Kiếm Cốt Dưới Tro — Phần 1: Cửa Trời Không Có TiênC.29 / 40
Chương 29

Người giữ cửa chọn bên

Tiếng then sắt han gỉ rít lên ken két, khô khốc và buốt óc, khi cánh cửa buồng giam sâu nhất của viện Chấp Pháp thuộc Thanh Lư Tông từ từ hé mở vào khoảng không tối om nồng nặc mùi ẩm mốc.

Hạ Từ không thắp đèn dầu. Trong bóng đêm đặc quánh của tầng ngầm, cô chỉ khẽ đẩy nhẹ nắp trượt bằng thiếc trên chiếc đèn lồng bịt vải gai đen thô ráp, để lộ ra một vệt sáng mỏng manh chừng nửa ngón tay. Vệt sáng vàng đục rọi quét qua những gờ đá vôi sũng nước, nơi những giọt dịch kiềm nhờn nhợt không ngừng rỉ ra từ kẽ nứt của vòm trần, tí tách rơi xuống rãnh thoát nước ngập ngụa bùn xám. Mùi giấy lưu trữ mủn nát mục rữa, mùi mực nho trộn bột lưu huỳnh để chống mối mọt và hơi lạnh tanh nồng của đá núi tích tụ hàng trăm năm xộc thẳng vào cánh mũi buốt rát.

Dưới lớp áo vải gai sờn rách, hai dải xương sườn bên ngực trái—vốn đã rạn nứt nghiêm trọng từ trận sập vòm cống ngầm số Bảy ba ngày trước—lại nhói lên từng cơn buốt nghẹn. Mỗi nhịp thở dốc ép lồng ngực cô co thắt, đẩy một vị tanh ngọt lợ lên tận cuống họng. Hạ Từ cắn chặt môi dưới, cắn sâu đến mức đầu lưỡi nếm thấy vị máu ấm nóng rỉ ra, dùng cơn đau sắc nhọn ấy để ghìm chặt hai gót chân đang run rẩy, ép cơ thể phải đứng thẳng tắp trên mặt đá trơn trượt.

Ca trực đêm cuối cùng của cô với tư cách một kiếm tu chấp pháp chỉ còn không đầy ba khắc đồng hồ. Sau tiếng chuông rạng đông đầu tiên điểm từ tháp Cửu Trọng, lệnh thu hồi quyền hạn điều tra và tước đoạt bội kiếm do đích thân Trưởng lão viện phê chuẩn sẽ chính thức có hiệu lực. Khi ấy, cánh cửa đá này sẽ vĩnh viễn khép lại sau lưng cô.

Lách mình qua ba lớp cửa sắt uốn nguội nặng nề, mỗi cánh cửa đều mang một ổ khóa chốt ngầm phức tạp của xưởng cơ khí, Hạ Từ dừng bước trước một dãy tủ tài liệu bọc tôn lá xám xịt. Dưới ánh sáng mờ căm của chiếc đèn lồng bịt vải, dãy tủ đứng sừng sững như những bia mộ bằng sắt nằm san sát nhau trong bóng tối. Cô đưa mắt lướt qua các thẻ bài bằng đồng cắm ở rãnh gáy, dừng lại ở ô ngăn kéo mang dòng chữ khắc chìm: *“Khảo hạch ngoại môn — Đợt tế thu”*.

Chiếc chìa khóa đồng thau hình hoa sen cụt cánh cắm ngập vào ổ. Cơ cấu lẫy bên trong khẽ nảy lên sau một vòng xoay nặng trịch. Ngăn kéo kim loại trượt dài trên thanh ray không phát ra một tiếng động nhỏ, nhờ vào lớp mỡ bò bôi trơn còn mới nguyên và nồng mùi mỡ động vật chưa kịp ôi.

Bên trong ngăn kéo, chín tập hồ sơ bọc da trâu màu vàng sáp nằm ngay ngắn sát đáy hộc. Đó là chín bản cam kết tự nguyện hiến thân làm tải sống cho đại lễ Bổ Khuyết đại trận Huyền Khuyết, vừa được phủ Quan Tế bí mật đệ trình lên viện Chấp Pháp vào cuối giờ Thân chiều nay.

Hạ Từ rút tập hồ sơ đầu tiên lên, cẩn trọng áp sát vào vệt sáng le lói phát ra từ khe đèn lồng.

Tên người ký: Lâm Hựu, mười chín tuổi. Chức phận: đệ tử tạp dịch thuộc đội chạy trạm ngoại viện—một trong ba thiếu niên gầy gò chia nhau một gian phòng trọ lợp cỏ tranh ẩm thấp cùng với Bùi Sách ở khu xóm Thợ.

Bên dưới tờ giấy bản xơ cứng ngả màu vàng đục là dòng chữ hành thư sắc sảo, viết bằng mực chu sa đỏ au tựa như vệt máu khô: *“Tự nguyện phụng hiến toàn bộ kinh lạc, huyết khí và tủy cốt cho màn chắn Huyền Khuyết, bảo toàn linh mạch tông môn, vạn kiếp không oán, muôn đời không hối.”*

Chữ ký tên Lâm Hựu nắn nót, góc dưới là dấu ấn chỉ ngón tay cái màu đỏ tươi, đường vân rõ ràng đến từng vòng xoáy.

Nhưng khi ngón tay thô ráp, chai sạn vì cầm kiếm của Hạ Từ miết chậm rãi qua mép tờ giấy bản dày cộp, đầu ngón tay cô bỗng khựng lại. Có một gờ nổi mỏng manh, một sự chênh lệch độ dày cực kỳ tinh vi gợn nhẹ dưới da thịt.

Cô nheo mắt, nhấc tờ giấy lên, hướng thẳng góc vào vệt sáng đèn lồng rọi ngược từ phía sau.

Dưới luồng sáng xuyên thấu, sự thật tàn nhẫn lập tức phơi bày.

Đó là một đường cắt tinh vi bằng lưỡi dao trổ siêu mỏng, mép cắt ngọt xớt và chuẩn xác đến rợn người. Toàn bộ phần chữ ký nắn nót cùng vết ấn chỉ đỏ chót thực chất là một mẩu giấy xuyến chỉ mỏng manh như cánh ve sầu, được bóc tách từ một văn bản khác rồi dán đè lên tờ tuyên thệ hiến thân này bằng một lớp nhựa thông trong suốt đã miết phẳng lì. Mép nhựa thông khô cứng lại, dưới ánh đèn hắt ngược chỉ để lộ ra một viền mờ nhạt mảnh như sợi tóc.

Bàn tay Hạ Từ khẽ run lên. Cô lật nhanh tập hồ sơ đối chiếu kẹp ở ngăn phụ phía sau—tập biên bản chi trả trợ cấp than đá sưởi ấm và tiền mua bột thanh phế vụ đông năm ngoái dành cho gia đình đệ tử ngoại môn nghèo khó.

Trang giấy ghi tên Lâm Hựu nằm ở giữa tập. Tại góc dưới của tờ biên nhận nhận ba đồng bạc trợ cấp gia đình, nơi đáng lẽ phải có chữ ký xác nhận của người nhận tiền, giờ đây chỉ còn là một lỗ hổng vuông vức. Ai đó đã dùng dao trổ rạch sát mép chữ ký của cậu thiếu niên mồ côi, bóc trọn phần giấy mang nét mực son rồi dán ghép sang tờ cam kết nộp mạng cho cỗ máy kẹp sắt trên đỉnh đài.

Hạ Từ tiếp tục lật tung tám tập hồ sơ da trâu còn lại.

Từng tờ, từng tờ một, tất cả đều phơi bày một quy cách lừa mị tàn khốc đến ghê rợn.

Chữ ký của thợ lò Trần Khôi—người có đứa con gái nhỏ ba tuổi đang sốt co giật vì tro độc—bị bóc ra từ giấy vay nợ năm mươi cân than cám của kho viện.

Dấu tay của Triệu Mẫn—thiếu niên vừa ngưng tụ được ba sợi kiếm cốt sơ khai ở ngoại viện—bị bóc tách từ tờ biên bản nhận tạm ứng lương phu dịch để lo đám ma cho mẹ.

Và tập hồ sơ thứ bảy: Lục Viễn Chu, đứa trẻ mười bảy tuổi vừa bị vùi lấp rồi kéo xác qua cống ngầm số Bảy cách đây hai ngày... Chữ ký của nó được cắt ra từ tờ giấy báo tử giả mạo do viện Chấp Pháp lập vội để lấp liếm tai nạn hầm lò!

Chín sinh mạng. Chín con người bằng xương bằng thịt. Không có lấy một kẻ nào tình nguyện bước lên bàn mổ linh hồn. Không có một ai sẵn lòng để ba mươi hai chấu thép của cỗ máy rút tủy găm ngập vào cột sống, thiêu đốt kinh mạch thành tro tàn để duy trì sự vận hành của đại trận.

Tất cả chỉ là một chuỗi cắt ghép dối trá, một tấn trò buôn bán mạng người lạnh lùng được che đậy dưới những chiếc triện son đỏ chót và thứ tôn ti trật tự mục ruỗng của tiên môn.

Hạ Từ siết chặt nắm tay. Mảnh giấy bản dày trong lòng bàn tay cô run lên bần bật, nhăn nhúm lại dưới áp lực của những khớp xương trắng bệch. Lồng ngực cô nghẹn ứ, từng đợt đau buốt từ xương sườn rạn nứt cào xé tâm can, nhưng không đau đớn bằng nỗi ghê tởm đang cuộn trào trong huyết quản.

Bên tai cô bỗng văng vẳng lại giọng nói trầm ấm, đạo mạo nhưng lạnh lùng như băng đá của Quan Tế Đỗ Kính trên đỉnh Huyền Khuyết khi lão đứng nhìn xuống thung lũng khói tro:

*“Trách nhiệm của kẻ giữ cửa là bảo đảm màn chắn không bao giờ sụp đổ... Mạng sống của vài kẻ hạ đẳng yếu thế đổi lấy sự bình yên cho mười vạn sinh linh, đó là sự hy sinh vinh hiển nhất mà tông môn ban phát cho họ.”*

Bình yên? Vinh hiển?

Đem lừa gạt những đứa trẻ nghèo khó vào giá kẹp sắt để duy trì luồng linh khí giả tạo, bảo vệ ngai vàng quyền lực và những chuyến xe than bọc bạc lộng lẫy chạy về dinh thự họ Đỗ, đó gọi là sự che chở của thánh địa sao? Thứ tiên môn gì lại xây dựng sự trường tồn trên xương tủy bị rút cạn của những kẻ khốn cùng?

Hạ Từ không giấu những tập tài liệu vào túi áo lót như những lần điều tra lén lút trước đây. Cô rút trọn chín bản cam kết da trâu nguyên bản, kẹp chặt dưới nách trái, khóa sập ngăn kéo tôn lá lại bằng một tiếng *cạch* dứt khoát.

Tấm lưng thẳng tắp của một kiếm tu nội môn—người từng quỳ ròng rã ba ngày đêm trước Kiếm Đài để đón nhận bội kiếm danh dự mười năm về trước—giờ đây căng cứng như một dây cung đã kéo hết cỡ. Từng bước chân cô nện xuống những bậc thang đá hoa cương dẫn lên tầng trên vang vọng đều đặn, lạnh lẽo và dứt khoát giữa bóng tối mịt mù.

***

Phòng trực ban của Hội đồng Viện chủ nằm ở sảnh tây của viện Chấp Pháp.

Căn phòng rộng thênh thang, được chiếu sáng bằng chiếc đèn lồng bát giác bọc lụa vàng treo lơ lửng giữa trần nhà, tỏa ra thứ ánh sáng vàng vọt, tù hãm và ảm đạm. Mùi trầm hương thượng hạng từ chiếc đỉnh đồng ba chân tỏa khói nghi ngút, cố xua đi mùi ẩm mốc của đá núi nhưng lại quyện chặt với mùi nước trà sen để nguội, tạo nên một bầu không khí u uất, ngột ngạt đến khó thở.

Ngồi sau chiếc bàn dài bằng gỗ lim dày ba tấc là Chấp pháp Trưởng lão Nhâm Chấn. Bên cạnh lão là hai vị trưởng lão thường trực của Viện Giám sát, cả ba đều khoác trên mình bộ đạo bào màu xám tro viền chỉ bạc sang trọng, khuôn mặt ẩn sau làn khói trầm mờ ảo.

Tiếng còi hơi báo canh tư rền rĩ từ tháp chuông xa xa vừa dứt. Nhâm Chấn đang chậm rãi nâng chén trà sen lên mép môi thì cánh cửa gỗ lim nặng nề bất thần bị đẩy tung ra bằng một lực đạo thô bạo, đập sầm vào vách đá phía sau.

*RẦM!*

Gió lạnh buốt từ hành lang tối tăm lập tức ùa vào gian phòng ấm áp, làm ngọn lửa trong đèn bát giác chao đảo dữ dội, thổi bùng những tàn tro nguội ngắt trong đỉnh đồng bay tứ tán.

Hạ Từ sải bước tiến vào giữa phòng.

Dáng người cô mảnh khảnh nhưng sừng sững như một ngọn giáo cắm thẳng xuống sàn đá. Bộ võ phục kiếm tu xanh đen rách sờn ở bả vai, vạt áo bên sườn trái quấn dải băng vải thô trắng toát đã rỉ ra những vệt máu tươi đỏ thẫm. Nhưng đôi mắt cô—đôi mắt thâm quầng vì ba đêm không ngủ—lại sáng quắc một cách kỳ lạ, sắc lẹm và lạnh lẽo như hai mũi đoản kiếm vừa tuốt ra khỏi vỏ.

“Hạ Từ!”

Nhâm Chấn giật mình, chiếc chén sứ trên tay chao đảo làm nước trà nóng bắn tung tóe lên mặt bàn đầy văn thư. Lão đập mạnh đáy chén xuống mặt gỗ lim, gằn giọng quát:

“Ngươi to gan thật! Ca trực đêm của ngươi chưa hết, dám tự tiện xông vào nghị sự phòng của Viện chủ mà không gõ cửa xin lệnh? Quy củ tôn ti của tông môn bị ngươi vứt cho chó ăn rồi sao?”

*BẸP!*

Chín tập hồ sơ bọc da trâu bị Hạ Từ vung tay ném thẳng xuống mặt bàn gỗ lim.

Tập hồ sơ va đập dữ dội, bung chốt dây gai, giấy tờ văng tung tóe trước mặt ba vị trưởng lão. Một tờ giấy bản bay lượn trên không trung rồi rơi sững lại ngay trước lồng ngực béo tốt của Nhâm Chấn. Dưới ánh sáng vàng vọt của ngọn đèn bát giác, đường cắt tinh vi bằng dao trổ và vệt nhựa thông bóng nhờn dán đè chữ ký của Lâm Hựu lộ rõ mồn một, đập thẳng vào mắt lão.

“Quy củ của tông môn?”

Hạ Từ cất tiếng. Giọng nói của cô không hề gào thét, nhưng từng âm tiết buốt giá và đanh thép như đá tảng va đập vào nhau giữa hầm băng, dội ngược vào vách đá của gian phòng.

“Quy củ của Thanh Lư Tông là sai thủ hạ dùng dao trổ cắt chữ ký trên phiếu nhận tiền thuốc cứu trợ của đệ tử bần hàn để dán vào giấy hiến thân làm tải sống sao? Mời Chấp pháp Trưởng lão mở to mắt ra mà nhìn cho rõ: chín bản cam kết tự nguyện phụng hiến này, có lấy một nét mực nào là thực tâm tình nguyện không? Chữ ký của Lâm Hựu bị bóc từ phiếu nhận than đá mùa đông. Dấu vân tay của Triệu Mẫn bị cắt từ giấy vay nợ tiền thuốc. Và chữ ký của Lục Viễn Chu... đứa trẻ mười bảy tuổi vừa bị các người lén lút lôi xác qua cống ngầm số Bảy để bưng bít tai nạn sập lò... cũng bị cắt ghép trơ trẽn từ tờ giấy báo tử giả mạo!”

Sắc mặt Nhâm Chấn thoáng biến đổi dữ dội. Những nếp nhăn chảy xệ nơi khóe mắt và cơ má lão giật giật liên hồi, đôi mắt ti hí đảo nhanh qua mặt hai vị trưởng lão Viện Giám sát đang ngồi chết lặng bên cạnh.

Nhưng chỉ trong chớp mắt, vẻ bàng hoàng thoáng qua ấy bị dập tắt hoàn toàn, thay thế bằng một sự lạnh lùng tàn nhẫn và ghê tởm đến tột cùng. Lão chậm rãi vươn bàn tay mập mạp đeo đầy nhẫn ngọc, gom các tờ giấy bản vương vãi trên bàn lại thành một xấp ngay ngắn, rồi dùng lòng bàn tay miết phẳng mép giấy bị nhăn nhúm.

“Hồ đồ! Ngông cuồng!”

Nhâm Chấn gằn giọng, ánh mắt lóe lên tia nhìn đe dọa đầy độc địa:

“Đây là việc cơ mật tối cao của tông môn nhằm bảo tồn đại trận Huyền Khuyết trước mùa gió tro sắp quét qua toàn cõi. Toàn bộ thủ tục hành chính, danh sách phụng hiến đều do viện Chấp Pháp cùng phủ Quan Tế phối hợp xử lý dựa trên sự cống hiến tối cao cho đại cục. Một tên đệ tử chấp pháp bậc trung mang thân phận hèn mọn như ngươi thì hiểu được cái gì về sự an nguy của sơn môn? Hiểu được cái gì về đại cục?”

“Đại cục?”

Khóe môi rách nát của Hạ Từ khẽ nhếch lên thành một nụ cười khinh bỉ cùng cực. Khí huyết nghịch chuyển trong lồng ngực khiến khóe miệng cô rỉ ra một vệt máu đỏ tươi do chấn thương màng phổi tái phát, nhưng nụ cười lạnh lùng trên gương mặt thanh tú ấy không hề biến mất.

“Đại cục của các người là biến sinh mạng của những đứa trẻ tin tưởng vào cánh cổng tiên môn thành củi mục đốt lò? Là biến những người thợ rèn, những phu xe còng lưng xúc than thành súc vật hiến tế để che giấu sự mục nát, rệu rã của đài Huyền Khuyết? Các người gọi đây là sự che chở của thánh địa sao? Đây là một lò mổ! Một lò mổ người không hơn không kém!”

“Câm mồm ngay!”

Nhâm Chấn gầm lên, đứng bật dậy khỏi ghế bành. Khí thế hùng hậu của một tu sĩ Kết Cốt hậu kỳ bộc phát dữ dội, linh áp nặng nề như ngọn núi đè ập xuống gian phòng, khiến không khí chùng xuống đặc quánh nghẹt thở. Những xấp công văn trên bàn bay phần phật, chén đĩa sứ rung lên bần bật rạn nứt.

“Ngươi dám công khai phỉ báng thể chế, trộm cắp hồ sơ mật cấp một, can dự phá hoại nghi lễ Bổ Khuyết của phủ Quan Tế! Chiểu theo thiết quân luật của tông môn trong thời kỳ đại dịch tro độc, ta lấy danh nghĩa Chấp pháp Trưởng lão, chính thức tước bỏ toàn bộ tư cách tuần tra và quyền hạn điều tra của ngươi ngay lập tức! Tháo kiếm nộp lại, cút về phòng giam hối lỗi chờ lệnh xử trảm!”

Trước áp lực linh khí kinh người của một tu sĩ Kết Cốt hậu kỳ, mái tóc Hạ Từ bay ngược ra sau, vết thương bên sườn trái nhói lên buốt óc khiến toàn thân cô run rẩy.

Nhưng đôi chân cô không hề lùi lại nửa bước. Ánh mắt cô nhìn thẳng vào đồng tử đục ngầu của Nhâm Chấn, không hề chớp lấy một lần. Ánh nhìn ấy tĩnh lặng, trong veo và sâu thẳm đến rợn người, tựa như mặt nước hồ băng ngàn năm không một gợn sóng trước bão giông.

Cô chậm rãi đưa bàn tay phải ra sau hông.

Bàn tay thon dài, đầy những vết chai sần của mười năm khổ luyện kiếm đạo, nắm chặt lấy chuôi thanh kiếm bằng thép xanh—thanh bội kiếm mà cô đã quỳ dưới chân tượng tổ sư mười năm trước để đón nhận. Đó từng là niềm tự hào duy nhất của đời cô, là minh chứng cho một đứa trẻ xuất thân từ đáy bùn xóm Thợ bước chân vào nội môn, là biểu tượng của công lý mà cô từng thề sẽ dùng tính mạng để bảo vệ.

*KENG!*

Hạ Từ dứt khoát tháo rời dải đai da quanh thắt lưng.

Cô đặt thanh kiếm thép xanh cùng tấm lệnh bài chấp pháp bằng đồng đen khắc hình hoa sen lên mặt bàn gỗ lim. Mũi kiếm chạm vào mặt bàn phát ra một tiếng vang thanh lảnh, đè thẳng lên đống hồ sơ dính đầy tro bụi và máu mủ dối trá.

“Thanh kiếm này từng được rèn để giữ gìn công lý và bảo vệ những kẻ yếu thế không có tiếng nói,” Hạ Từ cất giọng, từng chữ rành rọt vang vọng khắp gian sảnh tĩnh mịch, cắt đứt hoàn toàn luồng linh áp ngột ngạt của Nhâm Chấn. “Một khi nó chỉ còn được dùng làm công cụ đè đầu cưỡi cổ, tiếp tay cho phường buôn thịt người, thì nó chẳng khác gì một thanh sắt phế liệu gỉ sét. Chiếc áo nội môn dơ bẩn này, chức vị chấp pháp thối tha này... Hạ Từ tôi từ bỏ.”

Nói đoạn, cô dứt khoát quay ngoắt người lại.

Tà áo vải gai rách sờn tung bay trong luồng gió lạnh từ hành lang lùa vào. Không một cái ngoái đầu. Không một lời phân trần, van xin hay do dự.

Bằng những bước chân vững chãi và thẳng tắp, cô sải bước ra khỏi bóng tối ngột ngạt của sảnh Chấp Pháp, để lại sau lưng ba khuôn mặt già nua đang tái mét vì kinh ngạc, sững sờ và tức tối tột cùng.

Kẻ giữ cửa trung thành nhất của Thanh Lư Tông đã chính thức bước ra khỏi cánh cổng của chính mình.

***

Trong lúc đó, tại khu giam giữ biệt lập nằm sâu dưới chân vách đá phía đông ngục Nam Trụ.

Bóng tối nơi đây dày đặc và nhầy nhụa như thể người ta đang bị dìm sâu dưới đáy một dòng sông bùn cạn. Tống Hoài ngồi dựa lưng vào vách đá ẩm ướt, hai chân duỗi thẳng trên lớp rơm mốc bốc mùi hôi thối nồng nặc.

Thanh nẹp lưng bằng thau đỏ cọ xát vào đốt sống thứ tư bị rạn nứt phát ra những cơn nhói buốt âm ỉ, kéo giật từng thớ thịt từ thắt lưng chạy dọc lên tận sau gáy. Từng giọt mồ hôi lạnh túa ra trên vầng trán gầy guộc, chảy dài xuống hốc mắt sâu hoắm. Anh nhắm nghiền mắt, cố gắng điều hòa nhịp thở nông và đều đặn theo phương pháp tĩnh tâm cổ truyền mà năm xưa anh từng kiên nhẫn chỉ dạy cho Ninh Chiêu—không gồng mình kháng cự cơn đau, chỉ lặng lẽ tiếp nhận nó, biến nó thành một phần tải trọng của cơ thể để giữ cho tâm trí không bị bóng tối nuốt chửng.

Đột nhiên, từ phía ngoài hành lang tối om, tiếng lách cách của khóa đồng khẽ vang lên.

Đó không phải là tiếng xích sắt loảng xoảng hung bạo, thô lỗ thường ngày của đám cai ngục thuộc phủ Quan Tế mỗi khi đến giờ tống cơm ôi thiu. Đó là tiếng xoay then đều đặn, thận trọng, êm ái của một bàn tay cơ khí cực kỳ hiểu rõ cấu tạo bên trong của từng ổ khóa lẫy.

Cánh cửa sắt kiên cố hé mở một khe vừa đủ một người lách qua. Một bóng người vạm vỡ, khoác chiếc áo choàng màu xám tro có thêu biểu tượng bánh răng lồng trong ngọn lửa đỏ của Viện Công Tượng bước vào. Ánh đèn dầu nhỏ trên tay người đó hắt lên khuôn mặt vuông vức đầy những nếp nhăn khắc khổ, đôi gò má sạm đen vì khói lò và chòm râu ngắn hoa râm cắt tỉa gọn gàng.

Viện chủ Cố Thanh.

Theo sau ông là hai tên đệ tử thân tín của xưởng cơ khí, hai tay cẩn trọng bưng một chiếc hòm gỗ dài bọc sắt. Cố Thanh giơ cao một cuộn văn thư có đóng dấu triện son hình hoa sen nguyên vẹn của Viện Công Tượng, ánh mắt sắc như dao liếc nhìn tên cai ngục đang đứng khúm núm ở ngưỡng cửa:

“Thẩm quyền bảo trì công trình đặc cách cấp tối cao. Tên phế nhân này là người thợ cơ khí duy nhất còn sống từng tham gia khảo sát hệ thống van áp suất cụm ngầm sáu năm về trước. Hiện tại đại trận đang xảy ra rung chấn bất thường, Viện Công Tượng cần triệu tập nhân chứng kỹ thuật này để đối chiếu sai số móng cọc khẩn cấp. Lệnh điều động có chữ ký chuẩn y của Trưởng lão viện. Ngươi có ý kiến gì không?”

Tên cai ngục nhìn dấu triện son đỏ chót còn thơm mùi chu sa của Viện Công Tượng—cơ quan nắm giữ huyết mạch vận hành toàn bộ guồng máy tông môn—liền rụt cổ lại, cúi rạp người:

“Dạ... tiểu nhân không dám. Xin Viện chủ cứ tự nhiên làm phận sự.”

Cố Thanh phẩy tay. Hai người đệ tử lập tức bước tới, cẩn thận luồn tay qua nách đỡ Tống Hoài đứng dậy. Đốt sống lưng Tống Hoài nhói buốt dữ dội như có mũi dùi nung đỏ đâm xuyên qua tủy, khiến anh khẽ rên lên một tiếng nghẹn ứ nơi cổ họng. Nhưng cựu Minh Kiếm lập tức cắn răng ghìm lại, ngẩng đầu nhìn người bạn đồng môn thuở thiếu thời.

“Ngươi già đi nhiều quá đấy, Cố Thanh,” Tống Hoài thào thào bằng chất giọng khàn đặc, khóe môi khẽ nhếch lên nét cười giễu cợt quen thuộc năm nào.

“Còn ngươi thì vẫn cứng đầu, mục ruỗng như một thanh phôi thép cháy dở,” Cố Thanh đáp gọn lỏn, nhưng ánh mắt phức tạp đầy xót xa của ông quét nhanh qua thân thể tàn tạ, chằng chịt vết thương của bạn mình. “Đi thôi. Đừng để lãng phí từng khắc ta vừa mua được bằng danh phận cả đời của Viện Công Tượng.”

Họ đưa Tống Hoài ra khỏi ngục Nam Trụ qua một lối cửa ngách phía sau, dẫn thẳng vào kho phế liệu kim loại của xưởng rèn. Đêm đen như mực, sương muối buốt giá phủ một lớp màng trắng mờ lên các gờ đá vôi xám xịt của rặng núi phía đông.

Dưới chân tháp chuông đổ nát, Cố Thanh dừng lại bên cạnh một chiếc xe kéo chở các thùng gỗ chứa dầu bôi trơn máy móc. Ông phẩy tay ra hiệu cho hai người đệ tử lùi ra xa canh gác, rồi thò tay vào sâu trong ngực áo, rút ra một cuộn giấy da cừu thô ráp đã ố vàng vì dầu mỡ, dúi thẳng vào lồng ngực Tống Hoài.

“Đây là bản đồ chi tiết toàn bộ hệ thống ba trạm khóa ngầm dẫn vào lõi đại trận Huyền Khuyết,” Cố Thanh nói, giọng trầm xuống thấp nhất có thể, chỉ đủ cho hai người nghe thấy giữa tiếng gió rít gào qua các khe nứt của vách đá. “Đỗ Kính đã cho người nối tắt chín ống dẫn tủy bằng đồng đỏ thẳng vào mạch chính. Nhưng nghe cho kỹ đây, Tống Hoài.”

Bàn tay thô ráp, chai cứng và chằng chịt những vết sẹo bỏng lò rèn của Viện chủ Công Tượng bóp chặt lấy bả vai Tống Hoài. Lực siết mạnh mẽ đến mức khiến khớp xương của anh khẽ kêu răng rắc:

“Giới hạn bất khả xâm phạm: các ngươi chỉ được phép ngắt nhánh dẫn nạp cưỡng bức, chặt đứt dòng rút tủy của chín tải sống! Tuyệt đối không được làm tổn hại hay phá vỡ ba trụ móng chịu lực của tông môn! Ba trụ đá hoa cương bát giác găm sâu ba mươi trượng vào lòng núi là thứ duy nhất đang ghìm giữ toàn bộ địa mạch vùng này. Nếu các ngươi làm sập trụ móng, toàn bộ mảng kiến tạo sẽ vỡ vụn, mười vạn sinh linh ở thung lũng Lò Khê sẽ bị biển tro nóng chôn sống trước khi mặt trời mọc!”

Tống Hoài cúi đầu nhìn tấm bản đồ da cừu trong tay.

Dưới ánh sáng lờ mờ của màn đêm, những đường mực đen sắc nét vẽ tỉ mỉ từng ngóc ngách của hệ thống đường ống xả cặn, các buồng van cân bằng áp suất và vị trí hiểm yếu của ba trạm khóa ngầm: trạm Cửa Chấn ở sườn bắc, trạm Khảm Thủy ở rãnh ngầm phía nam và trạm trung tâm Cửu Giá nằm ngay dưới đáy đài tế. Trên từng vị trí đều có những ghi chú kỹ thuật cẩn trọng, rành rọt bằng nét chữ cứng cáp của Cố Thanh.

“Mỗi trạm khóa ngầm đều có trang bị một van xả khí ngược tự hủy,” Cố Thanh dặn dò thêm, ánh mắt nặng trĩu một nỗi âu lo ngút ngàn. “Đó là thiết kế cơ học phòng ngừa sự cố khi hầm ngập toan khí độc. Nếu vặn nhầm chiều ren răng cưa, van sẽ mở ngược thẳng vào buồng đốt áp suất cao. Khi ấy, toàn bộ nhánh hầm sẽ biến thành một lò thiêu sống trong vòng mười nhịp thở. Hãy nhớ lấy điều đó mà bảo toàn mạng sống.”

Tống Hoài khẽ gật đầu, cẩn thận cuộn tròn tấm da cừu nhét sâu vào trong lớp vạt áo rách nát sát ngực mình.

“Tôi hiểu rõ giới hạn. Cứu người, chứ không hủy diệt nơi này.”

Cố Thanh thở hắt ra một hơi dài, luồng hơi nước phả ra trắng xóa trong đêm lạnh. Ông kín đáo rút từ túi hông ra một chùm chìa khóa sắt nặng trịch cùng một tấm thẻ bài bằng gỗ bách có khắc triện đặc chế:

“Kho vật tư cơ khí số Chín nằm ở ngoài rìa vách núi phía tây—nơi đó có dự trữ than sạch mỏ Lạc Hạc, nẹp thép mềm y tế và dầu đốt dã chiến, chìa khóa đây. Còn tấm thẻ gỗ này... cầm lấy đưa cho lão lang băm Trần Mộc. Ta đã ký lệnh khẩn cấp, cho phép y xá Thạch Tuyền di tản toàn bộ phòng thuốc dã chiến ra bìa rừng sồi mà không bị các chốt tuần tra làm khó. Nếu lát nữa có thương vong từ hầm ngầm đưa lên... hãy chuyển hết về đó.”

Tống Hoài siết chặt chùm chìa khóa lạnh ngắt trong lòng bàn tay gầy guộc, rồi ngẩng lên nhìn thẳng vào mắt Cố Thanh.

Cả hai người đàn ông tóc đã điểm bạc nhìn nhau im lặng. Họ hiểu rõ hơn ai hết: một Viện chủ Công Tượng cả đời cẩn trọng, luôn tuân thủ từng quy chuẩn, luôn cân đo đong đếm từng cân quặng, từng bát than cám, đêm nay đã đem toàn bộ sinh mạng chính trị, danh dự cả đời và cả tính mạng của mình đặt cược vào canh bạc sinh tử này.

“Cảm ơn, Cố Thanh.”

“Đừng cảm ơn ta,” Cố Thanh quay lưng lại, kéo sụp chiếc mũ trùm đầu bằng vải thô xuống che kín mặt. “Ta không giúp các ngươi làm loạn. Ta chỉ đang làm công việc bảo trì của một người thợ... sửa chữa lại những chi tiết máy móc đã bị lũ người mù quáng lắp sai suốt ba mươi năm qua.”

***

Ven bờ con suối cạn chảy ngoằn ngoèo qua khe núi hiểm trở phía tây trấn Lò Khê, một gian kho than bỏ hoang nằm lọt thỏm giữa những vách đá vôi dựng đứng cheo leo.

Mùi bụi than đá ẩm ướt nồng nặc quyện với mùi rêu phong mục rữa phủ kín không gian chật hẹp, tối tăm. Một ngọn đèn dầu bấc tim vặn nhỏ hết cỡ đặt trên nắp một chiếc hòm gỗ sồi cũ kỹ, hắt ra thứ ánh sáng đỏ quạch, lay lắt, rọi lên những gương mặt hốc hác nhưng trong đáy mắt đều ngùn ngụt một ngọn lửa ngầm dữ dội.

Liên minh kiểm chứng Hạ Lĩnh chính thức nhóm họp.

Ninh Chiêu đứng tựa lưng cạnh chiếc đe cóc han gỉ đặt giữa phòng. Bàn tay trái của cô quấn chặt dải băng vải thô màu nâu xám, ép chặt lấy đường gân duỗi đang co giật từng chặp sau những ngày gõ búa liên tục; bàn tay phải cô cầm chắc một thanh kiếm sắt mài dở. Đó là một thanh kiếm thô ráp, thân kiếm dày bản, chưa kịp trổ rãnh huyết, bề mặt kim loại mới chỉ được ăn qua đá mài thô, để lộ ra những vệt xước xám ngoét sắc lẹm nhưng toát lên vẻ nặng trịch, chắc chắn.

Bên cạnh cô, Lê Vãn đang cắm cúi trải rộng tấm sơ đồ địa chấn chắp vá từ hàng chục mảnh giấy đo đạc lên mặt chiếc bàn dính đầy bụi than. Bàn tay nhỏ nhắn của cô gái trắc lượng lăm lăm chiếc thước đo góc bằng đồng thau, liên tục vạch những đường tính toán hình học phức tạp.

Tiếng bước chân thận trọng đạp lên đám lá mục khô khốc ngoài cửa khẽ vang lên.

Cánh cửa liếp đan bằng tre nứa bị đẩy nhẹ sang một bên. Tống Hoài bước vào, theo sát phía sau là Hạ Từ—người vừa dùng dải vải xé vội từ vạt áo đồng môn để băng bó chèn chặt lại vết thương rỉ máu bên sườn trái.

Theo sau họ, bác sĩ Trần Mộc còng lưng mang theo hòm thuốc dã chiến nặng trịch kêu lách cách tiếng chai lọ; Bùi Sách với chiếc túi vải thô căng phồng những nẹp gỗ cứu thương tự đẽo; và Vũ Kha—người thợ rèn vạm vỡ của xóm Thợ—đang vác trên vai một bọc vải bố nặng trịch, phát ra những tiếng va chạm leng keng đanh thép của những chiếc chốt ngắt bằng thép gió ba lớp.

Không gian trong gian kho than như ngưng đọng lại trong một nhịp thở nghẹt thở.

Bảy con người.

Bảy số phận trôi dạt từ những góc tăm tối khác nhau của cõi Hạ Lĩnh—từ người thợ rèn lò cao cả đời hít khói, cậu phu dịch ngoại môn gầy gò, người kiếm tu bị phế truất kinh mạch, cô trắc lượng sư bị tông môn ruồng bỏ, lão y quan kiên định với lời thề cứu người, cho đến nữ đệ tử nội môn vừa rũ bỏ danh phận và thanh bội kiếm danh dự... Họ cùng nhìn nhau dưới ánh đèn dầu leo lét.

Không một ai cất lên một lời hoa mỹ. Không có những lời thề thốt đao to búa lớn. Chỉ có tiếng kim loại va chạm khô khốc và hơi thở dồn dập, bỏng rát của những kẻ đã bị dồn ép đến chân tường của sự diệt vong.

Ninh Chiêu bước từng bước chậm rãi tới trước mặt Tống Hoài. Cô lật ngược chuôi thanh kiếm sắt mài dở, hai tay nâng ngang ngực, trịnh trọng trao về phía người thầy dạy kiếm của mình.

“Thanh kiếm này... tôi dùng phôi thép gió mác cao mà anh Vũ Kha giấu được dưới đáy lò, rèn đập liên tục theo đúng nhịp búa ba lớp của cha tôi ngày trước,” giọng Ninh Chiêu khẽ run lên nhưng rành rọt từng tiếng. “Tôi chưa kịp đánh bóng lưỡi kiếm, chưa kịp tra cán gỗ mun. Nhưng khẩu độ chuôi kiếm này, tôi đập nẹp theo đúng kích thước bàn tay cầm kiếm của anh.”

Tống Hoài nhìn chằm chằm vào thanh kiếm sắt trần trụi.

Bàn tay gầy guộc, chằng chịt những vết sẹo bỏng và chai sạn vì nhiều năm chống gậy mun của anh khẽ run rẩy khi những ngón tay chạm vào lớp da cá đuối bọc thô quanh chuôi kiếm. Ngay khoảnh khắc các ngón tay anh siết chặt lại quanh chuôi thép, một luồng điện buốt giá như dòng băng tuyết chạy dọc từ cổ tay phóng thẳng lên bả vai, kích hoạt vết thương kiếm cốt vỡ nát ở đốt sống lưng thứ tư nhói buốt dữ dội. Lồng ngực anh thắt nghẽn lại, mồ hôi lạnh toát ra đầm đìa hai bên thái dương.

Nhưng Tống Hoài không hề buông tay.

Anh hít một hơi thật sâu luồng không khí nồng nặc mùi than đá ẩm mốc, hạ thấp trọng tâm hai chân, cổ tay khẽ rung lên một biên độ cực nhỏ.

*VÚT!*

Một đường kiếm ngắn xé toạc không khí, vung ra một quỹ đạo bán nguyệt gọn gàng rồi dừng lại chuẩn xác cách mặt bàn gỗ đúng một phân.

Không hề có linh quang rực rỡ chói mắt. Không hề có kiếm khí kinh thiên động địa như thời anh còn là Minh Kiếm tung hoành ngang dọc chốn sơn môn. Chỉ có một đường kiếm mang tính cơ học tuyệt đối: chuẩn xác, lạnh lùng, tiết kiệm từng ly lực đạo và biến không gian hẹp thành một pháo đài phòng thủ bất khả xâm phạm.

Ánh mắt điềm tĩnh, sâu thẳm như đáy vực không đáy của Tống Hoài quét qua từng khuôn mặt đang căng thẳng trong căn phòng. Dù kinh mạch đã rách nát, dù mỗi cử động vung kiếm đều phải đánh đổi bằng những cơn đau xé da xé thịt, nhưng phong thái chỉ huy thực chiến của một kiếm tu từng sống sót qua hàng chục trận huyết chiến nơi biên cảnh lập tức biến anh thành điểm tựa vững chắc cho tất cả mọi người.

“Thép rất tốt,” Tống Hoài từ từ hạ mũi kiếm xuống, cất giọng trầm thấp, dứt khoát. “Đủ cứng để sống sót, và đủ sắc để đưa người ra ngoài.”

Anh bước lại gần chiếc hòm gỗ, đặt đầu mũi kiếm sắt lên tấm bản đồ da cừu mà Lê Vãn vừa trải ra, gõ nhẹ lên ba điểm mực đỏ đánh dấu vị trí các trạm khóa ngầm dưới lòng đất.

“Thời gian của chúng ta không còn nhiều. Đỗ Kính đã nhận ra sự dao động bất thường của địa mạch, lão là kẻ đa nghi, chắc chắn sẽ không đợi đến đêm trăng tròn mới tiến hành nghi lễ Bổ Khuyết. Kế hoạch tác chiến đêm nay phải chia thành hai mũi giáp công rõ ràng, phối hợp chặt chẽ, tuyệt đối không được phép giẫm chân lên nhau.”

Tống Hoài ngẩng đầu, nhìn thẳng vào Hạ Từ và Bùi Sách:

“Mũi thứ nhất: Tuyến hỗ trợ và di tản mặt đất. Hạ Từ, cô nắm rõ quy luật tuần tra của các đội chấp pháp, các chốt gác và mật mã đổi phiên ở ngoại môn. Bùi Sách, cậu thông thạo mạng lưới đệ tử tạp dịch và toàn bộ các đường cống thoát nước ngầm dẫn từ ngoại viện ra ngoài thị trấn. Hai người lập tức quay trở lại ngoại môn, phối hợp cùng các đội thợ lò của anh Vũ Kha, âm thầm mở đường di tản cho toàn bộ dân chúng xóm Lò Vôi và xóm Thợ.”

Tống Hoài nhấn mạnh từng chữ:

“Hãy dùng danh nghĩa lệnh phòng tránh bão tro độc dã chiến của Viện Công Tượng để đưa người già, trẻ nhỏ và gia đình các nạn nhân rút lui về phía bìa rừng sồi phía tây. Nếu trên đường gặp các toán lính tuần tiễu của phủ Quan Tế ngăn chặn, chỉ được phép phòng thủ tiêu hao, lợi dụng địa hình hẻo lánh và chướng ngại vật để chặn đường, tuyệt đối không được ham đánh giáp lá cà.”

Hạ Từ gật đầu dứt khoát. Bàn tay cô siết chặt lấy chuôi thanh đoản đao vừa lấy từ xưởng thợ rèn:

“Tôi hiểu. Tôi biết các ngách thông gió phía tây không có bố trí linh khuyển tầm hắt hơi. Tôi sẽ dẫn các gia đình đi men theo đường hào vận chuyển than cũ.”

“Bùi Sách,” Tống Hoài quay sang dặn dò chàng thiếu niên, ánh mắt dừng lại ở đôi chân nhanh nhẹn của cậu. “Kiểm tra lại toàn bộ nẹp gỗ và băng ép. Khi cuộc di tản bắt đầu trong đêm tối, chắc chắn sẽ xảy ra tình trạng giẫm đạp, ngã sập hầm than và đá lở. Vai trò cứu hộ và dẫn đường của cậu quyết định trực tiếp đến sinh mạng của những người đi sau.”

“Em nhớ từng bước sơ cứu rồi, anh Tống!” Bùi Sách đáp bằng giọng chắc nịch, lồng ngực phập phồng kiên định. Cậu vỗ nhẹ vào bao vải bên hông, nơi từng cuộn băng ép và thanh nẹp gỗ đã được sắp xếp ngăn nắp, thứ tự theo đúng bài học mà lão Trần Mộc vừa truyền dạy chiều nay.

Tống Hoài chuyển hướng nhìn sang vị y quan già:

“Bác sĩ Trần Mộc. Cố Thanh đã mở kho số Chín và cấp lệnh bảo đảm tuyệt đối cho y xá. Ông hãy mang toàn bộ số thuốc thanh phế, bột cầm máu và kim chỉ khâu vết thương, lập ngay một trạm cứu thương dã chiến bí mật tại ngôi miếu hoang ở bìa rừng sồi. Tất cả những người bị thương từ các đội di tản và đặc biệt là những người được chúng tôi đưa từ buồng rút tủy dưới hầm ngầm lên, sẽ được chuyển thẳng về đó để ông cấp cứu.”

Trần Mộc đưa tay chỉnh lại quai đeo hòm thuốc nặng trĩu trên vai, chòm râu bạc khẽ rung lên, gật đầu dứt khoát:

“Lão đã chuẩn bị sẵn thuốc tê đặc chế và nẹp cố định cho hai mươi ca chấn thương cột sống mức độ nặng nhất. Chỉ cần ba người các ngươi đưa được người còn thở ra khỏi cái hố rác man rợ đó, chuyện giữ mạng cho họ cứ để lão già này lo liệu.”

Phân công xong tuyến ngoài, Tống Hoài quay lại đối diện với Ninh Chiêu, Lê Vãn và Vũ Kha.

Bầu không khí trong gian kho than chùng hẳn xuống, căng thẳng đến mức nghe rõ cả tiếng bấc đèn cháy xèo xèo.

“Mũi đột kích ngầm sẽ do ba người chúng ta đảm nhiệm: tôi, Ninh Chiêu và Lê Vãn,” Tống Hoài hạ thấp giọng, mũi kiếm sắt miết một đường dài dọc theo nét vẽ ống dẫn nước làm mát. “Anh Vũ Kha, anh sẽ ở lại chốt giữ cửa hầm cống số Bốn, phụ trách tời kéo và tiếp tế các chốt ngắt thép gió. Ba chúng tôi sẽ luồn vào đường ống làm mát nằm sâu dưới tháp chuông sau Viện Công Tượng, lần lượt đánh chiếm trạm Cửa Chấn và trạm Khảm Thủy. Mục tiêu sống còn là dùng các chốt thép gió ba lớp của anh Kha để đóng sập hai nhánh dẫn nạp phụ, cô lập hoàn toàn buồng Cửu Giá trung tâm.”

Ninh Chiêu siết chặt bàn tay phải thô ráp, đôi mắt cô rực sáng một ý chí sắt đá:

“Cha tôi mười một năm trước khi lắp cụm van này đã cố tình để lại một góc mài khuyết mười bảy độ trên then van số Ba. Lớp sơn mới ba năm trước cho thấy cơ cấu thoát hiểm ấy vẫn còn nguyên đó. Khi áp lực dòng linh khí bị dồn ép ngược về Cửu Giá, tôi sẽ dùng xà beng cơ khí đòn bẩy bẻ gãy then chốt đó. Chỉ cần then chốt gãy, dòng rút tủy của chín chiếc giá sắt sẽ bị ngắt đứt hoàn toàn mà không làm chấn động đến ba trụ móng chịu lực.”

“Đúng là như vậy,” Lê Vãn tiếp lời, ngón tay thoăn thoắt vạch thêm một đường phấn trắng trên bản đồ da cừu để minh họa quỹ đạo lực. “Tôi đã tính toán xong sai số đàn hồi của tầng địa chất đá vôi. Khi nhánh dẫn nạp cưỡng bức bị bẻ gãy đột ngột, toàn bộ áp suất dội ngược sẽ va đập vào ba trụ đá hoa cương. Chúng ta sẽ chỉ có đúng bảy khắc đồng hồ để tháo toàn bộ chín đai kẹp người sống và rút lui qua đường xả cặn trước khi van xả ngược tự hủy kích hoạt buồng đốt!”

Bảy khắc đồng hồ. Bảy khắc để giành giật chín mạng người khỏi lưỡi hái tử thần của cỗ máy rút tủy.

Bảy con người nhìn nhau.

Dưới ánh đèn dầu chao đảo, những bàn tay chai sạn vì quai búa rèn, vì cán kiếm thô, vì dao thuốc, vì thước đo và vì xẻng than cùng chậm rãi vươn ra, đặt chồng lên nhau ngay trên mặt bản đồ dính đầy bụi than đá.

Một liên minh được tôi luyện không phải từ những mưu toan quyền lực, không phải từ danh vọng hão huyền hay lời hứa hẹn trường sinh bất tử của tiên gia, mà được gắn kết bằng mồ hôi, máu mủ và ý chí quật cường bảo vệ quyền được sống của những con người nhỏ bé dưới chân đài cao.

Vừa dứt lời giao ước, Lê Vãn vội vã rút tay lại, chụp lấy chiếc hộp đựng que đo chấn động và ống định vị địa tầng: “Mọi người chuẩn bị đồ đạc đi, tôi phải ra bờ suối cắm cọc đo lại nhịp chấn động của địa mạch ngay lập tức. Nếu Đỗ Kính bắt đầu mở van xả mồi, tôi sẽ phát tín hiệu.”

Bóng cô gái trắc lượng thoăn thoắt lách qua khe cửa liếp, lao nhanh vào màn sương tro mù mịt ngoài triền đá. Trong gian kho than, những người còn lại nhanh chóng thắt chặt lại đai da, kiểm tra từng bọc chốt ngắt và bao nẹp cứu thương.

Đột nhiên—

*RẦM!*

Chưa đầy nửa khắc sau, một tiếng nổ ục từ sâu trong lòng núi dội ngược lên, tiếp theo đó là tiếng cánh cửa liếp của gian kho than bị đẩy tung ra một cách bạo liệt, đập mạnh vào vách đá nứt toác.

Gió bấc rít gào lồng lộn cuốn theo từng màn tro xám xịt ùa vào phòng, thổi tạt ngọn đèn dầu bấc tim chao đảo dữ dội, suýt nữa tắt ngấm trong gang tấc. Mọi người đồng loạt giật mình, toàn thân căng cứng, bàn tay lập tức lăm lăm nắm chặt lấy vũ khí quay phắt ra phía cửa.

Lê Vãn đang đứng sững ở bậu cửa, trên tay vẫn cầm chặt chiếc que đo chấn động dính đầy bùn ướt.

Khuôn mặt cô gái trắc lượng tái mét không còn một giọt máu, lồng ngực phập phồng dữ dội trong từng cơn thở dốc nghẹn ngào. Mồ hôi lạnh đầm đìa trên vầng trán lem luốc bụi than dù gió ngoài trời buốt giá như cắt da cắt thịt.

Hai bàn tay cô run rẩy dữ dội, bám chặt lấy khung cửa gỗ mục nát đến mức mười đầu ngón tay trắng bệch, giọng nói cô lạc hẳn đi vì kinh hoàng và căng thẳng tột độ:

“Không kịp nữa rồi! Thiết giáp vệ của phủ Quan Tế vừa phá tung cửa hầm trung tâm! Đỗ Kính... Đỗ Kính đã cho áp giải toàn bộ chín tải sống vào trận sớm hơn dự kiến! Chu kỳ nạp lực cưỡng bức... sắp bắt đầu ngay bây giờ!”

Chương này thế nào?Đánh giá giúp Readeep đề xuất đúng hơn cho bạn