Khói Lửa Hỏa Mạch Phường
Khác hẳn với sự tĩnh mịch ngập tràn lá trúc xào xạc của Tàng Kinh Các nơi đỉnh dốc phía bắc, Hỏa Mạch Phường đón Lục Thanh bằng một luồng nhiệt khí nồng nặc phả thốc thẳng vào mặt và tiếng búa sắt rền vang như sấm động không dứt từ sâu trong lòng núi.
Từ lúc tờ mờ sáng, khi những dải sương mù đẫm hơi lạnh trên triền dốc phía nam của Thanh Vân Kiếm Tông còn chưa kịp tan biến dưới ánh bình minh le lói, thung lũng đá nơi Hỏa Mạch Phường tọa lạc đã đỏ rực như cái miệng há hốc của một ngọn núi lửa đang ngái ngủ. Từng cột khói màu xám tro quyện lẫn mùi lưu huỳnh ngai ngái cùng bụi than đá khô khốc bốc lên cuồn cuộn qua các ống thông phong khổng lồ bằng đồng thau đúc nguội, nhuộm cả khoảng trời sớm thành một màu tía sẫm đầy vẻ ngột ngạt. Dưới lớp đá núi sâu thẳm, từng đợt rung động âm ỉ nối đuôi nhau truyền qua vách vòm, mang theo tiếng thở dài phập phồng, nặng nề của mạch địa hỏa ngàn năm vốn đã bị các trận pháp phong ấn tầng tầng lớp lớp của tông môn ghìm giữ và điều tiết.
Để có thể đặt được bước chân đầu tiên lên thềm đá đen dẫn vào Hỏa Mạch Phường, Lục Thanh đã phải dốc cạn toàn bộ năm mươi hai điểm công tích – số vốn liếng mà cậu cùng Mộc An và Ninh Tố Tâm đã tích lũy ròng rã, chắt bóp từng chút một suốt hơn một tháng qua.
Trước đó nửa canh giờ, tại sảnh giao nhận vụ việc của Chấp Sự Viện, không khí buổi sớm vẫn còn vương hơi lạnh buốt giá. Vị chấp sự trung niên đeo chiếc kính một tròng bằng tinh thể pha lê trong vắt đã nhíu chặt đôi mày rậm, ngón tay gầy guộc gõ nhịp liên hồi lên mặt bàn gỗ trắc bóng loáng, mắt nhìn chằm chằm vào chiếc thẻ bài bằng gỗ bách của Lục Thanh:
"Toàn bộ năm mươi hai điểm công tích? Ngươi có biết số điểm này đổi được bao nhiêu mười ngày ngồi trong Tụ Khí Thất không? Hoặc giả đổi lấy mười bình Tích Cốc Đan thượng hạng và hai bộ kiếm bào mới tinh từ Chức Tạo Đường? Đệ tử tạp dịch kiếm từng điểm công tích từ việc quét sân, khuân đá, sửa chữa từng chiếc giá sách thiết mộc đổ nát cực nhọc dường nào, chẳng lẽ một kẻ mang tạp linh căn như ngươi lại không biết tiếc?"
"Đệ tử không tiếc," Lục Thanh khi ấy chỉ khẽ cúi đầu, giọng nói bình thản mà dứt khoát như một tảng đá ngâm dưới đáy suối ngàn năm. "Xin chấp sự thành toàn, đổi cho đệ tử một tấm lệnh bài phụ việc tạp vụ tại Hỏa Mạch Phường trong mười ngày."
Vị chấp sự ngước nhìn thiếu niên vài giây, thấy ánh mắt đối phương sâu thẳm không chút dao động, cuối cùng chỉ thở dài đánh thượt một cái, lắc đầu trước sự ngoan cố đến mức gàn dở của kẻ mang ngũ hành tạp linh căn. Ông ta quét ngón tay qua ngọc giản, trừ sạch từng điểm tích lũy mà Lục Thanh cùng các bạn đã đổi bằng mồ hôi và máu nơi xó rừng góc viện, rồi từ trong ngăn kéo ném ra một tấm lệnh bài bằng sắt rèn thô ráp. Mép viền của tấm lệnh bài thậm chí còn chưa thèm mài nhẵn, bốn góc nham nhở ba-via, ám đầy mùi dầu máy khen khét cùng những đốm rỉ sét lâu ngày.
Thế nhưng khi cầm tấm lệnh bài lạnh ngắt và thô kệch ấy trong lòng bàn tay, bước chân Lục Thanh rời khỏi Chấp Sự Viện lại nhẹ bẫng lạ thường. Sau lưng cậu, thanh kiếm gãy bọc trong lớp vải bố thô dường như cũng cảm ứng được hơi ấm mơ hồ vọng lại từ hướng nam, khẽ phát ra một xung động ấm áp lan tỏa dọc theo từng đốt sống. Cậu không đến đây để tìm kiếm sự an nhàn, cũng chẳng màng đến việc ngồi xếp bằng hít thở linh khí trong những căn phòng lót đệm gấm thơm tho; cậu tìm đến đây vì mùi sắt nung và ngọn lửa đỏ rực – thứ thanh âm và hơi thở đã nuôi lớn cậu suốt mười sáu năm đời người dưới chân núi Thanh Khê.
Xưởng rèn trung tâm của Hỏa Mạch Phường là một gian điện vòm bằng đá huyền vũ khổng lồ, cao tới mười trượng và rộng thênh thang hàng trăm trượng, đủ sức chứa cả trăm bệ lò hoạt động cùng một lúc mà không hề chật chội. Không khí nơi đây đậm đặc bụi quặng và bỏng rát đến mức mỗi hơi thở hít sâu vào lồng ngực đều như cào xước cuống họng, khiến người mới đến có cảm giác phổi mình đang bị thiêu đốt. Khắp đại điện, hàng chục thợ rèn nội môn lẫn tạp dịch phong lôi đều cởi trần trùng trục, da dẻ bóng nhẫy mồ hôi dưới ánh lửa bập bùng, cơ bắp cuồn cuộn vung những chiếc búa nặng trịch đập chan chát xuống những khối kim loại đỏ rực trên đe. Tia lửa bắn tung tóe như hoa đăng rực rỡ trong đêm hội, hòa cùng tiếng gầm rú điên cuồng của những ngọn gió bị nén chặt dẫn từ các bễ thụt khổng lồ bằng da thú ngàn năm.
Lục Thanh vừa bước qua ngưỡng cửa vòm bằng đá tảng, một bóng người từ phía giàn treo phôi sắt đã sải từng bước dài dứt khoát đi tới.
Đó là một nữ nhân trạc ngoài ba mươi tuổi, vóc dáng cao ráo, bờ vai vuông vức rắn rỏi khác hẳn vẻ mảnh mai thanh thoát thường thấy của các nữ kiếm tu trên các đỉnh phong. Nàng khoác một bộ giáp tạp dề bằng da trâu dày cộp nhuốm đầy muội than và chi chít những vết xém lửa tròn nhỏ, hai ống tay áo xắn cao để lộ đôi cánh tay nổi rõ những đường gân dẻo dai cùng vài vết sẹo do tia kim loại nóng chảy bắn vào đã lành miệng từ lâu. Mái tóc đen dài được búi gọn gàng sau gáy bằng một chiếc trâm sắt gỉ sét thô sơ, khuôn mặt góc cạnh không hề thoa một hạt phấn nụ nhưng lại toát lên uy nghiêm bức người. Đôi mắt nàng sắc lẻm như hai lưỡi dao cạo, lạnh lùng quét qua người Lục Thanh một lượt từ đầu đến chân.
Hàn Dung – nữ luyện khí sư đứng đầu Hỏa Mạch Phường, người nổi danh khắp mười hai ngọn núi của Thanh Vân Kiếm Tông vì tính khí quật cường, thẳng thắn như thép nguội và sự nghiêm khắc đến mức tàn nhẫn đối với bất kỳ ai bước chân vào xưởng lửa của nàng.
"Ngươi là kẻ dùng sạch điểm công tích khổ sai chỉ để đổi lấy chân quét xỉ quặng ở đây?" Hàn Dung cất giọng, âm thanh khàn khàn vì khói lò nhưng lại sang sảng át cả tiếng bễ gió rền rĩ xung quanh.
"Đệ tử Lục Thanh, bái kiến Hàn sư phụ." Lục Thanh chắp tay, cúi người hành lễ theo đúng quy củ cổ xưa của phường thợ: hai bàn tay đan vào nhau giữ ngang tầm chấn thủy, mu bàn tay hướng ra ngoài, các đầu ngón tay khẽ khum lại một góc tinh tế để che đi những vết chai sạn nơi lòng bàn tay, sống lưng thẳng tắp nhưng đầu hơi cúi ba phân.
Hàn Dung khẽ nhướng một bên mày rậm khi thấy tư thế chào ấy. Đó tuyệt đối không phải là lễ tiết kiếm khách vụng về của đám đệ tử Kiếm Đường, mà là nghi thức vấn an trang trọng của phường thợ rèn đất Kinh Sở lưu truyền từ mấy trăm năm trước. Tuy nhiên, nét mặt sắt đá của nàng không hề giãn ra dù chỉ một chút, trái lại càng thêm phần lạnh lùng và khắt khe:
"Thu cái lễ nghi vụn vặt đó lại. Ở Hỏa Mạch Phường này, thứ duy nhất có quyền cất tiếng nói là búa và đe. Ta mặc kệ ngươi ở Tàng Kinh Các quét lá giỏi giang ra sao, hay dùng mẹo vặt khéo léo cứu vãn giá sách mục nát thế nào. Xưởng rèn này là nơi ranh giới giữa sắt đá và máu thịt va chạm khốc liệt nhất, không chứa chấp những kẻ chỉ biết nhét linh đan vào mồm để tăng tiến tu vi một cách rỗng tuếch, lại càng không có chỗ dung thân cho lũ kiếm tu chỉ biết ngâm nga kiếm phổ, mở miệng ra là nói chuyện lý thuyết suông!"
Nàng tiến lên một bước dài, luồng khí tức bức người mang theo hỏa kình cuồn cuộn khiến vạt áo vải thô của Lục Thanh bay phần phật về phía sau:
"Vào đây rồi thì mạng của ngươi gắn liền với sự an toàn của từng lò lửa. Làm hỏng một phôi sắt, phạt trừ mười ngày công. Làm nứt một bệ đe, lập tức cút xéo về lại núi sau mà quét rác! Hiểu rõ chưa?"
"Đệ tử đã hiểu." Lục Thanh ngẩng đầu lên, ánh mắt tĩnh lặng như mặt nước giếng sâu giữa mùa đông giá rét, không hề có lấy một tia khiếp nhược, dao động hay né tránh trước uy áp của một vị Luyện Khí đại sư.
Đúng lúc bầu không khí giữa hai người đang căng như dây đàn, một tràng cười ngạo nghễ chen lẫn tiếng giễu cợt quen thuộc bỗng vang lên từ phía khoang lò số chín – khu vực lò rèn thượng hạng được ngăn cách bằng một bức bình phong bằng đá ngọc cách nhiệt đồ sộ:
"Ai chà, ta còn tưởng là bậc kỳ tài phương nào giá lâm khiến Hàn sư phụ phải đích thân ra tận cửa vòm nghênh đón, hóa ra lại là vị 'hảo đồng môn' Lục Thanh vang danh tạp dịch của chúng ta!"
Phùng Đại Xảo từ sau bức bình phong bằng đá ngọc nghênh ngang sải bước bước ra. Hôm nay gã không thèm mặc bộ đạo bào tạp dịch màu tro xám thông thường mà khoác hẳn một bộ cẩm bào dệt bằng tơ băng tằm màu lam nhạt, bên ngoài trùm thêm một chiếc áo choàng bằng da hươu lửa đắt đỏ nhằm ngăn cản nhiệt lượng xâm nhập. Trên ngực gã lấp lánh một khối Hộ Thần Ngọc bội tỏa ra làn sương trắng mỏng manh, dịu mát, giúp gã hoàn toàn không phải đổ lấy một giọt mồ hôi nào giữa cái nóng như thiêu như đốt của đại điện.
Nhờ vào gia thế giàu nứt đố đổ vách dưới chân núi, Phùng Đại Xảo đã hào phóng chi ra tới ba trăm linh thạch hạ phẩm để thuê riêng một khoang lò địa hỏa bậc trung trong vòng năm ngày, lại còn thuê thêm hai đệ tử ngoại môn lực lưỡng đứng chực hai bên làm chân phụ việc kéo bễ thụt và gắp than đá.
Phùng Đại Xảo khoanh hai tay trước ngực, chiếc quạt ngọc gõ nhẹ lên bắp tay, nhìn Lục Thanh bằng ánh mắt khinh miệt không chút giấu giếm:
"Lục Thanh ơi là Lục Thanh, ta thật không ngờ ngươi lại bần cùng và thiển cận đến mức độ này. Năm mươi điểm công tích chắt bóp từng đồng từng cắc từ việc quét dọn xó xỉnh, người có đầu óc đều dùng để đổi đan dược tăng tiến tu vi chuẩn bị cho kỳ khảo hạch bí cảnh Thung lũng Hồi Âm sắp tới, còn ngươi lại đem nướng sạch sành sanh vào chốn này để xin làm chân quét xỉ quặng hèn mọn? Ngươi nghĩ xưởng rèn của Thanh Vân Kiếm Tông cũng giống như cái lò rèn rách nát của nhà ngươi ở xó xỉnh Trấn Thanh Khê sao? Ở đây toàn là linh thiết trăm năm, huyền kim nghìn lượng, thứ tạp linh căn kinh mạch bế tắc như ngươi chạm tay vào chỉ làm bẩn vật liệu của tông môn mà thôi!"
Hai tên đệ tử ngoại môn đi theo hầu hạ Phùng Đại Xảo cũng hùa theo cười phá lên, ánh mắt nhìn Lục Thanh đầy vẻ thương hại xen lẫn giễu cợt cay độc.
Lục Thanh thậm chí không thèm chớp mắt lấy một lần. Cậu chỉ lẳng lặng nhìn lướt qua ngực áo của Phùng Đại Xảo. Khối Tử Đồng Hộ Tâm Phù phát nổ kỳ trước đã được thay thế bằng một khối ngọc bội mới toanh, nhưng luồng linh lực quanh thân Phùng Đại Xảo vẫn bồng bềnh, nông cạn và thiếu ổn định y như cũ – dấu vết không thể nào xóa nhòa của việc lạm dụng quá nhiều đan dược tạp nham mà không chịu bỏ công rèn giũa gân cốt thân thể.
"Phùng sư huynh có linh thạch thuê lò riêng, đó là phúc phận và tài lực của huynh," Lục Thanh thản nhiên đáp, giọng điệu không mảy may gợn sóng, như thể đang nói về một chuyện vụn vặt chẳng đáng bận tâm. "Còn đệ tử đến đây bằng điểm công tích do chính mồ hôi công sức mình làm ra, không trộm không cướp, cũng không ngửa tay xin xỏ ai. Nghề rèn lấy mồ hôi đổi lấy sắt thép, đứng trước lửa dữ ai cũng như ai, chẳng có gì gọi là hèn mọn."
"Ngươi——" Phùng Đại Xảo đỏ bừng mặt vì bị chọc đúng vào chỗ nhược. Gã vừa định sấn tới buông lời nhục mạ thì một tiếng quát sắc lạnh như băng tuyết đã đột ngột cắt ngang.
"Câm hết cái mồm lại cho ta!"
Hàn Dung lạnh lùng liếc xéo Phùng Đại Xảo một cái. Ánh mắt nàng mang theo sát khí sắc nhọn của một người quanh năm đối diện với lửa đỏ và kim loại nóng chảy, khiến tên thiếu gia nhà giàu bất giác rụt cổ lại một bước, nụ cười trên môi tắt ngấm:
"Phùng Đại Xảo, lò số chín của ngươi đã chỉnh nhiệt độ xong chưa? Mảnh Huyền Mẫu Thiết ngươi bỏ ra cả đống linh thạch mua về nếu trong vòng nửa canh giờ nữa không nung đủ độ nóng để tạp chất trồi lên bề mặt, nó sẽ nứt toác thành một đống phế thải không hơn không kém. Có thời gian đứng ở đây sủa bậy thì cút về mà trông cái bễ than của ngươi đi!"
Phùng Đại Xảo cắn chặt môi dưới, hậm hực lẩm bẩm vài câu chửi thề trong cổ họng rồi hầm hầm quay gót trở lại khoang lò riêng, nhưng vẫn không quên ngoái đầu ném cho Lục Thanh một ánh nhìn đầy vẻ khiêu khích: *'Để xem lát nữa ngươi bẽ mặt ra sao trước mặt Hàn sư phụ!'*
Sau khi Phùng Đại Xảo đã đi khuất sau bức bình phong, Hàn Dung quay lại nhìn Lục Thanh. Đôi mày rậm của nàng khẽ nhíu lại, trong đáy mắt xẹt qua một tia sắc sảo khó lường:
"Ngươi nói nghề rèn không hèn mọn? Được lắm. Miệng lưỡi cứng cỏi đấy. Nhưng ở Hỏa Mạch Phường này, nói được thì phải làm được."
Nàng sải bước đi tới một góc xưởng u tối, nơi chất đống những tảng đá khoáng sản xù xì, gồ ghề vừa được chuyển từ mỏ hắc thiết Vân Phong về bằng xe kéo cơ quan. Hàn Dung vươn một cánh tay trần chắc nịch, không cần vận dụng linh lực mà chỉ dùng sức mạnh thuần túy của cơ bắp, dễ dàng nhấc bổng một khối quặng lớn bằng cái đầu người ném mạnh xuống mặt đất ngay trước mũi giày của Lục Thanh.
*RẦM!*
Mặt đất lát đá huyền vũ dày cộp khẽ rung chuyển một nhịp. Khối quặng đen đúa, góc cạnh lởm chởm, bên trên bám đầy những lớp đá vôi xám xịt và các đường vân tạp chất màu nâu đỏ gỉ sét. Mùi tanh nồng, khô khốc của quặng sống xộc thẳng vào mũi.
"Đây là quặng Thiết Tinh thô loại ba, lẫn hơn bốn phần tạp chất đá núi và xỉ xốp," Hàn Dung chỉ tay vào tảng quặng, giọng điệu lạnh tanh không một chút nể nang hay thương tình. "Quy củ của Hỏa Mạch Phường đối với kẻ mới đến muốn chạm vào đe sắt: dùng chiếc búa tạ tám mươi cân kia, lọc sạch khối quặng này thành một thỏi phôi sắt tinh khiết không lẫn một hạt cát."
Nàng dừng lại một nhịp, gằn từng tiếng rõ ràng:
"Và tuyệt đối không được dùng một tia linh hỏa trợ lực. Không dùng pháp thuật nung mềm quặng, không mượn nhiệt độ từ địa hỏa trận dưới sàn. Hoàn toàn dùng sức cơ bắp và kỹ thuật đập búa nguội để ép toàn bộ xỉ quặng ra ngoài bằng lực chấn động. Trước khi mặt trời lặn sau đỉnh núi phía tây, nếu không ra được một thỏi phôi sắt đạt chuẩn sơ cấp của tông môn, cầm lại tấm lệnh bài rỉ sét của ngươi và cút khỏi đây vĩnh viễn!"
Lời vừa dứt, mấy người thợ rèn nội môn đang quai búa ở các lò lân cận đều khựng tay búa lại giữa không trung, đưa mắt nhìn nhau đầy ái ngại và kinh ngạc.
Lọc quặng Thiết Tinh thô mà không dùng linh hỏa nung chảy? Đó là lối rèn nguội khắc nghiệt đến tàn nhẫn chỉ dành cho những bậc đại tông sư muốn tôi luyện phôi kiếm cực phẩm ngàn năm, hoặc dùng để trừng phạt những đệ tử phạm phải trọng tội trong phường thợ! Dùng búa tạ tám mươi cân đập liên tục vào quặng thô cứng như đá tảng, phản lực dội ngược lại từ mặt đe sắt đủ sức làm chấn nứt xương cổ tay, xé rách kinh mạch của một đệ tử Luyện Thể sơ kỳ, huống chi Lục Thanh chỉ là một tên tạp dịch mang ngũ hành tạp linh căn vừa mới bước những bước chập chững vào Dẫn Khí cảnh!
Phùng Đại Xảo từ bên trong khoang lò số chín lại thò đầu ra qua khe bình phong, trên mặt nở nụ cười đắc ý tột cùng. Gã chống nạnh đứng chờ xem cảnh Lục Thanh vung búa được ba nhát rồi ôm lấy cổ tay gãy nát mà khóc lóc van xin tha mạng.
Thế nhưng, sắc mặt Lục Thanh không hề biến đổi. Không có sự hoảng hốt, không có nỗi sợ hãi, cũng chẳng có chút oán trách nào hiện lên trên gương mặt thiếu niên.
Cậu cúi đầu nhìn chằm chằm vào khối quặng Thiết Tinh thô dưới chân, rồi chậm rãi đưa mắt nhìn sang chiếc đe sắt hình sừng bò đen bóng đặt cạnh bệ than đá ở góc xưởng. Trên mặt đe, những vết lõm nông sâu do hàng vạn nhát búa của các bậc tiền bối để lại qua năm tháng hiện lên rõ mồn một như những nếp nhăn thời gian. Chiếc búa tạ tám mươi cân bằng thép rèn đặc nằm im lìm trên giá gỗ nghiến, cán búa dài ba thước đã lên nước bóng loáng, sẫm màu mồ hôi và dầu mỡ của biết bao thế hệ thợ rèn đi trước.
Mùi than đá nồng đượm. Mùi sắt nguội tanh nồng. Chiếc đe sừng bò vững chãi như một ngọn núi nhỏ.
Khoảnh khắc ấy, toàn bộ không gian huyên náo, nóng bức và ngột ngạt của Hỏa Mạch Phường dường như lắng xuống, biến mất hoàn toàn khỏi tâm trí Lục Thanh. Trước mắt cậu không còn là tông môn tu tiên cách biệt ngàn trùng với trần thế, không còn là những ánh mắt coi thường, giễu cợt của đám đệ tử kiêu ngạo. Cậu như thấy lại gian nhà lá ba gian đơn sơ ở góc phố nhỏ Trấn Thanh Khê, thấy bễ than rực lửa của tiệm rèn Lục Ký thân thương, và bóng lưng vững chãi như bàn thạch của cha đang lặng lẽ đứng bên đe sắt dưới ánh hoàng hôn mười năm về trước.
*«Thanh nhi, sắt thép cũng có xương tủy, có mạch máu và nhịp thở của riêng nó. Kẻ ngu ngốc dùng sức mạnh man rợ đập nát thịt da nó, kẻ vụng về dùng ngọn lửa hung hãn đốt cháy tâm can nó; chỉ có người thợ rèn chân chính mới biết lắng nghe tiếng thở của quặng để gõ rơi phần mục rỗng bên ngoài, giữ lại phần cốt tủy tinh hoa nhất.»*
Lời dạy trầm ấm, vang vọng của Lục Viễn Sơn năm nào bỗng nhiên ùa về bên tai, trong trẻo và ấm áp lạ thường, sưởi ấm khắp các đường kinh mạch đang khẽ run rẩy của cậu.
Lục Thanh cúi người xuống, hai bàn tay luồn xuống dưới tảng quặng Thiết Tinh thô nặng gần trăm cân. Cậu không hề vội vã dùng sức mạnh gân cốt thô bạo, mà hít sâu một hơi, để khí trầm đan điền, hai chân bám rễ xuống nền đá rồi nhẹ nhàng nâng bổng tảng đá lên. Từng bước chân của cậu vững vàng, bước tới đặt tảng quặng lên mặt đe sắt. Động tác của cậu thuần thục, dứt khoát đến mức kỳ lạ: đáy tảng quặng áp sát hoàn hảo vào tâm đe mà không hề phát ra một tiếng va đập chói tai nào, êm ru như đặt một chén trà xuống mặt bàn gỗ.
Cậu cởi bỏ lớp áo ngoài bằng vải bố thô, chỉ mặc độc một chiếc áo lót cộc tay mỏng manh, để lộ thân hình thiếu niên tuy chưa vạm vỡ đẫy đà nhưng các thớ thịt săn chắc như dây chão, từng đường gân nổi rõ dưới làn da màu đồng hun. Thanh kiếm gãy bọc vải bố sau lưng được cậu cẩn thận tháo ra, đặt tựa vào chân bệ đe, ngay bên cạnh tầm mắt mình.
Lục Thanh vươn bàn tay phải thô ráp, nắm chặt lấy cán chiếc búa tạ tám mươi cân.
Sức nặng khủng khiếp của khối thép đúc truyền qua lòng bàn tay, kéo trĩu cánh tay phải xuống. Đối với một người tu chân quen dựa dẫm vào ngự khí pháp bảo hay nuốt linh đan để tăng lực, tám mươi cân thép nguội là một gánh nặng cồng kềnh khó lòng kiểm soát; nhưng với một đứa trẻ lớn lên cùng tiếng đe tiếng búa từ thuở lên năm lên sáu như Lục Thanh, chiếc cán gỗ nghiến này tựa như một phần xương thịt nối dài của chính cánh tay cậu.
Lục Thanh khép hờ đôi mi, hít vào một hơi thật sâu.
Không khí bỏng rát của xưởng rèn tràn vào khoang ngực, nhưng lần này không hề gây ra cảm giác khô rát, bỏng cháy. Cậu bắt đầu vận chuyển phương pháp điều hòa hơi thở trong «Đồng Hành Tự Điều Quyết» mà mình, Mộc An và Ninh Tố Tâm đã cùng nhau nghiên cứu hoàn thiện.
Hai bàn chân cậu bám chặt xuống nền đá huyền vũ như rễ cây tùng bách ngàn năm cắm sâu vào vách đá – Thổ linh khí nồng đậm từ lòng đất chậm rãi thẩm thấu qua huyệt Dũng Tuyền dưới lòng bàn chân, vững vàng dựng nên một bộ khung chịu lực hoàn mỹ cho toàn bộ nửa thân dưới. Mộc linh khí từ chiếc cán búa làm bằng gỗ nghiến lâu năm truyền qua huyệt Lao Cung nơi lòng bàn tay, hóa thành sự dẻo dai, đàn hồi nâng đỡ các khớp xương cổ tay và cùi chỏ. Thủy linh khí thanh lương ngầm luân chuyển trong kinh mạch, làm dịu đi cái nóng thiêu đốt của Hỏa khí xung quanh. Hỏa linh khí nồng đượm trong gian điện đóng vai trò như nhịp dẫn của lò luyện, dung hòa ngũ hành thành một vòng tuần hoàn khép kín, êm ả luân chuyển không ngừng quanh đan điền.
*Keng!*
Nhát búa đầu tiên dứt khoát hạ xuống.
Đó không phải là một cú nện dùng hết sức bình sinh của kẻ phàm phu nhằm khoe mẽ sức mạnh. Đầu búa bằng thép tiếp xúc với bề mặt gồ ghề của quặng thô ở một góc nghiêng chính xác ba mươi độ. Một tiếng ngân trầm đục, chắc nịch vang lên, kèm theo một chùm tia lửa nhỏ li ti màu cam sẫm. Mặt ngoài của tảng quặng khẽ rạn ra một đường nứt mảnh như sợi tơ nhện.
Hàn Dung đang đứng khoanh tay quan sát cách đó năm bước, mí mắt phải bỗng giật nảy một cái.
Góc ba mươi độ! Đó là góc đặt búa chuẩn xác nhất trong cổ pháp rèn nguội để bóc tách lớp xỉ giòn bên ngoài mà không làm tổn hại đến mạng tinh thể kim loại bên trong. Một thiếu niên mới mười sáu tuổi, kinh mạch còn chưa thông suốt hoàn toàn, làm sao có thể căn chỉnh góc búa chuẩn mực đến từng ly từng hào như một người thợ rèn có ba mươi năm kinh nghiệm chỉ bằng một cái liếc mắt?
*Keng... Keng... CỐC!*
Nhát thứ hai, nhát thứ ba, rồi đến nhát thứ tư giáng xuống.
Tiếng búa của Lục Thanh không hề dồn dập, hỗn loạn hay chát chúa như những tiếng đập sắt thông thường của đám thợ trong xưởng. Nó mang một tiết tấu vô cùng kỳ lạ, như một khúc nhạc điệu có vần có điệu: ba nhịp búa gõ nhẹ với lực độ vừa phải nhằm thăm dò thớ đá và dẫn truyền sóng chấn động vào sâu trong tâm quặng, tiếp theo là một nhịp búa nặng đầm, dũng mãnh giáng xuống đúng vào giao điểm của các mạch tạp chất giòn rụm.
*Xoạc!*
Một mảng đá vôi lớn bằng bàn tay người lớn lập tức vỡ vụn, rơi lả tả xuống máng hứng xỉ dưới chân bệ đe, để lộ ra lớp quặng Thiết Tinh màu xám chì sần sùi, đặc quánh bên trong.
Phùng Đại Xảo đứng đằng xa nheo mắt cười khẩy, buông lời mỉa mai: "Mới cạo được lớp vỏ ngoài mềm như bùn đất mà đã làm bộ làm tịch. Lát nữa đập vào lõi đá hoa cương cứng như sắt bên trong, phản lực dội lại không làm nát vụn xương bánh chè và khớp tay ngươi mới là chuyện lạ trên đời!"
Thế nhưng, thời gian cứ thế chầm chậm trôi đi trong tiếng búa không ngừng nghỉ.
Nửa canh giờ. Một canh giờ. Rồi hai canh giờ đằng đẵng trôi qua.
Xưởng rèn trung tâm vẫn ngập tràn tiếng ồn ào hỗn độn của hàng trăm ngọn lửa và tiếng bễ gầm, nhưng dần dần, một hiện tượng kỳ quái bắt đầu diễn ra ngay giữa lòng đại điện.
Tiếng búa của Lục Thanh – cái âm thanh *Keng... Keng... Cốc... Keng...* đều đặn, bền bỉ, nhịp nhàng như tiếng chuông đồng cổ tự điểm từng nhịp boong – dường như mang theo một ma lực vô hình, từng chút từng chút một thẩm thấu vào không gian, lấn át cả tiếng bễ gió gầm rú và tiếng la hét của đám thợ phụ.
Nó không hề nhanh hơn nửa nhịp, cũng không hề chậm đi một phần nghìn khắc.
Từng giọt mồ hôi từ trán Lục Thanh chảy dài qua gò má góc cạnh, rơi xuống ngực áo ướt đẫm rồi nhỏ xuống mặt đe, bốc hơi xèo xèo thành những làn khói trắng ngay khi vừa chạm vào kim loại. Toàn thân cậu đã bị phủ một lớp muội than xám xịt, nhưng đôi mắt của thiếu niên lại sáng quắc như hai vì tinh tú giữa trời đêm, sáng một cách kỳ lạ giữa bóng tối tranh tối tranh sáng của gian điện vòm.
Cậu hoàn toàn không dùng đến một tia linh hỏa nào, nhưng mỗi một nhát búa giáng xuống, ngũ hành linh khí trong cơ thể lại vận hành nhịp nhàng theo từng động tác vung tay và nhịp thở ra. Lực đập không phải phát ra từ cơ bắp cánh tay đơn thuần, mà khởi phát từ gót chân bám đất, mượn lực Thổ khí đẩy ngược lên đầu gối, xoay chuyển qua thắt lưng, rồi men theo sống lưng truyền thẳng vào vai, theo kinh mạch cánh tay bộc phát trọn vẹn ngay tại khoảnh khắc mặt búa chạm vào bề mặt kim loại.
Đó là kỹ thuật phát lực tối thượng của nghề rèn cổ xưa – mượn chính lực phản hồi từ đe sắt để nâng búa lên cao, lấy nhịp thở điều hòa khí huyết để xua tan mệt mỏi!
Dưới nhịp đập phi thường và chuẩn xác đến từng phân ly ấy, khối quặng thô bắt đầu biến đổi một cách kỳ diệu. Từng lớp xỉ sắt màu nâu đỏ, từng mảng đá núi xốp vụn không ngừng nứt toác, vỡ vụn thành bột mịn và rơi rụng thành một đống cao dưới chân đe. Khối quặng dần dần thu nhỏ lại, nhưng mật độ của nó lại tăng lên gấp bội, phát ra những tiếng ngân vang ngày càng trong trẻo, đanh thép.
Đến canh giờ thứ ba, một vài người thợ rèn nội môn ở các lò lân cận đã bất giác buông lỏng tay búa trong tay. Họ đưa tay quệt mồ hôi nhễ nhại trên trán, tò mò bước lại gần, đứng thành một vòng tròn im lặng quanh bệ đe của Lục Thanh.
"Hắn... hắn đã vung chiếc búa tạ tám mươi cân đó suốt ba canh giờ liền rồi sao?" Một tên đệ tử nội môn Luyện Thể trung kỳ thì thào, giọng nói đầy vẻ kinh ngạc không thể tin nổi vào mắt mình. "Không hề uống lấy một ngụm nước, không hề ngồi nghỉ một khắc nào! Cánh tay và khớp vai của hắn làm bằng sắt nguội đúc thành chắc?"
"Ngươi nhìn nhịp thở của hắn kìa!" Một người thợ rèn có thâm niên mười mấy năm ở Hỏa Mạch Phường chỉ tay, hạ thấp giọng đầy vẻ kính nể sâu sắc. "Mỗi lần búa rơi xuống là một nhịp thở ra dứt khoát tống khứ trọc khí, khi búa nảy lên theo phản lực của đe là một nhịp hít vào sâu lắng thu nạp thanh khí. Hắn không hề dùng sức cơ bắp để ghìm búa lại, mà đang 'mượn' chính chiếc búa nặng kia để dẫn dắt khí huyết toàn thân lưu chuyển! Đây... đây là cảnh giới nhân chùy hợp nhất của phường thợ, làm sao một tên tạp dịch có thể nắm giữ được?"
Sự xôn xao bàn tán ngày càng lan rộng khắp một góc xưởng rèn. Thậm chí cả hai tên đệ tử ngoại môn đang phụ việc cho Phùng Đại Xảo cũng bỏ mặc bễ than đá đang cháy dở mà len lén chạy ra ngoài xem, bỏ lại một mình Phùng Đại Xảo đứng trơ trọi bên khoang lò riêng số chín. Sắc mặt tên thiếu gia họ Phùng lúc này đã chuyển từ chế giễu ngạo mạn sang tái nhợt như xác chết, rồi dần dần biến thành một nỗi kinh hoàng và ghen tị không thốt nên lời. Gã nhìn thiếu niên áo rách đang đứng sừng sững như cột đồng bên đe sắt, bỗng cảm thấy như có một ngọn núi đá nghìn trượng đang đè nặng lên lồng ngực mình, bóp nghẹt từng hơi thở.
Càng rèn về những nhịp cuối cùng, một biến động kỳ ảo và sâu kín bắt đầu xuất hiện trong lòng đất.
Dưới sàn đá huyền vũ dày cộp, mạch địa hỏa vốn cuộn trào hung hãn và hỗn loạn bỗng nhiên phập phồng chậm lại một cách kỳ lạ. Từng luồng nhiệt lượng ngầm dường như bị tiếng búa nhịp nhàng của Lục Thanh thu hút, bắt đầu dao động cộng hưởng theo từng nhịp *Keng... Keng... Cốc...* của cậu. Mỗi khi mặt búa của Lục Thanh giáng xuống, vệt lửa đỏ le lói dưới các khe nứt của sàn đá lại bừng sáng lên một nhịp rồi nhẹ nhàng thu lại, tựa như một sinh linh khổng lồ ngủ say ngàn năm dưới lòng đất đang cùng thở chung một nhịp thở với thiếu niên!
Hàn Dung đứng sừng sững ở hàng đầu tiên, đôi mắt sắc như chim ưng của nàng chưa từng rời khỏi thân hình Lục Thanh dù chỉ trong nửa khắc.
Bàn tay nàng giấu sâu trong túi da thú khẽ siết chặt lại thành nắm đấm.
Nếu như ban đầu nàng chỉ kinh ngạc trước thể lực bền bỉ và ý chí sắt đá khó tin của một đệ tử tạp dịch mang tạp linh căn, thì đến lúc này, toàn bộ tâm trí của nữ luyện khí sư đã bị chấn động dữ dội bởi một thứ khác sâu xa và chấn động hơn nhiều.
Cách đặt mũi búa chếch một phân về phía góc ngoài để nén bọt khí li ti... Cách dùng sống búa miết nhẹ một đường vòng cung lên cạnh phôi sau mỗi chu kỳ ba nhát đập để triệt tiêu ứng suất dư thừa bên trong kim loại... Và đặc biệt nhất là cái nhịp ngắt ba chẵn một lẻ – một kỹ thuật gia truyền tuyệt đỉnh dùng để 'ép rỗng thành đặc, hóa thô thành tinh' mà suốt mấy mươi năm lăn lộn khắp cõi tu chân này, nàng mới chỉ từng thấy duy nhất ở một người thi triển!
*Keng!*
Một tiếng ngân trong vắt, thanh thoát tựa như tiếng hạc kêu giữa trời quang mây tạnh đột ngột xé toang không gian ngột ngạt của xưởng rèn.
Đó là nhát búa thứ một vạn hai ngàn.
Thời gian vừa vặn trôi qua trọn vẹn bốn canh giờ. Mặt trời ngoài kia vừa vặn chạm vào đỉnh núi phía tây, rọi những tia nắng tà đỏ ối qua các ô thoáng trên vòm điện.
Lục Thanh từ từ hạ chiếc búa tạ tám mươi cân xuống giá đỡ bằng gỗ nghiến. Cán búa chạm vào giá phát ra một tiếng cộc nhẹ nhàng, chuẩn xác, không một chút run rẩy hay đuối sức nào nơi bàn tay cậu.
Cậu thở hắt ra một hơi dài. Một làn khói trắng mỏng manh mang theo toàn bộ trọc khí và tạp chất tích tụ trong lồng ngực suốt buổi rèn thoát ra ngoài không khí rồi tan biến vào hư không. Toàn thân cậu ướt sũng mồ hôi như vừa được vớt từ dưới dòng sông sâu lên, hai bắp tay nổi rõ những đường cơ bắp căng phồng đỏ rực vì nhiệt huyết lưu chuyển, nhưng lồng ngực vẫn phập phồng vững chãi, hai mắt sáng ngời, không hề có lấy nửa phần dáng vẻ kiệt quệ của một kẻ sức tàn lực kiệt.
Trên mặt đe sắt hình sừng bò, khối quặng xù xì, gồ ghề đầy đá núi và xỉ xốp ban đầu đã hoàn toàn biến mất không còn dấu vết.
Thay vào đó là một thỏi phôi sắt dài chừng một thước, vuông vức bốn cạnh sắc nét, đen tuyền óng ánh như một khối huyền ngọc thượng hạng được mài giũa tỉ mỉ qua trăm năm. Dưới ánh lửa đỏ rực của xưởng rèn, bề mặt thỏi sắt nhẵn bóng như một tấm gương phẳng, phản chiếu những tia sáng lạnh lẽo, thuần khiết và thâm trầm.
Không một vết nứt nẻ. Không một vết rỗ xỉ. Và tuyệt đối không hề có lấy một bọt khí li ti nào tồn tại bên trong cấu trúc kim loại hoàn mỹ ấy!
Xung quanh đe sắt, hàng chục thợ rèn nội môn đứng chết lặng như những pho tượng đá. Không một ai cất nên lời. Họ là những người ngày đêm tiếp xúc với sắt thép, họ hiểu rõ hơn bất kỳ ai trên cõi đời này rằng để đạt được độ thuần khiết và cấu trúc tinh thể hoàn mỹ như thế này bằng phương pháp đập nguội cơ học, ngay cả những bậc thợ rèn có thâm niên hai mươi năm ở Hỏa Mạch Phường cũng chưa chắc đã làm nổi trong vòng bốn canh giờ ngắn ngủi!
Một thỏi Thiết Tinh thô loại ba... đã bị thiếu niên tạp dịch này dùng sức người thuần túy và một chiếc búa tạ tám mươi cân rèn thành Thiết Tinh Bách Luyện thượng phẩm!
Phùng Đại Xảo đứng chết trân cách đó mười trượng, hai mắt trợn trừng trừng, chiếc quạt lụa đắt tiền trên tay rơi bộp xuống đất từ lúc nào không hay. Mảnh Huyền Mẫu Thiết trong lò số chín của gã vì bị bỏ mặc quá lâu, nung quá nhiệt độ giới hạn đã phát ra những tiếng nứt tanh tách rồi vỡ vụn thành xỉ, nhưng gã hoàn toàn không còn tâm trí đâu để để ý tới đống linh thạch bị thiêu rụi ấy nữa.
Giữa sự tĩnh lặng tuyệt đối đang bao trùm lấy gian điện vòm, tiếng bước chân nặng nề của đôi ủng da nện trên nền đá huyền vũ bỗng vang lên giòn giã.
Hàn Dung bước tới.
Nàng không nói một lời nào, vươn bàn tay thô ráp đầy những vết chai sần kẹp lấy thỏi phôi sắt đen tuyền trên mặt đe. Dù đã nguội bớt phần nào, thỏi kim loại vẫn còn mang nhiệt lượng âm ỉ cực lớn do ma sát của hàng vạn nhát búa tạo thành. Hàn Dung đưa thỏi sắt lên ngang tầm mắt mình, xoay đi xoay lại cẩn thận cả bốn mặt, tỉ mỉ quan sát từng thớ vân kim loại li ti chạy dọc thân thỏi dưới ánh lửa.
Kinh ngạc. Thán phục. Và một sự rung động mơ hồ, chua xót dâng trào mãnh liệt trong đáy mắt của người nữ nhân thép nơi Hỏa Mạch Phường.
Bề mặt nhẵn bóng không tì vết này... Đường nét góc cạnh dứt khoát mà trầm hậu, vững chắc như bàn thạch này... Tất cả đều mang đậm dấu ấn cá nhân của một người. Một người mà hai mươi năm trước từng đứng ở chính bệ đe sừng bò này, vừa quai búa vừa mỉm cười nói với nàng rằng: *«Hàn Dung, sắt nguội cũng có tâm tính và linh hồn của nó. Ngươi đối xử với nó bằng sự kiên nhẫn và chân thành, nó sẽ trả lại cho ngươi sự vững chắc ngàn năm không bao giờ gãy.»*
Bàn tay thô ráp của Hàn Dung khẽ run lên một nhịp rất khẽ, khó lòng nhận biết. Nàng siết chặt thỏi phôi sắt trong tay, rồi từ từ hạ cánh tay xuống.
Lục Thanh lúc này đã lấy ra một chiếc khăn vải thô lau sạch mồ hôi trên trán và hai cánh tay. Cậu cúi người nhặt chiếc áo ngoài bằng vải thô khoác lại lên người, cài khuy cẩn thận, sau đó với tay lấy bọc vải chứa thanh kiếm gãy tựa bên chân đe, cẩn thận buộc chéo lại sau lưng theo thói quen cũ không đổi.
Làm xong xuôi mọi việc, Lục Thanh hướng về phía Hàn Dung, chắp hai tay lại cúi đầu hành lễ:
"Thưa Hàn sư phụ, đệ tử đã hoàn thành bài khảo hạch quặng thô. Nếu phôi sắt này vẫn chưa đạt chuẩn của tông môn, ngày mai đệ tử sẽ xin quay lại Tàng Kinh Các chịu phạt theo quy củ."
Nói rồi, cậu xoay người lại, cất bước định hướng về phía cửa vòm đá đen rời đi để kịp giờ điểm danh buổi tối ở khu viện tạp dịch ngoại môn.
"Đứng lại."
Giọng nói của Hàn Dung đột ngột vang lên từ phía sau lưng cậu. Nó không còn vẻ gay gắt, giận dữ hay lạnh lùng như lúc ban sáng nữa, mà trầm hẳn xuống, mang theo một cảm xúc phức tạp, nghẹn ngào đến kỳ lạ khiến bước chân của Lục Thanh phải khựng lại giữa chừng.
Lục Thanh quay đầu lại nhìn.
Hàn Dung vẫn đứng sừng sững bên bệ đe sừng bò, nhưng ánh mắt nàng lúc này không còn nhìn vào thỏi Thiết Tinh Bách Luyện hoàn mỹ trên tay mình nữa. Đôi mắt sắc sảo của nữ luyện khí sư đang dán chặt, không chớp vào bọc vải bố thô sơ đeo chéo sau lưng thiếu niên – nơi lộ ra một đoạn chuôi kiếm bằng kim loại màu xám xịt, quấn dây gai đã sờn rách theo năm tháng.
Nàng nhìn chằm chằm vào chuôi kiếm ấy, lồng ngực phập phồng dữ dội dưới lớp y phục da trâu dày cộp, rồi cất giọng hỏi gặng từng tiếng một, thanh âm run rẩy đến khó tin:
"Thanh kiếm sau lưng ngươi... ai rèn cho ngươi?"