạc ý chí của một thiên tài, làm vấy bẩn danh dự thi đấu của Kiếm Đường! Trận đấu này, Lục Thanh tự ý dừng chiêu khi chưa có hiệu lệnh của trọng tài, tính là phạm quy xử thua lập tức!”
Tiếng quát của Trần Chấp Ngôn mang theo uy áp nặng nề của cảnh giới Trúc Cơ viên mãn, đè nặng lên ngực từng đệ tử quanh quảng trường. Áp lực vô hình tỏa ra như một tảng đá ngàn cân rơi thẳng xuống không gian Kiếm Bình, khiến không khí trở nên đặc quánh, khó thở. Không ít người yếu bóng vía tái mặt, lùi lại nửa bước, mồ hôi lạnh toát ra ướt đẫm lưng áo. Những đệ tử mới nhập môn thậm chí cảm thấy khí huyết trong người nhộn nhạo, lồng ngực tức tối như muốn thổ huyết trước cơn giận lôi đình của một tu sĩ Trúc Cơ đỉnh phong.
Phùng Đại Xảo đứng dưới khán đài nghiến răng tức tối, hai bàn tay thô kệch siết chặt thành nắm đấm đến phát ra tiếng răng rắc. Hắn toan mở miệng cãi lại, toan gầm lên đòi lại công bằng cho người huynh đệ cùng vào sinh ra tử trong thung lũng sương mù, nhưng chưa kịp thốt nên lời thì đã bị luồng khí thế hung bạo của giáo tập Kiếm Đường ép nghẹn lại nơi cuống họng, mặt đỏ bừng vì tức giận lẫn khó thở.
Ở hàng ghế bên cạnh, Ninh Tố Tâm siết chặt tập ngọc giản trong tay, khớp ngón tay trắng bệch ra vì dùng lực quá độ. Đôi mắt trong trẻo của nàng run rẩy trước sự bất công trắng trợn đang diễn ra ngay giữa ban ngày ban mặt, ngòi bút lông trong tay nàng run lên từng hồi nhưng ánh mắt vẫn không rời khỏi bóng lưng kiên định của Lục Thanh.
Còn Mộc An, cậu thiếu niên nhút nhát ngày nào, lúc này toàn thân run rẩy vì sợ hãi trước uy áp Trúc Cơ, nhưng đôi chân cậu vẫn bặm chặt xuống nền đá, kiên quyết bước lên phía trước nửa bước như muốn dùng thân hình nhỏ bé của mình chắn gió chắn bão cho Lục Thanh đang đứng lẻ loi giữa tâm điểm của cơn cuồng nộ.
Lục Thanh đứng đó, đối diện với cơn lôi đình của Trần Chấp Ngôn. Cậu khẽ thở ra một hơi dài, một làn hơi trắng mỏng manh tan nhanh vào không khí giá buốt. Lồng ngực cậu khẽ nhói lên, từng đường kinh mạch ngũ hành vừa trải qua một đợt nghịch chuyển dữ dội lúc nãy vẫn còn âm ỉ đau nhức như có hàng ngàn mũi kim châm, nhưng đôi mắt cậu vẫn phẳng lặng như mặt giếng cổ không một gợn sóng.
Cậu không thanh minh, cũng không tức giận. Cậu nhìn thẳng vào đôi mắt hung hãn của Trần Chấp Ngôn bằng sự điềm tĩnh đến lạ kỳ. Người thợ rèn một khi đã hạ búa xuống đe, âm thanh phát ra là sắt thép va chạm hay là tiếng chửi rủa của kẻ qua đường thì miếng sắt đỏ vẫn cứ phải trui rèn theo đúng hình hài của nó. Nhát búa đã vung ra, điểm dừng đã chọn, trong lòng cậu không có chút thẹn với trời đất, không thẹn với thanh kiếm trong tay, thì hà cớ gì phải bận lòng trước những lời quy chụp hẹp hòi xuất phát từ nỗi sợ hãi danh dự bị tổn thương của kẻ khác?
“Trần giáo tập, lời này của ngài, e rằng đã quá hàm hồ rồi.”
Một thanh âm trong trẻo, êm dịu nhưng ẩn chứa một nội lực thâm sâu khôn lường vang lên từ hàng ghế giám sát danh dự.
Tiếng nói không lớn, không hề gầm thét thị uy, nhưng kỳ lạ thay lại dễ dàng xé toang uy áp Trúc Cơ viên mãn ngột ngạt của Trần Chấp Ngôn, tựa như một cơn gió mát đầu xuân thổi tan lớp mây mù u ám đang bao phủ võ đài. Không khí nghẹt thở quanh Kiếm Bình trong chớp mắt tan biến, áp lực đè nặng trên vai các đệ tử bỗng chốc được giải tỏa hoàn toàn, khiến hàng trăm người cùng lúc thở phào nhẹ nhõm.
Mọi ánh mắt lập tức dời đi, kinh ngạc nhìn về phía Tạ Minh Uyên.
Nữ tu đại diện cho dòng chính Tạ thị, người phụ nữ quyền lực bậc nhất trên hàng ghế khách quý, chậm rãi đứng dậy. Tà áo lụa tím thêu hoa văn mây bạc khẽ lay động theo từng bước chân ung dung của bà. Khuôn mặt bà thanh tú, đoan trang nhưng toát lên nét uy nghiêm trầm mặc của một bậc tiền bối đã nhìn thấu sự đời. Bà không dùng phi hành pháp bảo, cũng không thi triển thân pháp chớp nhoáng để phô trương thanh thế, mà từng bước thong thả bước xuống các bậc thang đá hoa cương dẫn thẳng vào trung tâm võ đài số một.
Mỗi bước chân của bà hạ xuống, mặt đất Kiếm Bình dường như lại lắng đọng thêm một phần. Khí tức của một tu sĩ Ngưng Ý cảnh ẩn hiện quanh người bà—không hung hãn, không chèn ép, mà mênh mông, thâm trầm như biển sâu không đáy—khiến ngay cả các chấp sự cao cấp của Điện Khảo Công đang đứng gác hai bên lối đi cũng phải kính cẩn cúi đầu nghiêng mình nhường lối.
Trần Chấp Ngôn khựng lại, sắc mặt hơi biến đổi. Cơn thịnh nộ ngút trời của gã bỗng chốc bị dội một gáo nước lạnh buốt. Gã vội chắp tay, cố gắng điều chỉnh lại nét mặt, giọng điệu dù vẫn còn hằn học nhưng đã bớt đi vài phần gay gắt:
“Tạ tiền bối... Ngài đích thân xuống đây là...”
Tạ Minh Uyên bước tới giữa võ đài, đứng chắn giữa Tạ Vân Khê và đài cao của Trần Chấp Ngôn. Bà ngước nhìn vị giáo tập Kiếm Đường, ánh mắt trầm tĩnh nhưng sắc sảo như muốn soi thấu từng ngóc ngách tâm can của đối phương:
“Trần giáo tập, ta xuống đây là để ngăn ngài tiếp tục nhân danh Tạ thị mà bôi tro trát trấu vào danh dự của một gia tộc kiếm tu.”
Trần Chấp Ngôn sững sờ, khóe môi giật giật: “Tiền bối, ngài nói vậy là có ý gì? Rõ ràng Vân Khê...”
“Ta nói, ngài hãy im lặng và nghe cho rõ!”
Tạ Minh Uyên dứt khoát ngắt lời gã. Thanh âm của bà đanh lại, mang theo uy nghiêm không thể chối từ của một người từng trải qua biết bao thăng trầm kiếm đạo, từng tắm mình trong máu lửa của những cuộc chiến giữ vững thanh danh gia tộc. Bà quay người lại, nhìn thẳng vào Tạ Vân Khê đang đứng cúi đầu trước mặt mình.
Nhìn thấy đôi vai khẽ run rẩy của đứa cháu ruột, nhìn thấy vết bầm tím nơi cổ tay cậu do Canh Kim phản phệ bấy lâu nay giấu kín dưới lớp vải băng trắng muốt, trái tim người cô như bị kim châm muối xát. Đứa trẻ này đã phải gánh vác quá nhiều kỳ vọng nặng nề từ khi mới lọt lòng. Bà vươn tay, nhẹ nhàng đặt lên vai Vân Khê. Lực tay ấm áp, dòng linh lực dịu dàng truyền qua lớp áo sưởi ấm kinh mạch đang co thắt của cậu. Đó không phải là sự kiểm tra tu vi lạnh lùng như mọi khi, mà là cái vỗ về đầy xót xa của một người ruột thịt.
Bà cất giọng, âm thanh vang vọng khắp bốn phương để cả bảy trăm môn sinh cùng nghe thấy:
“Hai mươi năm qua, Tạ thị chúng ta tự hào với truyền thống kiếm tu bất bại. Chúng ta dạy cho con cháu rằng chỉ có chiến thắng tuyệt đối mới là vinh quang, chỉ có Canh Kim Kiếm Cốt không tì vết mới xứng đáng kế thừa kiếm mạch. Chúng ta nhồi nhét vào đầu óc những đứa trẻ chưa tròn đôi mươi rằng thất bại đồng nghĩa với sự sỉ nhục, rằng một vết xước trên kiếm cũng là nỗi hổ thẹn của gia phong. Nhưng chính thứ kỳ vọng mù quáng, ích kỷ ấy đã trở thành một chiếc gông cùm độc hại siết chặt lấy linh hồn đứa trẻ này.”
Tạ Minh Uyên quay sang nhìn đám môn khách Tạ thị đang ngồi chết lặng dưới khán đài, ánh mắt bà nghiêm khắc như lưỡi kiếm quét qua từng gương mặt đang tái mét:
“Chúng ta tung hô nó là ‘người kế thừa hoàn mỹ’, ép nó phải thắng trong mọi kỳ khảo hạch, khiến nó mỗi lần vung kiếm đều run sợ trước viễn cảnh thất bại, sợ bị gia tộc chối bỏ! Các người chỉ muốn nhìn thấy một pho tượng thần bất bại để thỏa mãn thói kiêu ngạo của dòng tộc, chứ chưa từng bận tâm xem kinh mạch của nó đau đớn ra sao mỗi khi gượng ép Canh Kim bộc phát! Thứ mà các người vừa gào thét lúc nãy không phải là sự cổ vũ, mà là một nhát kiếm đâm lén từ sau lưng, suýt nữa đã bóp nát kiếm tâm của Vân Khê ngay trên sàn đấu này!”
Đám môn khách họ Tạ cúi gầm mặt xuống ngực, không một ai dám ho he nửa lời. Sự hổ thẹn dâng lên trong mắt những người lớn tuổi, trong khi những kẻ vừa hò hét to nhất lúc nãy thì co rúm người lại, chỉ sợ chạm phải ánh mắt trách cứ của vị trưởng bối đầy quyền uy.
Tạ Minh Uyên hít sâu một hơi, xoay người đối diện với Lục Thanh.
Ánh mắt bà dừng lại thật lâu trên bộ áo vải thô bạc màu lấm tấm bụi đá, trên thanh mộc kiếm tùng giản dị không một nét hoa văn, và cuối cùng là đoạn kiếm gãy bằng Tâm Minh Thiết đang tỏa ra hơi ấm dịu dàng bên hông thiếu niên. Nhìn vào vạt áo rách nơi bờ vai Lục Thanh, nhìn vào đôi mắt phẳng lặng như nước mùa thu của cậu, hình ảnh người thợ rèn trầm mặc hai mươi năm trước bên lò than đỏ rực lại hiện về rõ mồn một trong tâm trí bà. Năm đó, cũng có một người thợ rèn mang ánh mắt kiên định như thế, từng nói với bà rằng một thanh kiếm chỉ thật sự sắc bén khi người cầm nó hiểu được giá trị của việc bao bọc sinh linh chứ không phải tàn sát.
Trước sự ngỡ ngàng tột độ của toàn thể quảng trường, Tạ Minh Uyên chậm rãi cúi người, hai tay chắp lại trước ngực, trang trọng hành một nửa lễ đối với Lục Thanh:
“Lục tiểu hữu, thay mặt cho Tạ thị, ta đa tạ kiếm của ngươi ngày hôm nay. Nếu không có nhát kiếm biết dừng lại của ngươi, Vân Khê hôm nay dù có thắng về mặt điểm số thì kiếm tâm của nó cũng đã vỡ vụn thành trăm mảnh vì nỗi nhục nhã dối lòng. Đạo tâm thuần khiết, biết người biết mình, thấu suốt lẽ dừng của ngươi... xứng đáng để toàn thể kiếm tu Thanh Vân Kiếm Tông phải nghiêng mình soi lại chính mình!”
Một quý phu nhân của thế gia hiển hách, một tiền bối Ngưng Ý cảnh danh chấn một phương, lại công khai cúi đầu cảm tạ một thiếu niên tạp dịch mang tạp linh căn!
Khán đài Kiếm Bình hoàn toàn câm bẻm. Sự chấn động này vượt xa bất kỳ trận tỷ thí kinh thiên động địa nào từng diễn ra trong lịch sử khảo hạch của tông môn. Tiếng gió rít qua khe đá cũng dường như chùng xuống. Những định kiến thâm căn cố đế về dòng dõi quý tộc, về thiên phú bẩm sinh vượt trội, về bức tường ngăn cách không thể vượt qua giữa nội môn tôn quý và ngoại môn thấp kém dường như vừa bị một cơn địa chấn vô hình đập nứt toác từng mảng lớn.
Trần Chấp Ngôn đứng chôn chân trên đài cao, sắc mặt xám xịt như tro tàn dưới lò lửa tắt. Hai bàn tay gã buông thõng bên hông, run rẩy không thôi. Gã muốn nói, muốn viện dẫn môn quy, muốn lôi mười tám điều luật thi đấu ra để bảo vệ tôn nghiêm đang sụp đổ của Kiếm Đường, nhưng cái cúi đầu của Tạ Minh Uyên đã chặt đứt hoàn toàn mọi lý lẽ, mọi điểm tựa mà gã có thể bấu víu. Trước mặt đại diện dòng chính Tạ thị, lời buộc tội “làm vấy bẩn danh dự Tạ gia” của gã bỗng chốc trở thành một trò hề lố bịch không hơn không kém.
Đúng lúc đó, một tràng pháo tay chậm rãi, dứt khoát vang lên từ vị trí trung tâm của ban giám khảo.
Tần Trưởng khảo của Điện Khảo Công đứng dậy. Vị lão nhân có chòm râu bạc dài buông rủ ngang ngực, người nắm giữ cán cân công lý và trật tự khảo hạch của tông môn suốt ba thập kỷ qua, mỉm cười bước ra mép đài. Ánh mắt hiền từ nhưng uy nghiêm của ông tràn đầy sự tán thưởng nhìn xuống võ đài số một.
“Tạ phu nhân nói rất hay! Lời của Tạ Vân Khê lại càng thấu tình đạt lý!”
Tần Trưởng khảo vung tay áo rộng thùng thình, một cuộn trục linh văn ánh kim khổng lồ lập tức bay vút lên không trung Kiếm Bình. Cuộn trục mở rộng ra giữa trời xanh, dài hơn mười trượng, phát ra những dải hào quang rực rỡ như một dải ngân hà buông xuống trần gian. Trên đó, từng con số, từng dòng đánh giá từ bốn nội dung thi đấu khắt khe của kỳ đại khảo hạch hiện ra rõ ràng, minh bạch trước mắt mọi người.
“Điện Khảo Công chúng ta tổ chức Đại Khảo Hạch Toàn Diện, tôn chỉ tối thượng chưa bao giờ là tìm kiếm một cỗ máy chém giết chỉ biết thắng thua!” Giọng nói của Tần Trưởng khảo trầm hùng, mang theo uy lực danh chính ngôn thuận của tông môn vang vọng khắp bốn bề vách núi: “Thanh Vân Kiếm Tông lập phái ngàn năm, dựng bia vấn đạo quanh Kiếm Bình này để nhắc nhở hậu nhân: Kiếm kỹ là ngọn, Đạo hạnh và Bản tâm mới là gốc rễ! Đệ tử chỉ có kiếm kỹ mà không có đạo tâm, gặp nghịch cảnh ắt sinh tâm ma, bước vào đường tà; đệ tử có đạo tâm kiên định, dù khởi đầu chậm chạp cũng có ngày trui rèn thành đại khí, chống đỡ rường cột của tông môn!”
Lão nhân giơ tay chỉ thẳng lên cuộn trục linh văn đang lơ lửng trên không, cất cao giọng tuyên bố:
“Chiếu theo quy chế khảo hạch đa chiều đã được tông môn chuẩn y, nay Điện Khảo Công chính thức công bố kết quả chung cuộc của kỳ Đại Khảo Hạch Toàn Diện:
Về nhánh Kiếm thuật Chiến đấu: Đệ tử Kiếm Đường Tạ Vân Khê, lấy bảy thức kiếm liên hoàn tinh diệu vô song, công thủ toàn diện, dũng cảm đối diện với thiếu sót của bản thân để bảo vệ sự thuần khiết của kiếm đạo, xứng đáng xếp Hạng Nhất!”
Tiếng reo hò từ phía các đệ tử nội môn bắt đầu rộ lên. Những tiếng vỗ tay ban đầu còn rụt rè, sau đó nhanh chóng lan tỏa thành một tràng pháo tay giòn giã khắp các khán đài. Nhưng lần này, trong tiếng vỗ tay ấy không còn là sự ngạo mạn, trịch thượng của kẻ bề trên, mà là sự nể phục thực sự dành cho sự dũng cảm buông bỏ hư danh, dám nhìn thẳng vào vết thương của chính mình nơi Vân Khê.
Tần Trưởng khảo mỉm cười, ánh mắt chan chứa niềm xúc động chuyển hướng sang Lục Thanh:
“Về nhánh Ứng dụng Toàn năng và Đạo hạnh: Đệ tử Tàng Kinh Các Lục Thanh, lấy điểm Giáp Thượng tuyệt đối môn Lý thuyết công pháp, Giáp Thượng môn Tu bổ pháp khí phòng hộ, Giáp Thượng môn Cứu hộ trận pháp giải nguy đồng đội, cùng với đạo tâm thuần khiết biết dừng kiếm bảo toàn phẩm giá cho đối thủ trên võ đài Kiếm Bình, xứng đáng xếp Hạng Nhất Toàn Môn!”
“Ầm!”
Toàn bộ khu vực đệ tử ngoại môn và tạp dịch như một thùng thuốc súng phát nổ.
Mộc An nhảy cẫng lên khỏi mặt đất, nước mắt giàn giụa trên má, cậu ôm chầm lấy một đệ tử ngoại môn đứng bên cạnh mà hét lớn đến lạc cả giọng; Phùng Đại Xảo cùng hàng chục đệ tử từng được cứu mạng trong Thung lũng Hồi Âm đồng loạt vỗ tay rầm rộ, dộng mạnh cán binh khí xuống sàn đá tạo nên những thanh âm vang dội cả một góc trời. Tiếng reo hò, tiếng gọi tên Lục Thanh vang vọng khắp đỉnh Vân Phong.
Lần đầu tiên trong lịch sử trăm năm qua của Thanh Vân Kiếm Tông, một người mang tạp linh căn, xuất thân từ chốn quét lá Tàng Kinh Các hằng ngày phải cúi đầu trước mọi đệ tử chính thức, nay lại đàng hoàng, hiên ngang đứng ở vị trí cao nhất của một nhánh khảo hạch chính quy, nhận lấy sự công nhận tuyệt đối từ Điện Khảo Công!
Ninh Tố Tâm khẽ mỉm cười, đôi mắt sáng lấp lánh như sao trời nhìn thiếu niên áo vải thô trên đài. Nàng lặng lẽ mở tập ghi chép bằng lụa trắng, chấm ngọn bút lông vào nghiên mực thơm, nắn nót ghi lại từng chi tiết của thời khắc lịch sử này. Từng nét chữ thanh tú của nàng khắc sâu sự kiện chấn động: một bước ngoặt của kiếm tông, nơi giá trị thực chất đã đánh bại thói kiêu ngạo phù phiếm.
Chưa dừng lại ở đó, Tần Trưởng khảo nâng cao một chiếc lệnh bài bằng bạch ngọc tỏa ra ánh sáng xanh lam dìu dịu. Trên mặt ngọc có khắc hình một mặt hồ phẳng lặng với những gợn sóng tinh xảo bao quanh một chữ “Tâm” cổ kính. Giọng nói của lão nhân trở nên trang nghiêm hơn bao giờ hết:
“Chiểu theo quy định thưởng phạt tối cao của kỳ khảo hạch toàn diện, hai vị đệ tử đứng đầu hai nhánh—Tạ Vân Khê và Lục Thanh—cùng được ban tặng phần thưởng cao quý nhất: Tư cách tiến vào Kính Hồ Tâm Cảnh để thực hiện khảo nghiệm Minh Tâm sơ bộ!”
Lời tuyên bố vừa dứt, ngay cả những đệ tử nội môn thâm niên cũng phải đồng loạt hít vào một ngụm khí lạnh. Tiếng ồn ào vừa rộ lên bỗng chốc lắng xuống thành những tiếng thì thào đầy kinh sợ.
Kính Hồ Tâm Cảnh!
Đó là tiểu bí cảnh cổ xưa và huyền bí bậc nhất của Thanh Vân Kiếm Tông, một cấm địa tâm linh nằm sâu trong lòng núi Vân Phong, nơi vốn chỉ dành cho các đệ tử nòng cốt chuẩn bị đột phá cảnh giới Minh Tâm hoặc các bậc chân truyền Trúc Cơ viên mãn mới được phép bước vào để tôi luyện tâm tính, trừ bỏ tâm ma. Ở nơi đó không có yêu thú hung tợn xé xác gặm xương, không có cạm bẫy vật lý trí mạng, nhưng lại là nơi nguy hiểm khôn lường nhất bởi vì nó đối diện trực tiếp với thần hồn, bóc trần những góc khuất sâu kín nhất của người tu đạo. Việc hai đệ tử ở cảnh giới Luyện Thể và Dẫn Khí được đặc cách tiến vào Kính Hồ là tiền lệ chưa từng có suốt năm mươi năm qua!
Trên đài cao, sắc mặt Trần Chấp Ngôn đã chuyển từ xám xịt sang màu gan heo. Lồng ngực gã phập phồng dữ dội, hơi thở dồn dập như trúng độc. Gã siết chặt nắm tay đến mức móng tay găm sâu vào lòng bàn tay rỉ máu tươi. Gã nhìn Tần Trưởng khảo với ánh mắt uất hận, rồi lại nhìn Tạ Minh Uyên đang đứng sừng sững dưới võ đài như một ngọn núi che chở cho hai thiếu niên.
Một bên là Điện Khảo Công nắm giữ quy chế tông môn không thể lay chuyển, một bên là Tạ thị—gia tộc có ảnh hưởng sâu rộng nhất tới nguồn lực của Kiếm Đường. Cả hai thế lực lớn cùng đồng thuận, cùng đứng về phía trật tự mới này. Triết lý đào thải khắc nghiệt, niềm kiêu hãnh cực đoan về thiên phú đơn linh căn mà Trần Chấp Ngôn tôn sùng cả đời, dùng nó để chèn ép biết bao thế hệ đệ tử ngoại môn, dường như vừa bị một bức tường thành kiên cố chặn đứng và đập tan tành thành từng mảnh vụn.
Một chấp sự của Điện Khảo Công mang cuộn trục kết quả trận đấu và danh sách đặc cách tiến vào Kính Hồ bước tới trước mặt Trần Chấp Ngôn, kính cẩn dâng lên nghiên mực đỏ cùng bút ngọc:
“Trần giáo tập, xin mời ngài ký tên chuẩn y danh sách để niêm phong lưu trữ vào tông môn điển tịch.”
Trần Chấp Ngôn nhìn chằm chằm vào cái tên “Lục Thanh” được viết nắn nót bằng nét mực vàng kim, đặt ngang hàng cạnh cái tên “Tạ Vân Khê” trên nền lụa quý. Từng nét chữ như những mũi dùi nung đỏ đâm thẳng vào mắt gã. Hơi thở gã nặng nề và cay đắng tột cùng. Gã muốn hất tung nghiên mực, muốn ném cây bút đi, muốn xé nát cuộn trục này thành trăm mảnh để phủ quyết tất cả. Nhưng gã hiểu rõ hơn ai hết: nếu hôm nay gã từ chối ký tên, thứ sụp đổ không phải là Lục Thanh hay Hội Đồng Hành, mà chính là uy tín, danh dự và chiếc ghế giáo tập Kiếm Đường của bản thân gã. Tông quy nghiêm ngặt không cho phép bất kỳ ai đứng trên phán quyết chung của Trưởng khảo và đại diện gia tộc giám sát.
Cắn chặt răng đến mức phát ra tiếng ken két nghe rợn người, khóe môi rỉ ra một vệt máu đỏ tươi, Trần Chấp Ngôn giật lấy cây bút lông từ tay viên chấp sự. Gã vung tay ký một nét chữ ngoằn ngoèo, sắc nhọn đầy tức tối rồi dằn mạnh cây bút xuống khay ngọc đến mức thân bút gãy đôi. Gã không thèm nhìn lại võ đài lấy một lần, không chào hỏi Tần Trưởng khảo hay Tạ Minh Uyên, phất mạnh tay áo bào xanh thẫm, quay lưng sải những bước chân nặng nề rời khỏi Kiếm Bình trong sự im lặng lạnh ngắt của mọi người xung quanh.
Bóng lưng của vị giáo tập Kiếm Đường khuất dần sau rặng thông già mịt mù sương núi, để lại sau lưng một trật tự mới vừa được khai mở giữa lòng tông môn. Một trật tự mà ở đó, kẻ yếu thế không còn phải cúi đầu cam chịu, và kiếm đạo đã tìm lại được linh hồn nguyên bản của nó.
Dưới võ đài, Tạ Vân Khê nhìn sang Lục Thanh. Không còn khoảng cách giữa đích tử danh môn và tên tạp dịch quét lá, cậu thiếu niên kiêu hãnh của họ Tạ khẽ nhếch môi, để lộ một nụ cười hiếm hoi không chút phòng bị hay kiêu ngạo:
“Kính Hồ Tâm Cảnh... Nghe nói nơi đó là mồ chôn của không ít kẻ tự phụ. Rất nhiều sư huynh nội môn sau khi bước ra từ đó đều thất thần mấy tháng ròng, thậm chí có người kiếm tâm nứt vỡ, tu vi thụt lùi. Lục huynh, huynh có sợ không?”
Lục Thanh cúi đầu nhìn thanh mộc kiếm trong tay, những thớ gỗ tùng vẫn còn vương chút nhiệt lượng từ lòng bàn tay cậu. Rồi cậu đưa tay chạm nhẹ vào lớp vải thô bọc đoạn kiếm gãy Tâm Minh Thiết bên hông. Hơi ấm quen thuộc từ thanh kiếm của cha vẫn đang lan tỏa êm dịu vào kinh mạch cậu, tựa như một lời nhắc nhở bình dị, mộc mạc từ căn nhà tranh bên lò rèn quê nhà năm nào.
Cậu ngẩng đầu lên, mỉm cười đáp:
“Sợ chứ. Nhưng thợ rèn gõ sắt, nếu sợ hoa lửa bắn vào tay thì vĩnh viễn không thể đúc nên một thanh kiếm tốt. Tâm cảnh cũng như khối phôi sắt thô ráp, không trải qua ngọn lửa thử thách thì làm sao gạn lọc được tạp chất?”
Vân Khê ngẩn người ra một thoáng, rồi bật cười thành tiếng. Tiếng cười sảng khoái, tự do tự tại nhất kể từ ngày cậu bước chân vào Kiếm Đường mang theo gánh nặng của gia tộc. Hai thiếu niên nhìn nhau, trong ánh mắt họ không còn bóng dáng của sự đối địch hay hoài nghi, chỉ còn lại sự thấu hiểu sâu sắc của hai tâm hồn đã cùng nhau bước qua những gông cùm tăm tối nhất để tìm thấy ánh sáng của chính mình.
***
Đêm đó, núi Vân Phong chìm trong tĩnh lặng.
Trăng rằm vằng vặc treo trên đỉnh ngọn trúc, rọi những vệt sáng bàng bạc lung linh xuống khoảng sân sau Tàng Kinh Các. Gió đêm xào xạc thổi qua kẽ lá, mang theo hương thơm thanh khiết của đất ẩm, hoa dại và sương lạnh đầu mùa. Không còn tiếng reo hò huyên náo của Kiếm Bình, không còn những ánh mắt soi mói hay những lời phán xét nặng nề, chỉ có tiếng côn trùng rả rích dưới gốc cây cổ thụ hòa cùng nhịp thở êm đềm của màn đêm.
Lục Thanh ngồi trên bậc thềm đá quen thuộc của Sân Lá Rụng, bên cạnh là chiếc chổi trúc đã mòn vẹt đầu cán. Cậu vừa hoàn thành xong việc quét dọn sân sau một ngày dài đầy biến động. Từng nhát chổi quét qua lớp lá khô rụng xuống ban chiều như một cách để cậu quét dọn lại những xao động trong lòng mình, đưa tâm trí trở về trạng thái phẳng lặng nguyên sơ.
Toàn thân cậu vẫn còn chút ê ẩm do dư chấn của phản chấn ngũ hành lúc sáng, vùng ngực thỉnh thoảng nhói lên một nhịp nhè nhẹ, nhưng đan điền lại vô cùng ấm áp. Năm luồng linh lực Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ sau khi trải qua một trận chiến kịch liệt và một lần cưỡng ép đảo chiều, nay lại tự nhiên lưu chuyển theo nhịp “ba chẵn một lẻ” mà Quý Thủ Chuyết đã truyền dạy. Dòng khí ngũ hành tuần hoàn nhịp nhàng, dung hòa lẫn nhau, gột rửa kinh mạch, chậm rãi chữa lành những vết rạn nứt nhỏ li ti sâu trong huyết quản.
Cách đó vài bước chân, trên chiếc ghế trúc cũ kỹ đã ngả màu vàng ố, Quý Thủ Chuyết đang ngồi tựa lưng, hai mắt khép hờ. Trên chiếc bàn con bằng gỗ mộc bên cạnh, tay lão cầm chiếc ấm đất nung đã sứt một miếng nhỏ ở vòi, thong thả rót một dòng nước trà nóng bốc khói nghi ngút vào hai chiếc chén sành thô mộc.
Dòng nước trà màu hổ phách chảy xuống chén nghe róc rách vui tai. Hương trà đắng chát nhưng hậu vị ngọt dịu lan tỏa trong không gian tĩnh mịch, hòa quyện với mùi lá tre khô tạo nên một bầu không khí an yên đến lạ lùng.
“Uống đi.” Lão nhân cất giọng khàn khàn như tiếng hai thanh gỗ mục cọ vào nhau, đẩy một chén trà về phía Lục Thanh.
Lục Thanh cung kính hai tay đón lấy chén trà nóng, hơi ấm từ lớp sành thô mộc truyền vào lòng bàn tay xua tan cái lạnh của sương đêm. Cậu nâng chén lên ngang mũi, khẽ ngửi làn hương thanh đạm rồi nhấp một ngụm nhỏ. Dòng nước ấm nồng trôi qua cổ họng, mang theo vị đắng gắt ban đầu rồi lập tức bừng lên vị ngọt thanh mát nơi cuống họng, lan tỏa xuống lồng ngực, xoa dịu cảm giác khô rát nơi phế phủ bấy lâu. Cậu khẽ thở dài một hơi khoan khoái, đặt chén trà xuống thềm đá hoa cương:
“Sư phụ... chuyện ở Kiếm Bình ban ngày...”
“Lão già này mắt chưa mù, tai chưa điếc.” Quý Thủ Chuyết ngắt lời, khóe môi khẽ nhếch lên một nụ cười khô khốc dưới chòm râu lởm chởm bạc: “Tiếng gầm rú của thằng nhóc họ Trần kia vang tận sang đây, làm mấy con chim bồ câu trên mái Tàng Kinh Các hoảng loạn bay toán loạn cả lên. Nhát kiếm dừng lại đó, làm tốt lắm. Ít nhất thì ngươi không làm nhục cái nghề thợ rèn của cha ngươi, cũng không biến mớ công sức ta bắt ngươi quét lá mấy tháng trời thành trò cười cho thiên hạ.”
Lục Thanh gãi đầu, ngượng ngùng cười: “Con chỉ nghĩ... nếu thắng bằng cách chém vào sự đau khổ của người khác, thì thanh kiếm của con chẳng khác nào một thanh sắt vụn vô tri. Thợ rèn đúc kiếm là để giữ lấy cái ngay thẳng, chứ đâu phải để thừa cơ trục lợi.”
“Ngươi hiểu được điều đó, tức là ngươi đã bước được nửa bước vào cảnh giới của người cầm kiếm thật sự.”
Quý Thủ Chuyết đặt ấm trà xuống bàn, tiếng gốm va chạm vang lên một tiếng cộc khô khốc. Ánh mắt lão bỗng nhiên trở nên sâu thẳm lạ thường, không còn vẻ lờ đờ, ngái ngủ của một lão già trông coi thư tịch thường ngày. Lão ngước nhìn lên vầng trăng sáng vằng vặc trên cao, nơi những đám mây mỏng manh đang lững lờ trôi qua làm nhòe đi ánh bạc, rồi hạ giọng, thanh âm trầm đục mang theo một sức nặng ngàn cân:
“Nhưng Lục Thanh à, đừng vội đắc ý. Mấy trò mèo trên võ đài Kiếm Bình, dẫu sao cũng chỉ là trò đấu đá của lũ trẻ con bám víu vào vài ba thức kiếm hữu hình. Ngày mai, ngươi và thằng nhóc họ Tạ kia sẽ bước vào Kính Hồ Tâm Cảnh. Ngươi có biết nơi đó rốt cuộc là cái gì không?”
Lục Thanh hơi nghiêm sắc mặt, nhận ra sự khác thường trong ngữ khí của sư phụ, cậu thành thật lắc đầu:
“Đệ tử chỉ nghe Tần Trưởng khảo nói đó là nơi khảo nghiệm Minh Tâm sơ bộ, dùng để rèn luyện tâm cảnh của kiếm tu trước khi bước vào các cảnh giới cao hơn.”
“Rèn luyện?” Quý Thủ Chuyết cười nhạt một tiếng, trong nụ cười có chút chua xót, giễu cợt và cảnh giác tột cùng: “Tông môn các người hay dùng những từ hoa mỹ để che đậy sự tàn nhẫn của thực tế. Kính Hồ... thực chất là một hồ nước chết ngàn năm được các bậc tiền nhân dùng đại trận phong ấn lại từ thời thượng cổ. Mặt nước của nó không phản chiếu hình bóng thể xác, không phản chiếu y phục hay gương mặt ngươi, mà nó phản chiếu trần trụi thần hồn của kẻ đứng trên đó.”
Lão nhân nghiêng đầu nhìn Lục Thanh, ánh mắt sắc như chim ưng rình mồi trong đêm tối:
“Ngươi cần phải nhớ kỹ từng lời ta nói sau đây: Kính Hồ không thử thách sức mạnh cơ bắp, không đo lường độ dày của kinh mạch, không quan tâm chân khí ngũ hành của ngươi tinh thuần đến đâu, và càng không quan tâm chiêu kiếm của ngươi hoa mỹ hay uy lực đến nhường nào. Đứng trước Kính Hồ, kiếm thuật của ngươi là thứ vô dụng nhất. Nó là một chiếc gương bóc trần những điều con người ta khao khát nhất... và cũng là những điều con người ta sợ hãi nhất.”
Ngón tay gầy guộc đầy vết chai sần của Quý Thủ Chuyết khẽ gõ nhịp xuống mặt bàn trúc, từng tiếng cộc cộc vang lên đều đặn như đếm từng nhịp tim:
“Khi ngươi đặt chân lên mặt nước ấy, sương mù của trận pháp sẽ len lỏi qua thất khiếu, lục lọi từng ngóc ngách sâu kín nhất, tăm tối nhất trong tâm trí ngươi. Những nỗi tự ti mà ngươi tưởng mình đã chôn chặt dưới đáy lòng, những ước mơ cháy bỏng mà ngươi chưa từng dám nói ra thành lời với bất kỳ ai, thậm chí là những hình bóng người thân đã khuất mà ngươi ngày đêm nhung nhớ trong từng giấc ngủ chập chờn... tất cả sẽ hiện lên sống động, chân thật đến từng sợi tóc, từng hơi thở, đến mức ngươi không thể phân biệt nổi đâu là thực, đâu là mộng.”
Lão dừng lại một nhịp, nhìn sâu vào mắt Lục Thanh, ánh mắt già nua như muốn xuyên thấu tâm can thiếu niên:
“Ngươi có biết vì sao Kính Hồ lại nguy hiểm không? Rất nhiều thiên tài kiệt xuất bước vào đó, không phải họ bị đánh bại bởi quái vật hung hãn hay ảo ảnh đáng sợ, mà họ chết chìm trong sự dịu dàng của những điều họ khao khát nhất. Họ nhìn thấy mình thành công, nhìn thấy mình phá vỡ gông cùm thiên phú, nhìn thấy mình được vạn người quỳ bái, nhìn thấy người cha đã khuất mỉm cười xoa đầu khen ngợi... Ảo cảnh ấy đẹp đẽ đến mức, ấm áp đến mức họ tự nguyện buông bỏ kiếm trong tay, buông bỏ sự tỉnh táo, để ở lại vĩnh viễn trong giấc mộng êm đềm ấy mà không muốn tỉnh dậy nữa. Kẻ không thể nhìn thẳng vào lòng mình, kẻ cố tình trốn chạy sự thật trần trụi, một khi bước lên mặt hồ, sẽ vĩnh viễn biến thành một cái xác không hồn trôi dạt vô định trong sương mù.”
Gió đêm bỗng thổi mạnh hơn, làm những tán trúc sau lưng xào xạc rung lên như tiếng thì thầm ai oán của vô số bóng ma quá khứ. Một chiếc lá trúc úa vàng chao liệng trong không trung rồi rơi khẽ xuống mặt nước chén trà của Lục Thanh, tạo nên những vòng sóng gợn lăn tăn làm tan vỡ hình ảnh phản chiếu của vầng trăng tròn.
Lục Thanh siết chặt hai bàn tay lại trên đầu gối. Lời cảnh báo của Quý Thủ Chuyết như một gáo nước lạnh tạt thẳng vào sự phấn khởi sau chiến thắng ban ngày, kéo cậu rơi tuột khỏi cảm giác hân hoan để trở về với sự tỉnh táo lạnh lùng tuyệt đối.
Cậu khao khát điều gì nhất?
Cậu khao khát được một lần nữa nhìn thấy nụ cười hiền hậu của cha bên ánh lửa lò rèn, khao khát được bàn tay thô ráp của cha xoa lên mái tóc mà khen một câu: “Con làm tốt lắm”. Cậu khao khát chứng minh cho cả thế gian thấy người mang ngũ hành tạp linh căn không phải là phế vật, cũng có thể ngẩng cao đầu đứng thẳng lưng giữa đất trời mà tu tiên. Cậu khao khát thanh kiếm gãy Tâm Minh Thiết kia một ngày nào đó sẽ nguyên vẹn trở lại, tỏa sáng rực rỡ để rửa sạch những u uất, oan ức và sự khinh khi mà cha cậu đã phải cắn răng mang theo xuống mồ nơi xóm thợ nghèo nàn.
Và cậu sợ hãi điều gì nhất?
Cậu sợ nhận ra rằng mọi nỗ lực của mình bấy lâu nay chỉ là công dã tràng vô nghĩa. Cậu sợ rằng giới hạn của ngũ hành tạp căn thực sự là một bức tường đồng vách sắt không thể vượt qua. Cậu sợ rằng người cha quá cố thực sự đã thất bại trong lý tưởng kiếm đạo của mình, và chỉ để lại một gánh nặng quá sức cho đứa con trai duy nhất. Cậu sợ rằng bản thân chỉ là một kẻ hoang tưởng đáng thương, đang tự lừa dối chính mình bằng những ảo vọng viển vông giữa một thế giới tu tiên tàn nhẫn chỉ công nhận kẻ mạnh...
Tất cả những điều đó—những khát khao cháy bỏng nhất và những nỗi sợ hãi tột cùng nhất—ngày mai, đều sẽ bị lôi ra ánh sáng, phơi bày trần trụi không một chút che đậy trên mặt gương Kính Hồ.
Cậu cúi đầu nhìn chiếc lá trúc đang trôi nổi trong chén trà. Lòng bàn tay cậu từ từ buông lỏng ra, năm ngón tay xòe ra rồi lại nắm chặt lại, cảm nhận rõ ràng từng vết chai sần do búa rèn và chuôi kiếm tạo nên. Đó là những dấu vết có thật. Máu và mồ hôi của cậu là có thật.
“Đệ tử... đã hiểu.” Lục Thanh ngẩng đầu lên, giọng nói trầm tĩnh nhưng kiên định lạ thường, không còn một tia dao động: “Con sẽ không trốn chạy. Dù mặt hồ có phản chiếu điều gì, dù nó mang lại giấc mộng đẹp đẽ đến đâu hay cơn ác mộng tồi tệ thế nào, con cũng sẽ mở to mắt mà nhìn thẳng vào nó. Con là con của thợ rèn, sắt xấu thì đập lại, kiếm cong thì uốn thẳng, chứ quyết không nhắm mắt mà nhận bừa một khối sắt mục làm bảo kiếm.”
Quý Thủ Chuyết nhìn thiếu niên trước mặt, ánh mắt già nua thoáng qua một tia dao động phức tạp. Trong đôi mắt đùng đục của lão nhân dường như có một đốm lửa nhỏ vừa lóe lên rồi tắt lịm. Lão không nói thêm gì nữa, chỉ khẽ nâng chén trà của mình lên, uống cạn một hơi rồi chậm rãi đứng dậy. Lão cầm lấy cây chổi trúc dựng bên cột nhà, lê những bước chân tập tễnh bước về phía bóng tối sâu thẳm của Tàng Kinh Các.
Trước khi bóng lưng gầy còm của lão khuất hẳn sau cánh cửa gỗ nặng nề, giọng nói lẩm bẩm khàn đặc của lão theo gió đêm thoảng lại:
“Nhìn thẳng vào lòng mình... Nói thì dễ lắm, nhóc con à. Để xem ngày mai, khi thanh kiếm nguyên vẹn đặt trước mặt ngươi, khi người cha bằng xương bằng thịt gọi tên ngươi trong sương mù, ngươi có đủ can đảm để từ chối nó hay không...”
Cánh cửa gỗ khép lại với một tiếng cọt kẹt khô khốc, cắt đứt hoàn toàn thanh âm từ bên trong.
Lục Thanh ngồi lại một mình giữa Sân Lá Rụng. Ánh trăng rằm đổ xuống, phủ một lớp bạc lạnh lẽo lên chiếc bóng đơn độc của cậu trên nền đá. Bên hông cậu, đoạn kiếm gãy Tâm Minh Thiết bỗng nhiên khẽ rung lên một nhịp trầm buồn dưới lớp vải thô, phát ra một luồng nhiệt mỏng manh tựa như một lời cảnh báo, lại tựa như một tiếng thở dài đồng vọng từ quá khứ xa xăm của một kiếp người đã khuất. Lục Thanh đưa tay áp chặt lấy chuôi kiếm gãy, nhắm mắt lại, để mặc cho sự tĩnh lặng của màn đêm gột rửa tâm hồn trước khi bước vào cuộc chiến thật sự vào ngày mai.
***
Sáng sớm hôm sau.
Tầng mây mù đặc quánh như sữa bò bao phủ lấy hẻm núi phía bắc của đỉnh Vân Phong. Nơi đây là một thung lũng bí mật, bốn bề vách đá dựng đứng như những nhát rìu khổng lồ chém thẳng xuống vực sâu, quanh năm bị phong tỏa bởi các đại trận cấm chế thượng cổ của tông môn. Càng đi sâu vào hẻm núi, thảm thực vật càng trở nên thưa thớt, chỉ còn lại những thân cây cổ thụ khẳng khiu đen đúa vươn cành lá trơ trụi vào màn sương xám. Không khí buốt lạnh như băng tuyết ngàn năm ngưng tụ, từng giọt sương đọng trên vách đá tí tách rơi xuống nền rêu xanh thẫm tạo nên những âm thanh đơn điệu, não nề.
Dưới sự dẫn đường của Tần Trưởng khảo và hai vị chấp sự cao cấp của Điện Khảo Công khoác áo bào thêu chỉ vàng, Lục Thanh và Tạ Vân Khê cùng bước đi trên con đường mòn lát bằng đá xám dẫn sâu vào lòng thung lũng.
Hôm nay, Tạ Vân Khê không còn khoác bộ cẩm bào thêu mây bạc lộng lẫy như mọi ngày. Cậu mặc một bộ đạo bào màu xanh nhạt giản dị, mái tóc đen buộc gọn sau gáy bằng một dải lụa trắng, thanh huyền sam mộc kiếm đeo chéo sau lưng. Vết bầm tím nơi cổ tay cậu vẫn còn ẩn hiện dưới lớp vải băng, nhưng ánh mắt cậu đã không còn vẻ căng thẳng, sắc lạnh như trên võ đài, mà thay vào đó là một sự trầm lắng hiếm thấy.
Lục Thanh đi bên cạnh, vẫn bộ áo vải thô màu nâu sẫm bạc màu, thanh mộc kiếm tùng sau lưng và đoạn kiếm gãy Tâm Minh Thiết bên hông. Cả hai thiếu niên đều im lặng, từng bước chân bước đi nhịp nhàng, hơi thở thu liễm đến mức tối đa. Giữa họ không cần lời nói, một sự ăn ý ngầm đã hình thành sau bảy nhát kiếm sinh tử ngày hôm qua.
Đi hết con đường mòn ngoằn ngoèo u tối, qua một vòm đá tự nhiên phủ đầy rêu phong và những linh phù cổ xưa đã ố vàng, một khoảng không gian mênh mông, tĩnh mịch đến rợn người bỗng nhiên mở ra trước mắt họ.
Không có tiếng chim hót, không có tiếng gió rít qua vách đá, không có bất kỳ một dấu hiệu nào của sự sống. Chỉ có một sự câm lặng tuyệt đối, ngột ngạt bao trùm lên toàn bộ vạn vật.
Giữa lòng thung lũng sâu thẳm, một mặt hồ phẳng lặng như một tấm gương khổng lồ bằng ngọc bích trải dài ngút tầm mắt. Nước hồ trong vắt nhưng đen thẳm, sâu không thấy đáy, không hề có lấy một gợn sóng lăn tăn dù là nhỏ nhất, tựa như một khối ngọc bích đặc quánh đã đông cứng lại từ thuở hồng hoang.
Phía trên mặt nước tĩnh lặng ấy, từng làn sương mù màu lam nhạt lững lờ trôi sát mặt hồ. Lớp sương mù ấy không tan biến theo gió, mà chậm rãi cuộn xoắn lại thành những hình thù kỳ dị, biến ảo khôn lường: lúc thì uốn lượn như bóng dáng của những người đang nhảy múa, ca hát trong điên loạn; lúc thì ngưng tụ lại thành những lưỡi kiếm sắc nhọn lơ lửng giữa hư không, chực chờ lao xuống xuyên thủng bất kỳ kẻ nào dám xâm phạm cõi thanh tịnh này.
Tần Trưởng khảo dừng bước bên bờ đá hoa cương dẫn xuống mép nước, quay người lại nhìn hai thiếu niên. Gương mặt lão nhân lộ vẻ nghiêm nghị chưa từng có, chòm râu bạc khẽ lay động theo hơi thở:
“Hai con hãy nhớ kỹ. Phía trước chính là Kính Hồ. Bước lên mặt nước này, các con không còn là đệ tử Kiếm Đường hay tạp dịch Tàng Kinh Các, mà chỉ là một linh hồn trần trụi đối diện với chính bản ngã của mình. Thành bại, được mất, sống hay chết của kiếm tâm... tất cả đều nằm ở sự lựa chọn của các con.”
Một bức màn nước khổng lồ phủ đầy sương mờ mở ra giữa thung lũng bí mật: Kính Hồ Tâm Cảnh đang chờ đợi những người dám nhìn thẳng vào lòng mình.