Kiếm Cốt Dưới Tro — Phần 1: Cửa Trời Không Có TiênC.30 / 40
Chương 30

Nghi lễ bắt đầu trước nghi lễ

Tiếng rít trầm đục của luồng khí nén áp lực cao rền rĩ dội qua những kẽ nứt ziczac dưới chân đài Huyền Khuyết, tựa như một tiếng thở dài căm phẫn bị bóp nghẹt dưới tầng tầng lớp lớp nham thạch cổ xưa. Âm thanh ấy không sắc nhọn mà nặng trịch, rung rền trong lồng ngực, báo hiệu những cỗ guồng quay cơ học khổng lồ ẩn sâu dưới đáy vực sâu thăm thẳm đã bắt đầu cắn khớp, rục rịch chuyển động trong một sự im lặng đáng sợ và đầy toan tính.

Cách mặt đất cả trăm trượng, trên sân tiếp dẫn lộ thiên cao ngất ngưởng của đài Huyền Khuyết, gió núi mùa này vẫn thổi lồng lộng, cuộn theo những đám mây xám xịt từ phía hẻm đá tạt qua những hàng cờ phướn ngũ sắc thêu chỉ vàng lấp lánh. Từng dải lụa đỏ rực được giăng mắc trang nghiêm, tỉ mỉ dọc theo các bao lơn bằng đá hoa cương trắng muốt, rủ bóng mềm mại xuống những cỗ kiệu nghi trượng sơn son thếp vàng đứng xếp hàng tề chỉnh theo đúng nghi thức tế lễ cổ truyền của Thanh Lư Tông. Hương trầm loại thượng hạng đốt trong chín chiếc đỉnh đồng ba chân cao quá đầu người tỏa ra làn khói thơm ngát, dịu ngọt đến nồng nặc, lượn lờ bao phủ khắp mặt sân đá, quyện chặt lấy tiếng chuông khánh bằng ngọc thạch thong thả điểm từng nhịp rền rĩ, thánh thót.

Đó là một sự bình yên giả tạo đến hoàn hảo.

Hàng chục thị vệ khoác cẩm bào bóng loáng, đai lưng nẹp bạc sáng choang, hai tay bưng những mâm hoa quả tươi mọng và các khay gỗ đàn hương đựng pháp khí rỗng đứng gác trang nghiêm dọc theo từng bậc thềm đá. Bọn họ tạo nên một bức tranh thanh bình, uy nghi và rực rỡ trước con mắt ngóng vọng của hàng ngàn cư dân xóm Thợ cùng đệ tử ngoại viện đang nín thở, chen chúc nhau ngước nhìn từ bờ vực đối diện. Bọn họ—những con người lam lũ quanh năm chỉ biết đến tiếng búa đập và bụi than đá—vẫn đinh ninh rằng đại lễ Bổ Khuyết phải ba ngày nữa mới chính thức khai trận theo đúng thông cáo giấy vàng mực đỏ dán ngoài cổng sảnh sự vụ. Không một ai trong số họ hay biết rằng, ngay dưới những phiến đá lát sân bóng loáng không một hạt bụi ấy, trong bóng tối đặc quánh của địa đạo ngầm rỉ nước toan nồng nặc, một trật tự tàn bạo hoàn toàn khác đang vận hành không một tiếng động.

Dưới tầng hầm ngầm của đài, Quan Tế Đỗ Kính khoác chiếc áo choàng dài may bằng da hoẵng màu sẫm đã qua xử lý chống toan khoáng, vạt áo vén cao giắt chặt vào đai lưng bản lớn bên hông. Ngón trỏ tay phải của ông ta đeo chiếc nhẫn bạc khảm hoa văn cân áp tinh xảo, mặt nhẫn lúc này đang lập lòe từng vệt sáng lam lạnh lẽo theo từng nhịp dao động của áp suất khí nén trong vách đá. Đôi mắt Đỗ Kính sắt lại như thép nguội tôi trong dầu cặn, lạnh lùng dõi theo từng cỗ cáng sắt có bánh xe bọc nỉ dày đang lục cục lăn trên đường ray trượt ngầm.

Chín chiếc lồng sắt hẹp dài—kích thước được tính toán vừa khít với vóc dáng của một người trưởng thành—được bọc kín bằng ba lớp bao tải gai dày tẩm dầu trẩu chống thoát linh khí. Bên trong mỗi chiếc lồng, những thân hình co quắp bị xích chặt cổ chân và cổ tay bằng những đai sắt có lót nỉ để tránh gây chấn thương ngoài da làm rò rỉ huyết mạch trước giờ tế lễ. Miệng của họ bị chẹn chặt bằng những chiếc nút gỗ hồ đào tiện tròn, khoét rãnh thông khí tối thiểu vừa đủ để không ngạt thở, nhưng hoàn toàn triệt tiêu mọi âm thanh rên xiết hay cầu cứu.

Chín tải sống. Chín mầm sống bằng xương bằng thịt được thu gom cẩn thận từ những góc khuất tăm tối nhất của phân viện và xóm Thợ.

Đỗ Kính đứng sừng sững bên bệ đá, nét mặt không để lộ lấy một tia dao động nhỏ nhất. Đôi bàn tay gầy gò với các khớp ngón thô ráp vì nhiều năm tiếp xúc với kim khí siết chặt chiếc gậy điều phối bằng hợp kim thiếc đỏ. Ông ta giơ gậy lên, gõ nhẹ hai tiếng *đanh gọn* xuống mặt sàn đá vôi ướt sũng bùn khoáng:

“Đẩy thẳng vào nhánh dẫn ngầm số Bảy. Đóng chốt khoang xả khí, nén áp suất lên một ngàn hai trăm cân ngay khi kiệu vào đúng vị trí ngàm giữ. Ai chậm trễ một nhịp, tự bước vào chiếc lồng tiếp theo để thay thế.”

Mười hai tên thiết giáp vệ thuộc phủ Quan Tế không hé răng nửa lời. Chiếc mặt nạ sắt đúc kín mít chỉ chừa hai khe hẹp nơi hốc mắt che giấu hoàn toàn mọi biểu cảm con người. Bọn chúng cắm đầu, dùng sức nặng của cơ thể tì vào tay đẩy, đẩy chín cỗ cáng sắt lao nhanh vào bóng tối hun hút của đường cống ngầm. Nơi đó, mùi lưu huỳnh nồng nặc xộc lên mũi quyện chặt với hơi lạnh thấu xương của dòng địa dịch đang cuộn trào sùng sục dưới đáy vực sâu.

Đỗ Kính ngước mắt nhìn lên trần vòm đá hoa cương dày cộp phía trên—nơi tiếng chuông khánh thanh tao, thoát tục từ sân nghi trượng rỗng bên trên vẫn dội xuống từng hồi mỏng manh như một sự mỉa mai cay đắng. Khóe môi ông ta khẽ nhếch lên, lẩm bẩm qua kẽ răng:

“Bình an của mười vạn người nơi Thanh Lư Tông này... tuyệt đối không thể để lũ thợ lò hạ đẳng phá hỏng.”

***

Cách đài Huyền Khuyết ba dặm về hướng tây nam, trong gian kho than đá bỏ hoang nằm nép mình ven bờ con suối sỏi cạn, không khí căng thẳng đến mức tưởng chừng chỉ cần một tia lửa nhỏ cũng đủ làm bùng nổ toàn bộ không gian ngột ngạt.

*Cắc!*

Mũi que đo chấn động bằng đồng thau dài ba thước găm ngập sâu vào nền đất nén lẫn đầy bụi than đá ẩm ướt. Lê Vãn quỳ sụp một bên gối trên nền đất lạnh, hai bàn tay rách da rướm máu vì mảnh thép văng từ vụ nổ lò thử nghiệm ban chiều đang ghì chặt lấy thân ống thủy tinh định vị áp suất. Mái tóc dài lòa xòa bết dính mồ hôi và tro đen tạt ngang trán, nhưng đôi mắt chị mở to trừng trừng, không rời khỏi cột chất lỏng màu hổ phách bên trong ống đo đang sụt xuống từng vạch chia độ với một tốc độ dị thường.

“Thế nào rồi?”

Ninh Chiêu bước nhanh tới, chiếc búa con đeo bên hông va vào bao da đựng chốt ngắt nhánh bằng thép gió phát ra tiếng *lách cách* khô khốc. Cẳng tay trái của cô dù vẫn còn nhức buốt dữ dội vì di chứng co rút gân cơ sau vụ cháy kho Nam Trụ, nhưng năm ngón tay phải chai sạn, xù xì đã nắm chặt lấy cán đoản kiếm sắt mài dở mà Tống Hoài vừa trao cho ban nãy. Thanh kiếm không có bao, lưỡi thép thô ráp lộ rõ những vết búa gõ đè lên nhau, tỏa ra hơi lạnh xám xịt.

Lê Vãn không ngẩng đầu lên, ngón tay run rẩy gõ mạnh vào thành ống đồng để xua đi bọt khí nghẽn:

“Áp lực địa mạch... đang tụt dốc thẳng đứng! Nhìn xem, van cân bằng đáy vực vừa bị kéo giật bằng cơ học. Linh áp ở các mạch chính của sườn nam vừa rơi thẳng từ chín trăm cân xuống dưới bốn trăm cân chỉ trong chưa đầy nửa khắc!”

Tống Hoài khập khiễng bước ra từ góc tối của gian kho than. Chiếc nẹp lưng bằng thau đỏ quấn quanh thắt lưng ông kêu lên răng rắc theo từng cử động vụng về của các đốt sống bị phế bỏ nhiều năm trước. Đôi mắt người thợ cả già nua hằn lên những tia máu đỏ:

“Đỗ Kính không chờ đến đêm trăng tròn. Lão ta đang dùng áp lực cơ khí để ép dòng linh lực chạy sớm hơn chu kỳ tự nhiên.”

“Không chỉ đơn thuần là chạy sớm,” Lê Vãn ngước mặt lên, bờ môi tái mét cắn chặt vào nhau đến mức rớm máu tươi, giọng run bần bật vì phẫn nộ xen lẫn kinh sợ. “Dòng địa mạch tự nhiên vốn tuần hoàn êm ả theo nhịp thở mười hai canh giờ của đất đá. Nhưng các que đo chấn động cho thấy linh lực đang bị cưỡng bức hút ngược về các trụ chắn với tốc độ gấp ba lần chu kỳ thông thường. Lực hút tàn bạo và đột ngột này... chỉ có thể sinh ra khi buồng Cửu Giá đã bắt đầu hạ chốt, khóa đai các tải sống!”

Cả gian kho than chìm nghỉm vào một sự tĩnh lặng chết chóc. Gió đêm luồn qua những khe vách gỗ mục nát rít lên từng hồi ghê rợn, mang theo mùi tro tanh nồng đặc trưng bốc lên từ biển tro hoang phế phía đông bắc. Lời báo động của Lê Vãn giống như một gáo nước lạnh buốt dập tắt tia hy vọng mong manh cuối cùng của mọi người về việc Đỗ Kính sẽ tuân theo lịch trình hành chính đã niêm yết.

Hạ Từ đứng tựa lưng vào một chiếc cột gỗ nghiêng ngả, tay phải cầm chặt cuộn băng ép bằng vải gai, hai dải xương sườn rạn nứt dưới lồng ngực khiến từng hơi thở của cô trở nên nông, ngắn và giật cục vì đau đớn. Cô hướng ánh mắt trầm tĩnh nhưng u tối sang Ninh Chiêu, giọng khàn đặc:

“Ba đệ tử chạy trạm cùng phòng với Bùi Sách nằm trong số chín người đó. Lâm Hựu, Trần Khôi, Triệu Mẫn... Bọn họ bị người của sảnh vụ lừa ký vào khế ước nợ than đá từ tháng trước, giờ này chắc chắn đang nằm dưới đáy cống ngầm. Nếu chúng ta không xác minh được chốt khóa của trạm Bảy trước giờ tổng lực đột nhập, toán người của anh Tống luồn vào chỉ có con đường chết.”

Ninh Chiêu siết chặt quai bao da trên vai, nơi đựng sáu chiếc chốt cắt rèn nguội mài khuyết đúng mười bảy độ—thứ vũ khí duy nhất mà nhóm thợ lò kỳ vọng có thể bẻ gãy hệ thống van ngắt của Đỗ Kính. Cô quay đầu, ánh mắt dừng lại ở Bùi Sách. Cậu thiếu niên hai mươi tuổi lúc này đang cẩn thận kiểm tra lại từng cuộn vải gai và các thanh nẹp gỗ nhét trong chiếc túi cứu thương thô sơ bên hông. Khuôn mặt Bùi Sách lấm lem những vệt than đen nham nhở, nhưng đôi mắt sáng quắc lạ thường, không còn sót lại chút rụt rè, sợ sệt của một kẻ chạy việc vặt thường ngày vẫn bị đám đệ tử nội môn khinh rẻ.

“Bùi Sách, đệ là người thuộc mạng lưới đường cống ngầm này nhất,” Ninh Chiêu nói, giọng cô giữ ở mức thật thấp, bình thản nhưng nặng trĩu sức ép ngàn cân. “Chúng ta cần một mũi trinh sát nhỏ, gọn gàng và tuyệt đối im lặng. Phải tiếp cận cửa hầm số Bảy, xác minh vị trí các chốt khóa cơ học và hướng đi của đường ống áp lực cao trước khi toán thợ của anh Tống và phân viện Công Tượng áp sát. Chỉ nhìn, ghi nhớ, vẽ lại sơ đồ, tuyệt đối không đánh lớn. Rõ chưa?”

“Chị Ninh Chiêu cứ yên tâm,” Bùi Sách vỗ nhẹ bàn tay gầy gò vào chiếc cáng cứu thương bằng gỗ sồi bọc ba lớp da trâu dày đang xếp gọn sau lưng. “Đường cống thoát nước làm mát từ cổng Chấn Thủy đổ ngược về hầm số Bảy, em bò qua không dưới năm mươi lần mỗi khi lén chuyển thuốc trợ phổi cho đám phu đào đá ở y xá. Nhắm mắt lại em cũng có thể lần ra từng ngã rẽ, từng mấu đá trơn.”

Hai đệ tử ngoại viện khỏe mạnh khác—Lưu Bình và Trương Cửu—đồng loạt bước lên phía trước một bước. Trên tay họ là chiếc xà beng ngắn bằng sắt đặc và con dao chặt than bản dày. Bọn họ là những người đã nếm trải đủ đòn roi, sống sót qua bao mùa phu dịch tàn khốc, quá hiểu rõ cái giá đắng cay của việc để người thân, đồng môn của mình bị nghiền nát thành tro bụi dưới đáy đài nghi trượng.

Tống Hoài nhìn bốn người bọn họ, ánh mắt sắc sảo dừng lại thật lâu trên bàn tay trái hơi co quắp của Ninh Chiêu:

“Đỗ Tuyên—thằng cháu họ của Đỗ Kính—là một kẻ cực kỳ xảo quyệt. Hắn quản lý đội vận tải ngầm của Nam Trụ ròng rã mười năm trời, bất kỳ cơ cấu then chốt nào qua tay hắn cũng đều bị chêm thêm các lẫy bẫy cơ học ngầm. Khi các người tiếp cận cửa van trung tâm, nếu thấy bất kỳ dấu hiệu lạ nào trên rãnh then trượt, lập tức rút lui ngay theo hướng vách xả tràn. Đừng để lòng trắc ẩn hay sự nóng vội làm mờ mắt. Nhớ lấy, giữ được mạng sống mới có thể lật đài.”

Ninh Chiêu gật đầu dứt khoát:

“Đi thôi.”

***

Bốn cái bóng đen thoăn thoắt lách qua cánh cửa hầm than đá hoang phế, men theo triền suối sỏi cạn cằn cỗi rồi chui tọt vào miệng cống ngầm bằng đá hộc dẫn nước thải làm mát của phân viện Công Trình.

Không khí bên trong đường cống ẩm ướt đến mức dường như có thể vắt ra nước, đặc quánh mùi rêu mốc lâu năm, mùi mỡ bò bôi trơn máy móc khét lẹt và mùi axít khoáng cay nồng xộc thẳng vào cuống họng làm bỏng rát từng cơn ho hắng. Dòng nước thải ngập ngang bắp chân, đen ngòm và lạnh buốt như băng tan đầu mùa, chảy xiết qua những gờ đá vôi trơn tuột phủ đầy nhớt nhờn.

Ninh Chiêu đi tiên phong. Cô hạ thấp trọng tâm thân mình theo đúng bộ pháp hạ bàn vững chãi mà Tống Hoài đã dày công uốn nắn cho cô suốt những đêm mưa gió bên lò rèn. Từng bước chân cô đặt xuống lớp bùn lầy đáy cống đều vô cùng chuẩn xác, lực dồn trọn vẹn vào khớp hông và các múi cơ đùi thay vì tì đè lên khớp gối, giữ cho toàn bộ phần thân trên lướt đi êm ru, mặt nước xung quanh chỉ gợn lên những vòng sóng nhỏ lăn tăn mà không phát ra một tiếng bì bõm nào.

Bùi Sách bám sát ngay phía sau gót chân cô. Hai tay cậu thiếu niên ôm chặt lấy cuộn giấy dầu dày và thỏi than chì dùng để dập mẫu cơ khí được bọc cẩn thận trong một mảnh da cừu chống nước. Lưu Bình và Trương Cửu cảnh giác bọc lót phía sau cùng, mũi xà beng và lưỡi dao chặt than luôn hướng về khoảng tối hun hút phía sau lưng, bước chân dạt sang hai bên vách cống để giữ thăng bằng.

Càng tiến sâu về hướng cửa hầm số Bảy, vách cống bằng đá hộc càng hẹp dần lại, nhường chỗ cho những phiến đá vôi tự nhiên bị đục khoét nham nhở. Những đường ống dẫn áp lực cao bằng đồng đỏ bọc chì dày cộp chạy dọc theo vòm trần đá bắt đầu rung lên bần bật, truyền ra những chấn động cơ học râm ran. Tiếng rít đinh tai nhức óc từ sâu trong lòng núi dội qua lớp đá vôi dày hàng chục trượng, tựa như tiếng gầm gừ nghẹn ứ, đói khát của một con quái thú bằng sắt khổng lồ đang bị xích chặt dưới tầng địa ngục.

Cứ sau mỗi mười nhịp thở, Ninh Chiêu lại cảm nhận rõ rệt một đợt xung lực linh áp vô hình quét qua tủy xương. Đó là một cảm giác buốt lạnh thấu tim, tê dại chạy dọc sống lưng từ thắt lưng lên đến tận đỉnh đầu, báo hiệu các nhánh ống hút nạp của buồng Cửu Giá đang cắn sâu vào những mạch linh lực ngầm, cưỡng bức rút cạn sinh khí của đất đá để nạp vào hệ thống đài tiếp dẫn bên trên.

Sau gần một canh giờ trườn bò qua những ngách đá ngập ngụa bùn toan và xỉ than trôi nổi, ánh sáng vàng đục, chập chờn của những ngọn đèn dầu khoáng treo lơ lửng trên vách hang bắt đầu hiện ra phía cuối đường ống.

Bọn họ đã tiếp cận được khoảng rỗng nằm ngay phía trên cửa van trung tâm của nhánh hầm số Bảy.

Đây thực chất là một vòm hang đá vôi tự nhiên cực lớn được công tượng của Thanh Lư Tông cải tạo thành trạm van phân luồng áp lực. Nơi đây là điểm giao nhau trọng yếu của ba đường ống xả cặn tro và hệ thống buồng nén khí áp lực cao dẫn thẳng một mạch lên đài Huyền Khuyết.

Ninh Chiêu giơ nắm tay phải lên, ra hiệu cho toàn đội dừng bước. Bốn người lập tức ép chặt thân mình vào khe nứt sâu của một vách đá rủ xuống, nín thở quan sát qua gờ đá vôi lởm chởm.

Bên dưới đáy hang, cánh cửa van trung tâm bằng gang đúc nguyên khối dày hàng tấc, nặng hàng ngàn cân đang sừng sững chắn ngang lối vào buồng ngầm số Bảy. Nhưng ngay khoảnh khắc ánh mắt Ninh Chiêu chạm vào cụm cơ cấu điều khiển then chốt gắn bên mép cửa gang, lồng ngực cô bỗng thắt nghẽn lại như bị một nhát búa tạ giáng thẳng vào chấn thủy.

“Chị Ninh... nhìn kìa...” Bùi Sách ghé sát tai cô, hơi thở của cậu thiếu niên run rẩy một cách mất kiểm soát.

Toàn bộ hệ thống mã chốt trượt cơ học kiểu cũ—loại then trượt ren đơn bước 2.5 ly theo đúng thiết kế bảo hộ của mười năm trước mà Viện Công Tượng vẫn lưu giữ bản vẽ—đã bị tháo dỡ hoàn toàn không còn một dấu vết.

Thay vào vị trí đó, gắn chặt vào khung cửa gang bằng sáu chiếc bu-lông cỡ lớn là một cụm then ren đôi bằng thép gió mạ kẽm sáng loáng. Các rãnh ren xoắn ngược chiều nhau đan cài chằng chịt, tạo thành một ma trận kim khí cực kỳ phức tạp, được khóa chặt bằng bốn ổ hãm đối trọng hình nêm bất đối xứng.

Là thủ bút của Đỗ Tuyên. Không ai khác ngoài hắn.

Tên quản lý độc ác này đã lợi dụng lệnh thiết quân luật ba ngày qua để âm thầm huy động thợ nguội thân tín thay mới toàn bộ mã khóa cơ học của trạm số Bảy. Những chiếc chốt cắt rèn nguội mài khuyết đúng mười bảy độ mà Ninh Chiêu đang mang theo trong bao da hoàn toàn vô dụng—chúng không thể nào đút vừa vào khe rãnh xoắn đôi kỳ quái và hẹp hơn rất nhiều này. Nếu cố tình đóng chốt vào, chốt sẽ bị nghiền nát ngay lập tức dưới áp lực phản hồi của lò xo nén.

Muốn bẻ gãy cơ cấu xả áp này để mở đường cho quân chi viện, bắt buộc phải có được bản vẽ thông số chính xác về bước ren, độ sâu rãnh xoắn và góc nghiêng của bốn chốt nêm đối trọng, mang về để Vũ Kha gia công lại toàn bộ chốt cắt mới ngay trong đêm nay.

“Trương Cửu, đưa cuộn giấy dầu đây mau!” Bùi Sách thì thào thật khẽ, bàn tay cậu run lên nhưng động tác rút thỏi than chì từ trong túi áo ra lại cực kỳ mau lẹ.

Cậu thiếu niên nằm rạp người xuống, nhoài nửa thân trên qua mép gờ đá vôi, trải phẳng tấm giấy dầu lên mặt một phiến đá tương đối bằng phẳng. Ánh mắt Bùi Sách nheo lại, bắt đầu thoăn thoắt vạch từng nét vẽ thô ráp nhưng tỉ mỉ đến từng chi tiết, ghi lại cấu trúc đan xen của cụm then ren đôi và vị trí tương quan của bốn chiếc chốt nêm hình nêm.

Đúng lúc đầu thỏi than chì vừa miết xong đường cong phức tạp của rãnh xoắn thứ hai—

*CẠCH!*

Một âm thanh kim loại va đập khô khốc, đanh gọn vang lên từ hốc đá phía trên đỉnh đầu bọn họ.

Trực giác nhạy bén của một người thợ rèn quanh năm sống trong lò lửa, lắng nghe từng tiếng rạn nứt nhỏ nhất của thanh thép nguội đã khiến toàn bộ lông tơ trên gáy Ninh Chiêu dựng đứng. Cô không kịp suy nghĩ, cũng không kịp lên tiếng cảnh báo, cánh tay phải vung mạnh ra sau gạt phắt Bùi Sách ngã ngửa vào lòng ngách đá sâu:

“Nằm rạp xuống!”

*VÚT! VÚT! VÚT!*

Hàng chục tiếng xé gió rợn người rền vang khắp vòm hang đá. Từ những lỗ châu mai ngụy trang tinh vi bằng rêu phong khoét sâu vào vách hang phía đối diện, những mũi tên sắt đen tuyền xối xả bắn ra như một cơn mưa rào chết chóc.

Một cái bẫy phục kích đã được Đỗ Tuyên giăng sẵn từ trước, chờ đợi bất kỳ kẻ nào dám mon men đến gần cánh cửa van số Bảy.

Trương Cửu—người đệ tử ngoại viện đang quỳ gối giữ mép cuộn giấy dầu—thậm chí không kịp hét lên một tiếng cảnh báo. Một mũi tên sắt hạng nặng xé toạc bả vai trái của cậu ta, lực xuyên phá cực mạnh đẩy tung thân hình vạm vỡ lùi giật ngược lại ba bước, găm chặt cậu ta vào vách đá phía sau. Máu tươi bắn tung tóe thành từng vệt đỏ thẫm lên mặt giấy da cừu và nền đá vôi xám xịt.

“Có chuột lọt vào cống! Đóng chốt cửa xả tràn, xả tên bọc sắt giết sạch không tha một mạng!” Tiếng quát the thé, the thé đầy vẻ tàn nhẫn và hằn học của Đỗ Tuyên vang vọng ra từ một lỗ châu mai đục trên tầng đá cao nhất.

Toán chấp pháp ngầm mai phục trong các ngách đá đồng loạt lên dây cung cơ học. Tiếng lẫy sắt va đập *ken két* chói tai vang dội khắp vòm hang. Những mũi tên sắt hạng nặng—loại mũi tên chuyên dụng có ngạnh ba cạnh dùng để xuyên thủng giáp hộ thân hạng nặng và phá vỡ cương khí phòng ngự của kiếm tu—lao vun vút trong không gian hẹp. Chúng đập vào mặt đá hoa cương tóe lên từng chùm hoa cải lửa rực rỡ, băm nát toàn bộ lối rút lui duy nhất dẫn về nhánh cống thoát nước làm mát.

Bốn người bị dồn chặt vào góc chết của một khe nứt đá hẹp dài chưa đầy nửa trượng. Đá vụn, mạt sắt và mảnh tên vỡ văng ràn rạt vào mặt, vào cổ rát bỏng. Lưu Bình một tay cầm chắc lưỡi xà beng, một tay đang ôm chặt lấy Trương Cửu. Người đồng môn của anh đang thở dốc từng cơn đứt quãng, máu đỏ thẫm từ vết thương thấu vai rỉ qua kẽ tay Lưu Bình, ướt đẫm cả lớp bùn than dưới chân.

“Cửa cống thoát nước phía dưới đang hạ then tự động!” Lưu Bình gào lên trong tiếng tên rít xé tai. “Cơ cấu ngắt nước đã sập chốt! Nếu không thoát ra khỏi khoảng sáng này và chui qua khe cống trong vòng mười nhịp thở, tất cả chúng ta sẽ bị chôn sống trong vòm hang này!”

Thế nhưng, khoảng không gian từ ngách đá bọn họ đang ẩn nấp đến miệng khe cống xả tràn dài gần bốn trượng. Bốn trượng đá vôi trơ trụi hoàn toàn dưới tầm ngắm bắn thẳng của năm lỗ châu mai dày đặc cung thủ. Bất kỳ ai bước chân ra khỏi bóng tối của ngách đá vào lúc này đều sẽ lập tức biến thành một tấm bia thịt bất động cho hàng chục mũi tên sắt xé nát.

Tấm bản vẽ dập mẫu cụm then ren đôi—chìa khóa sinh tử duy nhất để cứu sống chín mạng người và mở toang cánh cửa Cửu Giá—lúc này đang nằm gọn trong tay Bùi Sách, dính máu tươi của Trương Cửu đỏ rực một góc mép giấy.

Bùi Sách nhìn tấm bản vẽ trong tay, rồi nhìn sang vết thương đang rỉ máu trên vai của Ninh Chiêu. Đôi mắt của cậu thiếu niên hai mươi tuổi bỗng chốc trở nên tĩnh lặng một cách kỳ lạ. Nỗi sợ hãi thường nhật của một đứa trẻ mồ côi làm chân chạy việc nợ nần bỗng chốc tan biến sạch sẽ, không còn sót lại một gợn nhỏ. Thay vào đó là một sự quyết đoán gan góc, lạnh lùng của một con người đã tự mình bước qua lằn ranh của sự sống và cái chết để đứng về phía những người cùng khổ.

“Lưu Bình! Cầm lấy bản vẽ này!” Bùi Sách đột ngột giúi mạnh xấp giấy dập mẫu lem luốc máu vào lồng ngực người đồng môn.

“Bùi Sách, đệ định làm cái gì thế?!” Ninh Chiêu biến sắc, quát lên một tiếng, vươn tay toan giật lại xấp giấy.

Nhưng đã quá muộn.

Bùi Sách tháo phắt chiếc cáng cứu thương bằng gỗ sồi bọc ba lớp da trâu dày trên lưng xuống. Cậu luồn cả hai cánh tay gầy guộc vào hai quai giữ bằng thép tôi, gập người lại thật chặt, biến toàn bộ chiếc cáng rộng bản thành một tấm khiên chắn khổng lồ che chắn kín mít từ đỉnh đầu xuống tận đầu gối.

“Chạy đi! Cõng anh Trương Cửu trườn qua khe cống mau!”

Cậu gầm lên một tiếng xé toạc không gian ngột ngạt của vòm hang đá, rồi lấy hết sức bình sinh đạp mạnh gót chân vào vách đá phía sau, lao thẳng thân mình ra khoảng sáng chết chóc giữa vòm hang.

Chiếc cáng gỗ bọc da trâu lao vụt ra ngoài, đập mạnh vào luồng ánh sáng vàng đục của ngọn đèn khoáng. Sự xuất hiện bất thình lình của một mục tiêu lớn di động lập tức thu hút trọn vẹn toàn bộ hỏa lực của toán chấp pháp phục kích trên vách đá.

*BỤP! BỤP! BỤP!*

Những tiếng va đập kinh hoàng vang lên liên tiếp không ngừng nghỉ. Mũi tên sắt cắm phầm phập vào mặt da trâu dày, xé toạc từng mảng da thuộc, đâm lút sâu vào lớp gỗ sồi già kêu lên những tiếng *răng rắc* ghê người. Lực xung kích cực mạnh của những mũi tên hạng nặng bắn từ cự ly gần đẩy lùi Bùi Sách từng bước một. Hai cánh tay cậu run lên bần bật, các thớ cơ bắp căng cứng đến mức rạn nứt rỉ máu qua da, nhưng cậu thiếu niên vẫn nghiến răng ken két, gầm thét trong lồng ngực, dùng toàn bộ trọng lượng cơ thể nhỏ thó đẩy chiếc cáng gỗ tiến về phía trước từng tấc một, che chắn hoàn toàn góc bắn của quân địch nhắm vào cửa cống xả ngầm.

“Lưu Bình, cõng Trương Cửu đi mau! Đây là lệnh!”

Ninh Chiêu rống lên, mệnh lệnh đanh thép như tiếng búa giáng trên mặt đe, dứt khoát không cho phép chần chừ dù chỉ một phần mười cái chớp mắt.

Lưu Bình cắn chặt răng đến mức ứa máu tươi nơi khóe miệng. Anh không dám nhìn lại, quàng cánh tay mềm oặt của Trương Cửu qua cổ mình, một tay ôm chặt lấy xấp bản vẽ đẫm máu vào ngực, dồn hết sức tàn trườn rạp người xuống rãnh bùn đen ngòm, lách người qua khe hẹp của cửa cống xả tràn đang từ từ sập then sắt xuống.

Ngay khoảnh khắc bóng lưng của Lưu Bình và Trương Cửu vừa biến mất hoàn toàn sau mép đá của cống ngầm—

*PHẬP!*

Một mũi tên sắt hạng nặng bắn xiên từ lỗ châu mai nằm ở góc khuất trên cao đã vượt qua mép dưới của tấm cáng gỗ sồi.

Mũi tên xé rách lớp quần thô tẩm bùn than, cắm ngập xuyên qua bắp đùi phải của Bùi Sách.

Lực bắn tàn khốc xé toạc các thớ cơ đùi sâu, xuyên thủng từ phía trước ra tận phía sau. Đầu mũi tên sắt ba cạnh nhọn hoắt nhô hẳn ra ngoài, đẫm máu tươi nóng hổi. Bùi Sách thét lên một tiếng nghẹn ngào, khớp gối chân phải gãy gập xuống không thể chống đỡ nổi trọng lượng cơ thể. Toàn bộ trọng tâm sụp đổ hoàn toàn, chiếc cáng gỗ tuột khỏi hai cánh tay rã rời của cậu, văng mạnh xuống vũng bùn lầy phát ra một tiếng *bõm* nặng nề.

Cậu thiếu niên ngã quỵ xuống nền đá ẩm ướt, trơ trọi giữa khoảng sáng rực của ngọn đèn khoáng.

Trên vách hang cao, tiếng cười the thé của Đỗ Tuyên vang lên man rợ:

“Bắn chết mẹ tên tạp dịch đó cho ta! Bắn nát đầu nó!”

Ba tên cung thủ chấp pháp lập tức giương căng dây cung cơ học, những mũi tên sắt ánh lên tia sáng lạnh buốt nhắm thẳng vào lồng ngực đang phập phồng yếu ớt của Bùi Sách.

Trong khoảnh khắc sinh tử ngàn cân treo sợi tóc ấy, Ninh Chiêu không hề có lấy một tia do dự.

Cô không lao thẳng ra ngoài như một kẻ liều mạng tìm kiếm cái chết. Những bài học khắc nghiệt, tàn nhẫn của Tống Hoài dưới những đêm mưa gió nơi bãi phế liệu, những lần rèn luyện bộ pháp lùi, cách thả lỏng khớp bả vai để biến cánh tay thành bản lề điều hướng lực bùng nổ trọn vẹn trong tâm thức cô.

*Một bước lùi, chuyển trọn vẹn trọng tâm cơ thể sang gót chân phải! Thả lỏng khớp vai, hạ thấp khuỷu tay!*

Ninh Chiêu lách người qua mép đá, thân hình cô uốn lượn theo một đường cong cực thấp sát sạt lấy mặt nước bùn đen ngòm. Bàn tay phải nắm chặt lấy cán thanh đoản kiếm sắt mài dở, mũi kiếm chúc thẳng xuống đất, cánh tay thả lỏng tuyệt đối để toàn bộ lực phát ra từ vòng xoay của eo và trục cột sống lưng.

*VÚT!*

Mũi tên sắt đầu tiên xé gió lao thẳng xuống ngực Bùi Sách.

Ninh Chiêu xoay nửa vòng trục hông, lưỡi đoản kiếm sắt thô ráp vẽ nên một vòng cung ngắn ngủn nhưng chính xác đến rợn người.

*KENG!*

Mặt kiếm va chạm trực diện vào thân mũi tên sắt đang bay với tốc độ xé gió. Thay vì dùng sức mạnh cơ bắp để chém thẳng vào mũi tên—điều chắc chắn sẽ làm gãy cổ tay cô vì phản chấn—Ninh Chiêu vận dụng trọn vẹn đòn gạt ngắn tầm gần của thợ rèn: cô dùng độ nghiêng mười lăm độ của sống kiếm làm trượt quỹ đạo bay của mũi tên, hất văng nó cắm phập vào vách đá vôi bên cạnh.

*KENG! XOẸT!*

Mũi tên thứ hai lao tới tiếp tục bị lưỡi kiếm sắt của Ninh Chiêu chặn đứng ngay giữa không trung. Lực ma sát cực mạnh giữa thép tôi mũi tên và thân sắt nguội của đoản kiếm làm tóe lên một chùm tia lửa sáng lòa trong bóng tối. Nhưng mũi tên thứ ba—bắn lén từ một góc hiểm hóc phía sườn trái—vẫn kịp sượt qua bả vai phải của Ninh Chiêu, rạch một đường sâu hoắm làm máu tươi tuôn xối xả, nhuộm đỏ thẫm vạt áo chẽn thô.

Ninh Chiêu không hề chớp mắt, dường như vết thương rách da thịt rỉ máu trên vai hoàn toàn không tồn tại đối với cô. Cô dồn toàn bộ lực vào chân trụ, vung ngang thanh đoản kiếm chém gãy đôi đoạn thân gỗ của mũi tên sắt đang cắm trên đùi Bùi Sách để giảm bớt vướng víu. Sau đó, cô dùng cánh tay trái thương tật gập chặt lại, kẹp nách lôi xốc thân hình đẫm máu của Bùi Sách giật lùi về phía sau ngách đá.

“Chị Ninh... bỏ em lại đi... Cửa cống sắp đóng rồi...” Bùi Sách thều thào, khóe miệng trào ra từng ngụm máu bầm vì cơn đau thấu tận xương tủy.

“Câm miệng!” Ninh Chiêu gằn giọng qua kẽ răng rớm máu tươi. “Giao ước ba người của chúng ta: sống cùng sống, chết cùng chết, tuyệt đối không bỏ lại ai!”

*XUỲYYYYYY!*

Một tiếng rít chói tai bất thần nổ bùng lên từ cửa ngách đá phía sau lưng Ninh Chiêu.

Lê Vãn—người vốn túc trực ở trạm nối dây tín hiệu ngoài hành lang dẫn—đã kịp thời kích hoạt ống bẫy phòng hộ dự phòng. Một hỗn hợp bột than cám nghiền mịn trộn lẫn lưu huỳnh thô và toan khoáng bốc cháy mù mịt, tạo thành một bức tường khói trắng đục ngầu, cay nồng và đặc quánh như cháo loãng, nhanh chóng tràn ngập toàn bộ khoảng không gian vòm hang đá.

“Khụ! Khụ! Tro độc! Lũ khốn nạn xả khói tro độc!” Đám chấp pháp trên các lỗ châu mai ho sặc sụa, tầm nhìn của bọn chúng hoàn toàn bị bóp nghẹt trong màn khói dày đặc đến mức không thể nhìn thấy nổi bàn tay của chính mình. Những loạt tên tiếp theo chỉ có thể bắn loạn xạ vào khoảng không vô định, cắm phầm phập vào bùn đất và vách đá trống rỗng.

Lợi dụng làn khói mù mịt che mắt quân địch, Ninh Chiêu cắn chặt răng chịu đựng cơn đau buốt nhức nhối từ bả vai rách thịt và gân tay trái co rút, dùng hết sức lực của một người thợ rèn quanh năm quai búa tạ nặng ba mươi cân, kéo lê Bùi Sách lùi sâu vào ngách đá thoát hiểm, nơi Lê Vãn đang đợi sẵn với hai ngọn đuốc phòng hộ đã được dập tắt lửa để tránh lộ vị trí.

Ba người nhanh chóng hòa vào bóng tối đặc quánh của đường cống ngầm, bỏ lại sau lưng tiếng gào thét bất lực đầy phẫn nộ của Đỗ Tuyên đang vang vọng trong màn khói độc.

***

Trạm y xá dã chiến đặt tại ngôi miếu hoang đổ nát ở bìa rừng sồi chìm trong ánh sáng le lói, tù mù của ba ngọn đèn dầu hạt cải bọc trong những chiếc lồng kính mờ bám đầy bụi than.

Mùi máu tanh tưởi quyện chặt với mùi lá ngải cứu sao khô cháy khét, mùi rượu xoa bóp đậm đặc và bột thanh phế làm cho không khí bên trong gian miếu trở nên ngột ngạt đến nghẹt thở. Cánh cửa gỗ mục nát vừa bật mở phát ra tiếng *cót két* nặng nề, Lưu Bình cùng hai đệ tử ngoại viện đã vội vã lao tới, đỡ lấy thân hình mềm nhũn, ướt sũng máu và bùn đen của Bùi Sách từ trên vai Ninh Chiêu.

“Đặt nó nằm ngửa lên phản gỗ! Mau lên, đừng để đầu chúc xuống thấp!” Tiếng quát sắc lẹm, lạnh tanh của bác sĩ Trần Mộc vang lên, xé toạc bầu không khí tĩnh mịch, u ám của gian miếu.

Vị y quan già của ngoại viện không hề có lấy một động tác thừa thãi. Ông đã xắn cao hai tay áo vải thô lên tận khuỷu tay, hai bàn tay gầy guộc đầy những nếp nhăn nheo ngâm sẵn trong một chậu đồng đựng rượu thuốc nồng nặc mùi gừng gió. Hạ Từ—sắc mặt trắng bệch không còn một giọt máu vì hai dải xương sườn rạn nứt đang bị quấn chặt bằng băng nẹp dưới lớp áo chẽn—lập tức bước nhanh tới bên cạnh. Một tay cô giữ chặt lấy khớp vai của Bùi Sách, tay kia cầm sẵn chiếc kẹp đồng dài và những cuộn gạc tiệt trùng bằng tro than sạch.

“Vết thương thế nào rồi?” Tống Hoài chống thanh kiếm sắt bước nhanh lại gần mép phản gỗ, ánh mắt sắc lẹm như chim ưng quét qua bắp đùi phải đẫm máu của Bùi Sách.

Ống quần thô của cậu thiếu niên đã bị Trần Mộc dùng một con dao mổ nhỏ, sắc lẹm rạch toạc ra một đường thẳng tắp. Cảnh tượng bên dưới lớp vải rách khiến những người đứng xung quanh không khỏi rùng mình ớn lạnh: đoạn mũi tên sắt ba cạnh dài nửa tấc vẫn cắm ngập xuyên qua bắp đùi, các ngạnh sắt sắc nhọn móc chặt vào các thớ gân cơ sâu, máu đỏ thẫm đùn ra từng đợt sủi bọt nhỏ theo từng nhịp tim đập yếu ớt của thiếu niên.

“Mũi tên có ngạnh ngược kiểu móc câu, bắn ra từ nỏ trợ lực cơ học hạng nặng,” Trần Mộc dùng những ngón tay gầy guộc sờ nắn cẩn thận xung quanh miệng vết thương sưng tấy, giọng ông lạnh như băng tuyết nhưng từng cử động lại vô cùng chuẩn xác, không một chút run rẩy. “Đầu mũi tên đã cày xước màng xương đùi. Thằng bé này mạng lớn, mũi tên trượt khỏi động mạch đùi chính đúng hai phân. Nếu lệch sang phải một chút, nó đã chết vì cạn máu ngay giữa đường cống ngầm rồi.”

Bùi Sách nằm trên tấm phản gỗ nghiến chặt hai hàm răng vào nhau kêu lên *trét trét*, mồ hôi lạnh vã ra như tắm ướt đẫm cả vầng trán lem luốc. Hai bàn tay gầy gò của cậu nắm chặt lấy mép phản gỗ đến mức mười đầu ngón tay trắng bệch, móng tay bật máu cắm sâu vào thớ gỗ mục:

“Bác sĩ Trần... cứ... cứ rút nó ra đi... Cháu... cháu chịu đựng được mà...”

Trần Mộc liếc nhìn cậu thiếu niên một cái thật nhanh, không buông một lời an ủi thừa thãi:

“Hạ Từ, dùng toàn bộ sức nặng tì chặt lấy khớp háng và đầu gối nó. Ninh Chiêu, đè chặt vai trái xuống phản!”

Ninh Chiêu bước nhanh tới, bàn tay phải thô ráp đầy vết chai sạn đặt lên vai Bùi Sách, ấn mạnh xuống bằng tất cả sức nặng cơ thể. Ánh mắt cô nhìn thẳng vào đôi mắt đang trợn trừng vì đau đớn của cậu thiếu niên:

“Thở sâu vào lồng ngực. Nhìn thẳng vào mắt ta, đừng nhìn xuống đùi.”

Trần Mộc cầm lấy chiếc kìm kẹp xương bằng thép tôi sáng loáng. Ông dùng lưỡi dao con rạch mở rộng miệng vết thương phía sau bắp đùi đúng ba phân, bộc lộ toàn bộ phần ngạnh sắt ba cạnh đang nhô ra ngoài lớp da thịt rách nát. Không một chút do dự hay ngập ngừng, cổ tay vị y quan già phát lực dứt khoát—dùng kìm bẻ gãy phần ngạnh ngược sắc nhọn, rồi đảo ngược chiều kìm, rút thẳng thân tên sắt đẫm máu ngược trở ra ngoài miệng vết thương phía trước!

*PHỤT!*

Một tia máu tươi đỏ thẫm bắn thành vệt dài lên tấm tạp dề vải trắng của vị y quan già. Bùi Sách giật nảy toàn bộ thân mình lên khỏi mặt phản gỗ, một tiếng hét nghẹn ứ, thê thảm bật ra khỏi cuống họng rồi toàn thân cậu mềm nhũn ra, ngất lịm đi vì cơn đau đớn thấu tận tim can.

“Bột cầm máu Ngải Tê! Đổ thẳng vào miệng vết thương! Băng ép ba lớp, siết chặt vòng số tám quanh khớp háng cho ta!”

Trần Mộc hạ lệnh dồn dập, đôi bàn tay thoăn thoắt nhồi từng nắm bột thảo dược màu nâu sẫm vào miệng vết thương đang tuôn máu xối xả, rồi cùng Hạ Từ phối hợp quấn chặt từng dải băng vải gai dày cộp quanh đùi và hông Bùi Sách.

Mùi thuốc khét lẹt nồng nặc nhanh chóng át đi mùi máu tanh tưởi trong gian miếu. Phải mất gần nửa khắc đồng hồ căng thẳng tột độ, máu đỏ thẫm mới ngừng thấm qua lớp băng ép thứ ba. Hơi thở của Bùi Sách dần dần ổn định trở lại, dù đôi môi cậu vẫn tái ngắt như xác chết, không còn một giọt máu.

Trần Mộc buông chiếc kìm sắt dính đầy máu tươi xuống chậu nước đồng, phát ra một tiếng *keng* chói tai làm mọi người giật thót. Ông đưa ống tay áo lên lau vệt mồ hôi đọng trên trán, nhìn xuống chiếc chân phải được nẹp chặt bằng hai thanh gỗ sồi của Bùi Sách rồi quay sang nhìn thẳng vào Tống Hoài và Ninh Chiêu:

“Các bó cơ đùi bị xé rách nghiêm trọng, màng xương bị tổn thương sâu. Trong vòng ít nhất hai tháng tới, thằng bé này tuyệt đối không được phép chạy quá mười bước chân. Nếu cố tình vận lực để chạy trạm liên lạc như trước đây, toàn bộ gân cơ ở đùi sẽ đứt lìa vĩnh viễn, tàn phế một chân suốt đời.”

Một khoảng lặng đau xót, nặng nề bao trùm lấy gian miếu đổ nát. Bùi Sách là người chạy trạm nhanh nhất, gan dạ nhất và thuộc từng ngóc ngách của mạng lưới ngoại viện cũng như các trạm cứu thương bí mật. Mất đi đôi chân thoăn thoắt của cậu ngay trước giờ khai trận quyết định chẳng khác nào chặt đứt một cánh tay đắc lực của Liên minh thợ lò.

Đúng lúc đó, Bùi Sách trên phản gỗ khẽ cựa quậy mi mắt. Khóe mắt cậu ứa ra hai giọt lệ nóng hổi, lăn dài trên gò má lem luốc bụi than và máu khô. Cậu run rẩy thò bàn tay lạnh ngắt vào sâu trong ngực áo, lôi ra chiếc túi da nhỏ đựng ba chiếc ống trúc tín hiệu và hai thỏi phấn trắng dùng để đánh dấu đường:

“Anh Tống... chị Ninh Chiêu... Em... em phế rồi... không thể chạy tiếp cho mọi người được nữa...”

Ninh Chiêu ngồi xuống bên mép phản gỗ, đón lấy chiếc túi da từ bàn tay run rẩy của cậu thiếu niên. Cô dùng hai bàn tay thô ráp của mình nắm chặt lấy bàn tay lạnh buốt của Bùi Sách, ghé sát mặt mình lại gần:

“Đệ đã làm tròn nhiệm vụ của một người trinh sát xuất sắc nhất, Bùi Sách. Nếu không có đệ liều mạng dùng cáng chắn tên để hút trọn hỏa lực của quân địch, tấm bản vẽ then ren đôi này đã vĩnh viễn không bao giờ ra được tới đây. Đệ đã cứu mạng tất cả chúng ta.”

Tống Hoài bước lại gần mép phản gỗ, bàn tay to lớn, chai sạn của ông đặt nhẹ lên vầng trán đẫm mồ hôi của cậu thiếu niên:

“Từ giờ phút này trở đi, cậu chính thức bàn giao lại việc chạy trạm liên lạc cho Lưu Bình và các đệ tử ngoại viện khỏe mạnh khác. Nhiệm vụ mới của cậu là ở lại trạm y xá này, phối hợp cùng bác sĩ Trần Mộc và Hạ Từ điều phối việc tiếp nhận, phân loại thương binh từ các nhánh hầm ngầm chuyển lên. Cậu có làm được việc đó không?”

Bùi Sách mở to đôi mắt đẫm lệ nhìn Tống Hoài, rồi nhìn sang Hạ Từ đang khẽ mỉm cười gật đầu khích lệ mình. Cậu cố gắng nuốt khan một ngụm máu bầm đang ứ nghẽn trong cổ họng, nghiến răng đáp từng tiếng rành rọt:

“Dạ được! Em... em sẽ giữ vững trạm cứu thương này đến hơi thở cuối cùng!”

***

Ở góc tối phía sau của gian miếu hoang—nơi đặt chiếc đe rèn di động bằng gang đúc của nhóm thợ lò Lò Khê—một ngọn đèn dầu khoáng được thắp sáng trưng, xua tan đi màn đêm ảm đạm.

Ninh Chiêu bước tới, cẩn thận trải phẳng tấm giấy dầu dập mẫu then ren đôi dính đầy những vệt máu khô của Bùi Sách và Trương Cửu lên mặt đe bằng phẳng. Cô dùng bốn chiếc đinh sắt dài chặn chặt bốn góc giấy để gió đêm không làm xô lệch.

Tống Hoài, Lê Vãn và Vũ Kha—người thợ rèn cả của xưởng cơ khí ngoại viện—lập tức vây quanh chiếc đe. Vũ Kha cẩn thận rút từ trong túi da ra chiếc thước kẹp bằng đồng thau sáng bóng, tỉ mỉ đo đạc từng vạch đen in hằn trên mặt giấy:

“Đúng là then ren đôi bước ngược hai chấm tám ly, không sai một ly nào. Đỗ Tuyên đã dùng thép gió mác cao để tiện nguội toàn bộ cụm cơ cấu này, độ cứng của nó vượt xa thép thông thường. Nhưng nhìn kỹ góc nghiêng của các nêm hãm đối trọng này xem—chúng chỉ có thể chịu được lực ép đơn chiều từ phía buồng nén. Nếu chúng ta mài lại toàn bộ đầu chốt thép gió theo góc xiên mười ba độ thay vì góc mười bảy độ như ban đầu, tôi có thể huy động mười hai bễ rèn của xưởng dập nguội xong ba mươi chiếc chốt cắt mới trong vòng hai canh giờ tới!”

“Rất tốt,” Tống Hoài trầm ngâm gật đầu, ánh mắt sắc như dao cạo nhìn chằm chằm vào đường dẫn ngầm nối từ cửa van số Bảy về buồng trung tâm của Cửu Giá. “Chỉ cần ngắt được nhánh van áp lực này, toàn bộ áp lực của dòng rút tủy linh lực sẽ bị xả tràn ra ngoài vách núi, đại trận sẽ tê liệt...”

“Khoan đã! Mọi người nhìn vào chỗ này!”

Tiếng thốt lên đột ngột, sắc lạnh của Ninh Chiêu cắt ngang lời nói của Tống Hoài.

Nàng thợ rèn trẻ tuổi không nhìn vào cụm then ren đôi. Đôi mắt tinh tường, nhạy bén của một người thợ rèn vốn quen đọc từng đường gân thớ thép, từng vết nứt vi mô trên kim loại lúc này đang dán chặt vào góc dưới bên phải của tấm sơ đồ dập mẫu—nơi những dòng mực dập bằng bùn than ghi lại mạng lưới ống dẫn phụ mà Bùi Sách đã nhanh tay phác thảo trong những giây phút sinh tử trước loạt mưa tên.

“Có điều bất thường ở nhánh ống này,” Ninh Chiêu chỉ ngón tay thô ráp của mình vào một nhánh ống dẫn nhỏ bọc đồng đỏ chạy tách biệt hoàn toàn khỏi trục chính dẫn về chín chiếc giá sắt của buồng Cửu Giá.

Lê Vãn lập tức ghé sát chiếc ống kính bằng thạch anh mài vào mặt giấy dầu, đôi lông mày thanh tú của chị nhíu chặt lại thành một đường thẳng:

“Nhánh dẫn này... kỳ lạ thật. Nó hoàn toàn không đi vào buồng trung tâm của Cửu Giá. Nó rẽ ngang qua vách ngăn chịu lực số Ba, dẫn thẳng một mạch vào buồng cân áp phụ ở tầng trung gian!”

“Buồng cân áp phụ?” Tống Hoài biến sắc, giọng ông run lên một cách bất thường. “Đó là khoang cô lập áp suất cực cao, vốn chỉ được dùng để thử nghiệm tải trọng kim khí trước khi hòa mạng vào đại trận chính!”

Ninh Chiêu siết chặt nắm đòn tay lại, khớp xương kêu lên những tiếng *răng rắc* giòn giã:

“Đỗ Kính không hề chuyển toàn bộ chín tải sống vào trận cùng một lúc như thông lệ. Lão ta đang giam giữ riêng một người tại buồng cân áp phụ ở tầng trung gian.”

Một sự thật lạnh buốt đến gai người, tàn bạo đến tận cùng từ từ hiện rõ mồn một trên mặt tấm sơ đồ dính máu:

Đỗ Kính đã lừa dối tất cả mọi người, lừa dối cả Thanh Lư Tông lẫn cư dân xóm Thợ. Đại lễ Bổ Khuyết trên danh nghĩa cần đủ chín tải sống để khởi động đồng loạt vào ngày trăng tròn, nhưng trên thực tế, lão ta đang âm thầm tiến hành một chu kỳ thử nghiệm rút kiếm cốt sớm trên một nạn nhân đơn lẻ ngay trong đêm nay! Lão muốn kiểm tra độ ổn định và khả năng chịu tải của hệ thống then ren đôi mới trước khi chính thức bấm nút khai trận toàn diện.

Người đó—nạn nhân xấu số đầu tiên—lúc này đang bị giam cầm trong bóng tối, bị bòn rút từng giọt tủy sống, từng giọt linh lực trong một khoang đá cô lập, cách vị trí của bọn họ chỉ vỏn vẹn một tầng đá vôi dày.

Bầu không khí bên trong gian miếu hoang chùng xuống đến mức nghẹt thở. Cả nhóm người nhìn nhau trân trối, hiểu rằng ranh giới mong manh giữa việc chuẩn bị kỹ lưỡng cho cuộc nổi dậy và việc cứu lấy một mạng người vô tội đang bị dồn vào chân tường, không còn đường lui.

*CẠCH.*

Đúng lúc sự im lặng đang bóp nghẹt từng lồng ngực, cánh cửa gỗ mục nát của gian miếu hoang đột ngột bị một lực đẩy nhẹ từ bên ngoài hé mở ra.

Một luồng gió lạnh buốt từ ngoài thung lũng ùa vào phòng, làm ngọn đèn dầu khoáng trên mặt chiếc đe rèn chao đảo dữ dội, hắt những bóng đen ngoằn ngoèo lên vách tường gạch đổ.

Trong bóng tối lờ mờ của hiên miếu, một gã đàn ông trùm chiếc áo tơi tẩm dầu gai đen tuyền—mùi tro khoáng mặn chát của biển sâu bốc lên nồng nặc từ gấu áo ướt sũng nước mưa—chậm rãi bước qua bậu cửa đá.

Gã không hề mang theo bất kỳ loại binh khí hay pháp bảo nào của Thanh Lư Tông. Trên chiếc đai lưng bằng da cá đuối thô ráp của gã chỉ giắt duy nhất một chiếc móc neo thuyền bằng đồng đen đặc trưng—dấu hiệu không thể nhầm lẫn của những kẻ làm nghề vận tải đường thủy tại bến Tàn Đăng.

Ánh mắt sắc lẻm, lạnh lùng như mắt cá chết của gã quét qua đám người đang lăm lăm vũ khí phòng thủ trong miếu, rồi dừng lại chuẩn xác trên gương mặt đanh thép, lạnh lùng của Ninh Chiêu.

Gã thò bàn tay chai sạn đầy những vết sẹo do nước mặn ăn mòn vào sâu trong ngực áo tơi, rút ra một phong thư bọc bằng da cá nhám dính đầy bùn tro đen thẫm, chìa thẳng về phía cô.

Ngay trên góc trên bên phải của phong bì da cá nhám, ba vết đục bằng đục thợ rèn chạy song song thẳng tắp, nhát đục thứ ba bị mài khuyết một góc nghiêng đúng mười bảy độ hiện lên rõ mồn một dưới ánh sáng vàng đục của ngọn đèn dầu.

Gã môi giới bến Tàn Đăng cất giọng nói khàn đặc, trầm đục như tiếng đá tảng cọ xát vào lớp cát ngầm dưới đáy biển sâu:

“Muốn gặp lại cha cô, hãy mang thanh Hàn Tủy ra bến đò ngay trong đêm nay.”

Chương này thế nào?Đánh giá giúp Readeep đề xuất đúng hơn cho bạn