Kiếm Cốt Dưới Tro — Phần 1: Cửa Trời Không Có TiênC.38 / 40
Chương 38

Không gọi đó là toàn thắng

Mùi dấm chua, rượu thuốc và máu tươi nồng nặc bao trùm căn lều dã chiến của y xá Thạch Tuyền dựng vội bên bờ suối Lò Khê.

Gió từ phía hẻm núi thổi tạt vào vách bạt căng tạm bợ, mang theo thứ bụi tro xám đục ngầu khoáng chất và vị đắng khét của mỏ quặng vừa sụp. Bên trong lều, tiếng thở dốc nặng nhọc quyện cùng tiếng kim loại va lách cách trên khay đồng. Ánh sáng từ hai chiếc đèn bão treo trên cọc tre lắc lư chập chờn, rọi xuống tấm phản gỗ gồ ghề đẫm một vệt dịch nâu sẫm đã bắt đầu bốc mùi tanh ngọt lợ của hoại tử. Những hạt muội than li ti bay lơ lửng trong không khí, bám vào từng sợi dây chão níu cọc lều, bám vào cả những thớ vải băng đã ố vàng vì ngấm dịch mủ. Nước suối ngoài kia chảy xiết qua các gềnh đá hộc, gầm gừ đục ngầu phù sa đỏ quạch, chốc chốc lại át đi những tiếng rên rỉ nghẹn ứ của những người nằm la liệt dọc hai bên lối đi đất nện.

Bác sĩ Trần Mộc đứng cúi rạp người trên tấm phản, vạt áo vải gai thô buộc túm hai đầu đã bết dính những mảng máu sẫm màu đóng vảy khô cong. Đôi bàn tay gầy gò nổi đầy gân xanh của ông không run rẩy, dù những ngón tay đã nhuốm đỏ đến tận cổ tay, móng tay hằn sâu những vệt toan khoáng ăn mòn thành từng rãnh nhỏ màu vàng xỉn. Trên mặt bàn gỗ cạnh đó đặt một chiếc cưa sắt răng mịn dùng cho việc cắt xương gia súc lớn, ba kẹp kìm bằng thép đen đã tôi dầu, hai cuộn bông ép tẩm bột rễ ngải tê phơi khô và một thau đồng chứa nước vôi trong để rửa sạch các thớ thịt dập nát.

Nằm trên phản gỗ là Bùi Sách. Cậu thiếu niên hai mươi tuổi từng thoăn thoắt chạy khắp các trạm liên lạc ngoại viện giờ đây nằm ngửa bất động, hai mắt nhắm nghiền, gương mặt trắng bệch như một phiến đá vôi ngâm nước lâu ngày, trán lấm tấm những hạt mồ hôi lạnh toát chảy tràn qua thái dương bết dính tro bụi. Chân trái của cậu—phần chi thể bị khối cự thạch hàng ngàn cân nghiền nát ở ngách cống số Bảy—đang được kéo thẳng ra rìa phản, đặt thõng xuống chiếc xô gỗ lót một lớp tro trấu dày bên dưới. Từ khớp gối trở xuống chỉ còn là một khối bùng nhùng xám xịt của thịt dập, mảnh xương vụn đâm toạc lớp da rách tả tơi và bùn toan khoáng đã ăn sâu vào tận tủy sống của xương chày. Vết thương đã bắt đầu thâm sì, mép thịt trương phình tím tái, bốc lên mùi thối rữa cục bộ đặc quánh khiến người phụ tá đứng bên cạnh phải liên tục quay mặt đi nén cơn buồn nôn.

"Nếu không cắt quá đầu gối ba tấc, độc toan và khí hoại tử sẽ chạy thẳng vào mạch máu lớn ở bẹn trước khi trời tối," giọng Trần Mộc khô khốc, trầm đục và không mang một gợn cảm xúc thừa thãi nào. Ông cầm lấy chiếc kẹp sắt lớn có ngàm răng cưa, đặt chuẩn xác vào vị trí mạch đùi phía trên chỗ sưng rồi siết mạnh từng nấc răng khóa để ngăn dòng máu đen đặc đang chực trào ra. "Chân này không giữ được. Giữ chân là mất mạng. Thuốc ngải tê trong kho không còn loại hảo hạng tẩm mật gấu, chỉ có thứ bột rễ vụn này thôi, thằng bé sẽ phải chịu một nửa cơn đau sống."

Ninh Chiêu ngồi bất động trên chiếc ghế đẩu thấp kê sát đầu phản. Toàn thân cô rã rời sau những canh giờ ngụp lặn dưới lòng cống ngầm, bụi đất và muội than phủ dày trên mái tóc rối bù xù, hai mắt đỏ hoe vì khói độc nhưng ánh nhìn vẫn găm chặt vào khuôn mặt méo mó của Bùi Sách. Bàn tay trái chai sạn của cô—với những vết sẹo bỏng co rút gân từ vụ cháy kho Nam Trụ nhiều năm trước—đang đè chặt lấy bờ vai run rẩy của cậu thiếu niên. Cô không nói một lời an ủi sáo rỗng. Cô chỉ dùng toàn bộ trọng lượng nửa thân trên của mình dồn xuống lòng bàn tay trái, ghì chặt khớp xương vai của người đồng môn trẻ tuổi vào mặt gỗ sồi gồ ghề, tạo thành một điểm tựa kiên cố duy nhất giữa cơn bão giằng xé của thể xác.

Cẳng tay phải của Ninh Chiêu được nẹp chặt bằng sáu nan tre già quấn vải gai dày cộp, buộc treo sát trước ngực bằng một dải lụa thô vắt qua cổ. Nơi đó, toàn bộ hệ thống gân duỗi và các sợi kinh mạch dẫn lực tinh vi đã bị xé toạc trong mười nhịp thở liều mạng ghìm then trượt ở Cửu Giá. Cánh tay buông thõng, mất hoàn toàn tri giác vận động, các ngón tay phải tái nhợt và cứng đờ như gỗ mục. Chỉ còn lại những cơn đau buốt âm ỉ từ tận màng xương truyền ngược lên cuống họng theo từng nhịp đập giật cục của mạch máu bị tổn thương. Nhưng bằng bàn tay trái còn lại, cô siết chặt vai Bùi Sách, từng đầu ngón tay chai sần bấu sâu qua lớp áo rách, truyền cho cậu hơi ấm duy nhất còn sót lại giữa căn lều lạnh lẽo đang bị gió bão tro bủa vây.

"Bột ngải tê chỉ làm giảm cảm giác ngoài da, không thể nào khóa được bó dây thần kinh lớn chạy dọc tủy sống," Trần Mộc cầm thanh cưa sắt lên, nhúng nhanh qua chậu rượu cất nồng độ cao rồi hơ qua ngọn lửa đèn dầu leo lét. Lưỡi thép rít lên một tiếng xèo nhỏ, bốc ra mùi cồn ngai ngái hòa lẫn muội bấc khét lẹt. "Giữ chặt lấy nó. Đừng để nó quẫy giật làm gãy lưỡi cưa trong tủy."

Khi mép cưa sắt răng mịn lạnh ngắt chạm vào phần da thịt đỏ ửng phía trên đầu gối ba tấc của Bùi Sách, cơ thể cậu thiếu niên bỗng giật nảy lên một cách tuyệt vọng. Một tiếng thét nghẹn ứ, khàn đặc bật ra từ cuống họng khô khốc dù hai mắt cậu vẫn nhắm nghiền trong cơn mê man do mất máu. Các thớ cơ trên cổ cậu căng phồng lên như những sợi dây thừng chão, hai hàm răng nghiến chặt vào thanh gỗ bọc nhiều lớp vải lanh được chèn ngang giữa miệng, phát ra tiếng ken két rợn người làm bật ra bọt mép lẫn vệt máu tươi rỉ qua khóe môi. Toàn thân cậu cong lên như một cánh cung sắp gãy đôi dưới sức kéo quá tải.

Bàn tay trái của Ninh Chiêu bấu chặt hơn nữa. Những khớp ngón tay cô trắng bệch ra vì vận dụng toàn bộ sức mạnh còn sót lại của cơ lưng và cơ vai trái. Cô ghìm chặt vai cậu xuống mặt phản, nghiêng đầu áp sát tai Bùi Sách, giọng nói trầm, đanh và nặng như tiếng búa tạ gõ trên mặt đe nguội:

"Thở đi, Bùi Sách. Mở mắt ra nhìn vào vách lều. Hít sâu vào bằng mũi, thở ra bằng miệng. Đừng cắn nát lưỡi mình. Tao đang ở ngay đây, tao đang giữ mày. Không có con quái vật ngầm nào ở đây nữa cả. Thở đi!"

Tiếng cưa sắt nghiến vào thớ thịt rồi chạm tới màng xương phát ra âm thanh sột soạt, sau đó chuyển thành tiếng ken két trầm đục, khô khốc và kéo dài đến ghê rợn. Đó là thứ âm thanh của kim loại lạnh lùng gọt giũa vào chất sống, từng nhịp, từng nhịp kéo đều đặn không ngừng nghỉ dưới bàn tay tàn nhẫn mà chuẩn xác của Trần Mộc. Máu sẫm bắn ra mép phản, chảy tong tòng xuống chiếc xô gỗ bên dưới, thấm đẫm lớp tro trấu khô khốc. Trần Mộc không dừng tay dù chỉ một nhịp thở; ông nhanh chóng dùng kẹp thép thắt chặt các nhánh mạch phụ đang phun máu, một tay rắc từng nắm bột rễ ngải pha vôi bột và thạch cao nghiền mịn để cầm máu cục bộ, tay kia tiếp tục đường cưa dứt khoát nghiền nát lớp vỏ xương đùi cứng như đá vôi.

Bùi Sách co giật từng chặp, những móng tay cậu cào rách lớp vải bạt trải phản gỗ, những giọt nước mắt hòa lẫn mồ hôi và bụi than chảy dài xuống hõm cổ gầy gò. Cậu không còn sức để hét lớn, chỉ còn những tiếng khò khè đứt quãng bật ra từ lồng ngực đang lõm sâu vì kiệt quệ.

Một tiếng *rắc* khô khốc và giòn tan vang lên khi đoạn xương đùi cuối cùng bị cắt lìa hoàn toàn. Phần chi thể nát bấy, biến dạng và tím đen vì ngấm độc toan rơi tẹp xuống chiếc xô gỗ đầy tro trấu. Trần Mộc lập tức buông cưa, vớ lấy miếng gạc ép tẩm nước vôi trong chận mạnh lên đầu xương cụt để rửa trôi mạt xương vụn, rồi kéo vạt da cơ đã được rạch sẵn theo hình chữ U phủ trùm lên mỏm cụt. Ông thoăn thoắt xâu sợi chỉ gai tẩm sáp ong qua chiếc kim cong bằng đồng, khâu từng mũi chữ thập dày đặc để đóng kín miệng vết thương, siết chặt từng nút chỉ với một lực kéo chuẩn xác đến mức không làm rách các thớ thịt non đang run rẩy.

Bùi Sách rũ xuống như một bao tải trút hết cát, toàn thân mềm nhũn, hơi thở yếu ớt và đứt quãng phả ra từ đôi môi khô nứt thâm tím. Cơn đau tột cùng của thể xác đã đẩy cậu chìm sâu hơn vào vực thẳm của sự hôn mê vô thức, nhưng lồng ngực gầy guộc vẫn phập phồng lên xuống từng nhịp nặng nề.

Trần Mộc thở hắt ra một hơi dài, buông kim khâu xuống chiếc khay đồng đầy máu. Đôi vai gầy guộc của ông chùng xuống trong thoáng chốc, để lộ toàn bộ sự kiệt sức của một người thầy thuốc đã đứng liên tục bên bàn mổ suốt sáu canh giờ giữa tiếng gầm rú của đất đá sụp đổ. Ông ngước nhìn Ninh Chiêu, lấy vạt áo lau vệt máu bầm bắn lên trán, khẽ gật đầu:

"Xong phần việc của đao búa rồi. Thân nhiệt đã hạ bớt, mạch đùi đã khóa kín. Giờ chỉ còn trông vào sức sống của chính nó. Nếu đêm nay không phát sốt cao do nhiễm toan khoáng chạy vào tim, thằng bé sẽ giữ được mạng. Nhưng đời này nó sẽ không bao giờ chạy trên đôi chân của mình được nữa."

Ninh Chiêu chầm chậm buông lỏng bàn tay trái. Những ngón tay cô co cứng lại như vuốt sắt sau hơn nửa canh giờ dùng lực cực hạn, run rẩy từng chặp và mất dần cảm giác. Cô cúi đầu nhìn xuống chiếc chăn dạ xám cũ kỹ vừa được người phụ tá phủ lên người Bùi Sách. Bên dưới lớp chăn thô ráp ấy, khoảng trống hoác ở nửa thân dưới bên trái đập vào mắt cô như một vết cắt sâu hoắm vào thực tại trần trụi. Không có bất kỳ phép màu nào của tiên gia hiển linh ở nơi này. Không có thứ linh đan diệu dược nào có thể làm mọc lại thịt xương đã bị nghiền nát dưới hàng vạn cân cự thạch. Chiến thắng mà họ vừa giành được dưới lòng đất không phải là một khúc hoan ca khải hoàn, mà là một đống đổ nát ngổn ngang được trả giá bằng từng mảnh thân thể rơi rụng của những đứa trẻ vô danh.

***

Bên ngoài cửa lều dã chiến, Tống Hoài ngồi trên một chiếc ghế gỗ mộc ba chân kê sát mép cọc bạt, nơi gió tro từ hẻm núi tạt qua nhiều nhất.

Chiếc áo choàng dài màu xám tro của anh đã rách nát tả tơi sau đòn bộc phát kiếm ý liều mạng chém vỡ chiếc van xả nước làm mát ở buồng trung tâm Cửu Giá. Dưới lớp áo lót bằng vải thô bết dính mồ hôi lạnh, thanh nẹp lưng định hình bằng thau đỏ pha thiếc được buộc chặt vào cột sống bằng ba vòng đai da thú, phát ra những tiếng cọ xát lạo xạo ghê người mỗi khi anh khẽ rướn người thở dốc. Kinh mạch vùng ngực của Tống Hoài đã nứt toác toàn diện; dư chấn phản phệ của luồng hơi nước áp suất cao cộng với tổn thương cũ ở bốn đốt sống thắt lưng khiến mỗi hơi thở của anh lúc này đều nặng nề, rít lên khò khè như một chiếc bễ lò rèn đã rỉ sét sắp bung các khớp nối gỗ. Một vệt máu bầm khô cứng đọng lại nơi khóe miệng kéo dài xuống tận cằm, nhưng đôi mắt sâu hoắm của anh vẫn sắc lạnh, tỉnh táo đến tàn nhẫn giữa cảnh hỗn loạn.

Trên đùi Tống Hoài là một cuốn sổ bìa da trâu dày cộp—cuốn sổ bộ ghi chép danh sách, phân loại thương binh và điều phối tài nguyên khẩn cấp của liên minh tạm thời. Bên cạnh anh, hai đệ tử ngoại viện tuổi chừng mười bảy, mười tám đang lúng túng đứng đợi chỉ thị, bàn tay run rẩy bưng những giỏ tre đựng đầy các lọ gốm thô chứa bột thanh phế và cao ngải tê.

"Nghe cho rõ đây," Tống Hoài lên tiếng, giọng anh khàn đặc, ngắt quãng sau mỗi ba từ để nén cơn đau thắt nghẹn nơi lồng ngực đang bị đè nén bởi thanh nẹp kim loại. "Đừng chia thuốc... theo kiểu ai gào to hơn thì mang cho trước. Ở đây không có chỗ... cho sự thương cảm hồ đồ."

Anh dùng ngón tay trỏ bám đầy muội than và vết xước chỉ thẳng vào từng dòng chữ viết nguệch ngoạc trên trang giấy dó đã ố vàng:

"Bảy người kéo ra từ buồng Cửu Giá... là diện ưu tiên số một. Bột thanh phế loại một tẩm cam thảo sao... chia đều cho ba người bị nhiễm toan khí nặng nhất. Mỗi người đúng hai thìa gạt ngang, hòa vào nửa bát nước ấm... cho uống từng ngụm nhỏ. Đứa nào uống vào mà nôn mửa ra ngay... phải đợi đúng nửa khắc sau mới được cho uống lại, tuyệt đối không được ép uống dồn dập kẻo rách phế nang."

"Dạ, Tống sư huynh... Còn những người bị sỏi đá đè ở cửa cống ngách số Bảy thì sao ạ?" Một đệ tử trẻ rụt rè lên tiếng, ánh mắt cậu đảo quanh bãi đất lầy lội, đầy vẻ kinh hoàng trước cảnh tượng máu me và những tiếng rên xiết không dứt. "Họ cũng đang sốt, nhiều người kêu gãy xương sườn..."

"Gãy xương kín thì dùng nẹp gỗ sồi cố định chặt, bôi cao giảm đau ngoài da để giữ ấm, tuyệt đối không được cấp thuốc bột uống có chứa chu sa và xạ hương," Tống Hoài ho sặc sụa một tràng dài, một ngụm máu tươi màu nâu thẫm rỉ qua kẽ môi rơi xuống trang giấy da trâu. Anh chỉ giơ ống tay áo rách lên quẹt ngang miệng một cách dửng dưng như thể đó chỉ là một giọt nước mưa rớt trúng mặt, rồi tiếp tục với giọng đanh thép: "Kho dược Nam Trụ đã cháy rụi hoàn toàn, lượng bột giảm đau dự trữ của y xá Thạch Tuyền chỉ còn đúng bốn hũ lớn này thôi. Mùa bão tro từ biển tràn vào chỉ mới bắt đầu đêm nay. Nếu các cậu phung phí hết số thuốc này trong ngày hôm nay chỉ để dỗ dành những vết bầm tím, thì ngày mai, những người bị cắt cụt xương và rách nội tạng sẽ phải cắn nát ngón tay mà chết vì kiệt sức trong đau đớn. Hiểu chưa? Mang đi!"

Hai người đệ tử sợ hãi cúi đầu vâng lệnh, cẩn trọng bưng giỏ thuốc vội vã rời đi về phía các dãy lều bạt nhỏ hơn dựng dọc theo mép bờ suối.

Tống Hoài tựa hẳn lưng vào chiếc cọc tre của khung lều, chầm chậm nhắm nghiền hai mắt lại. Bàn tay anh buông lỏng trên cuốn sổ da trâu, những ngón tay co giật từng chặp theo cơn co thắt của các dải cơ lưng. Anh biết rõ giới hạn của cơ thể mình hơn bất kỳ ai. Cú ra đòn toàn lực cuối cùng dưới lòng cống ngầm—nhát kiếm chém đứt khớp then trượt bằng sắt đặc—đã đánh sập hoàn toàn những mảnh vụn cuối cùng của cấu trúc kiếm cốt từng thuộc về một kiếm tu tài ba của Thanh Lư Tông. Giờ đây, sâu trong tủy sống của anh, các đường dẫn khí đã vỡ vụn thành tro bụi. Anh không còn là một kiếm tu nữa. Anh thậm chí không còn là một võ giả có thể tự đứng thẳng mà không cần thanh nẹp lưng thau đỏ. Anh chỉ là một phế nhân sống sót nhờ sự ngoan cố đến điên rồ, một kẻ giữ sổ sách điều phối tàn binh giữa một bãi tha ma đang bốc khói.

***

Cách bờ suối Lò Khê chừng nửa dặm, về phía rìa ngoài của khu dân cư hạ tầng, tiếng búa gõ chát chúa vang lên không ngừng giữa màn bụi xám đang cuồn cuộn đổ xuống từ đỉnh Lạc Hạc.

Lê Vãn đứng trên một mô đá hoa cương cao quá đầu người, mái tóc ngắn phủ đầy bụi tro bết lại thành từng lọn dính chặt bên thái dương. Chân phải của chị bị trẹo ngoặt trong lúc tháo chạy khỏi luồng bùn toan ở cống ngầm, các khớp mắt cá sưng vù như củ chuối, đang được quấn chặt bằng những vòng vải gai dày tẩm dầu thông và bột nghệ. Chị chống một thanh xà beng sắt dài sáu thước làm gậy đỡ, tay kia cầm chặt chiếc la bàn địa tầng bằng đồng thau và xấp bản vẽ dập mẫu sơ tán đã quăn queo mép.

Bên dưới chân mô đá, thợ rèn Vũ Kha cùng mười lăm người thợ lực lưỡng của các lò rèn Lò Khê đang trần lưng quai búa. Cơ thể vạm vỡ như tượng đồng của Vũ Kha ướt đẫm mồ hôi quyện với mạt sắt đen nhánh, từng thớ cơ bắp cuồn cuộn nổi lên sau mỗi nhát đập dứt khoát. Họ đang khẩn trương đấu nối mạng lưới tải nhân tạo mini tại năm điểm chốt dân cư trọng yếu nhất—nơi tập trung hơn năm ngàn người già, trẻ nhỏ và gia đình các thợ lò nghèo đang chen chúc trú ẩn trong các dãy nhà kho khoét sâu vào sườn đồi đá hoa cương kiên cố.

Thiết bị tải nhân tạo này là phiên bản thu nhỏ từ thí nghiệm thất bại ở Trụ số Bốn, nhưng đã được Lê Vãn và nhóm thợ lò cải tiến khẩn cấp: ba phiến thép gió hợp kim vonfram-mangan dày hai tấc kẹp chặt lấy một lõi đá hoa cương tự nhiên có kết cấu hạt mịn, bên trên gắn hệ thống con lắc đối trọng bằng đồng thiếc đúc đặc, treo lơ lửng trong một khoang lò xo xoắn ốc bằng thép tôi để triệt tiêu các xung lực địa chấn ngầm dội ngược từ đài Huyền Khuyết.

"Siết chặt bu-lông ở khớp số ba!" Vũ Kha gầm lên qua tiếng gió rít gào, chiếc búa tạ nặng mười lăm cân trong tay anh nện thẳng xuống đầu chốt thép gió, phát ra một tiếng *keng* chói óc làm tóe ra những tia lửa vàng rực. "Đưa thêm mỡ bò chịu nhiệt vào ổ bi giảm chấn! Đừng để nó kẹt khớp! Nhanh tay lên các anh em, gió tro từ rãnh biển đã tràn qua đỉnh Lạc Hạc rồi, không kịp đóng mạch là cả khu kho này thành lò hun khói đấy!"

Lê Vãn cắm que đo chấn động bằng đồng xuống khe nứt địa mạch dưới chân chốt tải số hai. Chiếc kim hiển thị trên mặt kính tròn dao động giật liên hồi, vạch kim liên tục nhảy vọt qua ranh giới an toàn màu đỏ. Chị ngẩng đầu nhìn lên không trung mù mịt.

Khi nhánh nạp ngầm Cửu Giá bị nhóm của Ninh Chiêu bẻ gãy, quầng sáng phòng hộ khổng lồ của đài Huyền Khuyết trên đỉnh núi đã sụt giảm hơn một phần ba diện tích, tạo ra những lỗ thủng hoác ở hướng đông bắc. Bão tro từ biển sâu cuốn theo hàng triệu tấn bụi quặng toan tính, rít gào như muôn ngàn dã thú tràn qua các khe núi, đổ ụp xuống thung lũng Lò Khê.

Tại năm điểm chốt dân cư, khi Vũ Kha vung búa đóng sập chiếc cần gạt bằng thép ghép dày cộp, các con lắc đồng thiếc bắt đầu dao động qua lại với một tần số cực cao. Một tiếng rù rù trầm đục lan tỏa qua lòng đất nứt nẻ, và một màn chắn ánh sáng màu lam mờ nhạt, dày chừng nửa thước bỗng bốc lên từ năm chiếc trụ tải mini, co cụm lại, bao bọc lấy các khu nhà kho trú ẩn như những chiếc mai rùa khổng lồ bằng năng lượng cơ học.

Những luồng bụi tro thô ráp, đen đặc tạt vào màn chắn lập tức bị chặn đứng lại bên ngoài, nổ lách tách như cát ném vào chảo gang nóng rực rồi trượt dài xuống các rãnh thoát hiểm hai bên sườn đồi. Bên trong màn chắn, không khí dịu bớt áp lực đè nén, mùi toan khét lẹt giảm đi trông thấy, tiếng gào khóc ngột ngạt của trẻ thơ trong các dãy kho tạm lắng xuống, chỉ còn lại tiếng thở phào nhẹ nhõm của những người dân nghèo.

Nhưng gương mặt của Lê Vãn không hề giãn ra dù chỉ một chút. Ánh mắt chị chăm chú nhìn vào các khớp nối cơ học của bộ tải đang rung bần bật dưới áp lực khổng lồ của tầng địa chấn dội ngược.

"Cô Lê! Màn chắn giữ được rồi! Nó đứng vững rồi!" Một người thợ phụ trẻ tuổi reo lên đầy phấn khích, quệt mồ hôi lem nhem trên trán.

"Nó chỉ giữ được bụi thô và những luồng gió giật bề mặt," giọng Lê Vãn lạnh lùng vang lên, mang theo sự chính xác tàn nhẫn của một người làm nghề trắc lượng địa tầng suốt mười lăm năm. Chị chỉ thanh xà beng vào các vòng đệm bằng đồng thau ở chân con lắc—nơi lớp mỡ bò bôi trơn đang sôi lên xèo xèo, bốc ra mùi khét lẹt và khói trắng mỏng. "Các cậu có thấy nhiệt ma sát không? Tro khoáng mịn kích thước dưới ba phần mười ly vẫn lọt qua được mười lăm phần trăm. Nhưng đó chưa phải là điều tồi tệ nhất. Quan trọng hơn, thép gió vonfram-mangan không phải là kiếm cốt sống của tu sĩ. Nó không có khả năng tự bù trừ sai số khi địa mạch dưới lòng đất đổi nhịp dao động."

Vũ Kha bước tới, vung mu bàn tay gân guốc quệt ngang trán, để lại một vệt dầu đen sì trên gò má sạm nắng. Anh nhìn sâu vào đôi mắt mệt mỏi nhưng sắc bén của Lê Vãn:

"Nói thẳng đi, cô Lê. Hệ thống này cầm cự được bao lâu trước khi các chốt ngàm nổ tung vì mỏi kim loại?"

"Tối đa hai tháng," Lê Vãn đáp, từng từ dứt khoát và không né tránh thực tế. "Nếu chúng ta liên tục thay dầu chịu nhiệt và thay mới toàn bộ các vòng đệm đồng sau mỗi mười ngày đêm, năm chốt tải này chỉ chịu được hai tháng dưới sự ăn mòn liên tục của toan khoáng và rung chấn cơ học. Sau hai tháng, toàn bộ các khớp nối kim loại sẽ bị biến tính giòn, nứt vỡ từ bên trong lõi thép rồi sụp đổ hàng loạt. Đây không phải là sự cứu rỗi vĩnh viễn cho Lò Khê. Đây chỉ là một khoảng thở ngắn ngủi để chúng ta chuẩn bị cho một cuộc di tản quy mô lớn."

Vũ Kha im lặng một lúc lâu. Tiếng búa nện của những người thợ xung quanh dường như chậm lại theo từng nhịp đập nặng trĩu của tim anh. Anh nhìn chiếc búa tạ trong tay mình—vật bất ly thân đã cùng anh nuôi sống bao thế hệ thợ lò—rồi nhìn về phía khu nhà trú ẩn nơi những làn khói bếp nghèo nàn đang lờ đờ bốc lên dưới lớp vòm năng lượng màu lam nhạt.

"Hai tháng là đủ để xưởng rèn đóng xong mười cỗ xe kéo lớn chở lương thực, và đủ để tôi rèn xong nẹp chân bằng sắt cho những người bị thương," Vũ Kha nói, giọng anh trầm xuống nhưng vững chãi như một tảng đá hoa cương cắm sâu vào lòng đất. "Có được hai tháng sống sót còn hơn là chết ngạt trong tro bụi ngay trong đêm nay. Anh em, tiếp tục đấu nối điểm chốt số bốn và số năm! Đừng để phụ công sức của những người vừa liều mạng dưới cống ngầm!"

***

Trở lại căn lều dã chiến ven suối, Ninh Chiêu đang chậm rãi bước đi giữa hai dãy cáng thương binh nằm san sát nhau trên nền đất ẩm.

Cô đã hoàn toàn nhận thức một cách trần trụi và sâu sắc về thương tật vĩnh viễn của chính bản thân mình. Cẳng tay phải bị bó chặt trong nẹp tre bất động hoàn toàn trước ngực; mỗi khi cô thử dùng ý nghĩ để cử động các ngón tay phải, chỉ có một sự chết lặng vô cảm đáp lại, kèm theo cơn nhói buốt chạy ngược từ khớp cổ tay lên tận cuống họng. Đường dẫn lực đã đứt gãy. Toàn bộ hệ thống gân duỗi và các bao khớp cổ tay phải đã bị xé toạc thành từng sợi xơ xác sau mười nhịp thở gượng ép kiếm ý vượt ngưỡng để ghìm then trượt ở Cửu Giá.

Từ nay về sau, cô không thể quai cây búa nặng mười cân của Lò Ninh được nữa. Cô không thể tự tay nung đỏ một thỏi thép, không thể tự tay dùng kẹp sắt rút một thanh kiếm ra khỏi lò than hồng. Cô cũng không thể cầm kiếm bằng tay phải để thi triển những đòn gạt dứt khoát, chuẩn xác mà Tống Hoài đã từng chỉ dạy từng ly từng tí trên sân tập. Bàn tay phải của một người thợ rèn kiêm kiếm tu—công cụ quý giá nhất của đời cô—giờ đây chỉ là một khúc gỗ mục vô dụng treo trước ngực.

Nhưng Ninh Chiêu không dừng lại để rơi vào sự thương hại chính mình.

Bằng bàn tay trái—bàn tay với những ngón co quắp vì vết bỏng cũ nhưng các khớp xương ngón cái và ngón trỏ vẫn còn nguyên vẹn sự dẻo dai—cô cẩn thận bưng từng thau nước ấm từ bếp than dã chiến ngoài trời vào lều. Cô bước đi chậm rãi, hạ thấp trọng tâm theo đúng bộ pháp giảm lực của thợ lò, giữ cho mặt nước trong thau đồng không hề sánh ra ngoài một giọt dù mặt đất gồ ghề đầy đá sỏi.

Đến từng chiếc cáng tre, cô quỳ một gối xuống nền đất, dùng tay trái nhúng chiếc khăn vải gai thô vào nước ấm, vắt ráo bằng cách tì khăn vào đầu gối rồi nhẹ nhàng lau đi những mảng bùn toan đóng bánh và máu khô trên mặt, trên cổ của những người vừa thoát chết. Mùi toan khoáng bốc lên từ da thịt họ hăng hắc, nhưng cô không hề nhíu mày.

Trần Mộc liếc nhìn cô từ bàn mổ, tay ông vẫn đang khâu một vết rách sâu trên bắp đùi của một người thợ mỏ, nhưng ông không nói một lời can ngăn. Là một người thầy thuốc lão luyện, ông hiểu rõ hơn ai hết rằng đối với một người thợ rèn cả đời sống bằng sức lao động của đôi tay, việc bị tước đoạt công cụ kiếm sống là một cú giáng tàn khốc có thể bóp chết ý chí sống nhanh hơn cả độc chất hoại tử. Nhưng Ninh Chiêu không gục ngã. Cô không trốn tránh thực tại tàn phế ấy. Cô dùng bàn tay trái còn lại để chuyển từng cuộn bông ép, xé từng dải vải băng bằng một tay kết hợp với răng nanh, hỗ trợ người y sĩ phụ tá rửa sạch các vết loét do toan khoáng ăn mòn trên lưng các nạn nhân.

Trong số bảy người được kéo sống sót ra khỏi miệng cỗ máy Cửu Giá, có một thiếu niên tên là Lâm Hựu—người từng ở cùng phòng chạy trạm liên lạc ngoại viện với Bùi Sách. Cậu tỉnh lại vào giữa buổi chiều, khi ánh sáng yếu ớt của ngày tàn xuyên qua lớp bạt lều nhuốm màu tro xám.

Khi Lâm Hựu cố gắng gượng dậy, một cơn đau rỗng tuếch và buốt giá ập đến từ sâu thẳm trong lồng ngực. Cậu đưa đôi bàn tay gầy guộc run rẩy lên trước mặt, thử vận chuyển một tia khí tức sơ khai mà cậu đã khổ công tôi luyện suốt ba năm ròng rã qua các lớp học kiếm pháp nền tảng trên sân Bạch Thạch. Nhưng đáp lại sự cố gắng đến tím tái mặt mày của cậu chỉ là một sự rỗng không tột cùng. Không có bất kỳ luồng kiếm ý ấm áp nào chạy qua kinh lạc.

Ba mươi hai móng vuốt bạc của cỗ máy Cửu Giá đã cắm ngập vào từng đốt sống lưng của cậu, hút cạn toàn bộ cấu trúc kiếm cốt vừa mới nhú mầm. Cột sống của cậu giờ đây xốp và giòn như một thân cây mục bị mọt đục rỗng từ bên trong, không còn khả năng chịu tải bất kỳ một dòng khí lực nào.

Trần Mộc bước đến bên cáng, đặt một bàn tay khô ráp và ấm áp lên trán Lâm Hựu, giọng ông trầm buồn như tiếng chuông chùa trong chiều tà:

"Đừng thử vận khí nữa, cậu bé. Cấu trúc cộng hưởng trong xương sống cháu đã bị cỗ máy nghiền nát hoàn toàn rồi. Kinh mạch dẫn khí không còn điểm tựa cơ học. Nếu cháu cố tình vận lực kiếm đạo, các đốt sống sẽ tự gãy gập làm đôi dưới chính áp lực nội tại của cháu."

Những giọt nước mắt nóng hổi trào ra từ hai khóe mắt hõm sâu của Lâm Hựu, lăn dài qua lớp bụi tro bám trên đôi gò má gầy guộc:

"Cháu... cháu không bao giờ có thể cầm kiếm được nữa sao bác sĩ? Cháu đã luyện bộ pháp ba bước suốt ba năm qua không nghỉ một ngày nào... Cháu vừa mới được chấm điểm ưu, tháng sau là đủ điều kiện để vào đội tuần tra chính thức rồi mà... Mẹ cháu ở quê vẫn đang đợi tin cháu gửi tiền lương đệ tử về..."

Căn lều dã chiến bỗng chìm vào một sự im lặng đau đớn đến nghẹt thở. Những đệ tử ngoại viện khác đang ngồi băng bó quanh đó đều lặng lẽ cúi đầu, không ai dám nhìn thẳng vào đôi mắt tuyệt vọng cùng cực của cậu thiếu niên.

Ở một tông môn kiếm tu lấy kiếm cốt làm thước đo phẩm cấp và giá trị tồn tại như Thanh Lư Tông, việc mất đi kiếm cốt đồng nghĩa với việc bị tước đoạt toàn bộ tương lai. Kẻ mất kiếm cốt sẽ bị gạt ra bên lề xã hội, trở thành một phế nhân sống lay lắt nhờ vào những phần cơm thừa canh cặn và sự bố thí thương hại của các kho tạp dịch nặng nhọc nhất. Đó là một bản án chung thân còn đáng sợ hơn cả cái chết trên chiến trường.

Ninh Chiêu đặt thau nước xuống đất, bước đến bên cạnh chiếc cáng của Lâm Hựu. Cô quỳ xuống, dùng bàn tay trái thô ráp, chai sần nắm chặt lấy những ngón tay đang run rẩy buông xuôi của cậu thiếu niên.

"Cậu vẫn còn sống, Lâm Hựu," Ninh Chiêu nói, giọng cô không có sự thương hại mềm yếu, mà mang theo sự đanh thép, lạnh lùng của một người thợ rèn đang nhìn vào một thanh thép bị nứt nhưng chưa gãy vụn. "Kiếm cốt của cậu đã mất, nhưng đôi mắt cậu vẫn còn nhìn thấy rõ ràng, đôi tai cậu vẫn nghe được tiếng gió tro, và mười ngón tay của cậu vẫn cử động được nguyên vẹn. Cậu không phải là phế nhân trừ khi chính cậu muốn biến mình thành thứ phế liệu bỏ đi."

Lâm Hựu ngước nhìn cô, môi run lẩy bẩy: "Nhưng... không có kiếm cốt thì làm được gì ở Thanh Lư Tông này nữa hả chị Ninh Chiêu? Người ta sẽ đuổi cháu về núi làm ruộng, hoặc bắt cháu đi kéo xe tro..."

"Ngày mai, tôi sẽ đến gặp Viện chủ Cố Thanh của Công Trình Viện, yêu cầu chuyển cậu sang ngạch văn thư lưu trữ của kho vật tư," Ninh Chiêu nhìn thẳng vào mắt cậu, từng lời nói ra như khắc vào đá. "Cậu biết chữ, cậu tính toán sổ sách nhanh, và quan trọng nhất, cậu nhớ từng ngóc ngách, từng đường đi của các chuyến xe tro ra vào cống ngầm. Cậu sẽ ngồi ở bàn giấy, dùng chính mười ngón tay này để ghi chép lại từng cân sắt vụn, từng kiện than đá, từng chuyến hàng nạp vào các đài năng lượng. Cậu sẽ là người canh giữ những con số, để không một kẻ nào có thể gian lận, không một chức sắc nào có thể giấu giếm sinh mạng của những đứa trẻ vô danh trong những cuốn sổ phụ thêm một lần nào nữa. Cậu có dám làm việc đó không?"

Lâm Hựu ngơ ngác nhìn Ninh Chiêu. Ánh mắt cậu dừng lại nơi cẳng tay phải đang bó nẹp tre bất động treo trước ngực cô, rồi nhìn xuống những vết sẹo bỏng chằng chịt, co rút trên bàn tay trái đang siết chặt lấy tay mình. Cậu nhận ra người phụ nữ trước mặt cũng vừa mất đi tất cả những gì quý giá nhất của một đời thợ rèn, nhưng trong mắt cô không hề có lấy một giọt nước mắt yếu mềm.

Cậu thiếu niên cắn chặt môi dưới đến rướm máu, hít một hơi thật sâu rồi chầm chậm gật đầu. Đó không phải là sự buông xuôi cam chịu số phận, mà là sự chấp nhận cay đắng nhưng đầy kiên cường của một sinh linh phải tự tìm cho mình một lối sống mới trên đống tro tàn của giấc mộng cũ đã vỡ vụn.

***

Khi ánh tà dương màu đỏ quạch như máu bắt đầu lặn dần sau những rặng thông cháy sém trên sườn đồi đá phía sau trấn Lò Khê, không có một tiếng reo hò nào vang lên giữa không gian hoang vắng.

Không có tiệc mừng công. Không có những lời chúc tụng hoa mỹ về một chiến tích vĩ đại ngăn chặn nghi lễ Bổ Khuyết hay đánh bại âm mưu đen tối của Phủ Quan Tế tối cao. Những người vừa bước ra từ bóng tối của lòng đất đều hiểu rất rõ rằng, thứ họ vừa trải qua không phải là một thắng lợi vẻ vang được ghi vào sử sách, mà là một cuộc tháo chạy đẫm máu khỏi nanh vuốt của một trật tự tàn bạo đã mục ruỗng từ tận gốc rễ.

Trên sườn đồi lộng gió đá, nơi có thể phóng tầm mắt bao quát toàn cảnh thung lũng Lò Khê đang chìm dần trong màn tro xám mịt mù, Hạ Từ đứng lặng lẽ bên một phiến đá hoa cương lớn trơ trọi.

Bộ võ phục nội môn màu trắng viền xanh từng là niềm tự hào của cô đã bị tước bỏ toàn bộ phù hiệu chấp pháp, ống tay áo rách tả tơi để lộ những vết bầm tím kéo dài. Chiếc thắt lưng da trâu bạc màu được quấn chặt nhiều vòng quanh lồng ngực để cố định hai dải xương sườn bị gãy nát sau đòn va đập với cơ cấu then trượt. Gương mặt thanh tú của người nữ kiếm tu hai mươi tư tuổi tái nhợt đi vì mất máu và những cơn đau nhói buốt sau mỗi nhịp thở, nhưng tư thế đứng của cô vẫn thẳng tắp, cô độc và kiên định như một cây tùng mọc ngược trên vách đá cheo leo.

Bên cạnh cô, Ninh Chiêu, Lê Vãn, Tống Hoài và Vũ Kha cùng nhau khiêng một tấm bia đá phiến thô sơ vừa được đẽo vội từ mỏ đá hoa cương gần đó. Tấm bia nặng trĩu, bề mặt gồ ghề chưa qua mài giũa, còn vương nguyên những vệt bụi đá trắng đục. Họ cùng nhau dựng tấm bia đứng thẳng giữa lớp đất đá cằn cỗi, chèn những tảng đá hộc lớn xung quanh chân bia để những cơn gió tro gầm rú từ biển thổi vào không thể quật ngã.

Hạ Từ rút từ trong bọc áo ra một chiếc đục thép ngắn—thứ công cụ thợ rèn mà Ninh Chiêu đã lặng lẽ nhét vào tay cô trước khi họ cùng nhau bước lên đồi.

Bằng bàn tay run rẩy vì vết thương nơi lồng ngực nhói buốt sau mỗi cử động, Hạ Từ quỳ một gối xuống trước phiến đá hoa cương lạnh ngắt. Cô không dùng kiếm khí nội gia, bởi kinh mạch cô đã tổn thương nặng nề và cô hiểu rằng những cái tên này không thuộc về thế giới của kiếm khí huyền ảo. Cô dùng chiếc búa con của thợ lò, cặm cụi gõ từng nhát đục thô sơ, nặng nhọc lên bề mặt phiến đá nham nhở.

*Keng. Keng. Keng.*

Từng tiếng đục kim loại vang lên đều đặn, khô khốc và nhức nhối giữa không gian tĩnh mịch của buổi hoàng hôn tàn lụi.

Ninh Chiêu ngồi xổm bên cạnh Hạ Từ, dùng bàn tay trái chai sạn giữ chặt mép đục thép để nó không bị trượt trên bề mặt đá hoa cương trơn cứng. Hai người phụ nữ, một người tàn phế cánh tay phải, một người gãy nát xương sườn, phối hợp với nhau một cách lặng lẽ trong từng nhát búa rơi xuống. Từng mẩu đá vụn bắn ra, để lại những rãnh sâu hoắm mang hình chữ viết.

Họ khắc tên người thiếu niên nằm trên giá số Tám—đứa trẻ ngoại viện đã ngừng thở từ trước khi ngàm khóa kim loại được búa của Ninh Chiêu tháo bung, người đã chết vì bị cỗ máy bòn rút đến giọt tủy cuối cùng:

*Lục Viễn Chu — Đệ tử ngoại viện, tuần tra ca ba.*

Và ngay bên dưới, với một nhát đục sâu hơn, họ khắc một dòng chữ dành cho người không bao giờ tìm thấy hài cốt, thiếu niên trên giá số Năm đã bị dòng bùn toan và tro xỉ nóng trào ngược cuốn trôi xuống vực nứt địa tầng sâu thẳm trong lòng cống ngầm:

*Trần Khôi — Đệ tử ngoại viện, mất tích dưới đáy Cửu Giá.*

Khi nhát đục cuối cùng dừng lại, Hạ Từ buông chiếc búa rơi xuống nền sỏi đá. Những ngón tay cô rướm máu tươi, dính bết vào cán búa bằng gỗ sồi. Cô nhìn chằm chằm vào hai cái tên được khắc sâu vào thớ đá hoa cương xám xịt, đôi vai gầy khẽ run lên theo từng nhịp nấc nghẹn. Đó là những người đồng môn mà cô từng có trách nhiệm bảo vệ khi còn mang phù hiệu chấp pháp, những đứa trẻ từng rụt rè cúi đầu chào cô mỗi buổi sáng sớm ở khu vực khảo nghiệm, giờ đây chỉ còn lại hai cái tên lạnh ngắt nằm lại trên sườn đồi hoang vu này, không một nén nhang, không một tiếng kèn đưa tiễn.

Tống Hoài đứng dựa lưng vào một thân cây thông khô cằn phía sau họ, hai tay khoanh trước ngực để giữ cho thanh nẹp thau đỏ không cọ xát quá mạnh vào cột sống. Anh tháo bầu rượu thuốc duy nhất còn lại bên hông ra, chầm chậm bước tới, nghiêng bầu rượu tưới một nửa dòng chất lỏng cay nồng, thơm mùi thảo mộc xuống lớp đất đá dưới chân tấm bia đá phiến, rồi ngửa cổ uống cạn nửa còn lại. Rượu thuốc chảy qua cuống họng rát bỏng, xộc thẳng vào lồng ngực nứt toác kinh mạch, mang lại một cơn đau buốt nhức nhối thấu xương nhưng giúp anh cảm thấy mình thực sự vẫn còn là một sinh linh đang sống giữa cõi trần ai đầy rẫy bất công này.

"Không có công trạng nào ở đây cả," Tống Hoài lên tiếng, giọng trầm đục và khô khốc hòa lẫn vào tiếng gió rít qua rặng thông già. "Chúng ta không phải là những kẻ anh hùng cứu thế. Chúng ta không cứu được tất cả bọn họ. Chúng ta chỉ vừa mới kéo được vài ba người sống sót ra khỏi miệng cống trước khi nó sụp đổ hoàn toàn mà thôi."

"Nhưng những cái tên này sẽ không bị xóa khỏi sổ bộ môn phái như những kẻ đào tẩu hay những người chết vô cớ vì bệnh dịch nữa," Lê Vãn bước tới gần tấm bia, bàn tay gầy gò của chị khẽ chạm vào những nét chữ khắc thô ráp còn vương đầy bụi đá trắng. "Chúng ta đã ghi lại sự thật trần trụi này bằng búa và đục. Dù đài Huyền Khuyết có tiếp tục đứng sừng sững trên đỉnh núi kia thêm một trăm năm nữa, phiến đá hoa cương này vẫn sẽ làm chứng cho những gì bọn chúng đã làm dưới chân nó."

Gió bão tro từ biển sâu thổi thốc qua sườn đồi, cuốn theo những đám bụi xám mù mịt quất rát rạt vào mặt mọi người. Phía dưới thung lũng sâu, những đốm đèn dầu từ các khu nhà kho trú ẩn chập chờn le lói dưới lớp màn chắn năng lượng màu lam nhạt của năm chiếc tải nhân tạo. Đó là một sự bình an vô cùng mong manh, một sự che chở tạm bợ chỉ có thể kéo dài trong sáu mươi ngày đêm ngắn ngủi, nhưng nó được dựng lên bằng chính mồ hôi, máu và xương tủy của những người thợ rèn, thợ mỏ và ý chí của những kẻ không bao giờ chịu khuất phục trước số phận.

Trời chập tối hoàn toàn. Màn đêm đen đặc quánh như mực tàu nuốt chửng những đỉnh núi đá vôi nhấp nhô của dãy Lạc Hạc hùng vĩ.

Bỗng nhiên, từ đỉnh núi cao vời vợi của Thanh Lư Tông—nơi đặt sảnh chính của Nghị Sự Đường và các viện chấp quyền tối cao—một hồi chuông đồng khổng lồ gióng lên, xé toạc không gian tĩnh mịch.

*ĐOONG... ĐOONG... ĐOONG...*

Tiếng chuông đồng cổ xưa không mang âm điệu tang tóc, dồn dập của Cửu Hồi Tang Chung khi có trưởng lão tạ thế, cũng không phải là tiếng chuông báo động hoảng loạn của bão tro tràn về. Đó là tiếng chuông triệu tập tối cao của tông môn, đanh thép, nặng nề, dứt khoát và uy nghiêm. Âm vang của nó vang vọng khắp các hẻm núi sâu, đập vào các vách đá hoa cương dựng đứng rồi dội thẳng xuống thung lũng Lò Khê như sấm rền giữa trời quang.

Mười hai tiếng chuông gióng lên liên tục, rạch toạc màn đêm mù mịt tro bụi và bóng tối bao trùm.

"Chuông triệu tập toàn diện các viện," Hạ Từ ngẩng đầu nhìn lên đỉnh núi mờ ảo trong sương đêm và ánh đuốc đỏ rực, ánh mắt cô đanh lại, sự mệt mỏi và đau đớn dường như biến mất hoàn toàn, thay vào đó là vẻ kiên định lạnh lùng của một người sắp bước vào trận chiến quyết định cuối cùng trên mặt đất. "Hội đồng Trưởng lão và Viện chủ các viện đã chính thức nhóm họp khẩn cấp. Phủ Quan Tế đã mất quyền kiểm soát độc quyền đối với trật tự môn phái. Họ triệu tập tất cả các bên liên quan về sảnh chính của Nghị Sự Đường."

Ninh Chiêu đứng thẳng dậy bên cạnh tấm bia đá hoa cương còn ấm mùi bụi mới. Cô đưa bàn tay trái xốc lại dải băng nẹp đang giữ chặt cánh tay phải tàn phế trước ngực, chỉnh lại mép áo vải gai thô còn vương đầy máu khô và muội than. Gió tro táp thẳng vào mặt cô, lạnh buốt và đắng chát, nhưng đôi mắt cô sáng quắc lên giữa bóng đêm dày đặc.

"Đến lúc rồi," Ninh Chiêu nói, giọng cô bình thản đến lạ kỳ, không một chút run sợ. "Những gì diễn ra dưới lòng đất cống ngầm, những chiếc nẹp xương rỗ tổ ong rút tủy người, những bản cam kết hiến thân giả mạo và máu của những đứa trẻ này... tối nay, tất cả sẽ phải được đặt lên bàn nghị sự trước mặt bàn dân thiên hạ. Không một ai được phép quay mặt đi."

Họ quay lưng lại với tấm bia đá phiến mới dựng trên sườn đồi, chầm chậm bước xuống con đường mòn, hướng về phía bậc thang đá dẫn lên đỉnh núi Thanh Lư Tông. Dưới chân họ, mảnh đất Hạ Lĩnh rung chuyển nhè nhẹ theo từng đợt gió tro gầm rú từ biển cả tràn về, nhưng bước chân của những kẻ mang đầy thương tật trên mình vẫn vững vàng, dứt khoát đạp lên sỏi đá mà tiến bước.

Nơi sảnh đường chính rực rỡ ánh đuốc trên đỉnh núi cao, cánh cửa gỗ lim ngàn năm nặng ngàn cân đã mở toang đón gió đêm. Tiếng gõ búa lệnh bằng đồng của phán quan vang lên chát chúa từ sảnh đường chính: phiên điều trần công khai trước hội đồng các viện chính thức bắt đầu.

Chương này thế nào?Đánh giá giúp Readeep đề xuất đúng hơn cho bạn