Kiếm Cốt Dưới Tro — Phần 1: Cửa Trời Không Có TiênC.32 / 40
Chương 32

Một bàn ăn trước bão

Ánh lửa lò rèn hắt lên mặt bàn gỗ thô ráp, nơi chiếc bát sành mẻ đựng mấy củ cải muối khô và nồi cháo hoa bốc khói lượn lờ giữa những tấm bản đồ trận đồ giăng kín.

Trong căn chái lợp tôn xỉn màu của xưởng rèn bỏ hoang ven suối, hơi ấm mỏng manh từ bễ than không đủ xua đi cái rét luồn qua từng khe liếp nứt toác. Mùi lưu huỳnh nồng gắt lẫn với mùi tro than đá và mùi tanh nhàn nhạt của máu tươi tạo nên thứ bầu không khí quánh đặc, nặng trĩu của một trạm tiền tiêu trước giờ xung phong. Không ai nói to. Tiếng muỗng gỗ va lách cách vào thành bát sành chốc chốc lại bị ngắt quãng bởi tiếng thở dốc nén lại của những người đang mang trên mình thương tật. Nước suối rỉ qua vách đá sau lưng xưởng gõ từng giọt buốt lạnh xuống một mảnh máng xối rỉ sét, đếm từng khắc trôi đi trong sự ngột ngạt đến nghẹt thở.

Ninh Chiêu quỳ một gối xuống nền đất nện ẩm ướt, cẩn thận đặt chiếc chậu đồng cáu bẩn đựng nước sôi để nguội sang bên cạnh. Cẳng tay trái của cô vẫn còn quấn lớp nẹp mỏng bằng tre cật, phần da bị hơi nóng áp lực cao quét qua ở buồng cân áp phụ ban nãy đỏ ửng, căng rát và giật cục mỗi khi các thớ cơ co gập; nhưng những ngón tay của bàn tay phải vẫn giữ được sự chuẩn xác lì lợm của thợ rèn khi luồn đầu kéo đồng qua lớp băng vải cũ trên đùi Bùi Sách.

Mảnh vải gai thô đã ứ máu thâm sì, khô cứng lại như một lớp vảy sừng, dính bết vào mép miệng vết thương hình tam giác do đầu tên sắt ba ngạnh cày xới. Chất toan khoáng màu vàng ngả xanh bám quanh chân ngạnh tên đã kịp ngấm vào phần thịt mềm, làm mép da sưng tấy, mưng lên từng bọng mủ đục. Bùi Sách ngồi tựa lưng vào bao tải chứa than cám ẩm mốc, trán lấm tấm mồ hôi lạnh, hai hàm răng cắn chặt vào góc vạt áo tơi đã tơi tả để không phát ra tiếng rên. Mỗi nhát kéo lách qua lớp sợi gai bết dính lại kéo theo một mảng thịt non rỉ dịch vàng; gân xanh trên trán cậu giật nảy lên từng chặp, hai bàn tay gầy gò bấu ngập vào lớp vải thô phủ trên đầu gối đến trắng bệch cả đầu khớp.

"Ráng một chút, chất toan trên mũi tên vẫn còn ăn mòn đáy cơ, không lau sạch thì thịt thối sẽ lan vào màng xương," Ninh Chiêu khẽ nói, giọng trầm và đều, giữ cho âm sắc thật vững để trấn an cậu thiếu niên.

Cô dùng miếng vải sạch tẩm đẫm dịch thuốc màu nâu sẫm của bác sĩ Trần Mộc—thứ cao điều chế từ vỏ cây ngải sáp đặc quánh có mùi hăng hắc pha lẫn tiêu rừng cay nồng—nhẹ nhàng lau dọc miệng vết rách dài gần bốn tấc. Lớp cao thuốc vừa chạm vào phần thịt loét, bọt trắng nhỏ li ti lập tức sủi lên xèo xèo cùng mùi tanh ngái lợm giọng. Bắp đùi Bùi Sách co giật từng chặp dưới tay cô, nhưng cậu không hề lùi lại nửa phân.

"Không... không sao đâu Ninh Chiêu tỷ," Bùi Sách nhả góc áo ra, môi tái nhợt rớm máu nhưng cố nở một nụ cười méo mó. Cậu giơ mu bàn tay run rẩy quệt mồ hôi trên sống mũi lấm lem muội than, cố thở bằng mũi để lồng ngực bớt run rẩy. "Lúc ở nhánh cống ngầm bị rượt, mũi tên này cắm phập vào thịt kêu đánh 'phụt' một tiếng, ta còn tưởng gãy cụt mất xương ống chân rồi chứ. Giờ thấy máu rỉ ra đỏ tươi thế này, tức là xương chưa vỡ nát, vẫn còn chạy việc được chán."

"Còn muốn chạy việc à?"

Cách chiếc bàn hai bước chân, Hạ Từ lạnh lùng cất giọng. Cô đang ngồi tựa vào mép đe rèn phụ, cởi phanh vạt áo chấp pháp đã bị xé bỏ hoàn toàn phù hiệu tông môn, để lộ dải băng vải siết chặt vòng quanh lồng ngực trần trụi. Bờ vai bên trái của cô bầm tím một mảng lớn lan xuống tận mạn sườn—di chứng của cú chèn thân giữ khối cự thạch ở hầm số Bảy mấy ngày trước. Giờ đây, hai thanh nẹp bằng gỗ sồi ép chặt lấy hai xương sườn gãy đang bị xộc xệch sau chuyến đột kích buồng cân áp phụ. Mỗi nhịp thở sâu đều khiến cánh mũi cô phập phồng đau đớn, nơi khóe môi thỉnh thoảng lại ánh lên tia máu tươi bị cô nuốt ngược vào trong cổ họng khô khốc.

Hạ Từ dùng một tay giữ chặt đầu thanh nẹp gỗ sồi, tay kia cầm dải dây da trâu siết mạnh một vòng quanh lồng ngực. Tiếng răng cắn chặt kêu kèn kẹt trong vòm họng. Một tiếng rên khẽ bật qua kẽ răng khi cô dồn lực ghì chặt xương sườn vào đúng trục xương sống. Mặt cô trắng bệch ra như tờ giấy bồi phơi sương sớm, các ngón tay run rẩy trong khoảnh khắc vì cơn đau xuyên thấu màng phổi, nhưng bàn tay vẫn dứt khoát khóa chết nút dây da trâu mà không hề run rẩy buông lỏng.

"Đệ tử ngoại viện các người lúc nào cũng nghĩ mình bằng sắt đúc," Hạ Từ thở hắt ra một làn hơi nóng hổi, ánh mắt sắc như dao nhìn trừng trừng vào Bùi Sách. "Trần Mộc đã dặn đứt rách cơ sâu như thế, nếu ráng vận lực chạy nhảy, màng xương sẽ viêm mục, cả đời sau chỉ có nước chống nạng gỗ mà đi xin ăn. Muốn giữ cái chân thì ngồi yên một chỗ."

Bùi Sách cúi đầu, bàn tay run run mân mê mép nẹp gỗ đặt dọc đùi, không cãi lại nhưng ánh mắt vẫn ánh lên vẻ bướng bỉnh khó lay chuyển của một đứa trẻ lớn lên từ những ngóc ngách cống ngầm bùn đất.

Ninh Chiêu không ngẩng lên, cô thoa nốt lớp thuốc mỡ cuối cùng rồi quấn chặt dải băng mới quanh đùi Bùi Sách, cố định hai thanh nẹp bằng ba vòng dây gai bện chặt, thắt nút chết ở phía ngoài mép đùi để tránh cọ xát vào vết rách. "Hạ Từ nói đúng đấy. Cậu mà gục trước cửa cống, người ta phải cử hai người quay lại khiêng, lúc đó không phải là giúp mà là thêm gánh nặng."

Cô đứng dậy, vò miếng vải đẫm máu và mủ vứt thẳng vào góc lò than đang cháy liu riu. Miếng vải bắt lửa kêu xèo xèo, bốc lên mùi khét lẹt đặc thù của sợi gai và máu khô. Ninh Chiêu bước tới mép bàn, bưng bát cháo hoa nguội ngắt nuốt liền mấy ngụm lớn. Vị gạo thô nhạt thếch pha chút củ cải muối mặn chát trôi xuống cổ họng khô khốc, đánh thức dạ dày đang cồn cào thắt lại vì kiệt sức.

Cả nhóm đã nhịn đói từ trưa hôm qua, cuộn tròn dưới lòng cống ngầm hôi thối ngập ngụa nước thải mỏ để chờ cơ hội phá buồng cân áp phụ. Thiếu niên tuần tra vừa được giải cứu hiện đang nằm mê man sau đống bao than cám ở góc chái, người đắp một tấm mền rách, hơi thở đã êm dần nhờ viên thuốc thanh phế của Trần Mộc, nhưng bóng đen từ lời cảnh báo của cậu ta vẫn còn đè nặng lên tâm trí từng người trong xưởng rèn hoang phế.

*Cụm Cửu Giá ăn sâu ba trượng vào mạch đá gốc... không thể phá bằng sức người thô sơ.*

Một bàn tay thô ráp đặt mạnh lên mặt đe sắt phát ra tiếng *keng* đanh gọn, phá tan sự im lặng ngột ngạt. Lê Vãn gạt phắt chiếc đĩa sành mẻ đựng muối khô sang bên, trải rộng tấm sơ đồ ngầm ba trạm khóa lên mặt thép lạnh ngắt. Tấm da trâu cũ vẽ bằng mực dầu thông bị vấy bẩn bởi những giọt toan khoáng màu vàng xỉn, mép da quăn queo vì ẩm nước mỏ, nhưng những đường nét kỹ thuật do Viện Công Tượng và Cục Địa Mạch ghi nhận từ ba mươi năm trước vẫn hiện rõ mồn một dưới ánh lửa than le lói.

Lê Vãn dùng đầu chiếc compa đo góc bằng đồng gõ nhịp dứt khoát xuống ba điểm nút trên bản vẽ: Cửa Chấn ở mạn đông bắc, Khảm Thủy ở rãnh thoát đáy, và Cửu Giá nằm ngay tâm điểm bên dưới bệ đá đài Huyền Khuyết.

"Các người nhìn kỹ đi," Lê Vãn nói, giọng khàn đặc vì khói bụi nhưng rành rẽ từng chữ như một bản tường trình kỹ thuật trước hội đồng thợ cả. "Đỗ Tuyên đã hạ toàn bộ cửa sập sắt phong tỏa tầng trung gian. Điều đó đồng nghĩa với việc chúng ta không thể thâm nhập theo các ngách cống bảo trì thông thường để tiếp cận từng buồng riêng lẻ nữa. Tám tải sống còn lại đã bị đưa vào lõi Cửu Giá. Muốn cứu họ, chúng ta chỉ có một con đường duy nhất: đánh úp đồng thời hoặc tuần tự chiếm lấy hai trạm khóa phụ ở Cửa Chấn và Khảm Thủy, sau đó ép vào trạm trung tâm để giật đứt nhánh nạp lực chính."

Chị ngước mắt nhìn Tống Hoài rồi nhìn sang Ninh Chiêu, ngón tay dính đầy muội than ấn mạnh vào đường ống dẫn chính màu đỏ nối từ đáy các thạch trụ lên vòm đài:

"Nhưng đây là cái giá phải trả trên giấy tờ lẫn ngoài thực địa: nhánh dẫn nạp này không chỉ bòn rút kiếm cốt của các đệ tử, mà nó chính là mạch truyền lực gia cố cho lõi thạch anh của màn chắn Huyền Khuyết. Nếu chúng ta cắm chốt sắt, bẻ gãy khớp van để giật đứt đường nạp, dòng linh áp nén ngược sẽ làm sụt giảm ngay lập tức ba phần mười cường độ bao phủ của màn chắn toàn trấn."

Không khí trong xưởng rèn chùng hẳn xuống. Chỉ còn tiếng than nổ lách tách trong bễ và tiếng rít đều đặn của ngọn gió đêm luồn qua khe liếp.

"Sụt ba phần mười..." Ninh Chiêu lặp lại, ánh mắt dán chặt vào những vòng tròn đồng tâm biểu thị ranh giới bảo hộ của trận pháp quanh Lò Khê.

"Đúng thế, ba phần mười," Lê Vãn nhấn mạnh, ánh mắt sắc sảo không hề né tránh sự tàn nhẫn của những con số. "Và cơn bão tro từ rãnh biển đông bắc đang tràn vào thung lũng sớm hơn dự kiến. Ba phần mười độ dày màn chắn bị bốc hơi sẽ biến các khu vực rìa ngoài chân núi thành vùng chết trong vòng hai khắc. Xóm Thợ, xóm Lò Vôi và toàn bộ khu dân cư phía đông sẽ hứng trọn mưa tro nóng nếu không có biện pháp phòng bị. Để giữ cho người dân không chết ngạt, các tải tạm mà nhóm Vũ Kha và đám thợ lò lắp đặt ở các hốc móng phụ buộc phải vận hành hết công suất. Nghĩa là từng khối than sạch, từng thanh thép gió dự phòng phải được đốt và nạp liên tục không ngừng nghỉ. Nếu tải tạm nổ tung như lần thử nghiệm ở Trụ số Bốn, toàn bộ trấn Lò Khê sẽ bị chôn sống dưới tro nóng."

"Tải tạm sẽ không nổ," một giọng nói trầm đục, đặc sệt âm sắc của thợ quai búa vang lên từ phía ngưỡng cửa.

Cánh cửa liếp bị đẩy bung ra, mang theo một luồng gió đêm lạnh buốt thấu xương lùa tro than bay mù mịt trong gầm chái. Vũ Kha bước vào, hai cánh tay trần lực lưỡng nổi cuồn cuộn những đường gân xanh bưng ba tấm thép dày cộm, mỗi tấm nặng không dưới bốn mươi cân. Anh bước những bước chân nặng nề nhưng vững chãi như bàn thạch, đặt mạnh chúng xuống sàn gỗ bên cạnh đe rèn; tiếng kim loại nặng nề chạm đất làm rung rinh cả chiếc đèn dầu hỏa mù mịt khói treo trên xà ngang.

Khuôn mặt Vũ Kha đen nhẻm vì bụi than Lạc Hạc, khóe mắt đỏ ngầu những tia máu do thức trắng hai đêm liền, nhưng đôi mắt anh sáng quắc như hai hòn than đượm. Anh đưa mu bàn tay thô kệch quệt ngang vệt muội than trên gò má, chỉ thẳng vào ba tấm thép nằm xếp lớp trên sàn:

"Thép tấm gió hợp kim vonfram-mangan của mỏ Lạc Hạc, tôi nước lạnh ba lần, khử sạch ứng suất dư trong lòng lò ủ ba canh giờ. Ninh Chiêu, cô bảo then trượt ở Cửa Chấn và Khảm Thủy đã bị Đỗ Tuyên thay bằng cụm then ren đôi bước ngược hai chấm tám ly đúng không? Thép thường cắm vào sẽ bị dòng linh áp xoắn gãy vụn ngay tại chỗ. Nhưng loại phôi này thì khác."

Ninh Chiêu bước tới, khom người dùng đầu ngón tay thô ráp miết dọc theo mép cắt của tấm thép. Kim loại lạnh buốt như băng đá ngàn năm, thớ thép mịn màng không một gợn bọt khí, ánh lên sắc xanh đen đặc trưng của thép hợp kim đã ngấu lửa và tôi luyện đúng độ.

"Muốn khóa chết cụm bánh răng trượt và cụm then ren đôi hai chấm tám ly trong lòng van ngầm, chúng ta không thể dùng thanh nêm thẳng," Ninh Chiêu nói, giọng cô lạnh tanh khi tâm trí lập tức chuyển đổi từ trạng thái lo âu sang tư duy cơ khí sắc bén của một người thợ luyện kim. "Phải dùng chốt chữ U đôi, nhưng hai đầu càng chữ U phải mài vát góc mười ba độ nghịch chiều nhau. Khi bánh răng trượt quay thuận để ép chấu kẹp vào cột sống tải sống, góc vát mười ba độ sẽ đón lấy chân răng đầu tiên, dùng chính lực quay cưỡng bức của cỗ máy để đóng chặt càng nêm vào khe trượt, làm kẹt chết cụm trục truyền động."

Vũ Kha nhìn cô, trong đôi mắt đỏ ngầu ánh lên sự khâm phục không hề che giấu của một đối thủ nghề nghiệp lâu năm cùng trưởng thành bên lò đúc. Anh gật đầu cái rụp, vỗ bôm bốp vào bắp tay mình:

"Chuẩn xác. Tao mang búa nặng, kìm mỏ quạ và dũa thép gió đến rồi. Từ giờ đến rạng sáng còn khoảng ba canh giờ. Hai đứa mình phải xong ba bộ chốt khóa chữ U. Một bộ cho Cửa Chấn, một bộ cho Khảm Thủy, và bộ thứ ba... dự phòng cho trạm Cửu Giá."

"Bắt đầu ngay đi," Ninh Chiêu dứt khoát.

Cô xắn tay áo bên phải lên quá cùi chỏ, kéo lại dây nẹp tre ở cánh tay trái cho chắc chắn để cố định vết bỏng do khí áp. Ngọn lửa bễ lò rèn được Vũ Kha kéo bễ thổi bùng lên, tiếng gió rít qua ống thổi hòa cùng tiếng than đá nổ lách tách. Ánh than đá đỏ rực rọi sáng cả góc tối xưởng hoang, liếm láp lên từng đường nét gồ ghề, góc cạnh trên gương mặt của hai người thợ Lò Khê.

Tiếng búa bắt đầu giáng xuống mặt đe.

*KENG! CHÁT! KENG!*

Âm thanh kim loại va đập nặng nề, đều đặn vang lên trong đêm thanh vắng, chấn động cả vách liếp mục nát. Ninh Chiêu dùng kìm kẹp mỏ quạ giữ chặt phôi thép đã nung đỏ rực bằng tay phải, dùng lực hông và bả vai ghim chặt khối thép vào rãnh đe, trong khi Vũ Kha vung chiếc búa tạ mười cân nện chuẩn xác từng nhát xuống mép gập. Từng mảnh vảy sắt nung đỏ bắn tung tóe như hoa lửa rơi rụng quanh chân họ, lách tách trên nền đất ẩm. Không có linh đan diệu dược, không có linh lực hộ thân của bậc tu sĩ thượng tầng, từng góc vát mười ba độ, từng rãnh khía chữ U được gọt giũa bằng sức cơ bắp thuần túy của phàm nhân. Mồ hôi tẩm ướt đẫm manh áo gai rách nát của hai người, bốc thành làn khói mờ ảo quanh bờ vai trần cuồn cuộn gân thịt.

Cứ sau mỗi đợt nện búa dồn dập, Ninh Chiêu lại dùng kìm gắp phôi thép nhúng ngập vào thùng nước tôi pha muối khoáng bên cạnh đe. Tiếng xèo xèo chói tai bốc lên kèm theo luồng hơi nước khét lẹt nồng nặc mùi lưu huỳnh và khoáng chất. Hơi nóng phả thẳng vào mặt khiến da gà nổi ốc, nhưng mắt cô không hề chớp. Cô dùng thước cặp bằng đồng kiểm tra từng phân số, tỉ mỉ dùng dũa thép gió gọt giũa từng mép cạnh sắc lẹm cho đến khi ba bộ chốt khóa chữ U hiện hình hoàn chỉnh trên mặt gỗ: đen sẫm, góc cạnh vuông vức, lì lợm và không một vết gợn nứt nào dưới ứng suất nén.

Đến khi Ninh Chiêu đặt chiếc dũa thép cuối cùng xuống mặt đe rèn, các khớp ngón tay cô đã cứng đờ vì mỏi, cẳng tay trái giật liên hồi từng cơn đau nhức nhối từ vết bỏng và vết rạn cơ.

Bên ngoài trời đã quá nửa đêm. Gió rít qua mái tôn hoang phế mỗi lúc một dữ dội hơn, mang theo những hạt tro bụi lạo xạo đập vào vách gỗ như mưa rào.

Một bóng người cao gầy, khoác chiếc áo tơi sờn rách đứng ở ngưỡng cửa sân sau xưởng từ lúc nào. Tống Hoài không nhìn những bộ chốt thép hoàn hảo nằm trên bàn. Anh nhìn vào đôi bàn tay đang run rẩy vì kiệt lực của Ninh Chiêu, rồi đưa mắt nhìn ra khoảng sân đất trống phía sau xưởng rèn—nơi bóng tối bao trùm và nền đất phủ một lớp sương muối xám xịt trộn lẫn tàn tro mỏ.

"Ninh Chiêu," Tống Hoài cất giọng trầm thấp, lạnh lùng như sương đêm cuối đông. "Rút kiếm ngắn ra."

Ninh Chiêu ngẩn người một thoáng, hơi thở dốc còn chưa kịp ổn định, nhưng nhìn vào ánh mắt nghiêm cẩn không chút khoan nhượng của người kiếm tu bị phế kiếm cốt, cô hiểu ngay điều anh muốn làm. Cô lấy mu bàn tay lau vệt mồ hôi đang chảy ròng ròng trên trán, với lấy thanh đoản kiếm sắt mài dở giắt bên hông bễ, bước theo bóng lưng gầy guộc của anh ra khoảng sân sau xưởng.

Gió lạnh quất thẳng vào mặt buốt rát như dao cạo. Đất dưới chân đông cứng lại dưới cái lạnh thấu xương, lạo xạo từng tiếng khô khốc khi mũi ủng da mòn vẹt giẫm lên.

Tống Hoài đứng cách cô đúng năm bước chân. Trong tay anh là thanh kiếm sắt gãy mũi, đốc kiếm quấn dây gai bẩn thỉu đã sờn rách nhiều chỗ. Dù lưng anh vẫn phải nẹp thanh thau đỏ đỡ các đốt sống rạn nứt bên trong lớp áo tơi, dù kiếm cốt ở đốt sống thứ tư của anh đã vỡ vụn từ sáu năm trước sau biến cố tru sát, nhưng khi anh hạ thấp trọng tâm, đứng chân trước chân sau theo thế bộ pháp cổ của môn phái Thanh Lư Tông, toàn thân anh vẫn tỏa ra một áp lực ngột ngạt đến nghẹt thở. Không gian quanh anh dường như chùng xuống, gió tro lướt qua thân kiếm gãy rít lên những tiếng vo ve như tiếng ong vò vẽ.

"Vào trong hầm ngầm, đối thủ của cô không phải là những tấm thép bất động hay những then trượt nằm im trên bản vẽ," Tống Hoài nói, giọng lạnh băng hòa vào tiếng gió rít u u. "Đỗ Tuyên có hai mươi thiết giáp vệ mang đao nặng, và Quan Tế Đỗ Kính là Kết Cốt viên mãn. Một đòn của ông ta đánh ra có thể nghiền nát xương tủy của người thường trong chớp mắt. Trong không gian hẹp của hành lang dẫn nạp, cô không thể vung búa, cũng không thể dùng sức trâu để đấu lực. Bài tập đêm nay: giữ khoảng lùi cho đồng đội. Nếu cô tiến một bước tham công, người đứng sau cô sẽ chết. Nếu cô lùi quá ba bước trong sợ hãi, cửa van sẽ sập và tất cả bị chôn vùi."

Dứt lời, mũi kiếm gãy trong tay Tống Hoài khẽ rung lên.

Không hề có một lời báo trước, thân hình gầy guộc của anh lướt tới như một bóng ma xám giữa màn đêm. Không có hào quang linh lực rực rỡ, không có kiếm khí kinh thiên động địa của bậc đại năng, nhưng đường kiếm đâm thẳng tới lồng ngực Ninh Chiêu mang theo một lực gió rít chói tai, chuẩn xác, lạnh lùng và tàn khốc đến rợn người. Đó là chiêu thức giết người được tôi luyện qua hàng ngàn trận chiến sinh tử, gạt bỏ mọi hoa mỹ thừa thãi của kiếm đạo chính tông.

Ninh Chiêu giật mình kinh hãi, theo phản xạ thói quen của người thợ quai búa, cô siết chặt chuôi kiếm bằng bàn tay phải, bả vai gồng cứng ngắc định dùng toàn bộ sức mạnh cơ bắp chém bạt mũi kiếm của anh sang một bên.

"Sai rồi!" Tiếng quát của Tống Hoài nổ ra bên tai như sét đánh.

Mũi kiếm gãy của anh chỉ hơi lắc nhẹ một góc cực nhỏ, trượt qua sống kiếm ngắn của Ninh Chiêu như một con lươn trơn tuột dưới bùn. Đốc kiếm bằng sắt bọc dây gai xoay tròn trong không trung, gõ mạnh vào khớp bả vai phải của cô đánh *cốp* một tiếng buốt óc. Cả cánh tay cô tê dại như bị búa tạ nện trúng, thanh kiếm ngắn tuột khỏi lòng bàn tay rơi cắm phập xuống nền đất. Đà quán tính thô bạo đẩy cô loạng choạng bước hụt về phía trước, suýt ngã sấp mặt vào đống tro tàn.

"Khóa cứng bả vai là cách chết nhanh nhất của một thợ rèn khi cầm kiếm!" Tống Hoài lùi lại nửa bước, mũi kiếm gãy lại chĩa thẳng vào hốc mắt cô, giọng nghiêm khắc đến cay nghiệt không chút nể nang. "Ta đã nói bao nhiêu lần rồi? Khớp vai là bản lề, không phải đe sắt! Đòn lực của đối phương không phải là phôi thép nung đỏ để cô dùng búa nện thẳng mặt! Thả lỏng khớp, dùng ba bước lùi điều hướng lực, dẫn mũi kiếm của hắn lệch khỏi thân mình đồng đội!"

Ninh Chiêu cắn chặt môi dưới đến rớm máu tươi, vị tanh mặn lan ra đầu lưỡi. Khớp vai phải buốt nhói, cẳng tay trái giật thắt từng cơn vì vết rách da cũ bị xé toạc ra thêm một đoạn. Nhưng ánh mắt cô không hề nao núng hay tức giận. Cô nhặt thanh đoản kiếm sắt lên, hít sâu một hơi dài buốt giá, để luồng không khí nồng mùi tro lạnh tràn ngập buồng phổi, làm dịu đi ngọn lửa bốc đồng đang cháy hừng hực trong tâm trí.

Cô lùi lại hai bước, hạ thấp trọng tâm hông. Chân phải làm trụ vững chắc trên nền sỏi, chân trái hơi co nhẹ, đầu mũi kiếm ngắn chúc xuống đất theo một góc nghiêng hoàn hảo, mô phỏng đúng tư thế mà Tống Hoài đã kiên nhẫn uốn nắn từng ly từng tí suốt những ngày ẩn nấp trong rừng sồi.

Luyện Thân không phải là làm cho da thịt trở nên thô cứng như đá tảng. Luyện Thân là thấu hiểu từng thớ cơ, từng nhịp thở, từng điểm chịu lực của khung xương, để xương khớp và dây gân vận hành trơn tru, dẻo dai như một cỗ máy cơ khí được bôi dầu mỡ hoàn hảo.

"Lại!" Ninh Chiêu gằn giọng qua kẽ răng.

Tống Hoài không hề khách khí hay nương tay. Thân hình anh lại nhòa đi trong bóng tối. Lưỡi kiếm sắt gãy vạch một đường vòng cung chết chóc xé toạc màn sương muối, chém xéo từ trên vai trái xuống nhằm thẳng vào khớp cổ của cô. Tốc độ và kình lực của đòn đánh này thậm chí còn nhanh hơn, hung hiểm hơn đòn trước ba phần!

Lần này, Ninh Chiêu không hề gồng vai. Khi luồng gió thép lạnh ngắt chỉ còn cách yết hầu nửa gang tay, nhịp thở của cô đột ngột chùng xuống đáy bụng, khớp gối hơi khuỵu, thân người xoay nghiêng mười bảy độ theo bộ pháp lùi hẹp. Bàn chân phải trượt nhẹ trên nền đất phủ tro tạo thành một đường rãnh nông, mũi kiếm ngắn giơ lên không phải để cản phá trực diện, mà như một thanh nêm dẫn hướng nghiêng góc mười ba độ.

Ý niệm trong đầu cô lúc này không phải là đánh bại người kiếm tu trước mặt, cũng không phải là giữ gìn mạng sống hèn mọn cho riêng mình.

Hình ảnh lưng áo đẫm máu của Bùi Sách, vết thương hở màng phổi rỉ máu của Hạ Từ, và khuôn mặt tím tái, co giật vì đau đớn của người thiếu niên nằm trên giá kẹp tủy hiện lên rõ mồn một trong tâm trí cô. Cô đang đứng ở cửa hầm ngầm hẹp tối. Phía sau lưng cô là những con người tàn tật, kiệt quệ đang kéo từng chiếc cáng thương binh trườn qua bùn lầy để thoát ra ngoài ánh sáng. Cô không được phép ngã! Cô không được phép để bất kỳ mũi kiếm nào vượt qua khoảng lùi ba bước định mệnh này!

*Giữ lấy đường lui!*

Ý niệm che chắn kiên định ấy cuộn trào từ đáy lòng, chạy dọc theo cột sống cong gập, truyền qua khớp bả vai đã được thả lỏng hoàn toàn, dồn thẳng vào từng đường gân đang căng như dây cung ở cẳng tay phải.

Đột nhiên, từ mũi thanh đoản kiếm sắt thô ráp mài dở, một luồng áp lực vô hình cực kỳ ngắn ngủi nhưng đanh thép, nặng trĩu bỗng chốc ngưng tụ lại thành hình.

*CHOANG!*

Một tiếng va chạm thanh mảnh nhưng chấn động tâm can vang lên giữa đêm đen lạnh buốt. Mũi kiếm gãy của Tống Hoài khi vừa chạm vào sống đoản kiếm của Ninh Chiêu bỗng bị một luồng kiếm ý cứng cỏi, kiên định như bức tường thành cơ học đẩy trệch sang một bên đúng ba tấc, chém phập vào khoảng không lộng gió bên sườn cô.

Ngay khoảnh khắc luồng kiếm ý bộc phát và nén chặt không gian, một cơn đau buốt nhói như hàng ngàn mũi kim nung đỏ đâm xuyên xé toạc các sợi gân ở cổ tay phải của Ninh Chiêu. Cảm giác như có một dòng dung nham nóng rực vừa tràn qua ống dẫn bị rạn nứt.

Nhớ lại lời cảnh báo sâu sắc của Tống Hoài suốt chuỗi ngày qua, Ninh Chiêu không hề tham đòn hay cố chấp giữ thế. Cô lập tức chủ động thở hắt ra một hơi dài, thu triệt để lực đạo, lùi vội một bước dài về phía sau để hóa giải phản chấn dữ dội trước khi xương cổ tay bị nứt nẻ dưới áp lực quá tải của dòng kình lực.

Thanh đoản kiếm rũ xuống bên hông, đầu mũi kiếm chấm nhẹ xuống nền đất. Ninh Chiêu đứng thở dốc giữa sân xưởng hoang tàn, lồng ngực phập phồng kịch liệt sau chiếc áo gai ướt đẫm mồ hôi lạnh. Cánh tay phải của cô buông thõng, run rẩy bần bật từng cơn vì dư chấn cơ học, nhưng trong đôi mắt đen láy bỗng rực sáng lên một thứ ánh sáng sắc lạnh, kiên định chưa từng có.

Khoảng sân sau rơi vào im lặng tuyệt đối. Chỉ còn tiếng gió gào thét qua các nhánh cây sồi khô khốc ven bờ suối đá.

Tống Hoài đứng sững lại giữa nền đất phủ tro. Anh cúi đầu nhìn mũi kiếm gãy của mình vừa bị một lực đạo kỳ lạ đánh vạt ra khoảng không, rồi từ từ ngẩng đầu nhìn người nữ thợ rèn trẻ tuổi trước mặt. Trong đôi mắt thâm sâu, đượm vẻ mệt mỏi và u uất của cựu Minh Kiếm Thanh Lư Tông thoáng hiện lên một tia kinh ngạc tột cùng, một sự chấn động sâu sắc trước khi nhanh chóng bị nén lại dưới vẻ mặt nghiêm nghị, lạnh lùng thường ngày.

Anh thu kiếm lại bên hông, bước chậm rãi từng bước đến trước mặt cô. Bàn tay thô ráp đầy vết sẹo của anh đưa ra, nắm chặt lấy cẳng tay phải của Ninh Chiêu. Những ngón tay của người từng trải qua nỗi đau phế cốt khẽ nắn bóp cẩn thận dọc theo các đường gân chạy từ khuỷu tay xuống cổ tay cô, cảm nhận nhịp giật cục bộ của các bó cơ vừa bị cưỡng bức tải lực vượt ngưỡng chịu đựng thông thường.

"Dẫn Ý sơ thành," Tống Hoài khẽ gật đầu, giọng nói trầm thấp nhưng mang sức nặng ngàn cân giữa đêm lạnh. "Cô đã đưa được ý niệm bảo vệ vào đường kiếm, dùng chính sự kiên định của bản thân để định hình kiếm ý tự vệ thay vì dựa vào linh khí ngoại giới. Ngay cả đệ tử nội môn Thanh Lư Tông được ngâm linh dược từ nhỏ, được trưởng lão điểm hóa linh căn, cũng hiếm kẻ nào chạm được vào ngưỡng cửa này chỉ bằng rèn luyện thể xác thuần túy."

Ninh Chiêu thở phào một hơi dài, khóe môi khẽ nhếch lên định nói một câu đùa để xua đi không khí căng thẳng, nhưng bàn tay Tống Hoài đột ngột siết chặt lấy cổ tay cô.

Cơn đau nhức nhối xộc thẳng lên tận đỉnh đầu làm cô rụt người lại, suýt nữa kêu thành tiếng.

Ánh mắt Tống Hoài trở nên sắc bén và lạnh lùng chưa từng thấy. Anh nhìn thẳng vào con ngươi của cô, gằn từng tiếng răn đe sắc như dao chém vào đá:

"Nhưng nghe cho rõ đây, Ninh Chiêu. Đây chỉ là một phản xạ tự vệ để cứu mạng cô và đồng đội trong không gian hẹp, tuyệt đối không phải là thứ để cô kiêu ngạo hay lạm dụng. Một tia kiếm ý ngắn ngủi không thể san bằng chênh lệch cảnh giới trước một Kết Cốt viên mãn như Đỗ Kính. Kiếm cốt của ông ta đã định hình ba mươi năm, linh lực thâm sâu như biển đá, chỉ cần một cái phẩy tay cũng đủ bẻ gãy đao kiếm thường. Còn thân thể cô vẫn là xương thịt người phàm của cảnh giới Luyện Thân."

Ngón tay anh ấn mạnh vào một huyệt đạo ở mặt trong cẳng tay cô, khiến toàn bộ cơ bắp cánh tay giật nảy lên, đau buốt thấu xương khiến Ninh Chiêu phải nghiến chặt răng chịu đựng:

"Dẫn Ý mà thân thể chưa đủ sức chịu tải, chẳng khác nào nạp hơi áp cao vào một ống đồng bị rỗ tổ ong. Ta cảnh cáo cô: nếu trong trận chiến sắp tới, cô cố tình kéo dài luồng kiếm ý này quá ba nhịp thở, toàn bộ gân cơ ở cẳng tay phải sẽ rách nát vĩnh viễn. Lúc đó, không chỉ kiếm không cầm nổi, mà ngay cả cây búa thợ rèn của cha cô... cô cũng đừng hòng nhấc lên được nữa."

Ninh Chiêu im lặng nhìn xuống cánh tay đang đau nhức và run rẩy của mình. Là một người thợ rèn từng thấy vô số thanh sắt bị tôi hỏng, cô hiểu quá rõ cái giá của kim loại khi bị uốn cong quá giới hạn đàn hồi: nó sẽ không biến dạng nữa, mà sẽ gãy giòn tan thành từng mảnh vụn. Thân thể con người bằng xương bằng thịt cũng không khác gì một thanh thép dưới búa đe.

"Tôi nhớ rồi," cô trầm giọng đáp, từng chữ chắc nịch. "Ba nhịp thở. Tôi sẽ không vượt quá giới hạn đó."

Tống Hoài buông tay ra, ánh mắt sắc lạnh dịu đi đôi chút nhưng vẫn không giấu được vẻ âu lo trĩu nặng nơi đáy mắt. Anh quay người, kéo lại vạt áo tơi sờn rách, bước chậm rãi trở vào trong căn chái xưởng: "Vào đi. Gió tro bắt đầu đổi hướng rồi."

Khi hai người bước qua cánh cửa liếp ọp ẹp, họ thấy Bùi Sách đang chống một chiếc nạng gỗ tự đẽo đứng bên cạnh chiếc cáng cứu thương đặt giữa gian xưởng.

Cậu thiếu niên hai mươi tuổi, người chạy trạm giỏi nhất và thông thạo địa hình nhất của ngoại viện, lúc này đang dùng một chiếc dùi sắt nhỏ tỉ mỉ kiểm tra từng chiếc đinh gỗ cố định khung cáng bọc ba lớp da trâu dày. Chân phải của cậu quấn băng trắng toát, không thể chạm đất, toàn bộ sức nặng dồn lên chiếc nạng gỗ kẹp chặt dưới nách trái, khiến vai cậu lệch hẳn sang một bên, chiếc áo rách sũng mồ hôi vì gắng gượng.

Thấy Ninh Chiêu và Tống Hoài bước vào, Bùi Sách ngẩng lên, ánh mắt đầy vẻ quyết tâm xen lẫn khẩn khoản đến nghẹn lòng:

"Tống sư thúc, Ninh Chiêu tỷ, Hạ Từ tỷ... Đừng gạt ta ở lại trạm y xá rừng sồi."

Hạ Từ nhíu mày, bờ môi tái nhợt hơi mím lại định mở miệng trách mắng cậu đệ tử liều mạng, nhưng Bùi Sách đã nhanh chóng nói tiếp, giọng run run vì xúc động nhưng dứt khoát không chút do dự:

"Ta biết cái chân này của ta không thể theo các người đột nhập sâu vào buồng Cửu Giá. Ta không điên mà làm vướng chân mọi người trong trận đánh sống còn. Nhưng cửa cống số Bảy... trạm cứu thương tiếp nhận ở cửa cống thoát tro số Bảy nhất định phải có người chốt giữ! Các người nghĩ xem, khi các người giật đứt nhánh nạp, cửa hầm ngầm sẽ sập lở, khói tro toan tính sẽ tràn ngập các ngách cống. Đám phu dịch và thương binh được cõng ra sẽ hoảng loạn, không biết ngả nào mà bò trong bóng tối mịt mùng. Lưu Bình chưa thông thuộc địa hình cống ngầm ba mươi năm trước, đệ ấy không biết van xả lũ nào mở, van nào đóng!"

Cậu giơ chiếc búa nhỏ gõ cùm cụp vào khung cáng gỗ sồi bọc da:

"Chiếc cáng này do chính tay ta đóng, đinh gỗ chốt chặt ba tầng, có thể trượt trên rãnh bùn khoáng như xe trượt tuyết. Ta sẽ ngồi chết gí ở cửa cống số Bảy. Dù có phải bò bằng hai tay, ta cũng sẽ kéo từng người ra khỏi miệng cống để đưa về trạm của bác sĩ Trần Mộc! Đừng... xin đừng tước đi vị trí giữ cửa của ta..."

Một khoảng lặng trĩu nặng bao trùm căn phòng xưởng rèn hoang phế.

Lê Vãn dừng tay ghi chép những thông số kỹ thuật trên bản đồ da trâu, ngẩng lên nhìn người thiếu niên ngoại viện với ánh mắt phức tạp. Vũ Kha đang thu dọn đống xỉ thép quanh chân đe cũng phải dừng tay lại, ánh mắt trầm ngâm nhìn chiếc chân băng bó của cậu thiếu niên. Họ đều hiểu quá rõ: cửa cống số Bảy là nơi nguy hiểm tột cùng trong toàn bộ sơ đồ tháo lui—đó là nơi tro nóng, hơi độc và áp lực trào ngược sẽ xả ra đầu tiên khi hệ thống nạp lực bị ngắt mạch đột ngột. Đứng ở đó chẳng khác nào tự biến mình thành tấm bia đỡ đạn cho toàn bộ chất thải độc hại của trận pháp ngầm phun ra từ lòng núi.

Ninh Chiêu bước tới trước mặt Bùi Sách. Cô không nhìn vào chiếc chân quấn băng dính máu của cậu, mà nhìn thẳng vào đôi mắt kiên định, chân thành của một người đồng môn chưa từng biết lùi bước trước hiểm nguy.

Cô đưa bàn tay thô ráp đầy vết chai sạn vỗ nhẹ lên bả vai Bùi Sách, gật đầu thật chậm:

"Được. Cửa cống số Bảy giao cho cậu. Tám người trong Cửu Giá... chúng tôi sẽ đưa họ về đến đúng chiếc cáng của cậu. Một người cũng không bỏ lại."

Bùi Sách hít một hơi thật sâu, khóe mắt hoe đỏ ngấn nước, cậu gật đầu thật mạnh: "Nhất định!"

Đúng lúc đó, từ bên ngoài vách núi sừng sững, một luồng âm thanh rợn người bắt đầu trỗi dậy từ cõi u minh.

Gió rít từng cơn dữ dội, không còn là tiếng gió rít thông thường của rừng núi mùa đông, mà là tiếng gầm rú the thé của hàng triệu hạt bụi khoáng chất cọ xát vào vách đá hoa cương dựng đứng. Trời bên ngoài khe liếp bắt đầu chuyển từ màu đen đặc của đêm tàn sang một sắc xám chì u ám, đục ngầu và lạnh buốt thấu xương. Mùi lưu huỳnh nồng nặc đến nghẹt thở theo khe cửa hở tràn vào phòng, phủ một lớp bụi mịn màu xám nhạt lên mặt bàn gỗ thô, lên những chiếc bát cháo ăn dở và lên những lưỡi thép vừa tôi nguội trên đe rèn.

Cơn bão tro khổng lồ từ rãnh biển đông bắc đã vượt qua đỉnh đèo Gió, chính thức đổ ập xuống thung lũng Lò Khê sớm hơn dự tính cả nửa ngày đường.

Tống Hoài siết chặt chuôi thanh kiếm sắt gãy sau lưng, ánh mắt lạnh lùng nhìn về phía vách núi mờ mịt. Hạ Từ đưa tay chỉnh lại đai da trâu quanh lồng ngực đang rạn nứt, cầm lấy thanh trường kiếm dự phòng dựng bên mép đe. Vũ Kha cẩn thận trao ba bộ chốt khóa chữ U vào tay Ninh Chiêu; những khối thép hợp kim lạnh ngắt và nặng trĩu trong bọc vải gai thô ráp đè nặng lên các khớp ngón tay cô.

Bên ngoài, từ đỉnh núi mờ sương nơi đài Huyền Khuyết sừng sững tọa lạc giữa tầng mây xám xịt, một âm thanh chói gắt, xé toạc không gian bỗng rền vang khắp các sườn đồi thung lũng.

Tiếng còi đồng rúc lên từng hồi dài từ đỉnh núi mờ sương: gió tro bắt đầu chuyển hướng thổi thốc vào thung lũng Lò Khê.

Chương này thế nào?Đánh giá giúp Readeep đề xuất đúng hơn cho bạn