Kiếm Cốt Dưới Tro — Phần 1: Cửa Trời Không Có TiênC.2 / 40
Chương 2

Vết đục thứ ba

Mùi mỡ cừu cháy xèo xèo trên mặt đe sắt nguội ngắt khi Ninh Chiêu nung lại mảnh thép nhặt được, cẩn thận dùng phiến kính phóng đại mài bằng thạch anh trong vắt soi từng thớ nứt li ti chạy dọc theo sống rãnh.

Ánh lửa từ cây đèn dầu hạt cải leo lét hắt lên vách đất nện xám xịt, phủ lên khuôn mặt đanh lại của cô một vệt sáng vàng vọt, chập chờn theo từng cơn gió luồn qua khe liếp. Mồ hôi lạnh rịn ra trên trán quyện chặt với lớp bồ hóng bết dính vào chân tóc, nhưng cánh tay trần rắn rỏi cầm thỏi thạch anh của Ninh Chiêu vẫn bất động như đóng đinh vào không khí. Dưới đáy lồng ngực gầy guộc, nhịp tim cô vẫn còn đập dồn dập từng hồi, lồng ngực tức tối sau cơn hoảng loạn tột cùng chỉ vừa mới trôi qua non nửa canh giờ trước.

Mới trước đó không lâu, gian xưởng rèn Lò Ninh hoang tàn này suýt chút nữa đã biến thành nấm mồ chôn sống hai mạng người dưới đáy tro tàn.

Khi cánh cổng gỗ nghiến dày nặng bật tung ra dưới gót ủng sắt bọc đinh, bụi than đóng tầng trên xà nhà rụng xuống rào rào như một trận mưa rây buốt giá. Ba tên sai dịch thuộc phủ Quan Tế nai nịt giáp da trâu viền vải xám tro ùa xộc vào trong, hơi thở nồng nặc mùi rượu thô cay sè trộn lẫn mùi dầu hắc dùng để thắp đuốc tuần đêm. Tên cầm đầu có đôi mắt lươn ti hí lồi ra sau gò má hóp, một tay lăm lăm cây gậy sắt bịt đồng sáng loáng, tay kia vung chiếc xẻng dài chuyên dùng để nạo vét tro đập chan chát xuống nền đất nện nhằm thị uy. Bọn chúng không buồn gõ cửa hỏi han lấy nửa lời; chúng sục sạo, hít hà như bầy chó săn đánh hơi thấy mùi thịt sống vừa rơi xuống rãnh nước.

Ninh Chiêu khi ấy chỉ đứng cách bệ bễ thổi ba bước chân. Một bàn tay cô còn dính đầy thứ bùn tro ướt nhão vừa trát vội lên hộc đá ngầm khoét dưới chân lò, bàn tay kia đã nhanh chóng nắm chặt lấy chuôi kẹp sắt, gắp thẳng một thanh phôi thô còn đỏ rực từ trong miệng lò than đang hừng hực cháy, vung ngang giữa khoảng không mịt mờ khói đen để cản đứng đường tiến của bọn chúng.

"Quan sai bớt giận," Ninh Chiêu nhớ lại giọng nói của chính mình lúc đó—khàn đặc, trầm tĩnh đến mức giả tạo, từng chữ nhả ra đều đặn theo đúng nhịp thở của một người thợ lò quanh năm đối mặt với hiểm nguy và gang thép nung chảy. "Lò đang ủ nhiệt độ cao để luyện phôi cuốc cho vụ cày chân núi, than quặng đá bốc khói cay mắt lắm, xin chớ bước quá gần kẻo tàn lửa bắn thủng áo giáp da đắt tiền."

"Bớt lắm lời đi con ranh!" Tên mắt lươn quát thét the thé, mũi gậy sắt bịt đồng chĩa thẳng vào chóp mũi cô, tàn lửa bay lượn lờ giữa hai người. "Lệnh của Quan Tế đại nhân vừa truyền xuống khắp chín ngả đường: thu hồi toàn bộ tro đàn tế, nghiêm cấm hạ dân tàng trữ dị vật! Cả cái trấn Lò Khê này ai mà chẳng biết xưởng Lò Ninh nhà ngươi có máng nước làm nguội hứng trọn luồng gió quẩn từ đỉnh Lạc Hạc thổi thốc xuống. Máng xối nằm ở đâu? Tro gom từ sáng tới giờ giấu biến ở góc nào rồi?"

Chẳng đợi Ninh Chiêu đáp lời, một tên thuộc hạ phía sau đã sấn sổ bước vòng qua bệ đe, tiến thẳng về phía máng đá xanh dài hẹp kê bên hông xưởng, nơi váng tro đen ngòm vẫn còn nổi lềnh bềnh từng mảng dày như da cóc trên mặt nước lã. Hắn thọc sâu mũi xẻng sắt xuống tận đáy máng đá, cào sột soạt vào lớp rêu bám, sục tung đáy nước đục ngầu rồi vục lên một mảng bùn đen sẫm đổ ụp vào chiếc sọt tre lót da mang theo bên hông. Hắn sục sạo liên tiếp hai ba lượt, bùn tro hôi tanh vương vãi khắp bậc thềm đá và bắn cả lên vách lò.

Ninh Chiêu không hề ngăn cản, cũng không để lộ nửa phần bối rối. Cô lặng lẽ buông thanh sắt nóng đỏ trở lại lòng lò nung, quay người kéo phăng ra một thúng xỉ than vụn chất đống từ góc tường tối—thứ phế phẩm cô đã gom lại từ chiều hôm trước, giòn vụn, xốp xộp và đầy bụi rác vô giá trị tích tụ lại sau mười mẻ trui rèn đồ gia dụng. Đặt thúng xỉ nặng trịch xuống trước mũi giày bọc sắt của tên cầm đầu, Ninh Chiêu thò bàn tay chai sần vào túi tạp dề da bò dày cộp, kín đáo lôi ra một xâu tiền đồng mòn vẹt mép. Ngón tay trỏ của cô khéo léo lướt qua sợi dây gai thô, tách ra mười lăm đồng tiền trơn nhẵn bóng loáng rồi lướt nhẹ, trượt êm ru sang mép tay áo thụng của tên mắt lươn khi cô cúi rạp người xuống đỡ lấy quai thúng xỉ.

"Tro gió đầu mùa độc lắm quan sai à, bám vào cổ họng là sinh chứng ho ra máu ngay," Ninh Chiêu khẽ khàng nói, hạ thấp tầm mắt xuống nền đất ẩm để tên sai dịch không tài nào đọc được những tia căng thẳng đang giấu kín sau đôi đồng tử đen thẳm. "Hai vị quan sai vất vả gác đêm gió rét, lại phải lội mưa tro khắp các ngõ ngách bẩn thỉu lầy lội này. Chút tiền mọn này coi như đủ mua hai vò rượu thô hâm nóng ở quán đầu cầu để xua bớt hàn khí ngấm vào xương. Trong xưởng bần tiện này chỉ có thúng xỉ vụn này và vũng bùn tro đọng dưới máng nước, ngoài ra tuyệt đối không có thứ gì khác rơi lọt vào."

Tên mắt lươn nheo đôi mắt ti hí lại, nhìn xâu tiền trượt êm ru vào lòng bàn tay gã qua lớp vải áo. Ngón tay cái ráp rúa của gã khẽ co lại, miết thật chậm qua gờ mép từng đồng xu để kiểm tra độ dày mỏng và trọng lượng kim loại. Tiền thật bằng đồng đỏ, không phải loại tiền kẽm pha tạp rẻ tiền hay tiền giấy cúng ma. Ánh mắt gã quét qua thúng xỉ đen ngòm đầy bụi vụn, rồi dừng lại trên bệ lò nung đang phì phì nhả từng luồng khói trắng ngột ngạt cay nồng. Gã ngó nghiêng quanh quất khắp gian xưởng, thấy xung quanh chỉ toàn những đống phôi sắt vụn thô ráp, bễ gỗ cũ kỹ nứt nẻ và một lão thợ già đang nằm co ro ho sù sụ ở gian chái sau bức vách nứa xiêu vẹo. Mùi thuốc thanh phế đắng nghét bốc ra từ gian trong dường như khiến gã chột dạ, sợ hãi thứ mầm bệnh lao tro truyền nhiễm vốn là nỗi ám ảnh của phường thợ lò.

"Khôn hồn thì liệu đấy mà giữ miệng," tên mắt lươn khạc nhổ một bãi đờm đặc quẹt xuống nền đất, giắt vội xâu tiền vào cạp quần rồi phẩy tay ra hiệu cho hai tên thuộc hạ xách sọt bùn tro trĩu nặng bước lui ra cửa. "Nếu ngày mai đội kiểm kê của Nam Trụ phát hiện ra dù chỉ một mẩu vụn sắt có linh quang còn sót lại trong rãnh thoát nước nhà ngươi, cái đầu của ngươi sẽ bị bêu trên cọc tiêu ngoài bến than bờ sông Lò!"

***

Sau khi cánh cổng gỗ nặng nề được cài chặt bằng ba then sắt then gỗ lồng khít vào nhau, Ninh Chiêu đứng tựa lưng vào cánh cửa thô nhám, lắng nghe tiếng bước chân bọc sắt xa dần trên con đường lát đá lầy lội tro khoáng. Tiếng chửi bới của lính tráng, tiếng gõ chiêng báo canh và tiếng gậy sắt nện dồn dập vào vách ván của những xưởng rèn lân cận vẫn vọng lại từ xa, nghe như những nhịp đập đứt quãng, thoi thóp của một con thú khổng lồ đang giãy chết trong đêm đen lạnh giá.

Ninh Chiêu thở hắt ra một hơi dài buốt nhức, hai lá phổi như muốn nứt toác vì bị nén giữ quá lâu trong bầu không khí ngạt thở. Cô lập tức quay lại buồng thổi lửa, quỳ sụp gối xuống bên cạnh bễ nghiến, dùng mũi dao cạo sạch lớp bùn tro than còn ướt nhão trát quanh miệng hộc đá ngầm bí mật, rồi cẩn trọng lôi bọc giẻ tẩm dầu gai giấu sâu bên trong ra ngoài.

Thanh then cửa ngoài đã cài chặt kiên cố. Ánh lửa lò than được ghìm lại sau một tấm chắn gió bằng gang đúc dày cộp, chỉ để lộ ra một khe sáng hẹp rọi thẳng đứng lên mặt chiếc đe sắt xám xịt.

Ninh Chiêu cẩn thận gỡ từng lớp giẻ vụn, đặt mảnh thép vỡ lên mặt đe nguội. Lúc này, dưới ánh lửa vàng mờ le lói và sự hỗ trợ sắc bén của thấu kính thạch anh phóng đại gấp ba lần, cấu trúc mặt cắt của mảnh vỡ mới hiện lên trọn vẹn, trần trụi và lạnh lùng đến rợn ngực.

Vết gãy không hề bằng phẳng theo cách của một nhát búa phạt ngang hay đao kiếm chém đứt. Nó là một mặt cắt xé toạc, vặn xoắn tàn bạo theo chiều xoay của thân kiếm trước khi bị nghiền nát và đứt lìa hoàn toàn. Dưới lớp mỡ cừu đang sôi lăn tăn bốc khói ngai ngái để tẩy rửa gỉ sét và làm lộ rõ các thớ kim loại tế vi, ba lớp thép ghép rèn gập hiện ra rõ mồn một như những vòng sinh trưởng của một thân cổ thụ nghìn năm bị bão sét chém ngang lưng chừng.

Hai lớp ngoài là thép huyền thiết có hàm lượng than cực cao, ánh lên sắc màu xám xanh sẫm bóng lộn, thớ thép mịn màng và sít sao như những lớp lụa sống xếp chồng lên nhau—đây chính là phần giữ cho lưỡi kiếm đạt độ sắc bén phi thường và khả năng chống mài mòn tuyệt đối, được tôi luyện qua dòng nước suối lạnh buốt ngầm chảy dưới rặng đá Bạch Nham. Nhưng điều khiến lồng ngực Ninh Chiêu nghẹn ứ, từng sợi gân trên thái dương giật giật, chính là lớp thép nằm chính giữa: một dải kim loại sáng màu hơn, mềm dẻo hơn, có cấu trúc thớ chạy dọc uốn lượn hệt như sóng nước mùa thu.

Đó là lõi sắt non pha khoáng tủy mềm—cấu trúc chịu lực uốn kinh điển của kiểu rèn độc môn mang tên "Hàn Tủy".

Người thợ rèn thông thường ở chốn phàm trần chỉ biết rèn thép đơn hoặc kẹp hai lớp thô thiển, cứng thì giòn dễ gãy, dẻo thì mềm cùn nhanh. Duy chỉ có một người ở khắp cái trấn Lò Khê này—và có lẽ trong toàn cõi Hạ Lĩnh trải dài dưới chân tông môn Thanh Lư—từng kiên trì dùng phương pháp "tam nẹp nhất tủy", gập mười hai lần liên tục để tạo ra đúng ba ngàn lớp thớ bao bọc lấy một lõi mềm dẻo có thể uốn cong như cánh cung mà không bao giờ nứt gãy.

Người đó không ai khác chính là Ninh Trác, cha ruột của cô.

Ninh Chiêu nín thở, ngón tay cái sần sùi chai sạn cọ sát thật chậm vào mép vỡ sắc lẹm. Dọc theo sống rãnh thoát máu còn sót lại trên mảnh thép dài chưa đầy bốn đốt ngón tay này, có ba vết đục hình thoi thẳng hàng nhau. Đó là dấu đục riêng biệt của cha cô, người luôn dùng một mũi đục thép gió phạt nhẹ vào sống kiếm khi khối kim loại còn ở nhiệt độ màu đỏ lá mơ chín tới để định vị điểm cân bằng trọng tâm cho toàn bộ thân kiếm.

Nhưng ba vết đục này không hề giống những vết đục đối xứng thông thường mà ông từng tỉ mẩn dạy cô khắc lên những thanh gươm nghi lễ của đệ tử hộ đàn Thanh Lư Tông.

Ninh Chiêu đứng phắt dậy, bước nhanh về phía góc tối tăm nằm sau kệ chứa các khuôn đúc đất sét. Cô gạt đống sọt rách sang một bên, kéo ra một chiếc rương gỗ bách nhỏ, phủ đầy mạng nhện giăng mắc và lớp bụi than đá bám chặt qua năm tháng. Bên trong rương không hề có vàng bạc tích cóp hay linh đan diệu dược, chỉ có những cuộn bản vẽ đồ hình ố vàng và vài cuốn sổ ghi chép hành nghề bọc da thú đã khô nứt, cong queo mép bìa.

Cô cẩn thận nhấc cuốn sổ nghề bọc bằng da hoẵng dày nhất ra ngoài bàn thao tác. Cuốn sổ này ghi chép tường tận công việc của lò rèn Ninh Trác vào thời điểm mười sáu năm trước—khi Ninh Chiêu mới chỉ là một đứa trẻ mười hai tuổi, ngày ngày ngồi bẹp bên đe sắt phụ cha đập búa con, kéo bễ quạt và quét dọn xỉ lò nóng bỏng.

Mùi da hoẵng mốc meo quyện với mùi mực nho pha mật thông bốc lên hăng hắc khi cô khẽ lật từng trang giấy dó ngả màu vàng sẫm. Các nét chữ chân phương của cha cô vuông vức, khô khan, chi chít những con số đo đạc tỉ mỉ về trọng lượng than đá cần đốt, tỷ lệ bột vôi sống làm chất trợ dung chảy xỉ, và số lần quai búa tạ chuẩn xác cho từng tấc thép phôi.

Ninh Chiêu run run lật đến trang nhật ký ghi chép của tháng Bảy mười sáu năm trước.

Trang giấy hiện ra một hình vẽ phác thảo thân kiếm dài ba thước ba tấc, mũi kiếm vát nhọn hình lá liễu thanh mảnh, kèm theo dòng lạc khoản viết bằng mực son đỏ nay đã ngả sang màu huyết dụ: *"Rèn kiếm Hàn Tủy cho Du Hành sư huynh. Cốt thép ba ngàn lớp, lõi tủy băng khoáng. Sống kiếm gia cố ba vết đục giảm chấn."*

Ninh Chiêu hít sâu một hơi để giữ cho ngón tay khỏi run rẩy, đặt chiếc thước kẹp bằng đồng thau có khắc vạch ly lên trang giấy vẽ, rồi lại cẩn trọng áp chiếc thước kẹp vào mảnh thép vỡ đặt trên mặt đe.

Góc mài của vết đục thứ nhất: mười hai độ chẵn. Góc mài của vết đục thứ hai: mười bốn độ rưỡi. Và vết đục thứ ba—vết đục the chốt quyết định độ thoát toàn bộ lực rung chấn khi thân kiếm va chạm mãnh liệt với kình lực ngoại lai—được mài bạt lệch một góc mười bảy độ xuôi về phía chuôi kiếm.

Góc mài mười bảy độ này là một biến thể kỳ lạ, phá vỡ hoàn toàn mọi quy chuẩn đúc kiếm thông thường của các phường thợ danh tiếng. Ninh Chiêu nhớ như in, mùa hạ năm ấy cha cô đã ngồi còng lưng mài đi mài lại mũi đục thép gió suốt ba đêm ròng bên ngọn đèn dầu lạc leo lét. Khi cô bé mười hai tuổi tò mò hỏi, ông chỉ khẽ xoa đầu cô bằng bàn tay đầy những vết sẹo bỏng phồng rộp và trầm giọng bảo: *"Người cầm thanh kiếm này có lối phát lực xoay cổ tay rất độc hiểm, kình lực khi bộc phát sẽ đi thẳng vào xương sống kiếm rồi dội ngược về các khớp ngón tay. Ta phải bạt nghiêng rãnh đục thứ ba này đi một ly, để lỡ khi kiếm gãy vì quá tải, nó sẽ tự đứt gãy ở ngoài ba tấc, giữ lại cái mạng sống cho người cầm kiếm."*

Chiếc thước kẹp bằng đồng thau nhẹ nhàng kẹp khít vào rãnh đục thứ ba còn sót lại trên mảnh vỡ sắc lạnh. Khớp ren bằng đồng trượt nhẹ một tiếng *tách* khô khốc trong đêm vắng.

Mười bảy độ. Hoàn toàn trùng khớp, không lệch dù chỉ một phần mười ly.

Chiếc thước kẹp trượt khỏi những ngón tay bủn rủn của Ninh Chiêu, nện thẳng xuống mặt đe sắt phát ra một âm thanh lanh lảnh, buốt nhức tận óc.

Mảnh phế liệu này đích thị là một phần xương cốt của thanh kiếm Hàn Tủy lừng danh năm nào. Thanh kiếm hộ mệnh do chính tay Ninh Trác dồn hết tâm huyết cả đời rèn nên mười sáu năm trước, và đã theo chân Du Hành tiên trưởng bước lên đàn tế Huyền Khuyết trong đại lễ đăng tiên chấn động khắp cõi thiên hạ mười bốn năm về trước.

Một thanh kiếm mang linh tính phi thường, được cho là đã cùng chủ nhân phi thăng vượt qua cánh cửa trời để bước vào cõi trường sinh bất tử, tại sao mười bốn năm sau lại vỡ vụn thành từng mảnh vụn gỉ sét, rơi rụng lẫn trong đám tro tàn tanh tưởi của một kẻ vừa bước lên đài tế sáng nay?

Nếu Du Hành thực sự đã đắc đạo thành tiên trên chín tầng mây, thì kiếm bản mệnh của ông ta đâu? Nếu thanh kiếm bất hoại của ông ta đã nát vụn thành tro bụi rỉ sét rơi lả tả xuống trần gian thế này, vậy thì... con người bằng xương bằng thịt của ông ta hiện giờ đang ở đâu?

Một cơn ớn lạnh ghê gớm từ đốt sống cùng chạy dọc sống lưng lên tận chân tóc Ninh Chiêu, khiến da gà nổi rần rần dưới lớp áo vải gai thô. Cô nhìn trừng trừng vào ngọn lửa than đỏ rực trong lòng lò le lói qua khe gang, bỗng thấy cái miệng lò nung quen thuộc ấm áp bao năm qua dường như đang biến thành một chiếc mồm quái vật đen ngòm, không ngừng nhai nuốt và nghiền nát sinh linh trần thế.

Không thể chỉ dựa vào một mảnh thép vỡ và vài dòng ghi chép ố vàng của người đã khuất để vội vã kết luận. Cô cần một con người còn sống. Một người đã tận mắt chứng kiến khoảnh khắc Du Hành bước chân lên đài cao rời bỏ cõi trần này năm xưa.

***

Đêm ở trấn Lò Khê chưa bao giờ có được sự tĩnh mịch thật sự của một làng quê thanh bình. Tiếng nước xả ầm ào dưới các mương làm nguội quặng sắt, tiếng còi hơi rúc lên từng hồi báo hiệu đổi ca từ các giếng mỏ than xa tít chân trời, và tiếng bánh xe sắt nghiến ken két trên đường ray chở xỉ than tạo thành một thứ âm thanh rền rĩ, ma quái triền miên như tiếng thở dài của mặt đất.

Ninh Chiêu khoác lên mình chiếc áo tơi tẩm dầu gai đã bạc màu sờn rách, kéo sụp chiếc nón lá tơi tả che khuất nửa khuôn mặt đen đúa vì bồ hóng, rồi lách mình qua cánh cửa ngách chật hẹp phía sau xưởng rèn. Ngoài trời, cơn mưa tro rải rác từ sáng đã bắt đầu ngớt hạt, nhưng những hạt bụi khoáng li ti sắc nhọn vẫn lơ lửng dày đặc trong không khí ẩm ướt, bám ráp vào khóe mi và vành môi, mang theo vị mằn mặn, đăng đắng ngai ngái hệt như mùi máu khô lâu ngày.

Cô luồn lách thoăn thoắt qua những con hẻm ngoằn ngoèo nồng nặc mùi lưu huỳnh và khói đá thối, cẩn thận né tránh những toán lính tuần tra của phủ Quan Tế đang rọi đèn lồng giấy dầu đỏ quạch đi lại rầm rập ngoài các trục lộ lớn. Đích đến duy nhất trong đầu cô lúc này là xóm Thợ Già—khu ổ chuột lụp xụp nằm nép mình bên bờ con hào sâu chuyên xả xỉ than phía tây trấn.

Đó là nơi nương náu cuối đời của những người thợ rèn kiệt quệ, những phu khuân vác quặng đã tàn phế tay chân sau hàng chục năm vắt kiệt tủy sống để phục vụ cho các đại lễ phi thăng xa hoa của Thanh Lư Tông. Trong số những kẻ tàn phế sống lay lắt bên miệng hào xỉ ấy, có Lão Bàng—người thợ cả từng trực tiếp chỉ huy đội phu khiêng kiệu lễ và hòm kiếm tiến vào nghi lễ đăng đàn mười bốn năm về trước.

Căn chòi của Lão Bàng lụp xụp đến thảm hại, vách trát bằng rơm mục trộn bùn tro đã nứt nẻ thành từng mảng lớn toang hoác. Khi Ninh Chiêu khẽ khàng lách cánh cửa liếp nghiêng ngả bước vào trong, một mùi ẩm mốc nồng nặc xen lẫn mùi khói thuốc lào khét lẹt lập tức xộc thẳng vào cánh mũi buốt rát.

Trên chiếc chõng tre ọp ẹp kê sát bức vách đất lạnh tanh, một bóng người gầy guộc khẳng khiu như khúc củi khô đang ngồi co ro bên cạnh bếp trấu un dở liu riu nhả khói. Đôi mắt Lão Bàng đã đục ngầu, mờ câm vì bao năm hít thở khói than độc hại và chứng đục nhân mắt kinh niên của người thợ lò, nhưng đôi tai lão thì vẫn cực kỳ thính nhạy trước từng tiếng động khẽ khàng nhất.

"Ai đấy?" Giọng lão cất lên khào khào, rè đặc như hai mảnh ngói vỡ cọ xát vào nhau trong lòng giếng cạn. "Lại là lũ chó săn Nam Trụ đến đòi tiền than nợ tháng trước phỏng? Lão già phế nhân này hết nhẵn tiền rồi... chỉ còn cái xác khô thối này thôi, muốn băm muốn chặt thì tùy..."

"Bàng thúc, là cháu, A Chiêu đây." Ninh Chiêu nhẹ nhàng ngồi xổm xuống cạnh bếp trấu âm ỉ, hạ thấp giọng xuống mức chỉ đủ hai người nghe thấy giữa tiếng gió rít qua khe liếp. Cô thò tay vào bọc áo trong, rút ra một bọc lá chuối khô buộc lạt mềm đựng nửa lạng cao thanh phế mà ban chiều cô đã trích lại từ phần thuốc của Lão Cát, cẩn thận đặt nhẹ lên mép chõng tre bên cạnh bàn tay khẳng khiu của lão. "Cháu

mang chút cao thuốc đến cho thúc hãm nước uống."

Bàn tay gầy guộc đầy những nốt sẹo bỏng loang lổ của Lão Bàng run rẩy sờ soạng trên mặt dát tre, lần giở từng nếp gấp thô ráp của bọc lá chuối. Những đầu ngón tay chai sần, nứt toác vì phèn quặng cọ xát vào lớp lạt mềm phát ra tiếng sột soạt khô khốc. Lão đưa bọc lá lên sát chóp mũi gãy gập, hít vào một hơi thật dài, thật sâu, như muốn dùng chút hương thơm đắng đót của vỏ bưởi đào sao khô và vị the nồng của rễ cam thảo đất để thanh lọc buồng phổi đang rữa nát vì khói lò. Nhận ra mùi vị quen thuộc của phương thuốc bí truyền nhà họ Ninh, đôi lông mày bạc phếch dính đầy muội tro của lão khẽ giật giật. Lão từ từ ngẩng khuôn mặt nhăn nheo chằng chịt rãnh nứt lên, hướng đôi mắt mờ đục nhìn cô qua làn khói trấu mù mịt đang cuộn xoáy giữa gian chòi hẹp.

"A Chiêu... con gái của lão Trác đấy à?" Lão Bàng thở dài, tiếng thở rít lên qua cuống họng đầy đờm đặc, nặng nhọc và khò khè như bễ lò rèn bị rách da bò. "Nửa đêm nửa hôm, ngoài đường lính tráng của nha môn với tuần phiên Nam Trụ lùng sục rát như lửa bỏng, mày mò mẫm qua cái rãnh xỉ này làm gì cho khổ thân? Sáng nay... cái cửa trời trên đài tế lại mở ra rồi, đúng không? Lại có người bay lên làm tiên... kèn đồng nện inh ỏi, cờ xí rợp trời... còn lũ sâu bọ dưới đáy thung lũng này thì chỉ biết ngửa cổ hít tro mà chết dần chết mòn..."

"Bàng thúc," Ninh Chiêu không vòng vo, cô ghé sát tai lão thợ già, giọng nói nén chặt lại dưới tiếng gió rít qua khe nứa mục: "Mười bốn năm trước, ngày Du Hành tiên trưởng đăng đàn phi thăng, thúc là người chỉ huy đội phu khiêng hòm kiếm bước lên đài Huyền Khuyết, có đúng không?"

Thân hình khẳng khiu dưới lớp áo vải thô rách bươm của Lão Bàng bỗng giật bắn một cái thật mạnh, như thể vừa bị một chiếc kẹp sắt nung đỏ chạm vào da thịt. Khớp ngón tay đang lần giở bọc lá chuối khô khựng lại giữa không trung, run lẩy bẩy làm rơi vãi vài vụn cao đen tuyền xuống mặt dát giường.

"Du Hành... sao tự nhiên mày lại nhắc đến cái tên đó?" Ánh mắt đục ngầu của lão Bàng dường như co rút lại, con ngươi dại đi, nhìn trừng trừng vào một khoảng không vô định trong bóng tối nơi góc vách đất đang nứt toác. "Lâu lắm rồi... mười mấy năm trời đằng đẵng trôi qua, không còn một ai ở cái đất Lò Khê này dám hé răng nhắc đến cái tên đó nữa. Người ta sợ cái vạ trúng độc kiếm khí... người ta sợ cái chết không có đất chôn..."

"Cháu chỉ muốn biết một chuyện thôi," Ninh Chiêu nhìn thẳng vào hốc mắt sâu hoắm của người thợ già, từng lời thốt ra đều rõ ràng, dứt khoát và lạnh lùng như nhịp búa đập: "Ngày hôm đó, thanh kiếm Hàn Tủy... có thực sự được ông ấy mang theo qua cửa trời không? Hay là... nó đã bị giữ lại nhân gian này?"

"Giữ lại trần gian ư?" Lão Bàng bỗng bật ra một tràng cười the thé, khô khốc như tiếng củi nỏ nổ lách tách trong lò sấy quặng, rồi tràng cười dị quái ấy nhanh chóng biến thành một cơn ho rũ rượi, xé toạc lồng ngực lép kẹp. Toàn thân lão rung lên bần bật, hai bờ vai nhô cao như hai nhánh củi gãy giật cục từng hồi, bọt mép trào ra nơi khóe miệng thâm sì. Ninh Chiêu vội vã đưa tay vỗ nhẹ đều đặn vào lưng lão, lòng bàn tay truyền một luồng kình lực ấm áp giúp lão nén cơn suyễn đang chực bóp nghẹt khí quản.

Mất một hồi lâu, Lão Bàng mới vuốt ngực, hít từng ngụm khí lạnh căm căm vào cuống phổi tàn tạ, đoạn nói đứt quãng:

"Mày... mày nghĩ kiếm tu bọn họ coi kiếm là cái gì? Là mạng sống, là tủy xương, là hồn phách của họ đấy con ạ! Hôm đó chính tay lão này... chính hai bàn tay trần đầy sẹo bỏng này đã cùng ba đứa phu quặng lực lưỡng khiêng chiếc hòm gỗ mun chứa thanh kiếm Hàn Tủy từ tịnh thất dưới chân núi lên tận bậc đá thứ chín mươi chín của đài Huyền Khuyết. Sương mù trên đỉnh núi sớm hôm ấy dày đặc như chậu cháo hoa, lạnh buốt thấu xương thấu tủy, gió từ vực sâu rít từng cơn ghê rợn như tiếng quỷ khóc thần gào. Khi tiếng chuông đồng trên đỉnh tháp ngân lên chín tiếng dài, xé rách màn mây, Du Hành tiên trưởng mới từ tịnh thất bước ra. Ông ấy mặc áo choàng lụa trắng thêu chỉ bạc lấp lánh, tóc búi bằng trâm ngọc bích, mặt mày thanh thản phẳng lặng như mặt nước hồ mùa thu, không gợn một tia trần tục."

Lão Bàng dừng lại, đôi môi thâm đen mấp máy run rẩy, những nếp nhăn nơi khóe mắt xô lại như đang cố gom nhặt từng mảnh ký ức vụn vỡ đã bị tro bụi của mười bốn năm qua chôn vùi:

"Chính mắt lão thấy ông ấy bước đến trước chiếc hòm mun, tự tay mở chiếc khóa đồng chạm hình mây cuộn. Nắp hòm bật mở, một làn hơi lạnh thấu xương bốc lên nghi ngút, làm đông cứng cả những giọt sương đọng trên râu ria của lũ phu khiêng kiệu bọn lão. Du Hành tiên trưởng khẽ cúi đầu tạ ơn bốn người bọn lão, giọng nói hòa nhã, êm ái như gió thoảng bên tai, rồi người tự tay nâng thanh kiếm Hàn Tủy lên, tra mũi kiếm sáng quắc vào chiếc bao da hoẵng buộc bên hông. Lúc ấy, sương mù trên đài tế bỗng nhiên cuộn trào dữ dội, vòm đá cổng trời hé mở một khe nứt sâu hoắm, hút ngược gió núi vào trong lòng nó ràn rạt. Tiên trưởng một tay cầm kiếm, không hề ngoảnh đầu nhìn lại dù chỉ một lần, người sải từng bước dài kiên định đi thẳng vào màn sương xám đặc quánh đó. Cánh cổng khép lại rầm một tiếng long trời lở đất như sấm sét nổ giữa ban ngày, tro núi từ trên không trung trút xuống rào rào như mưa rào mùa hạ. Bọn lão chỉ biết sụp lạy trên nền đá buốt giá, rồi khiêng cái hòm rỗng không đi xuống núi. Thanh kiếm đi theo người, người đi vào cõi tiên, tuyệt đối không hề để lại nhân gian này dù chỉ là một mẩu dây buộc chuôi bằng chỉ ngũ sắc!"

Lão Bàng run rẩy vươn bàn tay khẳng khiu ra, chộp lấy cổ tay áo Ninh Chiêu, những ngón tay gầy guộc như cành củi khô bấu chặt vào lớp vải bố thô ráp đến mức nổi gân xanh:

"Mày hỏi chuyện đó làm gì hả A Chiêu? Thanh kiếm đó... nó đã theo tiên trưởng lên cõi thượng giới hưởng phúc vô biên rồi! Người ta đã tu thành bậc đại năng bất tử trên trời cao, thoát khỏi chốn trần ai tăm tối này rồi! Đừng có bới móc tro tàn nữa, con ơi... tro ở cái đất Lò Khê này độc lắm, càng bới sâu thì càng chỉ thấy xương người chết rục thôi..."

Ninh Chiêu cảm thấy máu nóng trong cơ thể mình dường như đông cứng lại thành băng. Từng đốt ngón tay cô lạnh ngắt dưới lớp vải bố dày.

Chính mắt Lão Bàng đã thấy Du Hành tự tay đeo kiếm bước vào màn sương xám. Thanh kiếm tuyệt đối không hề bị bỏ lại nhân gian.

Vậy thì mảnh vỡ kim loại vặn xoắn, xé toạc đầy hàn khí đang nằm sâu trong hộc đá dưới bễ lò rèn nhà cô từ đâu mà rơi xuống? Nếu thanh kiếm Hàn Tủy đã theo chủ nhân vượt qua vòm đá cổng trời, thì thứ sức mạnh nghiền nát kinh hoàng nào ở bên kia cánh cửa đã bẻ gãy nó, vặn xoắn cấu trúc thép huyền tinh trăm năm tôi luyện, rồi nhẫn tâm ném trả lại trần gian dưới dạng một mảnh phế liệu lẫn trong đống tro tàn của Tạ Vân vào sáng hôm nay?

Ninh Chiêu hít một hơi thật sâu, nén chặt sự bàng hoàng đang cuộn trào trong lồng ngực. Cô đứng dậy, khẽ gật đầu tạ từ người thợ già tàn phế: "Cháu hiểu rồi. Bàng thúc giữ gìn sức khỏe, nhớ hãm cao thuốc uống đều đặn trước khi đi ngủ, đừng để phổi bị lạnh."

"Đi đi... về đi con..." Lão Bàng thều thào qua hơi thở đục ngầu, bàn tay buông thõng xuống mặt dát tre ọp ẹp. "Về mà đóng chặt cửa nẻo lại... đêm nay núi Lạc Hạc thở mạnh lắm, điềm chẳng lành đâu..."

Ninh Chiêu lách mình bước nhanh ra khỏi căn chòi rách nát, bàn tay kéo thấp vành nón trúc che khuất nửa khuôn mặt. Phía sau lưng cô, tiếng ho sù sù dai dẳng của lão thợ già lại trỗi dậy, hòa lẫn vào tiếng rác rưởi xột xoạt và mùi tanh nồng của bùn quặng bốc lên từ lòng hào xỉ. Màn đêm bao trùm lấy thị trấn Lò Khê đen đặc không một ánh sao, không gian quánh lại như hắc ín nguội. Ở phía chân trời đằng xa, đỉnh núi Lạc Hạc sừng sững vươn lên giữa tầng mây mờ, trông tựa như một bóng quái thú khổng lồ đang há toác chiếc mồm đá đen ngòm chờ nuốt chửng những kẻ dám mon men tìm kiếm sự thật.

***

Khi Ninh Chiêu về lại xưởng Lò Ninh qua lối cửa sau ven mương thoát nước, tiếng then cài bằng sắt vừa khớp chặt vào ổ khóa gỗ thì đột nhiên có tiếng gõ nhẹ ba nhịp lên cánh cửa ngách bên hông xưởng.

Tiếng gõ rất khẽ, cẩn trọng, dứt khoát và giữ đúng một nhịp điệu kỳ lạ—hai tiếng ngắn, một tiếng dài. Đó hoàn toàn không phải là cách đập cửa hung hãn, thô bạo của đám quan sai phủ Quan Tế, cũng chẳng phải nhịp gõ thô thiển, vội vã của phường phu xe chở than đá về đêm.

Ninh Chiêu cảnh giác nép mình vào bóng tối bên khung cửa. Cô với tay nhấc cây kẹp sắt dài dùng để gắp phôi nung đang dựng sát góc tường, đầu kẹp bằng thép tôi nặng trịch nằm gọn trong lòng bàn tay. Giữ hơi thở thật êm, ngón tay cô nhẹ nhàng trượt qua then cài bằng gỗ lim của cửa ngách, hé mở một khe hở nhỏ chỉ vừa đủ một lóng tay để đưa mắt nhìn ra ngoài hẻm tối.

Dưới mái hiên ám khói đen kịt của dãy nhà kho bên cạnh, một bóng người thon thả trùm chiếc áo choàng lụa mỏng màu lam sẫm đang đứng nép mình vào góc tường ẩm ướt. Nhận thấy then cửa bên trong vừa nhấc, người đó vội vàng đưa hai tay kéo chiếc mũ trùm đầu xuống, để lộ ra một gương mặt thanh tú nhưng tái nhợt không còn giọt máu, đôi mắt to thâm quầng vì nhiều đêm mất ngủ và vương đầy vẻ kinh hoàng tột độ.

Đó là Tạ Uyển—con gái duy nhất của kiếm tu Tạ Vân, người vừa bước lên đài Huyền Khuyết phi thăng vào sáng sớm hôm nay.

Ninh Chiêu hơi sững người, cô lập tức buông cây kẹp sắt xuống, nhanh chóng mở rộng cánh cửa ngách một khoảng vừa đủ: "Tạ cô nương? Sao cô lại đến đây vào giờ này? Ngoài phố lính tuần của phủ Quan Tế và người của Nam Trụ đang rải quân lùng sục khắp các ngả..."

"Chiêu tỷ, muội biết là đường đột... nhưng muội không biết phải đi đâu lúc này," Tạ Uyển bước vội vào trong xưởng, bước chân lảo đảo suýt vấp phải bậc ngưỡng cửa bằng đá xanh. Giọng nói của cô nhẹ nhàng, trong trẻo nhưng run rẩy không sao giấu giếm nổi. Cô cởi chiếc áo choàng lụa đã dính đầy bụi tro xám đặt tạm lên chiếc ghế đẩu duy nhất kê bên đe sắt, rồi run rẩy rút từ trong tay áo rộng ra một chiếc túi gấm thêu hoa văn chỉ bạc đưa về phía Ninh Chiêu. "Ban ngày ngoài phố đông người hỗn loạn, phủ Quan Tế lại hạ lệnh thiết quân luật, phong tỏa toàn bộ khu vực trung tâm ngay sau đại lễ, muội không thể nào ghé qua trả tiền công sửa bao kiếm cho đoàn hộ lễ được. Đây là năm mươi đồng bạc vụn theo đúng giao ước ban đầu, tỷ đếm lại giúp muội..."

Ninh Chiêu nhận lấy chiếc túi gấm nặng trĩu, nhưng cô không buồn mở dây rút ra đếm mà đặt thẳng nó lên mặt đe sắt phẳng lỳ. Cô bước tới một bước, chăm chú nhìn kỹ vào gương mặt hốc hác của người con gái trước mặt. Đáng lẽ ra trong cái ngày trọng đại này, con gái của một vị đại kiếm tu vừa đắc đạo phi thăng, rạng danh khắp chốn Hạ Lĩnh và mang lại vinh quang tột bực cho Thanh Lư Tông, phải mang vẻ mặt hân hoan, rạng rỡ và ngập tràn kiêu hãnh của thân nhân một bậc tiên thánh. Thế nhưng, trên gương mặt của cô gái hai mươi lăm tuổi đang gánh vác toàn bộ sổ sách của quỹ bảo trợ y xá Thạch Tuyền này, chỉ có một nỗi hoang mang, sợ hãi tột cùng đang bị kìm nén một cách tuyệt vọng dưới lớp vỏ bọc đoan trang thường nhật.

"Sắc mặt cô nương kém lắm," Ninh Chiêu khẽ thở dài, bước đến bên bếp than còn ủ trấu đỏ. Cô nhấc chiếc ấm gang đen đúa đun trên đống than tàn, rót một bát nước ấm bốc khói nhè nhẹ đưa cho Tạ Uyển. "Uống một ngụm nước ấm cho nhuận giọng và trấn tĩnh lại đã."

Tạ Uyển run rẩy đưa cả hai bàn tay đón lấy chiếc bát sành thô mộc, mười đầu ngón tay trắng bệch ôm chặt lấy thân bát bằng đất nung để tìm kiếm chút hơi ấm sót lại giữa đêm lạnh. Cô nhấp một ngụm nhỏ, đôi mắt nhìn đăm đăm vào ngọn lửa lò le lói hắt lên những vệt sáng đỏ quạch trên mặt đất nện, rồi bờ vai mảnh khảnh bỗng run lên bần bật. Cô nghẹn ngào, giọng nói vỡ vụn trong cuống họng:

"Chiêu tỷ... muội... muội sợ quá. Muội sợ đến mức không dám nhắm mắt lại..."

"Cô nương sợ điều gì?" Ninh Chiêu hỏi khẽ, giọng cô trầm thấp và vững vàng như một tảng đá hoa cương chịu lực dưới đáy vực sâu, vô tình tạo cho người đối diện một điểm tựa vững chãi giữa cơn giông bão. "Tạ tiền bối đã vượt qua kiếp nạn trần thế, ngự giá bước vào cõi tiên, tông môn và phủ Quan Tế chắc chắn đều sẽ chu cấp hậu hĩnh cho y xá và gia quyến của người suốt đời. Cô nương còn điều gì phải bất an?"

"Không phải... mọi chuyện hoàn toàn không phải như những gì họ rêu rao ngoài phố đâu tỷ!" Tạ Uyển lắc đầu kịch liệt, những lọn tóc mai ướt đẫm mồ hôi lạnh dính bết vào hai bên gò má xanh xao. "Người ngoài nhìn vào đều tưởng cha muội đắc đạo thành tiên, bước lên cảnh giới trường sinh bất tử, nhưng muội là con gái ruột của người, muội ở bên người từng ngày từng giờ, muội biết chứ! Trước giờ đăng đàn ba ngày, người hoàn toàn không hề có lấy một tia thanh thản, tự tại của một bậc tu sĩ sắp sửa bước chân lên cõi thượng giới."

Cô gái rướn người về phía trước, hạ thấp giọng xuống mức gần như chỉ là hơi thở phả qua kẽ răng, hai hàm răng va vào nhau lập cập từng chập:

"Cha muội đã thức trắng suốt ba đêm liền trước ngày đại lễ. Đêm nào người cũng ngồi một mình trong mật thất đóng kín cửa, miệng lẩm nhẩm tụng đọc kiếm quyết nhưng bàn tay cầm chén trà thì run lẩy bẩy đến mức làm rơi vỡ cả đồ sứ gia bảo. Đêm hôm qua, khi muội mang bộ lễ phục thêu kinh văn đến cho người mặc thử lần cuối, muội đã thấy... thấy cha muội quỳ sụp trước bàn thờ tổ tiên mà khóc nức nở. Chiêu tỷ có biết không, cha muội là một kiếm tu Kết Cốt viên mãn, cả đời tung hoành ngang dọc, từng vào sinh ra tử trên rặng Bạch Nham chém giết yêu thú chưa từng chớp mắt lấy một lần, chưa từng rơi một giọt nước mắt nào trước bất kỳ nỗi đau đớn thể xác nào! Vậy mà đêm qua người lại nắm chặt lấy hai bàn tay muội dặn dò... từng lời dặn dò nghe như những lời trăn trối của một tử tù sắp bị điệu ra pháp trường xử trảm!"

Ninh Chiêu siết chặt những ngón tay thô ráp của mình trong túi tạp dề bằng da trâu, trái tim trong lồng ngực đập thình thịch từng nhịp nặng nề: "Tạ tiền bối đã dặn dò cô nương những gì?"

"Người bảo muội phải giữ chặt lấy toàn bộ sổ quỹ và nhật ký nhập xuất dược liệu của y xá, dặn đi dặn lại rằng dù có bất cứ chuyện gì xảy ra, dù người của phủ Quan Tế có dùng vũ lực hay quyền uy đe dọa, muội cũng tuyệt đối không bao giờ được giao nộp bản gốc sổ sách cho bọn họ." Giọng Tạ Uyển lạc đi, những giọt nước mắt kìm nén bấy lâu bắt đầu lặng lẽ trào ra qua khóe mắt, lăn dài trên đôi má tái ngắt. "Người bảo nếu sau ngày hôm nay có bất kỳ biến cố bất thường nào xảy ra tại Lò Khê, muội phải lập tức bỏ lại tất cả nhà cửa, tài sản, mang theo sổ sách bỏ trốn thật xa... đi thật xa về phía bờ biển phía đông, vĩnh viễn không bao giờ được quay trở lại dãy núi này nữa... Sáng nay, lúc người đứng trên đỉnh đài tế nhìn xuống quảng trường, muội đứng ở ngay hàng đầu của đoàn hộ lễ dâng hương. Ánh mắt của cha muội lúc người quay lưng bước vào vòm đá Huyền Khuyết... tỷ có nhìn thấy không? Đó hoàn toàn không phải là ánh mắt của một người nhìn thấy cõi tiên rực rỡ! Đó là ánh mắt của một kẻ tuyệt vọng đến tột cùng... một kẻ biết rõ mười mươi rằng mình đang tự bước chân vào miệng vực thẳm không đáy mà không còn con đường nào để lùi lại!"

Không khí bên trong xưởng rèn Lò Ninh bỗng chốc đặc quánh lại như bùn quặng sau cơn mưa, ngột ngạt đến nghẹt thở. Không gian chỉ còn lại tiếng thở dồn dập, nghẹn ngào của Tạ Uyển và tiếng nổ lách tách khô khốc của những hạt muội than rụng xuống đáy bếp lò.

Từng lời kể đẫm nước mắt của Tạ Uyển như một chiếc nêm sắt sắc nhọn đóng phập vào chuỗi những mối nghi vấn đang cuộn xoáy điên cuồng trong tâm trí Ninh Chiêu suốt từ sáng đến giờ. Nét mặt căng cứng đến biến dạng của Tạ Vân trước giờ xuất phát; tiếng kim loại nghiến rít cơ khí ghê rợn phát ra từ sâu trong lòng vòm đá Huyền Khuyết; hiện tượng kỳ quái khi cánh cổng đá hút ngược toàn bộ ánh sáng và gió núi vào bên trong thay vì tỏa ra hào quang thần thánh như kinh điển mô tả... và trên hết, chính là mảnh vỡ đẫm hàn khí lạnh buốt của kiếm Hàn Tủy đang nằm im lìm dưới hộc đá bí mật kia.

Tất cả những chi tiết rời rạc ấy không còn là sự trùng hợp ngẫu nhiên nữa. Chúng đang trần trụi chỉ về một sự thật hãi hùng, một cạm bẫy tanh mùi máu đang được che giấu kỹ lưỡng dưới lớp màn nhung hoa lệ của các đại lễ phi thăng ngàn năm qua.

Tạ Uyển khẽ đưa tay quẹt ngang dòng nước mắt trên má, cố hít thở thật sâu để trấn tĩnh lại tinh thần đang lung lay sắp đổ sụp. Cô mở chiếc túi vải gai thô đeo bên sườn ra để tìm chiếc khăn tay lau mặt. Thế nhưng, trong lúc tinh thần hoảng loạn và những ngón tay run rẩy mất kiểm soát, chiếc túi vải bị nghiêng sang một bên. Một xấp giấy tờ dày cộp kẹp lẫn những tờ biên lai xuất nhập thuốc men của y xá Thạch Tuyền bị trượt ra ngoài mép vải, rơi lả tả xuống mặt chiếc bàn gia công bằng gỗ thông kê cạnh đe sắt.

"Xin lỗi tỷ... muội sơ suất quá, đầu óc muội lúc này bấn loạn hết cả..." Tạ Uyển bối rối, vội vàng cúi người xuống gom nhặt những tờ giấy biên nhận vương vãi trên mặt bàn đầy bụi sắt.

Ninh Chiêu cũng cúi xuống giúp cô thu dọn những tờ phiếu thu chi dược liệu. Thế nhưng, đúng khoảnh khắc những đầu ngón tay của cô chạm vào một mép giấy màu vàng xỉn, ánh mắt sắc bén phi thường của một người thợ rèn—vốn đã quen nhìn thấu từng con số kích thước li ti, từng dung sai cơ khí nhỏ như sợi tóc trên bản vẽ kỹ thuật—đột nhiên bị hút chặt vào một tờ phiếu điều phối vật tư có đóng dấu triện đỏ chót. Con dấu triện bằng mực chu sa mang hình đám mây tro cuộn tròn đặc trưng của phân đà Nam Trụ.

Đó là tờ phiếu điều phối xe tải và nhân lực quét dọn tro núi phục vụ cho công tác hậu cần sau nghi lễ phi thăng sáng nay.

Ninh Chiêu không nhặt tờ phiếu lên ngay. Ngón tay trỏ chai sần của cô ấn nhẹ lên góc giấy thô nháp, đè chặt nó xuống mặt bàn gỗ thông. Đôi mắt cô nheo lại, quét thật nhanh qua những dòng chữ viết vội vã bằng thứ mực tàu đen kịt:

*Biên bản chuyến xe số 04 – Đội vận tải quặng Nam Trụ.* *Nhiệm vụ: Thu gom và vận chuyển tro núi từ bể lắng chân đài Huyền Khuyết về bãi phế tích kho ngoại vi Nam Trụ.* *Giờ tiếp nhận tại trạm chân đài: Đầu giờ Mùi.* *Ghi chú phụ của y xá (để đối chiếu cấp phát vôi bột và phèn khử độc): Giờ đóng cửa đài Huyền Khuyết ghi nhận thực tế: Giữa giờ Thìn.*

Một luồng điện lạnh ngắt chạy dọc sống lưng Ninh Chiêu, khiến từng sợi tóc gáy của cô dựng đứng lên. Trong đầu cô, một tia chớp sắc lẹm xé toạc màn sương mù dày đặc của những suy đoán mơ hồ.

Giữa giờ Thìn chính là khoảnh khắc tiếng chuông đồng trên đỉnh núi Lạc Hạc ngân vang rền rĩ, vòm đá cửa trời khép lại và cơn mưa tro khoáng đen ngòm trút xối xả xuống mái ngói của toàn bộ trấn Lò Khê. Từ đỉnh đài Huyền Khuyết rơi xuống đáy thung lũng, quãng đường gió cuốn tro khoáng bay tự do chỉ mất chưa đầy một khắc đồng hồ.

Vậy mà trên tờ phiếu xuất kho chính thức của phân đà Nam Trụ—nơi nắm quyền kiểm soát toàn bộ hệ thống xe thồ và phu dịch quặng mỏ của trấn—giờ chiếc xe số 04 tiếp nhận mẻ tro phế liệu đầu tiên tại trạm trung chuyển chân đài lại được ghi nhận rành rành là: *Đầu giờ Mùi*.

Từ giữa giờ Thìn cho đến đầu giờ Mùi. Khoảng cách chênh lệch thời gian giữa hai mốc ấy là trọn vẹn hai canh giờ đằng đẵng!

"Tạ cô nương," Ninh Chiêu không ngẩng đầu lên, ngón tay trỏ của cô gõ nhẹ từng nhịp đanh gọn lên dòng chữ ghi mốc thời gian, giọng nói của cô trầm xuống một cách dị thường, lạnh lẽo đến mức khiến ngọn đèn dầu trên bàn dường như cũng chao đảo theo. "Tờ phiếu điều phối xe này... là do ai trực tiếp giao cho y xá của cô?"

Tạ Uyển ngơ ngác ngẩng đầu lên, nhìn theo ngón tay trỏ của Ninh Chiêu đang chỉ vào tờ giấy bọc bụi than, ngập ngừng đáp: "Là... là do viên chấp sự phụ trách vận tải của phân đà Nam Trụ mang đến y xá vào trưa nay. Hắn cần chữ ký xác nhận của muội để thanh toán số lượng vôi sống và bột lưu huỳnh mà y xá đã cấp phát cho đội thu gom tro sáng nay. Có... có chuyện gì không ổn với tờ phiếu đó sao Chiêu tỷ?"

"Cô nương hãy nhìn thật kỹ vào chỗ này," Ninh Chiêu kéo tờ giấy thô nháp lại gần ngọn đèn dầu, ngọn lửa vàng vọt rọi rõ từng nét mực đen đậm nhạt. "Cửa trời Huyền Khuyết đóng sầm lại vào lúc giữa giờ Thìn. Mưa tro khoáng bắt đầu dội xuống mái ngói xưởng Lò Ninh của ta chỉ sau đó chừng một tuần trà uống nước. Vậy tại sao chuyến xe tải đầu tiên vận chuyển tro của Nam Trụ lại xuất phát từ trạm chân đài vào đầu giờ Mùi? Khoảng trống hai canh giờ ở giữa đó... bốn tiếng đồng hồ tro tàn và phế liệu gom từ trên đài tế rơi xuống đã được đưa đi đâu?"

Tạ Uyển sững sờ. Đôi mắt vốn rất thông minh và mẫn cảm của một người nhiều năm quản lý toàn bộ sổ sách chi tiêu, xuất nhập kho báu của y xá lập tức nhận ra điểm phi lý chết người ẩn giấu sau những con số vô tri:

"Từ đỉnh đài Huyền Khuyết đi xuống chân núi chỉ có một con đường độc đạo rải bằng đá phiến xanh, xe bò kéo phế liệu dù có chở nặng và đi chậm chạp đến đâu cũng chỉ mất nhiều nhất là nửa canh giờ để xuống tới nơi. Nếu tro tàn rơi xuống ngay lúc giữa giờ Thìn, bọn họ bắt buộc phải bắt đầu công việc bốc dỡ chậm nhất là vào cuối giờ Thìn... Hai canh giờ... bốn tiếng đồng hồ đó đoàn xe chở tro đã biến đi đâu? Bọn họ dừng lại ở đâu giữa con đường núi độc đạo đó?"

"Bọn chúng không hề dừng lại để nghỉ ngơi hay đợi trời tạnh," Ninh Chiêu thì thầm, ánh mắt cô tối sầm lại như đáy lò rèn đã tắt lửa từ lâu. "Tro rơi từ cửa trời xuống là thứ tro quặng chứa đầy bụi huyền tinh sắc nhọn và độc chất ăn mòn cực mạnh. Nếu để đống tro đó ứ đọng lại trên mặt đài tế, nó sẽ làm nghẽn toàn bộ các đường rãnh dẫn linh khí và các bánh răng cơ khí ngầm của đài đá. Phủ Quan Tế luôn luôn điều động hàng trăm phu dịch mang xẻng đồng dọn sạch mặt đài ngay trong khoảnh khắc cánh cửa đá vừa khép lại. Điều đó có nghĩa là: toàn bộ số tro tàn và phế tích của lễ phi thăng đã được đưa ra khỏi đài Huyền Khuyết ngay trong giờ Thìn."

Cô dừng lại một nhịp, luồng khí lạnh phả ra từ kẽ răng:

"Vậy thì suốt hai canh giờ sau đó, toàn bộ số tro tàn thu gom từ đại lễ phi thăng của Tạ tiền bối—cùng với bất cứ thứ gì rơi xuống từ cánh cửa đá Huyền Khuyết kia—đã không hề được chở thẳng về bãi đổ tro công cộng của thị trấn như những gì nha môn vẫn công bố."

"Bọn họ... bọn họ đã đưa nó đi đâu?" Giọng Tạ Uyển run rẩy như sắp ngất đi.

"Bọn họ đã chuyển nó vào một trạm trung gian bí mật," Ninh Chiêu khẳng định, từng lời nói chắc nịch như đinh đóng vào cột gỗ. "Một trạm xử lý ngầm được giấu kín đâu đó giữa các khe nứt hiểm trở của núi Lạc Hạc và hệ thống kho chứa kiên cố của Nam Trụ. Ở nơi bí mật đó, bọn họ có đủ thời gian hai canh giờ để rây lọc cẩn thận, phân loại kỹ càng, dùng búa tạ đập vụn hoặc thu hồi triệt để tất cả những thứ không được phép để lộ ra ánh sáng mặt trời... trước khi giao phần tro vụn vô giá trị còn lại cho đám phu xe chở về bãi rác hoang."

Và mảnh vỡ mang kiếm khí lạnh thấu xương của kiếm Hàn Tủy rơi trúng máng nước xưởng Lò Ninh vào sáng nay chính là một mảnh tàn tích hiếm hoi đã lọt qua mắt xích kiểm soát ngầm tàn bạo và nghiêm ngặt đó!

Tạ Uyển run rẩy nhìn Ninh Chiêu, hai bàn tay buông thõng làm chiếc bát sành trượt khỏi tay, rơi xuống mặt bàn gỗ phát ra một tiếng "cộc" khô khốc, nước ấm sóng sánh tràn ra ngoài mép bàn: "Chiêu tỷ... rốt cuộc... rốt cuộc bọn họ đang làm gì với cha muội? Dưới chân đài tế đó... đằng sau cánh cửa trời đó... rốt cuộc có cái gì?"

"Ta chưa thể biết chắc chắn được," Ninh Chiêu khẽ gấp tờ phiếu điều phối lại theo đúng nếp gấp cũ, cẩn thận nhét nó vào sâu bên trong xấp biên lai thu chi, rồi đặt trọn vẹn vào lòng bàn tay lạnh ngắt của Tạ Uyển. "Nhưng Tạ cô nương, hãy nghe thật kỹ những lời ta dặn đây. Tờ phiếu này, cùng với toàn bộ sổ sách ghi chép giờ giấc cấp phát thuốc men, vôi sống và phèn khử độc của y xá từ trước đến nay, cô phải đem cất giấu ở một nơi tuyệt đối an toàn. Đừng bao giờ để lộ một góc giấy nào cho người của Nam Trụ hay bất kỳ tên sai dịch nào mang giáp xám của phủ Quan Tế nhìn thấy. Ngay cả bác sĩ Trần Mộc ở y xá, nếu chưa thực sự đến bước đường cùng sinh tử, cô cũng tuyệt đối không được hé răng nói ra nửa lời."

Tạ Uyển nuốt một ngụm nước bọt nghẹn ứ nơi cổ họng, gật đầu lia lịa như một con chim non hoảng loạn. Cô cẩn thận nhét lại xấp giấy tờ vào đáy túi vải gai, siết chặt dây buộc rồi kéo sụp chiếc mũ trùm đầu bằng lụa lam xuống che kín mít khuôn mặt tái nhợt: "Muội hiểu rồi... muội hiểu rồi. Muội sẽ đem giấu chúng xuống chiếc hòm sắt dưới đáy tủ thuốc phong bế bằng chì. Chiêu tỷ... tỷ ở lại đây một mình... tỷ cũng phải hết sức cẩn thận."

"Đi lối ngõ sau ven mương, men theo bờ rào nhà kho mà về, tuyệt đối đừng đi qua cầu đá lớn," Ninh Chiêu dặn dò lần cuối.

Cô bước tới bên cánh cửa ngách, khẽ hé mở chốt sắt, cẩn thận đưa mắt quan sát thật kỹ từng góc tối của con hẻm nhỏ bên ngoài. Không gian vẫn chìm trong sự tĩnh mịch chết chóc, chỉ có tiếng gió lùa ràn rạt qua những đống xỉ than mục rỗng. Ninh Chiêu khẽ vỗ vào vai Tạ Uyển, ra hiệu cho cô gái lách mình bước ra ngoài. Bóng hình mảnh mai trong chiếc áo choàng màu lam sẫm nhanh chóng hòa lẫn và biến mất hút vào màn sương tro mù mịt của con ngõ hẹp ngoằn ngoèo.

***

Cánh cửa ngách bằng gỗ lim khép lại thật êm, then sắt dày nặng nề trượt vào ổ khóa với một tiếng cạch khô khốc vang vọng trong không gian vắng lặng.

Xưởng rèn Lò Ninh lại trở về với sự tĩnh lặng quen thuộc, một sự tĩnh lặng nặng nề, u uất và lạnh lẽo tựa như một nấm mồ đá vừa được niêm phong. Ninh Chiêu không quay trở lại chiếc đe sắt để tiếp tục công việc gia công dang dở, cũng không tiến về phía bễ thổi than. Cô chậm rãi bước từng bước nặng nề đến bên khung cửa sổ hẹp ở vách phía bắc—nơi nhìn thẳng ra con đường ray vận chuyển than đá chạy dọc theo mép ngoài của thị trấn.

Khung cửa sổ này được ghép bằng những thanh gỗ thông xẻ dày bản, qua nhiều năm phơi mình trong khói than và hơi ẩm đã mục ruỗng ở bốn góc, những ô kính mờ câm đóng đầy một lớp bụi khoáng xám xịt từ trận mưa tro trút xuống hồi sáng nay. Ninh Chiêu giơ mu bàn tay thô ráp đầy những vết chai cứng của mình lên, khẽ lau một vệt dài dứt khoát trên mặt kính dính bết bụi bẩn. Mặt kính phát ra tiếng rít ken két rợn người, để lộ ra một khoảng tròn trong suốt nhỏ bằng miệng chén trà.

Gió đêm từ đỉnh núi Lạc Hạc thổi thốc xuống thung lũng sâu, mang theo tiếng rít u u ghê rợn luồn qua những đường ống dẫn khói của hàng chục lò rèn xung quanh và tiếng sắt thép va đập khô khốc, lách cách vọng lại từ phía bãi bốc dỡ than đá của phân đà Nam Trụ.

Hai canh giờ sai lệch chết người được ghi nhận trên tờ phiếu điều phối xe tải. Ba vết đục lõm sâu với góc mài mười bảy độ mang thủ pháp độc môn của Ninh Trác trên sống mảnh kim loại vỡ vụn. Lời thề thốt run rẩy của Lão Bàng về việc chính mắt thấy kiếm Hàn Tủy đã theo chân Du Hành bước qua vòm sương mù mười bốn năm về trước. Ánh mắt kinh hoàng, tuyệt vọng của một kẻ biết mình sắp bước vào chỗ chết của kiếm tu Tạ Vân trước giờ bước lên đài tế. Và tiếng gầm rú cơ khí nghẹn ngào, sự hút ngược ánh sáng của vòm đá Huyền Khuyết.

Từng mảnh ghép rời rạc, tưởng chừng như vô lý và hoàn toàn không liên quan đến nhau qua suốt mười sáu năm đằng đẵng trôi qua, vào chính khoảnh khắc này đang dần dần kết nối lại với nhau một cách hoàn hảo đến rợn gáy. Chúng tạo thành một mạng lưới sắt đá vô hình, siết chặt lấy cổ họng và lồng ngực cô, khiến từng hơi thở hít vào đều buốt rát như nuốt phải mảnh thủy tinh vụn. Cửa trời Huyền Khuyết chưa bao giờ là cánh cổng dẫn lối bước lên cõi tiên giới trường sinh bất tử. Cái vòm đá cổ xưa hút ngược ánh sáng và gió núi kia thực chất là một cỗ máy nghiền nát con người khổng lồ, một cái cối xay thịt bằng cơ khí tàn nhẫn được ngụy trang dưới vẻ uy nghiêm của thần thánh, chuyên nuốt chửng những kiếm tu xuất chúng nhất của toàn bộ cõi Hạ Lĩnh rồi nhả ra những mảnh xương sắt vụn nát, biến dạng dưới lòng đất tối tăm.

Và người cha mất tích của cô—Ninh Trác—người thợ rèn kỳ tài duy nhất của đất Lò Khê hiểu rõ từng khớp nối cơ khí cổ, từng bí mật luyện kim thất truyền, người đã đột ngột biến mất không một dấu vết mười một năm về trước sau một lệnh triệu tập cơ mật của thượng tầng tông môn... rốt cuộc ông đã đóng vai trò gì trong cỗ máy tàn bạo đó? Ông là nạn nhân bị cỗ máy ấy nghiền nát, hay chính là người đã tra từng giọt dầu, mài từng chiếc răng cưa cho cái cối xay thịt kinh hoàng kia vận hành?

Một luồng hơi lạnh bất chợt phả thẳng vào sau gáy Ninh Chiêu.

Đó không phải là cơn gió lùa qua khe nứt của vách gỗ mục, mà là một cảm giác rợn ngợp xuất phát từ trực giác sinh tồn nhạy bén của một người thợ rèn quanh năm sống giữa gang thép sắc nhọn và lửa bỏng hiểm nguy. Toàn thân Ninh Chiêu lập tức căng cứng như một sợi dây cung kéo căng hết mức. Đôi đồng tử của cô nheo lại, ánh mắt sắc như lưỡi dao cạo phóng thẳng qua vệt kính vừa được lau sạch, hướng về phía dải đường ray xe than bên kia con mương cạn.

Dưới ánh sáng vàng vọt, tù mù hắt ra từ cây đèn bão treo lủng lẳng trên chiếc cột tín hiệu đường ray cách xưởng rèn chừng ba mươi trượng, có một bóng người.

Người đó có vóc dáng cao lớn, trùm kín mít từ đầu đến chân trong một chiếc áo tơi tẩm dầu gai đen sẫm bóng nhẫy. Bóng đen ấy đứng bất động hoàn toàn giữa cơn gió lạnh thấu xương, không hề có dấu hiệu né tránh những luồng gió rít hay tìm chỗ trú mưa bụi, cũng không mang phong thái lười nhác, run rẩy của một tên lính tuần đêm đang vội vã tìm góc khuất để tránh rét. Kẻ đó đứng sừng sững giữa bóng tối mịt mùng như một cột đá mọc lên từ nền sỏi đường ray, mặc cho những hạt tro khoáng li ti màu trắng xám từ trên trời trút xuống phủ một lớp bụi mỏng tang lên đôi bờ vai rộng và chiếc nón lá úp sụp che khuất toàn bộ gương mặt.

Dưới vành nón đen kịt ấy, dường như có một ánh nhìn vô hình, lạnh lẽo và chăm chú đang xuyên qua lớp tro bụi mù mịt của màn đêm, xuyên qua ô cửa kính mờ câm, găm chặt vào ngọn lửa lò le lói đang cháy dở bên trong xưởng rèn Lò Ninh.

Một bóng người trùm áo tơi đen đứng bất động dưới mưa tro bên ngoài cửa sổ xưởng rèn, chăm chú nhìn vào ánh lửa lò.

Chương này thế nào?Đánh giá giúp Readeep đề xuất đúng hơn cho bạn