Dân đi trước kiếm
Lớp sương sớm của trấn Lò Khê không tan biến theo hơi ấm mặt trời mà bị xé toạc bởi tiếng đập chiêng báo động giòn giã, gấp gáp dội thẳng từ các chòi canh gỗ dựng tạm đầu dốc đá. Âm thanh kim loại gõ dồn dập vào màng nhĩ, kéo theo những tràng âm vang trầm đục từ đoàn xe kéo chất đầy chăn chiên, rơm khô và thùng nước ngọt, lục tục nối đuôi nhau rời khỏi khu phố thợ rèn.
Gió từ phía đèo Gió dội thẳng xuống lòng thung lũng hẹp, mang theo tiếng rít sắc lẹm của những hạt quặng thô va lách chách vào từng mái ngói máng xối. Bầu trời buổi sớm không còn giữ được dải màu lam xám quen thuộc của thời khắc hừng đông; nó đã chuyển sang sắc chì đục ngầu, thứ màu sắc báo tử cho thấy tầng tro khoáng độc hại từ dải biển đông bắc đã bị luồng nghịch lưu khí quyển ép tràn qua rặng núi đá vôi sớm hơn mọi chu kỳ đo đạc trước đây. Trên các con ngõ dốc lát đá mạt sắt trơn trượt của xóm Lò Vôi và xóm Thợ, từng nhóm đệ tử ngoại viện áo xám tất tả chạy đi gõ cửa từng cánh liếp tre nứa. Họ không mang theo thanh kiếm dài bên hông như những đợt tuần tra định kỳ; trên bắp tay mỗi người chỉ buộc chặt một dải băng gai trắng thô ráp làm ám hiệu nhận diện, sau lưng đeo gùi lương khô bọc sáp, tay cầm những chiếc đèn bão có chụp đồng che chắn kỹ lưỡng nhằm ngăn bụi tro li ti làm tắt ngóm bấc dầu.
"Không mang theo vạc đồng! Bỏ lại chum vại nặng! Chỉ lấy chăn len, thùng nước ngọt và bọc ngải tê!"
Tiếng quát khàn đặc của một gã đệ tử tạp dịch vang lên, xé rách chuỗi âm thanh hỗn loạn hòa lẫn giữa tiếng trẻ con khóc ré vì ngột ngạt và tiếng trục bánh xe gỗ nghiến lục cục trên lớp sỏi nhọn. Dưới danh nghĩa một đợt gió tro bất thường có nguy cơ làm bục vỡ các ống xả khí đã mục ruỗng của đài Huyền Khuyết, mạng lưới hơn hai trăm người học việc cùng phu xe bến bãi đã lặng lẽ tỏa ra khắp các ngõ ngách cùng kiệt từ lúc hồi còi đồng trên đỉnh núi dứt nhịp thứ ba. Không có cảnh hỗn loạn bùng phát thành cướp bóc hay giẫm đạp vô lối; trật tự mong manh được giữ vững nhờ sự hiện diện trực tiếp của những người thợ rèn quen mặt trong các phường lò. Thợ lò dưới trướng Vũ Kha, vai quấn chặt khăn đay tẩm giấm chua để chống khí độc, đi kèm từng tốp xe rùa chở người già và trẻ nhỏ, lầm lũi dẫn họ rẽ về phía các hầm than bỏ hoang và hệ thống hầm tích trữ đá vôi kiên cố khoét sâu dưới chân dốc Tây.
Bên trong căn hầm vòm đá số Bốn—vốn là kho ủ than chì cũ của xưởng Vũ Kha—không khí quánh đặc lại bởi mùi mồ hôi chua nồng, mùi giẻ ướt, hơi giấm bốc lên từ các lớp khăn bịt mũi và hơi ẩm lạnh lẽo phả ra từ vách đá sa thạch. Hơn một trăm con người ngồi chen chúc, san sát nhau trên những tấm sạp gỗ kê tạm bằng đòn tay gãy. Ở góc sâu nhất của lòng hầm, ba người thợ rèn trẻ tuổi của xưởng Vũ Kha đang cặm cụi, mồ hôi nhễ nhại siết từng chiếc ốc vít bằng cờ-lê thô vào một khối kim loại nặng trịch đặt cố định trên bệ đá hoa cương.
Đó là một bộ tải cộng hưởng nhân tạo mini, phiên bản cơ học thu nhỏ được mô phỏng từ khối máy ba lớp mà Ninh Chiêu và Vũ Kha đã thức trắng trọn một đêm bên bàn rèn để mày mò gia công. Cấu trúc của cỗ máy thô ráp này hoàn toàn không dùng đến tủy sống hay hệ kinh mạch của người sống để làm vật dẫn truyền linh áp; nó được tổ hợp từ ba phiến đá hoa cương kẹp chặt giữa hai tấm thép gió vonfram-mangan cán nguội, bên trong khoang rỗng chứa một con lắc bằng đồng thiếc đúc đặc treo lơ lửng, nối trực tiếp với bốn lò xo thép giảm chấn đa tầng. Khi dòng linh áp hỗn loạn mang độc tính từ cơn bão tro thốc mạnh vào các mạch đá ngầm của địa tầng, con lắc kim loại sẽ bị cưỡng bức dao động, liên tục triệt tiêu các xung lực kích thích ngoại lai bằng động năng ma sát, rồi truyền toàn bộ rung chấn thừa thãi đó xuống lớp móng cọc bằng sắt đặc đã được đóng sâu ba trượng dưới lòng nền hầm.
"Châm thêm nước muối vào bầu tản nhiệt! Nhanh tay lên, van cấp ẩm sắp cạn trơ đáy rồi!" Vũ Kha đứng sừng sững bên cạnh bệ máy, gầm lên một tiếng ráo hoảnh át cả tiếng rít của kim khí. Mặt anh bám đầy muội than đen kịt, hai mí mắt sưng húp và đỏ ngầu vì thiếu ngủ suốt hai ngày qua, chiếc áo cộc tay bằng vải bố để lộ đôi bờ vai vạm vỡ còn hằn rõ những vệt trầy da đóng vảy màu nâu thẫm từ lần vác đòn thép nặng hôm trước.
Một người thợ trẻ vội vã nhấc chiếc gàu thiếc, đổ ụp dòng nước muối bão hòa đặc quánh vào chiếc phễu bằng đồng thau gắn trên nắp hộp máy. Tiếng xèo xèo gay gắt lập tức bùng lên kèm theo làn khói trắng mỏng mang mùi khoáng mặn nồng nặc bốc nghi ngút. Khi chiếc then cài cơ học cuối cùng sập mạnh xuống chốt hãm bằng một tiếng "cạch" đanh giòn, phiến đá bazan ốp quanh vách cửa hầm khẽ rùng mình rung chuyển. Một quầng sáng màu lam nhạt, mỏng manh run rẩy như cánh ve sầu non nhưng vô cùng dẻo dai, từ từ dâng lên, phủ kín lấy toàn bộ khoảng trống của khung cửa vòm, chặn đứng những đợt bụi xám mịn như bột đá đang cuồn cuộn lùa vào từ miệng hầm dẫn khí.
Phía sau quầng sáng lam mỏng manh ấy, lớp vải gai thô dày tẩm mỡ bò được căng chặt trên các khung gỗ sồi đóng vai trò như một màng lọc cơ học thô sơ, giữ lại những hạt quặng sắc nhọn to bằng hạt kê đang theo gió thốc tới. Những đứa trẻ thơ nằm nép chặt trong lòng mẹ bắt đầu thôi sặc sụa; tiếng ho khan dồn dập xé ruột của các cụ già dần lắng dịu lại trong bầu không khí đã được gạn bớt phần lớn chất độc toan khoáng ăn mòn cuống họng. Thế nhưng Ninh Chiêu, khi ghé sát mắt nhìn vào phiến đá hấp thụ năng lượng nằm trên đỉnh bộ tải, nhận thấy mặt đá nhẵn bóng đã bắt đầu râm ran rạn ra những vệt nhiệt màu đỏ sẫm như mạch máu li ti. Cỗ máy tải tạm này không thể nào cầm cự vĩnh viễn trước áp lực địa tầng; nhiệt lượng ma sát đang tích tụ với một tốc độ đáng ngại bên trong khoang lò xo. Nó chỉ có thể mua thêm cho họ chút thời gian ít ỏi—tối đa là hai hoặc ba canh giờ trước khi các vòng đệm bằng đồng thau bị nung chảy hoàn toàn bởi nhiệt lượng tích tụ.
"Tải ở hầm số Bốn và số Năm đã kích hoạt xong," Ninh Chiêu quay sang nói với Tống Hoài, người đang đứng dựa lưng vào góc vách đá ẩm ướt gần cửa hầm, tay phải anh nắm chặt lấy thân thanh kiếm sắt bọc vải gai thô ráp. "Nhưng dân cư ở xóm Lò Vôi vẫn còn kẹt lại một nửa phía sau dốc. Đoàn xe kéo của Ngô Phúc đang bị dồn ứ về hướng Cổng Nam để tìm đường rút sang khu gò rừng sồi, nơi trạm y xá của bác sĩ Trần Mộc vừa dựng chòi cứu trợ."
Tống Hoài khẽ nhíu đôi mày rậm. Anh không nhìn ra màn tro xám đang ngày một dày đặc ngoài khe đá thông gió, mà hướng tầm mắt sắc lạnh về phía con đường đá chạy dọc chân tường thành phía nam trấn Lò Khê. Nơi đó, tiếng vó ngựa bọc sắt gõ lộp cộp trên mặt đường đá dăm dội về ngày một rõ, lẫn trong tiếng quát tháo mang theo âm hưởng kim loại khô khốc và tàn nhẫn.
"Đến rồi," Tống Hoài nói, giọng trầm đục và lạnh buốt như một nhát đục thăm dò thớ thép nguội. "Đỗ Kính tuyệt đối không bao giờ để dòng người rút lui một cách êm thấm. Màn chắn trận pháp trên đỉnh đài Huyền Khuyết đang hụt áp trầm trọng; lão cần tay chân để nạp than bùn vào lò sôi, và hơn hết, lão cần những thân xác sống để đứng trám vào các nhánh xả cặn đang rò rỉ linh áp."
***
Tại Cổng Nam của trấn Lò Khê, bầu không khí đặc quánh lại như thể sắp sửa bùng cháy dưới lớp mưa tro mịn lất phất rơi.
Cánh cổng gỗ lim bọc đai sắt dày nửa thước vốn được mở toang từ tờ mờ sáng để đón các chuyến xe thồ than đá sớm nay đã bị khép chặt mất một nửa. Chắn ngang khoảng trống còn lại trên lòng đường là một hàng rào chông sắt di động có gắn các móc xích xích sắt nặng nề, những mũi chông nhọn hoắt chĩa thẳng ra phía trước như răng nanh dã thú. Hơn ba mươi hộ vệ vũ trang của phủ Quan Tế, mặc giáp sắt đen khảm chìm phù hiệu hoa sen ba cánh sắc cạnh, tay bưng trường kích cán đồng và nỏ cứng giàn thành ba hàng ngang kín kẽ, khóa chặt đường thoát duy nhất dẫn ra phía đồi. Đứng trước hàng quân lạnh lùng ấy là Đỗ Tuyên. Gã mặc bộ cẩm bào màu xanh đen có quét một lớp dầu bóng chống ăn mòn tro khoáng, tay phải lăm lăm thanh trường kiếm mũi vuông có xẻ rãnh dẫn máu sâu hoắm, bên hông lủng lẳng một túi da sơn đỏ chứa các cuộn công văn buộc chỉ ngũ sắc.
Trước những mũi kích nhọn hoắt đang chĩa thẳng vào ngực là một đoàn xe kéo dài gần nửa dặm, dồn cục lại trên đoạn dốc hẹp. Hàng trăm phu lò, thợ mộc, phụ nữ bồng bế con thơ và những người làm thuê nghèo khổ đang bị dồn ứ lại trong cơn hoảng loạn tột cùng. Tiếng gào khóc, tiếng van xin thảm thiết xen lẫn tiếng bánh xe nghiến ken két vào nhau tạo nên một khối âm thanh hỗn loạn, nghẹn ứ trước rào thép gai góc.
"Tất cả lui lại ba bước!" Đỗ Tuyên rút phắt thanh kiếm khỏi vỏ bao bằng gỗ mun, lưỡi thép rít lên một tiếng đanh gọn rợn người, đầu mũi kiếm chỉ thẳng vào mặt một phu xe đang run rẩy ghì chặt càng xe kéo chất đầy bao tải gai. "Lệnh thiết quân luật cấp một của phủ Quan Tế đã chính thức ban bố từ đầu giờ Dần! Toàn bộ phu dịch bến bãi, thợ bễ và đinh tráng dưới bốn mươi tuổi phải tuyệt đối ở lại vị trí sản xuất để túc trực vận hành đường tiếp liệu khẩn cấp cho đài Huyền Khuyết! Kẻ nào dám tụ tập di tản trái phép, kích động đám đông tháo chạy, đều bị coi là tội đồ đào tẩu làm gián đoạn hệ thống phòng hộ của bản tông, xử chém tại chỗ không tha!"
"Đỗ quản sự!" Ngô Phúc—người phu xe gầy gò với bắp chân còn quấn chặt lớp băng vải loang lổ dịch mủ do di chứng bỏng toan khoáng từ tuần trước—bước tập tễnh ra trước càng xe, hai bàn tay chắp lại run rẩy như cành cây trước gió. "Gió tro độc đã tràn qua đỉnh đèo rồi ngài ơi! Tro này lọt vào cổ họng là con nít thổ huyết mà chết ngay! Chúng tôi đâu dám trốn việc, chỉ xin đưa gia quyến, người già vào trạm trú tạm bìa rừng sồi cho qua cơn bão, xong xuôi đàn ông chúng tôi sẽ lập tức quay lại lò kéo bễ, dập than phục dịch mà!"
"Câm miệng ngay!" Đỗ Tuyên lạnh lùng quát lớn, ánh mắt gã quét qua đoàn người đói rách như đang điểm mặt những kiện hàng hóa trên sàn của trạm cân than. "Rừng sồi nằm hoàn toàn ngoài vành đai màn chắn chính của tông môn. Đám tiện dân các ngươi kéo ra đó chỉ làm phân tán lực lượng bảo hộ và tiêu hao tài nguyên! Đài Huyền Khuyết hiện tại cần ít nhất ba ngàn lượt xúc than cám mỗi canh giờ để duy trì áp lực hơi đẩy lùi triều tro từ biển vào. Ai cho phép các ngươi tự tiện dời đi? Lùi lại phía sau, nếu không toàn đội nỏ sẽ phóng tiễn diệt loạn!"
Toán hộ vệ phía sau đồng loạt nâng những cánh nỏ thép nặng trịch lên ngang ngực, tiếng lẫy sắt bật "cạch cạch" khô khốc nối tiếp nhau vang lên đầy đe dọa. Đám đông dân chúng kinh hoàng thối lui, người sau xô đẩy người trước làm lật nhào một chiếc xe rùa chở đầy chum vại sành, tiếng gốm vỡ toang chói tai giữa vũng bùn tro nhão nhoét.
"Đỗ Tuyên! Ngươi lấy quyền hạn gì của tông môn để ban bố lệnh thiết quân luật ngăn chặn việc cứu hộ dân sự?"
Một giọng nói trong trẻo, mang theo uy lực trầm ổn của người từng chấp pháp nhiều năm, vang lên xé toạc màn tranh cãi ồn ã. Từ phía sau dòng xe kéo dạt sang hai bên, Hạ Từ sải những bước chân dứt khoát đi lên phía trước. Cô không còn khoác chiếc áo choàng nội môn thêu chỉ bạc lộng lẫy hay đeo ngọc bội hộ thân của Chấp Pháp đường, mà chỉ vận một bộ võ phục màu tro sẫm bó sát cơ thể thon gọn. Dưới lớp áo vải thô, hai dải nẹp bằng gỗ sồi siết chặt quanh lồng ngực gãy rạn khiến từng nhịp thở của cô vẫn nặng nhọc và đứt quãng, nhưng sống lưng cô vẫn thẳng tắp kiêu hãnh như một cây tùng mọc ngược trên vách đá cheo leo.
Hạ Từ dừng lại cách hàng rào chông sắt chừng năm bước chân, cánh tay giơ cao một cuộn lụa màu vàng sáp có đóng dấu triện son lòng máng vuông vức, nét mực còn tươi nguyên:
"Lệnh điều phối cứu nạn khẩn cấp do chính Viện chủ Viện Công Tượng Cố Thanh đích thân ký niêm phong! Chiếu theo quy chế phòng hộ thời chiến của Thanh Lư Tông, khi các trục xả áp địa mạch vượt quá ngưỡng rung chấn cấp bốn, Viện Công Tượng có toàn quyền sơ tán toàn bộ cư dân thuộc phạm vi các công trình phụ trợ vào các hầm trú ẩn đã qua kiểm định an toàn! Phủ Quan Tế các ngươi chỉ quản lý việc tế lễ và nạp liệu, hoàn toàn không có thẩm quyền giữ dân thường làm lá chắn sống cho đường ống xả cặn!"
Đỗ Tuyên hơi biến sắc khi nhác thấy con dấu triện lòng máng đặc trưng của Cố Thanh—thứ quyền lực hành chính thực tế mà phủ Quan Tế luôn phải kiêng dè. Nhưng khóe môi mỏng của gã lập tức giật giật thành một nụ cười nham hiểm, đầy vẻ giễu cợt:
"Hạ Từ, ngươi đã bị viện Chấp Pháp ra quyết định tước quyền tuần tra, tháo bỏ kiếm lệnh từ tối hôm qua. Một kẻ đang mang án kỷ luật ly khai tông môn, thân phận còn thấp hơn một tên tạp dịch, lấy tư cách gì mang lệnh của Viện Công Tượng ra đây để thị uy với ta? Cố Viện chủ tuổi già lú lẫn, bị đám thợ lò xảo quyệt các ngươi lừa gạt; Trưởng Lão viện chưa hề thông qua lệnh di tản này trong phiên họp sáng nay! Toàn thể thuộc hạ phủ Quan Tế, nghe lệnh: bắt giữ kẻ phản nghịch Hạ Từ, cưỡng chế giải tán đoàn xe, ai chống cự giết không tha!"
"Kẻ phản nghịch thực sự là ai, hãy để binh lính dưới trướng ngươi tự mở mắt ra mà nhìn cho rõ!" Hạ Từ không hề lùi lại nửa bước. Cô lạnh lùng vung tay trái ra hiệu về phía cỗ xe ngựa chở bạt phía sau.
Từ sau một cỗ xe bò phủ bạt gai ướt, hai bóng người gầy guộc, tiều tụy được những người thợ rèn cẩn thận dìu bước ra trước ánh sáng mờ đục của ban ngày. Một người là gã phu dịch từng làm việc tại chân đài Huyền Khuyết mà nhóm Ninh Chiêu đã mạo hiểm tính mạng cứu thoát khỏi buồng xả cặn ngập toan trong vụ sập hầm ba ngày trước; hai bàn tay gã trắng bệch như sáp nến, các khớp ngón tay co quắp, dính chặt vào nhau không thể nào duỗi thẳng do gân cơ đã bị hơi độc khoáng ăn mòn vĩnh viễn. Người còn lại là một thiếu niên tuần tra ngoại viện vừa được kéo ra khỏi buồng cân áp phụ trong đêm qua; vạt áo sau lưng cậu rách toạc tả tơi, để lộ toàn bộ vùng da thịt quanh cột sống đã chuyển sang màu tím đen ghê rợn, chi chít ba mươi hai vết cào xé sâu hoắm đóng vảy mủ do các móng vuốt bạc cơ khí bòn rút dịch tủy để lại.
Đám hộ vệ phủ Quan Tế đang giương nỏ nhìn thấy những vết thương tàn khốc, rợn người ấy, hàng ngũ lập tức xao động dữ dội. Những người lính gác cổng phần lớn cũng chỉ là con em xuất thân từ ngoại viện nghèo khó hoặc các xóm thợ lam lũ dưới chân núi; họ nhận ra ngay bộ đồng phục vải thô rách nát của đội tuần tra đêm mang ký hiệu hình thoi thêu tay của thiếu niên kia.
"Nhìn cho kỹ đi!" Tiếng Hạ Từ đanh lại, vang rền trên mặt đường lát đá như sấm sét giữa ban ngày. "Đây chính là cái gọi là 'túc trực vận hành', là 'nghĩa vụ với tông môn' mà cha con Đỗ Kính và Đỗ Tuyên rao giảng bấy lâu nay! Họ không cần các ngươi xúc than nạp bễ! Họ cần những người có chút căn cơ kiếm cốt sơ cấp, cần những thân thể sống bằng xương bằng thịt để cắm thẳng vào buồng máy Cửu Giá, hút cạn tủy sống của các ngươi nhằm bù đắp vào sự sụt lún địa tầng của màn chắn do sự bòn rút, quản lý tắc trách của dòng họ Đỗ suốt ba mươi năm qua! Lục Viễn Chu mười bảy tuổi bị biến thành một mã số kho lạnh ngắt; những người này bị nhốt kín dưới cống ngầm tăm tối để chịu chết thay cho sự an toàn của nội môn! Các ngươi cũng có cha mẹ già, con thơ đang đứng chen chúc trong đoàn xe này; các ngươi muốn họ ở lại đây để lần lượt bị trói tay lôi xuống lòng đất làm nhiên liệu nạp áp sao?"
"Toàn là lời lẽ xằng bậy kích động lòng quân! Bắn tiễn ngay!" Đỗ Tuyên thét lên thất thanh, tròng mắt đỏ ngầu vì hoảng loạn khi nhận thấy những ngọn trường kích phía sau mình bắt đầu hạ thấp xuống, những cánh nỏ thép run rẩy trong bàn tay do dự của đám binh lính.
Một tên đội trưởng hộ vệ đứng sát cạnh Đỗ Tuyên ngập ngừng lên tiếng, giọng run rẩy: "Đỗ quản sự... đứa nhỏ đó... đó đúng là tiểu Lục của phân đội tuần tra ba xóm Lò Vôi..."
"Ta bảo bắn tiễn! Kẻ nào dám kháng lệnh sẽ bị chém đầu thị chúng ngay tại chỗ!"
Đỗ Tuyên gầm lên điên cuồng. Không đợi binh lính thi hành mệnh lệnh, gã tự mình vung thanh trường kiếm mũi vuông chém phăng chiếc chốt hãm bằng dây thừng của hàng rào chông di động. Mũi kiếm rít lên xé gió, mang theo luồng kình lực sắc bén của cảnh giới Kết Cốt, bổ thẳng xuống bả vai Hạ Từ.
***
Chiêu kiếm của Đỗ Tuyên hoàn toàn không mang phong thái thanh thoát, quy chuẩn của những bài kiếm pháp hoa mỹ chốn nội môn. Đó là những nhát chém thực dụng, tàn độc và chuẩn xác, được tôi luyện qua hàng trăm trận ẩu đả đẫm máu trong những lần gã thân chinh đi dẹp loạn các bến bãi than đá và áp tải những chuyến hàng lậu qua hẻm núi. Nhát kiếm chém chéo từ vai trái xuống mạn sườn phải, nhắm thẳng tắp vào vị trí hai dải xương sườn đang nẹp gỗ còn rỉ máu của Hạ Từ, dứt khoát muốn đoạt mạng đối phương trong một đòn chớp nhoáng.
Hạ Từ không thể vận chuyển linh lực toàn phần; lồng ngực cô nhói buốt như có hàng chục mũi kim nung đỏ cắm sâu vào màng phổi, khóe miệng lập tức rỉ ra một vệt máu tươi đỏ thẫm khi cô cố sức vung thanh trường kiếm dự phòng lên gạt đỡ.
Keng!
Tiếng kim loại va chạm chói óc bùng nổ giữa khoảng không hẹp. Sức ép cơ học nặng nề kết hợp với linh lực cảnh giới Kết Cốt của Đỗ Tuyên dồn ứ xuống lưỡi kiếm, ép Hạ Từ phải lùi thụt lại nửa bước, gót giày vải miết mạnh làm nứt toạc một mảng đá lát đường. Đúng vào khoảnh khắc Đỗ Tuyên xoay tròn cổ tay, mượn đà phản chấn để tung ra một đòn đâm bồi hiểm ác nhắm thẳng vào hõm cổ đối phương, một luồng kình lực ngắn ngủn, đặc quánh nhưng nặng trịch như một nhát búa tạ từ trên đe giáng xuống bất thần ập tới từ góc chết bên mạn sườn phải của gã.
Ninh Chiêu đã vào vị trí từ lúc nào.
Cô không xuất hiện bằng những bước nhảy vọt đẹp mắt hay tung mình từ trên cao xuống. Cô tiến lên bằng chính bộ pháp ba bước lùi rút ngắn mà Tống Hoài đã bắt cô dập khuôn hàng ngàn lần trên nền đất nện ẩm ướt của căn nhà hoang: bước chân ngắn, trọng tâm cơ thể hạ cực thấp ở khớp hông, gót chân dán chặt xuống mặt đá để mượn trọn vẹn phản lực từ lòng đất dội lên. Thanh kiếm sắt mài dở trong tay phải cô không hề chém vào da thịt Đỗ Tuyên; nó phóng ra theo một đường thẳng tắp, lạnh lùng đâm trúng vào điểm tiếp giáp yếu nhất giữa chuôi kiếm và tấm bao tay sắt bọc ngoài khớp cổ tay của gã.
Keng một tiếng khô khốc!
Mũi kiếm sắt thô ráp không hề có ánh quang của kiếm khí sắc bén, nhưng nó mang theo toàn bộ sức nặng cơ học của một người thợ rèn đã quen quai những cây búa nặng hai mươi cân từ ngày này qua tháng khác. Lực chấn động truyền ngược từ khớp vai bản lề của Ninh Chiêu chạy thẳng qua trục cánh tay, truyền trọn vẹn vào thân kiếm, đánh bật mũi kiếm sắc lẹm của Đỗ Tuyên lệch sang một bên đúng ba tấc hiểm hóc.
"Con ranh thợ rèn!" Đỗ Tuyên rít qua kẽ răng ken két khi nhận ra khuôn mặt lấm lem muội than và bàn tay trái quấn chặt nẹp tre của Ninh Chiêu. Nhát đâm của gã bị hụt, gã lập tức thu kiếm về sát sườn, xoay người quét một vòng tròn gạt đất nhắm thẳng vào hai ống chân của cô nhằm chặt đứt bộ pháp di chuyển.
Thế nhưng Ninh Chiêu không hề đứng yên để đọ kiếm tay đôi. Khắc sâu lời răn dạy nghiêm khắc đến tàn nhẫn của Tống Hoài đêm hôm trước—*Đừng bao giờ đứng lại ở nơi tầm kiếm của đối phương có thể với tới; lùi một bước đúng lúc chính là mở ra một khoảng sống cho người đồng đội bên cạnh*—cô lập tức rút gót chân phải về đúng nửa tấc, xoay nhẹ trục vai để né trọn mũi kiếm chỉ lướt qua mép vải quần thô một sợi chỉ mỏng. Cùng trong một nhịp thở ngắn ngủi đó, Hạ Từ mượn đúng khoảng trống mà Ninh Chiêu vừa mở ra, thân hình cô lướt tới nhanh như một cơn gió cuốn. Thay vì dùng mũi nhọn để giết người, Hạ Từ lật ngược sống kiếm, dùng phần sống thép dày và nặng nhất đập thẳng một nhát trời giáng vào khớp khuỷu tay phải đang duỗi thẳng của Đỗ Tuyên.
Rắc!
Một âm thanh giòn rụm của cấu trúc xương khớp bị trật bánh vang lên rợn người. Đỗ Tuyên rú lên một tiếng đau đớn tột cùng, năm ngón tay gã co giật rồi buông lỏng hoàn toàn, thanh trường kiếm mũi vuông rơi choang xuống mặt đường đá dăm, nảy lên vài nhịp trước khi nằm im lìm. Gã lảo đảo ôm lấy cánh tay phải đang rũ xuống vô lực, mặt cắt không còn một giọt máu, loạng choạng lùi sâu về phía sau hàng quân hộ vệ.
"Lũ ăn hại! Xông lên bắt sống lấy chúng nó cho ta!" Đỗ Tuyên vừa thở hắt ra từng ngụm khí lạnh vừa gầm thét trong điên loạn.
Năm sáu tên hộ vệ mang giáp sắt đen lập tức hạ kích xông lên. Nhưng đám lính vũ trang này lập tức rơi vào một thế trận phối hợp phản kích chặt chẽ đến nghẹt thở giữa một kiếm tu am tường quy chuẩn chiến thuật và một người thợ rèn nắm rõ từng điểm yếu cơ học của kim khí thô. Ninh Chiêu không hề bộc phát kiếm ý vượt ngưỡng cho phép; cô ghi nhớ đến từng chữ trong lời cảnh báo sinh tử của Tống Hoài, tuyệt đối không kích hoạt luồng kiếm ý tự vệ quá ba nhịp thở nhằm bảo vệ các đường gân cơ cẳng tay phải đang bị tổn thương. Cô chỉ sử dụng thuần túy kỹ thuật tước vũ khí cận chiến dựa trên trọng lượng và điểm tựa đòn bẩy.
Mỗi khi một ngọn trường kích bằng đồng đâm xé gió tới gần, Ninh Chiêu không bao giờ dùng lưỡi kiếm đỡ trực diện vào mũi nhọn, mà cô nghiêng người, dùng sống kiếm sắt gõ thật mạnh vào phần cán gỗ ngay sát khâu nối bằng đồng—đó chính là điểm giòn nhất, dễ gãy nhất của toàn bộ cây vũ khí sau nhiều ngày phơi sương gió. Cú gõ chuẩn xác mang sức nặng ngàn cân của dân nghề rèn làm vỡ nát chốt hãm bên trong; ngọn kích lập tức chúc thẳng mũi xuống đất vì mất cân bằng trọng lượng. Cùng lúc đó, Hạ Từ vận dụng thân pháp nội môn áp sát cực nhanh, tung những cú đánh chỏ hiểm hóc vào xương ức, quét gót chân vào khớp gối sau của đối phương, đánh bật từng tên lính ngã nhào ra hai bên vệ đường mà không cần phải tước đoạt tính mạng của bất kỳ ai.
Máu không chảy thành suối, không có cảnh đầu rơi máu đổ ghê rợn, nhưng chỉ trong vòng chưa đầy mười lăm nhịp thở ngắn ngủi, sáu tên hộ vệ tiên phong hung hãn nhất đã bị tước sạch vũ khí, nằm quằn quại rên rỉ trên mặt đường với các khớp cổ tay và bả vai bị trật khớp hoàn toàn.
Toán lính còn lại phía sau nhìn thấy viên quản sự quyền uy Đỗ Tuyên đang ôm cánh tay gãy run rẩy thối lui, lại nhìn ra phía sau thấy hàng trăm người thợ lò, phu xe đang lầm lì siết chặt búa rèn, xà beng cạy đá và gậy gỗ có bọc sắt trong tay, ánh mắt bốc lên ngọn lửa căm hờn u uất. Không một tên lính nào dám tiến thêm dù chỉ nửa bước chân.
"Mở cổng ngay!" Hạ Từ quát lớn, âm thanh vang dội đầy uy thế chấn áp toàn bộ trạm kiểm soát. "Đệ tử Thanh Lư Tông tuyệt đối không được chĩa mũi giáo mũi tên vào chính đồng bào ruột thịt của mình!"
Tên đội trưởng hộ vệ nhìn Đỗ Tuyên đang nghiến răng trừng mắt căm hận nhưng bất lực, rồi lại nhìn về phía những đứa trẻ nhỏ đang nép sau các thùng nước ngọt trên xe kéo, đôi mắt chúng ngập tràn kinh hoàng. Cuối cùng, gã thở dài một hơi nặng nhọc, chậm rãi tra thanh đao vào vỏ sắt bên hông:
"Mở rào chắn sắt... để dân rời đi."
***
Tiếng xích sắt nặng nề cọ vào then cài kêu lên những tiếng rổn rảng chói tai khi hàng rào chông thép được nhóm lính hộ vệ kéo dạt sang hai bên lề đường.
Dòng xe kéo đang bị ứ nghẽn bấy lâu như một con đê vừa vỡ tung, lục tục ùa qua khoảng trống hẹp của Cổng Nam. Những chiếc xe rùa chở người già run rẩy, những đôi chân trần lem luốc của lũ trẻ nhỏ dẫm bì bõm qua những vũng bùn tro nhão nhoét, tất cả đều vội vã cắm đầu bước về phía con đường mòn chạy dọc sườn đồi dẫn sâu vào thung lũng sồi phía nam—nơi có dải núi đá tự nhiên che chắn luồng gió độc và trạm y xá dã chiến của bác sĩ Trần Mộc đang đỏ lửa chờ đón.
Ngô Phúc gò lưng đẩy cỗ xe kéo thô sơ chở hai đứa con nhỏ đi ngang qua chỗ Ninh Chiêu đang đứng. Người phu xe nghèo khó nghẹn ngào không nói nên lời, hai dòng nước mắt chảy dài làm sạch một vệt muội than trên gò má hốc hác, ông chỉ biết cúi gập đầu thật sâu trước người nữ thợ rèn trẻ tuổi đang đứng tựa vào thanh kiếm sắt, ngực phập phồng thở dốc bên lề đá. Ninh Chiêu đưa tay áo thô ráp quệt vội những giọt mồ hôi đang chảy ròng ròng trên trán, khẽ gật đầu ra hiệu bảo ông mau chóng rảo bước cho kịp đoàn người.
"Vũ Kha! Cho người chốt chặn cửa sau ngay lập tức!" Tống Hoài từ trên gờ đá cao nhảy thoăn thoắt xuống mặt đường, cất tiếng thúc giục dứt khoát.
Vũ Kha lập tức dẫn theo hơn hai mươi người thợ lò lực lưỡng từ phía sau xông ra. Họ không hề sử dụng đến những chiếc then gỗ mục nát cũ kỹ của cổng thành, mà vác theo những cây xà bằng gỗ sồi vuông vức đã được bọc kín thép gió hai đầu, chuẩn xác lắp chặt vào các lỗ mộng ngầm mà họ đã bí mật dùng búa đục sẵn từ hai ngày trước trên vách đá hai bên Cổng Nam. Những chiếc chốt khóa hình chữ U bằng gang thô đúc đặc được đóng ngập sâu vào các khe đá bằng những nhát búa tạ vang trời, khóa chết hoàn toàn lối đi từ phía ngoài vào, dựng nên một bức bình phong kiên cố để bảo vệ triệt để tuyến đường rút lui của cư dân trước bất kỳ đợt truy kích nào có thể ập tới từ phía nội viện.
Đỗ Tuyên được hai tên lính thân tín lảo đảo đỡ đứng dậy. Cánh tay phải của gã gãy gập buông thõng sát hông, nhưng đôi mắt hẹp dài của gã nhìn trừng trừng về phía nhóm người Ninh Chiêu và Hạ Từ, ngập tràn nọc độc căm hờn và sự hung hiểm tột cùng.
"Các ngươi nghĩ mình đã thắng rồi sao?" Đỗ Tuyên rít lên từng tiếng qua kẽ răng bê bết máu, nước bọt lẫn bọt máu phì ra nơi khóe mép méo xệch. "Bảo vệ được một lũ sâu bọ bẩn thỉu này thì có ích gì cho đại cục? Các ngươi có biết Quan Tế đại nhân đã làm những gì ở đài Huyền Khuyết từ lúc rạng sáng không? Lão đã hạ lệnh chuyển toàn bộ tám vật tải sống còn lại vào thẳng buồng máy Cửu Giá từ đầu giờ Dần rồi! Toàn bộ đại trận đã bắt đầu tiến trình nạp áp tuyệt đối! Nếu các ngươi dám bén mảng chạm tay vào các trạm van khóa ngầm dưới lòng đất, van khí phụ sẽ lập tức kích nổ tự hủy, toàn bộ thung lũng Lò Khê này sẽ biến thành một nấm mồ chôn tập thể!"
Dứt lời, gã không dám nấn ná thêm dù chỉ một khắc, ôm cánh tay gãy quay đầu cùng đám tàn binh tháo chạy thục mạng về hướng con đường dốc lát đá dẫn ngược lên đỉnh đài Huyền Khuyết.
Nhìn bóng lưng Đỗ Tuyên khuất dần sau làn sương tro mù mịt, nụ cười nhẹ nhõm hiếm hoi vừa chớm nở trên môi Hạ Từ lập tức tắt ngấm. Cô quay đầu ngước nhìn lên bầu trời thung lũng: vầng thái dương của buổi sớm mai đã hoàn toàn biến mất sau tầng mây xám chì dày đặc, nặng trĩu độc chất. Mưa tro khoáng rơi xuống mỗi lúc một dày, lất phất như một trận mưa tuyết đen ảm đạm, rải một lớp bụi ráp rúa, bốc mùi hăng nồng lên vai áo, lên những chốt sắt và chuôi kiếm của mọi người.
"Chúng ta đã mất trọn vẹn hai canh giờ," Tống Hoài trầm giọng, mắt anh đăm đăm nhìn vào chiếc đồng hồ nước nhỏ bằng đồng thiếc đeo bên hông. "Thời gian bảo hộ và dọn đường cho dân di tản đã ngốn sạch toàn bộ khoảng đệm an toàn mà chúng ta vạch ra lúc ban đầu. Giờ Thìn đã trôi qua hơn một nửa rồi."
Hai canh giờ quý báu để dọn đường và giữ vững cổng thoát đã trôi qua không thể lấy lại. Và cái giá phải trả cho sự an toàn của đoàn người không chỉ đơn thuần là sự hao tổn về mặt thời gian.
Hạ Từ đứng tựa lưng vào một cây cọc gỗ gia cố cổng thành, lồng ngực cô phập phồng dồn dập, sắc mặt tái nhợt không còn chút huyết sắc như một tờ giấy bản ngâm nước. Đòn giao tranh bằng bạo lực cơ học vừa rồi đã làm hai dải xương sườn nẹp tạm của cô bị xô lệch nghiêm trọng, máu đỏ tươi đã thấm ướt đẫm qua lớp băng vải gai dày, loang ra một mảng lớn trước vạt áo ngực. Xung quanh cô, phần lớn các đệ tử ngoại viện và những người thợ rèn khỏe mạnh nhất đều buộc phải ở lại mặt đất. Họ phải chốt giữ Cổng Nam, duy trì hàng rào phòng hộ bằng gỗ thép, tiếp tục thay phiên nhau túc trực đổ nước muối vận hành các bộ tải cộng hưởng mini tại hầm số Bốn và số Năm, đồng thời sẵn sàng búa đe để ngăn chặn bất kỳ đợt tấn công nào khác của lực lượng hộ vệ chấp pháp trung thành với Đỗ Kính.
Lực lượng có thể bước chân xuống hệ thống cống ngầm tăm tối dưới lòng đất lúc này đã bị bòn rút đến mức tối thiểu, trơ trọi và đơn độc.
"Hạ Từ, cô phải ở lại mặt đất," Ninh Chiêu dứt khoát bước tới, bàn tay thô ráp của cô đỡ lấy cánh tay run rẩy của người đệ tử nội môn. "Cô không thể nào chịu đựng thêm bất kỳ một đợt xung chấn áp lực nào dưới lòng đất nữa đâu. Phổi cô sẽ rách toác ra ngay lập tức nếu hít phải một luồng khí toan trào ngược từ các van xả cặn."
Hạ Từ nhìn Ninh Chiêu, trong đáy mắt cô thoáng qua một tia bất lực và đau đớn giằng xé, nhưng là một người từng chấp pháp, cô thấu hiểu thực tế chiến thuật khắc nghiệt hơn bất kỳ ai. Cô siết chặt lấy những ngón tay chai sạn của Ninh Chiêu, giọng khàn đặc nhưng rành rọt từng tiếng:
"Tôi sẽ giữ vững mặt đất này. Chừng nào tôi còn đứng vững ở Cổng Nam, không một tên thiết giáp vệ nào của phủ Quan Tế có thể từ phía sau bịt chặt miệng cống ngầm của các người. Nhưng các người... dưới đó... chỉ còn lại đúng ba người thôi."
Ninh Chiêu chầm chậm quay đầu lại nhìn. Bên cạnh cô lúc này chỉ còn Tống Hoài với thanh kiếm sắt gãy giấu kín trong bọc vải gai thô, vết thương kinh niên ở các đốt sống lưng đang âm ỉ râm ran những cơn đau nhức buốt; và Lê Vãn, người khảo cứu trận pháp trẻ tuổi với gương mặt tái mét vì căng thẳng nhưng ánh mắt vẫn kiên định lạ thường, hai tay cậu ôm chặt chiếc hộp gỗ đựng dụng cụ đo đạc địa tầng và xấp bản đồ mạch dẫn dập bằng bột than củi.
Không còn đội hộ tống trang bị giáp trụ. Không còn lực lượng dự bị sẵn sàng ứng cứu. Không còn bất kỳ ai bọc lót phía sau lưng khi cánh cửa hầm khép lại.
Vũ Kha bước nặng nề tới gần, chiếc tạp dề bằng da bò của anh rách bươm, lỗ chỗ những vết cháy xém do xỉ sắt bắn vào. Anh im lặng trao vào tay Ninh Chiêu một chiếc túi da thuộc dày cộp, nặng trịch. Bên trong túi là ba bộ chốt khóa hình chữ U bằng thép gió vonfram-mangan cán nguội, các góc vát mười ba độ nghịch chiều đã được anh cẩn thận mài sắc lẹm từng cạnh, lấp lánh ánh kim loại màu xám tro lạnh buốt dưới ánh ngày ảm đạm.
"Cầm lấy thứ này," Vũ Kha nói, giọng khàn đặc vì khói than nhưng cứng cỏi như đá tảng. "Thép Lạc Hạc do chính tay tôi tôi nước lạnh ba lần liên tiếp đấy. Cụm then ren đôi hai chấm tám ly của thằng Đỗ Tuyên có cứng chắc đến đâu, chỉ cần các người dùng búa đập ngập sâu chiếc chốt này vào rãnh hãm, toàn bộ hệ thống bánh răng trượt của cỗ máy sẽ vỡ vụn ra từng mảnh. Đưa tám người đó sống sót trở ra... Đừng để phường thợ rèn Lò Khê chúng ta phải mất thêm một đứa trẻ nào nữa."
Ninh Chiêu đón nhận lấy chiếc túi da nặng trịch, cảm nhận rõ rệt sức nặng lạnh ngắt của khối kim loại đang đè nặng lên lòng bàn tay thô ráp của mình. Cô ngẩng đầu nhìn Vũ Kha, rồi nhìn sang Hạ Từ cùng những người thợ lò đang đứng dàn hàng ngang canh giữ rào chắn gỗ kiên cố phía sau.
"Chúng tôi đi đây."
Ba bóng người dứt khoát quay lưng, rảo bước nhanh băng qua khoảng sân sau ngập ngụa tro xám của trạm kiểm soát Cổng Nam, hướng thẳng về phía chân vách đá hoa cương dựng đứng sừng sững, nơi có cánh cửa sắt hoen gỉ của đường hầm bảo trì cống ngầm số Bảy.
Đó là một cánh cửa sắt đúc thô sơ màu nâu gỉ, nằm lọt thỏm và khuất lấp sau những bụi gai rậm rạp mọc bám dưới chân móng thành đá hoa cương kiên cố. Cánh cửa phụ này vốn chỉ dành riêng cho những phu dịch nạo vét bùn toan qua lại từ ba mươi năm về trước, nay đã phủ đầy những mảng rêu phong xanh xám và cặn lưu huỳnh khô cứng bám chặt vào các khe kẽ.
Tống Hoài bước lên trước, tra chiếc chìa khóa bằng đồng thau mang hình hoa sen cụt cánh do chính Viện chủ Cố Thanh bí mật giao cho vào ổ khóa rêu phong đã mòn vẹt.
Cạch.
Một tiếng lò xo cơ học rít lên khô khốc sau nhiều năm tháng dài đằng đẵng ngủ vùi dưới chân thành đá. Cánh cửa sắt nặng trịch từ từ hé mở ra một khoảng tối sâu hun hút, không một tia sáng nào có thể lọt vào. Từ bên trong lòng đất, một luồng gió buốt lạnh thấu xương lập tức xộc thẳng ra ngoài, mang theo mùi toan khoáng nồng nặc đến nghẹt thở và những tiếng rầm rì cơ khí ghê rợn, nặng nề vọng lên từ cõi sâu không đáy của đại trận Huyền Khuyết.
Lê Vãn hít một hơi sâu đầy căng thẳng, run rẩy quẹt đá thắp sáng ngọn đèn dầu nhỏ bọc đồng thiếc. Tống Hoài rút thanh kiếm sắt gãy cầm ngang trước ngực, đặt bước chân đầu tiên dẫm xuống những bậc đá trơn trượt ngập ngụa bùn xám dẫn sâu vào lòng đất. Ninh Chiêu bước vào cuối cùng, bàn tay phải siết chặt lấy quai da của túi chốt thép.
Két... Rầm!
Cánh cửa sắt của đường hầm bảo trì đóng sập lại sau lưng họ, cắt đứt hoàn toàn ánh sáng ban ngày.