Kiếm Cốt Dưới Tro — Phần 1: Cửa Trời Không Có TiênC.3 / 40
Chương 3

Người không còn rút kiếm

Tiếng gõ cửa lúc chập tối không vang lên bằng đốt ngón tay, cũng chẳng phải tiếng nắm đấm nện bình bịch vào then gỗ. Nó phát ra từ đầu mũi bao kiếm bọc sắt nguội, gõ đúng ba nhịp khô khốc, đanh gọn lên cánh vách gỗ dán giấy dầu đã ngả màu mỡ gà của Lò Ninh.

Cộc. Cộc. Cộc.

Mỗi nhịp gõ cách nhau chuẩn xác bằng một lần thở ra hít vào của người luyện võ. Nó không mang theo sự rụt rè của một kẻ hàng xóm nghèo sang xin hòn than đỏ về nhóm bếp, cũng chẳng giống thói đập cửa thô bạo, văng mạng của đám sai dịch phường Nam Trụ mỗi bận kéo đến đòi thu thuế quặng quá hạn. Âm thanh ấy lọt thỏm giữa những cơn gió bấc gắt gao đang rít từng hồi qua hàng trăm ống khói xám xịt của trấn Lò Khê, nhưng lại khiến cánh tay phải đang đưa nhát giũa thép của Ninh Chiêu khựng phắt lại trên sống một lưỡi liềm cùn.

Răng cưa của cây giũa nguội cọ vào vảy sắt phát ra một tiếng *két* chói tai rồi im bặt.

Ninh Chiêu không vội vã cất tiếng. Nàng bình thản đặt cây giũa nặng chịch xuống mặt chiếc đe sắt hình nêm, mũi chân khẽ xoay trên nền đất nện phủ dày một lớp mạt sắt và xỉ than vụn. Trong gian xưởng rèn mờ tối, khói của mẻ than đá đốt dở lúc ban chiều vẫn còn quẩn quanh dưới những rui mè ám muội đen sì, bốc lên mùi ngai ngái của quặng sulfur chưa cháy kiệt quyện lẫn mùi mỡ bò khét lẹt dùng để tôi thép non. Dưới hộc đá ngầm ngụy trang đáy bễ lò, nơi hai phiến đá xanh ghép mộng kín mít chỉ hở một kẽ móng tay, mảnh thép vỡ của kiếm Hàn Tủy vẫn nằm im trong lớp giẻ dầu tẩm mỡ bò đặc quánh. Nó lạnh buốt, một thứ hàn khí vô hình thấm qua lớp gạch lót lò dày nửa gang tay, khiến bắp chân nàng buốt nhói mỗi lần đứng gần.

Ninh Chiêu đưa mu bàn tay áo thô lên quệt vệt mồ hôi đang rịn ra nơi thái dương, tiện đà kéo lại mép chiếc tạp dề da trâu dày cộp che kín phần hông bên phải. Ở đó, giắt sâu trong cạp quần vải bố, là một cây đục nguội bằng thép gió dài nửa cánh tay, chuôi bọc dây gai đã nhẵn bóng qua hàng vạn lần va đập với búa tạ.

"Cửa khép hờ, không gài then." Nàng cất giọng khàn đục, cố tình ép hơi từ lồng ngực để âm điệu nghe khô cằn, rệu rã như giọng một kẻ thợ thuyền mạt hạng vừa trải qua một ngày quai búa rã rời cả gân cốt.

Cánh cửa gỗ ken két mở ra một khe hẹp vừa đủ một thân người. Gió lạnh từ thung lũng quặng bên ngoài lập tức xộc vào, mang theo hơi ẩm nhơm nhớp của bùn xỉ ướt và thứ bụi tro khoáng chất xám xịt quanh năm trùm lên trấn Lò Khê. Ngọn đèn dầu lạc leo lét đặt trên mặt bàn thợ lập tức chao đảo dữ dội, tim đèn nở một đóa hoa tàn rồi phả ra một dải khói đen ngòm, cay xè đến nhức mắt.

Một bóng người lách qua khe cửa hẹp rồi trở tay khép hờ cánh ván lại sau lưng. Động tác của gã êm ru, then cài bên trong không hề chạm vào ngàm cửa.

Đó là một gã đàn ông có vóc người tầm thước nhưng chắc nịch, hai vai hơi gù về phía trước theo thói quen của kẻ giấu vũ khí dưới nách. Gã khoác một chiếc áo choàng vải thô màu nâu sẫm bạc phếch, thứ trang phục đặc trưng của cánh lái buôn phế liệu hay lui tới các bãi xỉ than dưới chân núi để mót quặng vụn. Thế nhưng, đôi ủng da dê dưới chân gã tuy có vấy chút bùn đỏ của đất Lò Khê nhưng lại sạch bóng ở mép đế, không hề có lấy một vết mòn lệch ở gót chân—thứ dấu ấn không tài nào xóa nhòa của những kẻ quanh năm gồng gánh hàng nặng lội qua các triền đá tai mèo trơn trượt.

Khăn trùm đầu bằng vải gai quấn kín nửa dưới khuôn mặt gã, chỉ chừa ra đôi mắt ti hí sâu hoắm dưới đôi mày rậm ngắn. Ánh mắt gã đảo nhanh như cắt quanh gian xưởng tối tăm, lướt qua đống xỉ quặng chưa đãi ở góc tường, sọt đựng than cám, xô nước ngâm sắt bằng đá xanh nứt nẻ, rồi dừng lại thật lâu trên chiếc đe sắt nặng ba trăm cân của Ninh Chiêu.

"Chủ lò họ Ninh?" Gã lên tiếng.

Giọng gã the thé nhưng lại bị kìm nén bằng khí tức nội gia để ép xuống thật trầm, tạo thành một thứ âm thanh cọ xát the thé, rít ráo khó nghe hệt như hai hòn đá nhám miết mạnh vào nhau.

"Phải," Ninh Chiêu không bước ra khỏi vùng sáng vàng vọt của cây đèn dầu, hai bàn tay thô ráp, gân guốc đan vào nhau buông hờ trên đùi. "Cần sửa lưỡi cày, vá xẻng hay mua chốt then cửa sổ? Lò hôm nay cời tro tắt lửa rồi. Muốn tôi thép hay đánh đồ mới thì sáng mai quay lại lúc trời rạng. Giờ này thợ thuyền nghỉ tay."

Gã lái buôn khẽ phát ra một tiếng cười nhạt từ sau lớp khăn gai. Gã không trả lời ngay mà thong thả tiến lại gần chiếc bàn gỗ dùng để đo phôi thép, bước chân nhẹ đến mức lớp mạt sắt dưới sàn không hề phát ra tiếng lạo xạo. Gã thọc tay vào vạt áo trong, rút ra một chiếc túi vải thô dệt dày màu xám tro. Khi gã buông tay đặt chiếc túi lên mép bàn, nó phát ra một tiếng *uỵch* nặng trịch, kèm theo âm thanh lanh lảnh, khô giòn của kim loại va đập vào nhau.

Miệng túi hơi hé mở, để lộ ra những thỏi bạc nén đúc vuông vức, mép gờ sắc cạnh chưa hề bị mài mòn, xen lẫn hàng chục đồng tiền đồng có viền răng cưa bóng loáng—thứ tiền tệ tinh xảo do chính phủ Quan Tế phát hành, chỉ lưu hành nội bộ trong giới quan lại và các thương đoàn lớn có giấy phép của tông môn.

Số tiền ấy, nếu đem đổi ra thóc gạo hay than đá, đủ để một xưởng rèn quy mô nhỏ như Lò Ninh mua than đá thượng phẩm đốt liên tục trong suốt hai mùa đông mà không cần phải nhìn sắc mặt đám cai thầu phường Nam Trụ.

Ninh Chiêu nheo mắt nhìn đống bạc nén lấp lánh dưới ánh đèn dầu lạc, đáy mắt nàng phẳng lặng như mặt nước giếng sâu đóng băng, không hề gợn lên một tia dao động nào của kẻ thấy của cải bất ngờ. Trong cái thị trấn ngập ngụa tro tàn và bùn rỉ này, tiền bạc từ trên trời rơi xuống vào lúc nhá nhem tối chưa bao giờ là điềm lành. Nó chỉ đi kèm với hai thứ: hoặc là một bản án chém đầu tru diệt, hoặc là một cái xác không toàn thây bị ném vào đáy lò cao luyện quặng.

"Tôi không bán xưởng," Ninh Chiêu lạnh lùng nói, ánh mắt dời khỏi túi bạc, nhìn thẳng vào chóp mũi gã đàn ông. "Lò rèn này là cơ nghiệp cha tôi để lại, có nát cũng để đấy gõ búa kiếm chén cơm qua ngày."

"Ai thèm mua cái xưởng rách nát đầy bụi tro và rỉ sét này của cô?" Gã lái buôn bước lên thêm một bước, hai bàn tay đeo găng da hở ngón chống lên mặt bàn gỗ, ghé sát nửa khuôn mặt bịt kín về phía nàng. Hơi thở của gã phả ra mùi lá ngải cứu khô dùng để át mùi tanh của máu. "Ta nghe nói trưa nay, lúc cửa trời Huyền Khuyết đóng lại, gió quẩn mang tro của đàn tế tràn qua các mái ngói ở mé đông trấn Lò Khê. Có vài mẩu sắt vụn rơi từ trên mái lò rèn xuống máng nước của cô. Giao mẩu sắt ấy ra đây, chỗ bạc này là của cô. Toàn bộ, không thiếu một đồng. Chừng này đủ để cô đưa lão thợ già ho hen trong chái nhà sau lưng xưởng lên tận trấn trên mua thuốc thanh phế loại tốt nhất của Diệu Dược đường."

Một sợi tóc mai lòa xòa trước trán Ninh Chiêu khẽ run lên.

Gã không hề nhắc đến tên kiếm tu Tạ Vân. Gã cũng tuyệt nhiên không mở miệng nhắc tới Du Hành hay ba chữ 'Hàn Tủy Kiếm'. Gã chỉ gọi nó là 'mẩu sắt vụn rơi từ mái lò'. Một cách dùng từ cực kỳ thận trọng, kín kẽ như tường đồng vách sắt, nhưng lại chứng minh rõ ràng một điều đáng sợ: kẻ đứng sau lưng gã biết chính xác thứ gì đã rơi xuống từ đàn tế Huyền Khuyết trưa nay, và chúng biết mẩu kim loại ấy đã rơi trúng nóc Lò Ninh. Mạng lưới tay chân của phủ Quan Tế đã tỏa ra khắp các hang cùng ngõ hẻm của Lò Khê, lùng sục từng xó xỉnh để thu hồi mọi manh mối vỡ vụn trước khi tin tức về thanh kiếm gãy lọt ra ngoài.

Ninh Chiêu lộ vẻ ngơ ngác rất tự nhiên của một phường thợ quen sống trong ngu dốt. Nàng cau mày, đôi mắt híp lại đầy vẻ bực bội:

"Mẩu sắt vụn? Trưa nay đám quan sai áo đỏ của phủ Quan Tế đã đạp tung cánh cửa xưởng này một lần rồi. Bọn họ cầm xẻng sục sạo, vét sạch máng xối nước mưa với cái bể ngâm thép của tôi. Đến cả cái chậu sành đựng tro cặn để tôi giũa dao họ cũng bới tung lên nộp về nha môn, lấy đâu ra sắt vụn nữa? Gió tro của các vị tiên nhân thổi sập hai hàng ngói trên chái mái, mưa xuống dột ướt hết cả đống than gầy, tôi còn đang rủa thầm trong bụng vì phải tốn tiền đong ngói mới đây."

Gã lái buôn không hề chớp mắt. Ánh nhìn sắc như lưỡi dao cạo găm chặt vào từng thớ thịt trên gò má lem luốc của Ninh Chiêu, soi mói từng chuyển động nhỏ nhất của cơ mặt nàng:

"Chủ lò Ninh, cô đừng đóng kịch với ta. Cô là con gái của Ninh Trác, từ nhỏ đã lớn lên bên bễ thụt và đe sắt. Người trong nghề nhìn qua là biết đâu là xỉ quặng, đâu là phôi linh kiếm. Đám sai dịch mắt thịt ở nha môn có thể bị cô dùng vài xẻng tro đãi lừa gạt qua mắt, nhưng đừng hòng giấu được chủ nhân của ta. Một mẩu kim loại mang theo hàn khí buốt xương, dài chừng ba đốt ngón tay, vỡ từ phần sống kiếm. Cô nghĩ một kẻ từng phụ việc nhóm lò cho Ninh Trác lại ném một thứ chí bảo như thế vào sọt rác hay sao?"

Cái tên của cha nàng thốt ra từ miệng gã lái buôn tựa như một que diêm đỏ ném thẳng vào đống bùi nhùi tẩm dầu hỏa trong ngực Ninh Chiêu. Đốt ngón tay trỏ của nàng giật khẽ một cái, nhưng bàn tay vẫn giữ nguyên vị trí giấu sau vạt tạp dề, áp sát vào chuôi cây đục thép gió lạnh ngắt.

Cha nàng đã mất tích mười một năm trước trong một chuyến đi sửa chữa khí cụ bí mật ven biển tro sau lệnh triệu tập của thượng tầng tông môn, bặt vô âm tín suốt ngần ấy năm trời. Người ở Lò Khê kẻ thì bảo ông đã vùi xác nơi đáy vực sóng tro, kẻ thì thì thào ông vướng vào cấm kỵ nên bị thủ tiêu, nhưng cái tên ấy từ lâu đã bị tro tàn và nỗi sợ hãi phủ lấp, không ai dám khơi lại trước mắt phủ Quan Tế.

"Tôi nhắc lại lần cuối cùng," giọng Ninh Chiêu chìm hẳn xuống, đanh lại và lạnh như một thanh thép nguội vùi dưới băng tuyết. "Ở Lò Ninh không có mẩu sắt nào của các người. Muốn bới phế liệu, bước ra bãi tro Nam Trụ mà bới cùng đám trẻ mồ côi. Còn nếu muốn sinh sự ép người, thì đừng quên cái xưởng rèn rách này nằm ngay cạnh trục đường tuần tra đêm của đệ tử ngoại viện Thanh Lư Tông. Tôi chỉ cần đập chiếc búa này lên mặt đe ba tiếng, đội tuần tra sẽ có mặt trước khi ông kịp bước chân ra khỏi ngõ."

Sự im lặng đặc quánh lại, bao trùm gian xưởng rèn trong vài chục nhịp thở. Chỉ còn nghe thấy tiếng gió rít qua kẽ ván gỗ ọp ẹp và tiếng dầu lạc cháy lẹt xẹt trên đĩa đèn.

Khóe mắt gã lái buôn giật giật. Gã không nổi giận, cũng không hề lớn tiếng chửi bới. Bằng một động tác chậm rãi đến rợn người, gã thò tay túm lấy miệng túi tiền, kéo dây buộc lại rồi nhét ngược vào trong ngực áo choàng.

"Rất cứng cỏi. Quả nhiên là cốt cách của nhà họ Ninh," gã lẩm bẩm qua lớp khăn bịt mặt, lùi lại nửa bước.

Khi gã xoay nửa người chuẩn bị bước về phía cửa, vạt áo choàng vải thô màu nâu khẽ hất sang một bên theo quán tính. Dưới lớp vải xơ xác, ánh đèn dầu leo lét rọi sáng một đường gờ thép dẹt dài khoảng hai thước, áp sát dọc theo đùi phải của gã. Đó là một chiếc bao kiếm hẹp bằng da cá đuối bọc nẹp đồng—thứ bao kiếm chuyên dụng của giới sát thủ giang hồ vùng biên cương, dùng để rút nhanh trong ngõ hẹp mà không vướng víu vạt áo, tuyệt đối không phải là món đồ phòng thân của một kẻ gom đồng nát phế liệu.

"Đá ở trấn Lò Khê lởm chởm và sắc lắm. Đêm hôm đường trơn tro ướt, đi lại nhớ nhìn dưới chân, kẻo vấp ngã vỡ đầu đấy, cô thợ rèn ạ."

Gã buông lại một câu bằng giọng đều đều, không chút biểu cảm, rồi giơ tay đẩy cửa bước ra ngoài. Cánh cửa gỗ dán giấy dầu đập mạnh vào khung một tiếng *rầm* khô khốc, kéo theo một luồng hơi lạnh buốt giá và mùi bùn quặng ẩm ướt tràn vào gian phòng.

Ninh Chiêu đứng bất động sau mặt đe sắt, lưng thẳng tắp, đếm đủ mười lăm nhịp thở.

Nàng hít một hơi thật sâu. Không khí Lò Khê đêm nay ngập tràn mùi tro ẩm và lưu huỳnh nồng nặc, cay xè nơi cuống họng. Trực giác tôi luyện qua những năm tháng đối diện với lò lửa và sắt nóng mách bảo nàng rằng gã sát thủ kia không hề bỏ đi xa. Hắn nói câu đó không phải để đe dọa suông. Kẻ đứng sau đợt lùng sục này hoàn toàn không có kiên nhẫn. Sự kiện đàn tế Huyền Khuyết chấn động cả tông môn, mảnh kiếm Hàn Tủy rơi xuống là một lỗ hổng chết người cần phải bít kín ngay trong đêm.

Nếu để gã rời khỏi khu vực này và báo tin về cho kẻ chủ mưu, thì trước khi trời sáng, Lò Ninh sẽ không đón tiếp một gã buôn phế liệu mang túi bạc nữa. Kẻ tìm đến sẽ là đội thiêu sát áo đỏ của phủ Quan Tế, hoặc một mồi lửa "vô tình" bùng lên từ đống than ủ, thiêu rụi toàn bộ gian xưởng cùng tính mạng tàn tạ của lão Cát trong chái nhà sau.

Bọn chúng đang vội vã xóa sạch mọi dấu vết.

Ninh Chiêu dứt khoát cởi phăng chiếc tạp dề da trâu vắt lên mặt đe sắt. Nàng rút cây đục nguội bằng thép gió dắt chặt vào thắt lưng vải bố, với lấy chiếc áo khoác ngắn màu xám tro bạc màu mặc vào người, kéo sụp chiếc mũ trùm đầu che khuất vầng trán. Không một tiếng động thừa thãi, nàng lách mình qua cánh cửa ngách phía sau chuồng chứa than, hòa tan vào màn sương mù đặc quánh đang nuốt chửng những con hẻm quanh co của trấn Lò Khê.

***

Đêm ở trấn Lò Khê không bao giờ nhìn thấy trăng sao.

Màn tro dày đặc từ đỉnh đài Huyền Khuyết bị gió núi thổi dạt xuống lòng thung lũng, kết hợp với hơi nước bốc lên cuồn cuộn từ các con mương làm nguội quặng tạo thành một thứ sương mù xám ngoét, nhờn nhợt và dính nhớp như dầu mỡ. Đất dưới chân dốc ngoằn ngoèo nhão nhoét thành một lớp bùn quặng xám xịt, lút đến mắt cá chân.

Bóng gã lái buôn thoắt ẩn thoắt hiện phía trước, cách nàng chừng hai mươi trượng. Gã di chuyển cực nhanh, nhưng bước chân lại nhẹ tênh, hầu như không phát ra tiếng bì bõm của kẻ đạp vào bùn lầy. Thân người gã lướt đi là là trên mặt đất, nửa thân trên giữ thăng bằng tuyệt đối, trọng tâm luôn hạ thấp dồn vào mũi chân—đây là thân pháp căn bản của kẻ có tu vi Luyện Thân cảnh đã rèn giũa phần hạ bàn đến mức viên mãn, gân cốt dẻo dai như dây cung ngâm dầu.

Ninh Chiêu giữ một khoảng cách an toàn, nép sát vào bóng tối của những bờ tường đất trình và các dãy lò gạch bỏ hoang mục nát. Nàng sinh ra và lớn lên ở mảnh đất cằn cỗi này, nhắm mắt lại cũng nhớ rõ ngách nào có đống xỉ than lởm chởm, góc ngoặt nào có rãnh nước thải sâu ngập gối. Nhưng càng bám theo, lồng ngực nàng càng siết chặt lại.

Gã đàn ông không hề đi về hướng trạm trung chuyển Nam Trụ, nơi có quán trọ và xe ngựa của các thương đoàn, cũng không hướng ra cổng trấn để quay về nha môn phủ Quan Tế. Gã đang dẫn nàng đi vòng vèo qua khu lò gốm phế tích, tiến sâu vào khu vực kho chứa quặng số Bốn đã bị niêm phong bỏ hoang từ hơn mười năm trước.

Khu kho quặng nằm áp sát vào vách đá dựng đứng của sườn núi Lạc Hạc. Xung quanh hoang vắng đến lạnh người, chỉ có tiếng nước rỉ tí tách từ các máng gỗ mục và tiếng chuột cống chạy rúc rích bên dưới những đống sọt tre rỗng chất cao như những ngọn gò.

Đến một khúc quanh hẹp hình chữ U bị chặn đứng bởi một bức tường đá xanh nứt toác của kho quặng, bóng dáng gã lái buôn đột ngột biến mất sau góc ngoặt tối tăm.

Ninh Chiêu lập tức khựng bước chân.

Không khí xung quanh khúc quanh bỗng chốc tĩnh lặng đến rợn gáy. Ngay cả tiếng gió bấc rít qua các khe vách mục nát dường như cũng ngừng bặt trong khoảnh khắc. Không còn tiếng sỏi đá cọ xát, không còn hơi thở của sự sống.

Một cái bẫy. Hắn biết nàng bám theo ngay từ lúc rời khỏi xưởng.

Ý nghĩ kinh hoàng vừa lóe lên trong đầu thì một tiếng xé gió mỏng tang, sắc lẹm đã rít lên sát sạt bên tai trái của nàng!

Gã lái buôn không hề đi tiếp. Gã đã ép sát lưng vào gờ đá đen ngòm nơi góc chết của bức tường, chờ đúng tích tắc nàng vừa ló đầu qua khúc quanh liền xoay ngoắt người lại. Dưới lớp áo choàng thô, thanh kiếm mỏng như lá tre tuốt khỏi vỏ trong tĩnh lặng tuyệt đối, vạch ra một đường sáng lạnh buốt nhắm thẳng vào cuống họng Ninh Chiêu!

Đó là một nhát đâm thẳng tắp, ngắn gọn, tàn độc và chuẩn xác đến từng phân—đòn sát thủ rút kiếm đoạt mạng trong cự ly hẹp.

Theo phản xạ của một thợ rèn quen đối mặt với những tia lửa hàn bắn tung tóe, Ninh Chiêu vung mạnh tay phải lên. Cây đục nguội bằng thép gió giắt bên hông được rút phắt ra, dựng đứng chắn ngang trước ngực. Sức mạnh cơ bắp tích lũy qua hơn mười năm vung búa tạ nặng hai mươi cân khiến cánh tay nàng cứng đơ như một thanh gỗ lim đặc, lực vung ra mang theo tiếng xé gió trầm đục, đủ sức đập vỡ một phiến đá xanh.

*Keng!*

Tia lửa kim loại bắn ra chói lòa trong bóng tối mịt mùng. Đầu mũi kiếm đâm trúng vào thân cây đục nguội, phát ra một âm vang đanh gọn. Thế nhưng, điều khiến Ninh Chiêu lạnh toát sống lưng là thanh kiếm mỏng manh ấy không hề bị lực đập ngàn cân của nàng hất văng ra ngoài.

Thanh kiếm trong tay gã sát thủ mềm dẻo và trơn trượt như một con rắn nước. Ngay vào khoảnh khắc hai khối kim loại chạm nhau, cổ tay gã chỉ khẽ xoay một góc nửa vòng tròn cực nhỏ, triệt tiêu toàn bộ phản lực thô bạo của cây đục, mượn đà trượt dọc theo thân thép gió. Lưỡi kiếm sắc lẹm chếch lên trên, rạch một đường ngọt xớt qua bả vai áo của Ninh Chiêu.

Vải thô rách toạc. Một vệt máu đỏ tươi lập tức bắn ra, thấm ướt đẫm vạt áo tro, kéo theo một cảm giác buốt rát thấu tận xương tủy.

"Thợ rèn thì cả đời chỉ nên biết đập sắt vụn," gã sát thủ cười gằn, giọng nói nhỏ giọt sự khinh miệt của một kẻ có căn cơ võ học trước một kẻ phàm nhân chỉ có sức trâu mộng. "Bộ pháp hỗn loạn, trọng tâm nhấp nhô, mắt chỉ biết chăm chăm nhìn vào vũ khí của đối phương. Cô nghĩ cầm một cây đục sắt là có thể đánh nhau với kiếm khách sao?"

Gã bước lên một bước ngắn. Bộ pháp của gã chặt chẽ đến mức đáng sợ, hai bàn chân trượt trên mặt đất bùn không bao giờ rời xa nhau quá nửa bước, trục hông và vai khóa chặt thành một khối thống nhất. Mũi kiếm lại rung lên, hóa thành ba điểm sáng chập chờn như ma trơi, phong tỏa toàn bộ đường lui của nàng.

Ninh Chiêu lùi gấp hai bước, gót chân trượt dài trên lớp bùn nhão nhoét. Lúc này nàng mới thấm thía sự bất lực tột cùng của một kẻ ngoại đạo. Nàng có sức mạnh thể chất vượt trội, có thể quai búa hàng ngàn nhát từ rạng đông đến chập tối, có thể dùng tay không bẻ cong những thanh sắt non, nhưng trước mặt một kẻ được tôi luyện kiếm thuật bài bản, toàn bộ sức mạnh đó biến thành trò cười vụng về. Nàng hoàn toàn mù tịt về cự ly chiến đấu. Nàng không biết khi nào đối phương sẽ phát lực, không thể đoán được nhịp thở và góc tấn công của mũi kiếm, và điều nguy hiểm nhất là nàng không biết làm cách nào để rút lui mà không để lộ ra những sơ hở chết người trên thân thể.

Mũi kiếm của gã sát thủ lại đâm tới lần thứ hai, lần này nhắm thẳng vào huyệt đạo dưới vai phải của nàng—một nhát đâm nhằm phế bỏ gân tay, triệt tiêu hoàn toàn khả năng cầm nắm vũ khí, rõ ràng gã vẫn muốn giữ lại mạng sống của nàng để tra khảo tung tích mảnh kiếm gãy.

Ninh Chiêu hoảng loạn vung đục gạt sang ngang, nhưng đòn đánh hoàn toàn hụt vào khoảng không. Trọng tâm mất thăng bằng, nàng ngã ngửa về phía sau, lưng đập sầm vào một đống sọt tre rỗng chất cao ngất ngưởng bên hông kho quặng số Bốn.

Các sọt tre đổ ụp xuống, bụi mù tích tụ hàng chục năm bay lên cay xè mắt mũi. Cây đục thép gió trong tay nàng bị mũi kiếm chém hất tung lên không trung, cắm phập vào vách đất phía xa.

Gã sát thủ lạnh lùng bước tới, mũi kiếm hạ thấp, dí sát vào yết hầu nàng, khoảng cách chỉ còn chưa đầy một tấc:

"Nói. Mẩu thép đó cô giấu ở đâu trong xưởng? Nói ra, ta cho cô một cái chết thanh thản không đau đớn."

Đúng vào khoảnh khắc lưỡi kiếm lạnh buốt chạm vào lớp da cổ mỏng manh của Ninh Chiêu, một âm thanh khô khốc, đứt đoạn vang lên từ phía trên giàn củi thông mục nát cách đó ba trượng.

*Phựt!*

Một bóng người gầy guộc tột cùng chẳng biết đã đứng trên gờ mái mục của kho quặng từ lúc nào. Kẻ đó không mang kiếm bên mình, trên tay chỉ cầm một chiếc móc sắt dài cán gỗ—thứ công cụ thô sơ mà cánh phu bốc vác ở bến thuyền than hay dùng để kéo các kiện hàng nặng.

Chiếc móc sắt xé gió lao xuống với một góc nghiêng cực kỳ hiểm hóc. Nó không hề nhắm vào đầu hay cổ họng của gã sát thủ, mà móc thẳng vào nút thắt của sợi dây thừng bện bằng xơ dừa đang chằng giữ cả giàn củi tạ nặng hàng ngàn cân bên trên. Lực giật ngắn, dứt khoát và chuẩn xác đến rợn người. Sợi dây thừng vốn đã bị hơi ẩm và tro than ăn mòn mục ruỗng lập tức đứt phựt làm đôi.

*Rầm rầm rầm!*

Hàng trăm súc củi thông to bằng bắp đùi, dài cả sải tay đổ ụp xuống như một trận sạt lở đất thu nhỏ, quét qua khoảng sân hẹp.

Gã sát thủ biến sắc, theo phản xạ của kẻ luyện võ lập tức lùi nhanh về phía sau để tránh né. Thế nhưng, bùn nhão dưới chân khiến bộ pháp của gã bị chậm mất nửa nhịp. Ba khúc gỗ thông nặng trịch lao thẳng xuống, một khúc đập mạnh vào khớp gối, hai khúc còn lại đè nghiến lên mu bàn chân phải của gã, đóng chặt gã vào vũng bùn lầy.

"Khốn kiếp! Kẻ nào dám..." Gã rít lên qua kẽ răng, tay vung kiếm toan chém đứt khúc gỗ đang găm chân mình.

Nhưng gã chưa kịp vung hết biên độ của cánh tay thì bóng đen gầy guộc ấy đã từ trên đống củi trượt xuống đất.

Không hề có ánh kiếm quang rực rỡ xé toạc màn đêm, không có kiếm khí tung hoành như trong những câu chuyện truyền kỳ về các bậc kiếm tiên phi thăng độ kiếp. Bóng người gầy trơ xương ấy khoác một manh áo vải thô rách rưới vá chằng vá đụp, hai tay nắm chặt một chiếc gậy gỗ bọc đồng ở hai đầu—chiếc gậy chống của một kẻ tàn tật.

Người đó không hề nhắm vào đầu hay ngực đối phương. Lợi dụng khoảnh khắc gã sát thủ đang nghiêng người vặn vẹo vì mất thăng bằng, chiếc gậy gỗ bọc đồng vung lên một đường cực ngắn—chỉ vỏn vẹn nửa thước—nhưng dồn toàn bộ trọng lượng gầy còm của cơ thể vào đầu gậy, thúc thẳng vào then cài của cánh cửa sắt kho quặng đang mở toang bên cạnh.

*RẦM!*

Cánh cửa kho bằng gỗ bọc sắt rỉ sét nặng hàng trăm cân bị lực đòn bẩy cực mạnh quét qua, đóng sầm lại với một tốc độ kinh hoàng.

Đúng vào tích tắc nghìn cân treo sợi tóc đó, cánh tay phải cầm kiếm của gã sát thủ đang vươn ra ngoài để giữ thăng bằng. Cạnh cửa kho dày hai tấc dập thẳng vào cổ tay gã, kẹp chặt nó vào khung cửa bằng đá xanh!

*Rắc!*

Một tiếng gãy giòn tan rợn người của xương cốt vang lên giữa đêm tĩnh mịch, đi kèm là tiếng thét thảm thiết, xé toạc màn sương tro đặc quánh của gã sát thủ.

Thanh kiếm mỏng rơi cắm phập xuống vũng bùn đen. Cổ tay phải của gã biến dạng hoàn toàn, gãy gập sang một góc kỳ dị dưới sức ép cơ học thô bạo và chuẩn xác đến mức tàn nhẫn.

Một đòn duy nhất. Không hoa mỹ, không lãng phí một chút sức lực thừa thãi, tận dụng triệt để địa hình, sức nặng của cánh cửa sắt và sự sơ hở của đối phương.

Bóng người gầy guộc đứng tựa vào chiếc gậy bọc đồng, lồng ngực phập phồng dữ dội. Mái tóc bù xù bết dính tro than để lộ ra một khuôn mặt hốc hác, râu ria lởm chởm, nhưng đôi mắt sâu hoắm thì lạnh lẽo và tĩnh lặng như đáy một giếng băng vạn năm.

Tống Hoài.

Kiếm tu từng thuộc hàng ngũ Minh Kiếm của Thanh Lư Tông, kẻ đã bị đánh vỡ kiếm cốt và trục xuất khỏi tông môn sáu năm về trước. Kẻ mà người dân trấn Lò Khê vẫn thường thấy ngồi câm lặng như một tảng đá bên vệ đường ray xe than, mặc cho người đời nhìn mình như một kẻ phế nhân chờ chết.

"Cút." Tống Hoài chỉ thốt ra một chữ duy nhất qua kẽ răng khô khốc, không thừa một âm sắc.

Gã sát thủ ôm chặt lấy cánh tay phải gãy nát, gương mặt trắng bệch không còn một giọt máu vì đau đớn và kinh hoàng tột độ. Gã ngẩng đầu nhìn Tống Hoài, ánh mắt dại đi như thể vừa nhìn thấy một con quỷ dữ trồi lên từ nấm mồ quá khứ sáu năm trước. Không dám thốt thêm nửa lời, gã dùng bàn tay trái còn lành lặn lôi bàn chân ra khỏi đống củi mục, lảo đảo quay đầu, cắm đầu cắm cổ bỏ chạy thục mạng vào màn sương mù dày đặc, bỏ lại cả thanh kiếm gãy nằm chìm nghỉm trong vũng bùn xỉ.

Tiếng bước chân hỗn loạn của kẻ chạy trốn vừa khuất hẳn sau khúc quanh tường đá, toàn bộ cơ thể Tống Hoài bỗng nhiên run rẩy dữ dội như một cành cây khô trước cơn bão lớn.

*Rầm.*

Chiếc gậy bọc đồng tuột khỏi những ngón tay gầy guộc, đập mạnh xuống đất. Tống Hoài lập tức ngã quỵ xuống lớp bùn nhão, hai đầu gối nện mạnh lên những mảnh đá nham nhở.

Ninh Chiêu bàng hoàng gạt phăng đống sọt tre rỗng, ôm bả vai đang chảy máu ròng ròng lồm cồm bò dậy:

"Tống... Tống tiền bối!"

Trước mắt nàng, Tống Hoài hoàn toàn không còn chút phong thái lạnh lùng, áp chế của một bậc tiền bối vừa ra tay chế địch. Lồng ngực anh co thắt dữ dội, từng hơi thở rít qua thanh quản nghe nghẹn ngào, khò khè như tiếng một chiếc ống bễ rách nát sắp nổ tung. Toàn thân anh co giật từng chặp, mồ hôi lạnh vã ra như tắm ướt đẫm manh áo rách, chảy ròng ròng qua những hốc má xám ngoét. Hai bàn tay khẳng khiu cào cấu điên cuồng xuống lớp bùn đất, các khớp ngón tay trắng bệch ra vì dùng sức quá độ, những đường gân xanh nổi cuồn cuộn dọc theo cổ và hai bên thái dương.

Cơn đau này không phải xuất phát từ một vết thương ngoài da thịt. Nó phát ra từ sâu thẳm bên trong tủy sống, từ những vết nứt gãy của cấu trúc kiếm cốt đã bị phá hủy sáu năm về trước. Chỉ một thoáng vận lực ngắn ngủi, một nhịp bức ép tàn dư linh lực chạy qua kinh mạch tàn phế để thực hiện cú thúc gậy vừa rồi đã kích động toàn bộ chuỗi phản ứng hủy diệt bên trong cơ thể anh.

Ninh Chiêu lao tới, quỳ sụp xuống bên cạnh, đưa hai bàn tay thô ráp đỡ lấy bả vai đang run bần bật của anh:

"Để tôi đỡ anh dậy! Y xá Thạch Tuyền... tôi cõng anh đến y xá của bác sĩ Trần ở đầu phố!"

"Không... không được..." Giọng Tống Hoài đứt quãng, từng từ bật ra kèm theo một bọng máu tươi trào qua khóe môi, nhỏ tong tỏng xuống bùn đen. "Đến đó... lộ tung tích... Về... về chái nhà của ta... mau..."

Ninh Chiêu cắn chặt môi dưới đến mức bật máu. Nàng lập tức hiểu ra mối nguy hiểm. Một cựu kiếm tu bị phế truất của Thanh Lư Tông xuất hiện tại hiện trường một vụ ẩu đả vũ trang trong thời điểm thị trấn đang bị thiết quân luật sau biến cố Huyền Khuyết sẽ ngay lập tức thu hút toàn bộ sự chú ý của chó săn phủ Quan Tế.

Nàng không nói thêm một lời thừa thãi nào nữa. Ninh Chiêu cúi người nhặt chiếc gậy bọc đồng giắt chéo sau lưng, rồi vòng một cánh tay gầy guộc nhưng các khớp xương cứng như sắt nguội của Tống Hoài qua cổ mình. Bằng toàn bộ sức lực của một thợ rèn quanh năm nâng đe, quai búa, vác những thanh phôi thép nặng cả tạ, Ninh Chiêu nghiến chặt quai hàm đứng dậy. Nàng nửa cõng, nửa dìu thân hình nhẹ bẫng đến thảm hại của cựu Minh Kiếm tu, lầm lũi cắm đầu bước đi trong bóng đêm ngập ngụa mùi tro tàn và bùn rỉ.

***

Căn chái nát của Tống Hoài nằm nép mình ở rìa phía nam của trấn Lò Khê, ngay sát mép một con mương dẫn nước thải rỉ sét từ các xưởng tôi thép chảy ra đầm lầy hoang. Nơi này quanh năm nồng nặc mùi nước ngâm sắt hoai mục, mùi sulfur nồng hắc và mùi ẩm mốc của những tấm vách liếp đan bằng nứa đã mủn nát theo thời gian.

Ninh Chiêu dùng chân đá nhẹ cánh cửa liếp ọp ẹp, dìu Tống Hoài bước vào bên trong.

Gian chái tối om như hũ nút, không có lấy một ngọn đèn. Đồ đạc trong phòng thưa thớt đến mức thê lương: chỉ có một chiếc chõng tre ọp ẹp trải một lớp rơm khô mỏng dính rách nát, một chiếc lò sưởi nặn bằng đất sét nung đã nứt toác nhiều đường lớn, bên trong không có lấy một mẩu than đỏ, và một chồng sách rách nát đóng đầy bụi tro nằm chơ vơ ở góc nhà.

Nàng cẩn thận đặt Tống Hoài nằm sấp xuống mặt chõng tre. Lúc này, toàn bộ nửa thân dưới của anh đã hoàn toàn mềm nhũn, buông thõng bất động như hai khúc gỗ mục ngâm nước lâu ngày. Cơn tê liệt tàn khốc đang lan dần từ đốt sống thắt lưng xuống tận các ngón chân—cái giá khủng khiếp mà một kẻ vỡ kiếm cốt phải trả giá mỗi khi dám cưỡng ép huy động lực đạo của cơ thể.

Khi Ninh Chiêu cúi người, dùng hai tay cởi bỏ chiếc áo rách sũng mồ hôi lạnh của Tống Hoài để kiểm tra vết thương, lồng ngực nàng bỗng nhiên nhói lên một cơn ớn lạnh kỳ dị.

Ở túi áo ngực bên trong của nàng, nơi cất giấu mảnh kiếm Hàn Tủy bọc trong lớp giẻ dầu tẩm mỡ bò, một luồng hàn khí thấu xương đột ngột bùng phát dữ dội.

Mảnh thép vụn bắt đầu run rẩy.

Đó không phải là một rung chấn cơ học đơn thuần do bước chân hay nhịp thở tạo nên. Đó là một nhịp đập trầm đục, cách quãng và sắc lạnh, tựa như một chiếc chuông đồng siêu nhỏ đang gõ dồn dập, liên hồi bên trong lớp vải bố. Và điều khiến từng lỗ chân lông trên cánh tay Ninh Chiêu dựng đứng lên trong nỗi kinh hoàng là: nhịp rung lạnh buốt của mảnh kiếm trong ngực nàng hoàn toàn trùng khớp với nhịp co giật đang truyền ra từ các đốt sống lưng của Tống Hoài!

Mỗi lần mảnh kiếm giật lên một nhịp lạnh buốt, các thớ cơ dọc theo sống lưng gầy trơ xương của Tống Hoài lại co giật nảy lên một chấn động đau đớn, phát ra những tiếng nghiến ken két nghẹn ngào từ sâu trong tủy sống.

Một sự cộng hưởng tàn nhẫn và chuẩn xác đến từng tích tắc.

Tống Hoài cắn chặt mép gối rơm, hơi thở dồn dập đứt quãng. Đôi mắt vốn dại đi vì đau đớn của anh bỗng nhiên trợn trừng lên khi cảm nhận được luồng khí lạnh quen thuộc đang tỏa ra từ ngực áo cô gái thợ rèn.

"Hàn... Hàn Tủy..." Anh thì thào qua hai hàm răng đang va vào nhau lập cập, giọng nói chứa đựng một nỗi kinh hoàng tột độ đã bị chôn vùi suốt sáu năm đằng đẵng. "Cái nhịp rung này... giống hệt... giống hệt thứ dư chấn nghiền nát kiếm trận... trên đài Huyền Khuyết... năm đó..."

Ninh Chiêu giật mình lùi lại nửa bước, bàn tay áp chặt lên ngực áo, nơi mảnh thép đang đập liên hồi như một trái tim kim loại còn sống.

Thanh kiếm của Du Hành được cha nàng đúc từ mười sáu năm trước, phi thăng cùng chủ nhân mười bốn năm trước. Tại sao một mảnh vỡ rơi xuống từ đài tế trưa nay lại có thể phát ra cùng một tần số chấn động với vết thương vỡ kiếm cốt của Tống Hoài trong thảm kịch của đoàn Bổ Khuyết sáu năm trước?

Cỗ máy bí mật vận hành dưới lòng đất của đàn tế Huyền Khuyết kia rốt cuộc là thứ gì? Nó không chỉ nghiền nát phi kiếm của các bậc đại năng, mà nó nghiền nát cả kiếm cốt trong cơ thể của những kiếm tu bước chân vào trận pháp!

Thế nhưng Ninh Chiêu không có thời gian để suy ngẫm sâu hơn về bí mật kinh thiên ấy. Một tiếng kim loại bị uốn vặn ken két vang lên từ sau lưng Tống Hoài kéo nàng giật mình quay trở lại với thực tại trước mắt.

Dọc theo cột sống gầy gò của Tống Hoài, ẩn dưới lớp da sần sùi chằng chịt những vết sẹo lồi lõm màu tím tái, là một thanh nẹp bằng đồng thau dài chừng hai gang tay. Thanh nẹp này được gắn cố định vào cơ thể anh bằng những vòng đai da thuộc cũ kỹ, cáu bẩn, có nhiệm vụ nâng đỡ đoạn xương sống đã bị vỡ vụn để giúp anh có thể gượng đứng thẳng và di chuyển bằng gậy.

Nhưng trong cú va đập thô bạo với cánh cửa sắt kho quặng vừa rồi, thanh nẹp đồng đã bị vặn vẹo sang một bên. Mép kim loại sắc nhọn bị uốn cong đang cắm ngập vào phần thịt mềm cạnh sườn anh, máu tươi rỉ ra nhuộm đen cả một khoảng đai da.

"Đừng cử động mạnh," Ninh Chiêu lập tức lấy lại sự bình tĩnh và chuẩn xác của một người thợ rèn. "Thanh nẹp lưng của anh bị vặn một góc ba mươi độ rồi. Cứ để thế này mà nằm, mép đồng sẽ chọc thủng màng sườn gây tràn máu."

Tống Hoài nhắm nghiền mắt, nghiến răng rên rỉ qua kẽ môi: "Trong ngăn kéo... bàn nát... có kìm sắt... để tự ta..."

"Anh không tự làm được đâu. Hai bàn tay anh đang run rẩy co quắp thế kia, kẹp kìm vào chỉ tổ làm gãy thêm chốt tán bên trong thôi," Ninh Chiêu gạt phăng lời anh bằng giọng điệu dứt khoát của một người thợ nhìn vào món đồ hỏng.

Nàng đảo mắt nhìn quanh gian chái tối, bước tới góc bàn nhặt lấy một cây kìm mỏ quạ gỉ sét và một hòn đá mài dầu có góc cạnh nhọn nằm lăn lóc bên bậu cửa sổ mục. Nàng dùng vạt áo khoác lau sạch bụi bặm bám trên kìm và đá mài.

Bàn tay thô ráp của Ninh Chiêu đặt nhẹ lên thanh nẹp đồng lạnh ngắt trên lưng Tống Hoài. Ngay khoảnh khắc những đầu ngón tay chạm vào kim loại, đôi mắt nàng lập tức chuyển sang trạng thái tập trung cao độ—ánh mắt của một kẻ cả đời nhìn vào lửa và búa, có thể phân biệt được từng thớ nứt nhỏ nhất bên trong một phôi thép đang nóng đỏ.

"Thau đỏ pha thiếc, kỹ thuật đúc chết của Công Tượng viện sáu năm trước," Ninh Chiêu vừa dùng đầu ngón tay cái miết nhẹ dọc theo mép kim loại cong vênh vừa trầm giọng nhận định. "Hợp kim này giòn, độ đàn hồi rất kém ở các góc uốn nguội. Nếu dùng kìm bẻ bừa bằng sức thô, thanh nẹp sẽ gãy đôi ngay tại vị trí chốt tán thứ tư. Cắn chặt răng vào, tôi phải dùng tay không nắn lại thớ đồng trước đã."

Nàng không vội vã dùng kìm. Ngón tay cái đầy những vết chai sần dày cộp của Ninh Chiêu ấn mạnh vào điểm chịu lực chính ở giữa thanh nẹp, bốn ngón tay còn lại luồn sâu xuống dưới mép đai da, giữ chặt lấy điểm tựa xương sườn. Bằng sự khéo léo kỳ diệu của đôi bàn tay người thợ gò rèn, nàng dùng lực rung dồn dập từ cổ tay, tạo ra một chuỗi những chấn động ngắn, dồn dập nhưng vô cùng chuẩn xác, ép cho các thớ kim loại giãn dần ra thay vì bị bẻ gãy đột ngột.

Tống Hoài gồng cứng toàn bộ cơ bắp ở bả vai, mồ hôi lạnh túa ra ướt đẫm trán, nhưng anh nghiến chặt quai hàm, không để lọt ra một tiếng kêu than nào.

*Cạch.*

Một tiếng khớp kim loại nhảy trở lại vị trí ban đầu vang lên êm ru trong gian phòng vắng. Ninh Chiêu nhanh nhẹn dùng kìm mỏ quạ kẹp lại chiếc chốt tán bị lệch góc, rồi dùng mép phẳng của hòn đá mài gõ nhẹ từng nhát một lên gờ đồng để làm phẳng lại phần kim loại vừa cào rách da thịt anh.

Thanh nẹp đồng trở lại hình dáng thẳng thớm ban đầu, ôm khít lấy cột sống tàn tạ của người cựu kiếm tu. Hơi thở của Tống Hoài dần dần chậm lại, dù nửa thân dưới vẫn hoàn toàn bất động, nhưng cơn co giật dữ dội đã lắng xuống thành những đợt run rẩy âm ỉ dưới da.

Ninh Chiêu đứng thẳng người dậy, bước tới góc phòng nhúng chiếc khăn vải thô vào chậu nước lạnh duy nhất, vắt khô rồi quay lại lau sạch vết máu và mồ hôi bết dính trên lưng cho anh. Xong xuôi, nàng tháo chiếc áo khoác ngắn màu xám tro của mình, phủ nhẹ lên đôi chân đang lạnh ngắt như băng của Tống Hoài.

"Nửa thân dưới của anh sẽ tê liệt trong bao lâu?" Nàng hỏi, giọng điệu bình thản, đều đều như đang hỏi về thời gian cần thiết để ủ nguội một mẻ than đá.

"Ba đến bốn canh giờ..." Tống Hoài thều thào, mắt vẫn nhìn trừng trừng vào vách đất mục nát trước mặt, trong giọng nói chứa đầy sự cay đắng tột cùng. "Lần nào cũng vậy... hễ vận lực quá nửa nhịp thở... là kinh mạch lại tắc nghẽn. Một kẻ phế nhân vô dụng."

Ninh Chiêu không an ủi, cũng không tỏ vẻ thương hại. Nàng bước chầm chậm đến chiếc lò sưởi bằng đất nung bên góc tường. Nàng đưa ngón tay gõ nhẹ ba tiếng lên thân lò, lắng nghe âm thanh rỗng tuếch và rời rạc phát ra từ lớp đất sét:

"Lò sưởi của anh nứt toác hết đường thông gió chính rồi. Đốt than vào đây chỉ tổ làm ngạt khói độc chứ chẳng giữ ấm được bao nhiêu. Ống khói bên trên đọng đầy bồ hóng ẩm, nếu có gió mùa đông bắc tràn về từ đỉnh Lạc Hạc, căn chái này chẳng khác gì một cái hầm băng ngâm xác."

Tống Hoài im lặng không đáp, chỉ khẽ thở dài một tiếng nặng nề giữa bóng tối.

Ninh Chiêu quay người bước trở lại bên chõng tre, đứng sừng sững nhìn thẳng vào đôi mắt sâu hoắm của cựu kiếm tu Thanh Lư Tông.

"Tôi không biết sáu năm trước trên đài Huyền Khuyết đã xảy ra chuyện gì, và tôi cũng không có ý định hỏi vì sao một Minh Kiếm tu như anh lại bị phế truất thành ra nông nỗi này," nàng nói, từng lời từng chữ đều rõ ràng, dứt khoát như những nhát búa nện xuống đe. "Nhưng đêm nay tôi đã tận mắt thấy anh ra tay. Một chiếc móc hàng rỉ sét, một cánh cửa kho mục nát, không cần dùng đến một tia kiếm khí rực rỡ nào mà có thể hạ gục một tên sát thủ Luyện Thân cảnh viên mãn chỉ trong chớp mắt."

Nàng dừng lại một nhịp thở, giơ bàn tay phải thô ráp đầy những vết sẹo bỏng lửa ra trước mặt anh:

"Tôi quai được búa hai mươi cân từ năm mười hai tuổi. Tôi có thể đập dẹp một thanh sắt đặc chỉ trong mười nhát búa. Nhưng đứng trước một mũi kiếm thật sự của kẻ giết người, tôi chỉ là một đứa mù. Tôi không biết cự ly an toàn, không biết cách giữ khoảng cách, không đoán được nhịp thở của đối phương. Khi nãy nếu không có anh xuất hiện kịp thời, tôi đã chết sau một nhát đâm đơn giản của một tên buôn phế liệu."

Tống Hoài khẽ nhướng một bên mày rậm, ánh mắt sắc lẹm như dao cạo lướt qua bàn tay chai sần của nàng:

"Thì sao? Cô thợ rèn, cô muốn ta truyền thụ kiếm pháp tuyệt luân của Thanh Lư Tông cho cô để cô đi lần theo tung tích người cha bặt vô âm tín, hay để xông lên cửa trời đòi lại một lời giải thích?"

"Tôi không cần thứ kiếm pháp tuyệt luân hoa mỹ đó, và trên đời này cũng chẳng có thứ tiên đan nào giúp một đứa thợ rèn như tôi sau một đêm biến thành kiếm tiên phi thiên độn địa," Ninh Chiêu thẳng thắn đáp, ánh mắt không hề né tránh cái nhìn sắc bén của anh. "Tôi chỉ muốn học cách sống sót. Học cách nhìn bộ pháp của đối phương, cách giữ cự ly sinh tử, cách lui một bước mà không bị chém đứt cổ họng. Tôi muốn học những thứ phòng thân căn bản nhất của một người cầm vũ khí bước vào chỗ chết."

Tống Hoài khẽ cười khẩy một tiếng, nụ cười méo mó, lạnh lùng trên gương mặt hốc hác:

"Cô thợ rèn, cô nhìn cho rõ đi. Ta là một kẻ tàn phế. Kiếm cốt trong cơ thể ta đã vỡ vụn thành từng mảnh từ sáu năm trước. Ta thậm chí còn không thể tự mình đứng dậy đi tiểu sau một cú va chạm thô bạo với cánh cửa kho. Cô định lấy cái gì ra để đổi lấy những thứ đó từ một kẻ phế nhân sống nay chết mai như ta?"

Ninh Chiêu không hề bối rối trước lời tự mỉa mai cay độc ấy. Nàng giơ tay chỉ thẳng vào chiếc lò sưởi nứt nẻ và thanh nẹp đồng ọp ẹp sau lưng anh:

"Tôi đổi bằng công việc của một người thợ rèn. Sáng mai tôi sẽ mang đất sét chịu nhiệt và gạch non ở xưởng sang đây, xây lại toàn bộ hệ thống ống khói và buồng đốt cho chiếc lò sưởi này. Tôi cam đoan với anh, chỉ cần đốt một nắm than non cũng đủ giữ cho căn phòng này ấm áp suốt cả đêm dài. Tôi sẽ mang than đá thượng phẩm của Lò Ninh sang đây cho anh dùng dần. Thanh nẹp đồng của anh đã quá mỏng và giòn, tôi sẽ rèn lại cho anh một bộ nẹp mới bằng thép mềm kẹp đồng đỏ, có khớp trượt giảm chấn hai bên sườn. Để lần sau nếu anh có phải dùng gậy đập cửa kho cứu mạng ai đó, lưng anh cũng không bị gãy gập làm đôi như thế này nữa."

Nàng cúi người xuống gần hơn, nhìn thẳng vào đáy mắt Tống Hoài, giọng nói mang theo sự kiên định vững chãi của một tảng đá núi:

"Một đổi một. Tôi sửa lò sưởi, bảo trì nẹp xương lưng và lo cơm nước nóng hổi mỗi ngày cho anh. Còn anh, dạy tôi cách giữ thăng bằng, cách nhìn cự ly và cách sống sót trước một lưỡi kiếm thật. Sòng phẳng, rành rọt, không ai nợ ai một ân tình nào cả."

Gian chái nát lại chìm vào sự tĩnh lặng tuyệt đối.

Tiếng nước thải rỉ sét róc rách ngoài con mương đen ngòm dội vào qua kẽ vách nứa, lạnh lẽo, thê lương và đơn độc.

Tống Hoài nhìn cô gái thợ rèn thật lâu. Trong đôi mắt sâu hoắm tăm tối của anh, lớp tro tàn nguội lạnh dường như khẽ lay động sau sáu năm chôn vùi, để lộ ra một đốm than đỏ le lói chưa tắt hẳn dưới đáy sâu ký ức. Anh nhìn thấy ở cô gái này một sự lì lợm quen thuộc—thứ tính khí thô ráp của những kẻ sinh ra và lớn lên bên đe sắt và than lửa, không tin vào tiên duyên, không tin vào vận may hay lòng thương hại của trời đất, chỉ tin vào những vết sẹo và sức mạnh do chính đôi bàn tay mình tạo ra.

Tống Hoài chậm rãi quay mặt vào vách đất mục nát, nhắm nghiền đôi mắt lại, rồi buông ra một câu lạnh lẽo:

"Ngày mai bắt đầu từ việc học đứng cho vững, đừng mong ta rút kiếm múa may."

Chương này thế nào?Đánh giá giúp Readeep đề xuất đúng hơn cho bạn