Kiếm Cốt Dưới Tro — Phần 1: Cửa Trời Không Có TiênC.23 / 40
Chương 23

Tên của những người bị chuyển

Mẩu giấy bồ câu chuyển tới chỉ có vỏn vẹn một địa điểm hẹn gặp tại miếu hoang ven bìa rừng sồi, nơi sương muối đặc quánh phủ kín lối mòn.

Rừng sồi cuối đông trơ trụi những cành khẳng khiu như xương xám đâm thẳng vào bầu trời chì đục. Gió từ triền bắc Thanh Lư tràn xuống thung lũng mang theo hơi lạnh buốt thấu da thịt và bụi tro khoáng lơ lửng, thứ bụi xám mịn sinh ra từ các lò cao luyện kim trên đỉnh núi, bay là là mặt đất rồi cọ xát vào cuống họng ráp như vụn đá mài. Mảnh miếu hoang nằm lọt thỏm giữa hõm dốc trũng, nơi tụ lại của những luồng khí lạnh ẩm ướt nhất vùng chân núi. Mái ngói âm dương đã sụp quá nửa, trơ ra những đòn tay bằng gỗ tạp gãy vụn, mục ruỗng vì sương dầu; rêu phong chết khô bám thành từng mảng đen đúa, nhớp nháp trên những bậc đá hoa cương nứt nẻ dẫn lên thềm tiền đường. Không gian vắng lặng tới mức chỉ còn lại tiếng những giọt sương muối ngưng tụ trên cành cây khô, chốc chốc lại rơi lộp độp xuống lớp lá sồi rụng dày hàng gang tay dưới chân thềm.

Ninh Chiêu đứng sát bậu cửa gỗ mục ngả nghiêng bên hữu vu, nơi góc nhìn có thể bao quát toàn bộ lối mòn duy nhất ngoằn ngoèo xuyên qua rặng cây. Bàn tay phải của cô cầm lỏng chuôi thanh kiếm sắt non thô mộc, khớp ngón trỏ đặt hờ nơi gờ chắn hình chữ nhật để sẵn sàng xoay lưỡi sang thế gạt ngang trong chớp mắt. Sau chuỗi ngày ẩn náu tạm bợ ở bãi chài ven sông, cơ thể cô vẫn chưa thể hồi phục hoàn toàn. Bàn tay trái—bàn tay thợ rèn từng nâng búa nặng—nay bị bọc kín trong lớp vải gai tẩm mỡ trăn mỏng. Dù những cơn co giật gân cơ cục bộ đã tạm lắng, từng dải gân trên mu bàn tay vẫn căng cứng như dây cung kéo căng dưới làn da chằng chịt vết bỏng toan. Mỗi khi luồng gió bấc rít qua khe liếp mục, hơi lạnh tạt thẳng vào lớp băng gạc lại dấy lên một cơn nhức buốt âm ỉ, chạy dọc từ khớp xương cụt ngón áp út lên tận xương bả vai.

Phía sau lưng cô ba trượng, dưới bóng tối nhờ nhợt của pho tượng hộ pháp bằng sa thạch đã rụng mất đầu, Tống Hoài ngồi thu mình tựa lưng vào cây cột gỗ lim nứt nẻ. Anh quấn chặt tấm chăn dạ xơ xác quanh người, khuôn mặt xám ngoét màu tro bếp vì cơn phản phệ kiếm khí tích tụ nhiều năm chưa từng thực sự tan biến. Đôi mắt hẹp dài, sâu hoắm của anh vẫn mở trừng trừng, lạnh lùng và cảnh giác quan sát từng cử động run rẩy của tán lá sồi ngoài cửa miếu. Cây gậy mun gãy đôi mà anh dùng làm vật chống đỡ thân thể đã được quấn chắp tạm bằng nhiều vòng dây gân bò khô cứng; đầu gậy bị vạt nhọn tì chặt xuống nền đất nện ẩm ướt, tạo thành điểm tựa vững chãi duy nhất giúp chiếc nẹp lưng bằng thau đỏ không nghiến nát các đốt sống rạn nứt bên trong lần áo rách. Thỉnh thoảng, lồng ngực anh lại giật nảy lên một nhịp ngắn khi anh phải nén một cơn ho khan xé cổ họng.

Lê Vãn ngồi bệt trên một phiến đá hoa cương sứt góc kê sát vách tường hậu. Chị không để tâm đến cái lạnh đang ngấm qua lớp đế giày da mỏng. Chiếc la bàn đồng thau cỡ nhỏ và hộp kính thử toan tính được chị cẩn thận đặt xuống vạt áo tơi lót cỏ khô trên đùi. Những ngón tay gầy guộc của người trắc lượng sư run rẩy vì cóng buốt nhưng vẫn tỉ mẩn vuốt phẳng từng mảnh nhật ký vận hành rách nát thu được từ buồng Cửu Giá dưới đáy giếng Mặc. Những mảnh giấy bản thô dính đầy dầu máy cháy khét lẹt và bùn toan đã khô cứng, giòn rụm đến mức chỉ cần một cử động vụng về là có thể vỡ vụn thành bột. Cứ sau mỗi lần lật giở, Lê Vãn lại đưa hai bàn tay trầy xước rướm máu lên trước miệng, phà từng luồng hơi thở ấm nóng mỏng manh để làm tan đi lớp sương giá bám quanh đầu móng tay.

Một tiếng cành khô gãy giòn vang lên cách miếu chừng mười trượng.

Ninh Chiêu lập tức hạ thấp trọng tâm, mũi chân sau lùi nửa bước tạo thế đòn bẩy vững chắc vào chân cột gỗ mục. Lưỡi kiếm sắt non khẽ nhích ra khỏi bóng tối nửa tấc, phản chiếu một vệt sáng mờ đục của bầu trời sương muối. Nhưng không có sát khí bén ngót đặc trưng của kiếm tu nội môn rẽ gió lao tới, cũng không có tiếng xích sắt va đập leng keng của toán chấp pháp kỵ mã tuần tra thung lũng.

Chỉ có tiếng thở dốc nặng nhọc, khò khè và đứt quãng như hơi thở của một con thú săn bị thương nặng đang cố lết những bước cuối cùng về hang ổ. Tiếng vải thô ma sát vụng về, xiêu vẹo vào những thân cây sồi xù xì bọc rêu xám vang lên rành rọt.

Một bóng người lảo đảo tách khỏi màn sương đặc quánh đang bao phủ bờ rào đá đổ nát.

Hạ Từ mặc chiếc áo choàng xám tro không thêu phù hiệu của đệ tử ngoại vụ, nhưng tà áo thùng thình không thể che giấu được chiếc nẹp ngực bằng gỗ thị kẹp thanh đồng do chính tay bác sĩ Trần Mộc nẹp chặt vào thân hình mảnh khảnh của cô. Cứ mỗi bước chân giẫm thụt xuống thảm lá sồi mục ngập nước, người đệ tử nội môn lại phải khựng lại một nhịp dài, toàn thân run rẩy dữ dội. Bàn tay phải của cô bấu chặt lấy mạn sườn trái, nơi hai dải xương sườn số tám và số chín bị đánh dập nát vẫn chưa hề kết xương sau trận tháo chạy kinh hoàng. Từng vệt máu tươi đỏ thẫm rỉ qua lớp băng vải quấn chặt quanh ngực, thấm đẫm ra ngoài lớp áo xám, kết thành một mảng cứng đờ màu nâu sẫm bốc mùi tanh nồng lẫn với mùi dầu trẩu. Trên lưng cô, bên cạnh thanh kiếm lệnh gãy đôi của viện Chấp Pháp bị trói chặt bằng dây gai thô, là một bọc da trâu lớn được bọc kín mít bằng ba lớp sáp dầu gai chống ẩm, dây thao bản rộng thắt chéo qua bờ vai gầy guộc đang rớm máu.

"Hạ Từ!"

Ninh Chiêu bước vội qua ngưỡng cửa mục nát, bàn tay phải buông kiếm cắm phập xuống đất, vươn ra đỡ lấy khuỷu tay người đệ tử nội môn trước khi cô ngã sụp xuống bậc tam cấp phủ rêu trơn trượt.

Hạ Từ ngã quỵ xuống bậu cửa miếu, toàn bộ sức nặng cơ thể đổ dồn vào vòng tay Ninh Chiêu. Hơi thở trong lồng ngực cô rít lên từng hồi the thé như tiếng bễ rèn bị thủng van dẫn gió. Cô không buồn lau những giọt mồ hôi lạnh đang túa ra đầm đìa trên vầng trán tái nhợt như giấy bản, bàn tay lạnh ngắt run rẩy bần bật lần vào vạt áo, dùng hết chút tàn lực giật đứt sợi dây thao buộc bọc da trâu rồi đẩy thẳng khối tài liệu nặng trịch vào lòng Ninh Chiêu.

"Trốn... tôi trốn khỏi trạm gác ngoại vi từ đầu giờ Dần..." Cổ họng Hạ Từ khé đặc, mỗi lời thốt ra đều đi kèm với một tiếng ho sặc sụa khiến cô phải gập người ôm chặt lấy ngực. Một tia máu bầm từ khóe môi nứt nẻ rỉ xuống cằm, nhỏ tong tòng lên phiến đá nứt. "Đỗ Tuyên đã mang lệnh bài của Chấp Pháp viện phong tỏa toàn bộ viện Dược Sư ngay sau nửa đêm... Trần sư thúc phát hiện ra dấu hiệu lục soát, ông ấy đã đập vỡ ba hũ toan thạch đặc để châm lửa đốt mù tầng hầm chứa thuốc, tạo khói độc đánh lạc hướng đám tuần tra... Sư thúc ép tôi phải chui qua đường máng thoát phân của chuồng ngựa kéo pháo... Toàn bộ... toàn bộ hồ sơ điều động nhân sự mật của Thanh Lư Tông suốt năm năm qua... Tôi đã sao chép đủ. Không sót một bản lưu nào của phòng Quản dịch."

Tống Hoài từ từ nhổm người dậy, chiếc nẹp lưng bằng thau đỏ siết chặt vào thắt lưng anh kêu răn rắc dưới lớp áo dạ rách. Anh không lên tiếng hỏi thăm thương tích hay an ủi người đồng môn trẻ tuổi, đôi mắt chim ưng hẹp dài của cựu kiếm tu chỉ dán chặt vào tập bọc da trâu dày cộp bằng một ánh nhìn sắc nhọn như dao cạo:

"Có dấu mộc lòng máng của phòng Quản dịch không? Có ấn son lòng máng chìm trên gáy giấy không?"

"Đủ cả," Hạ Từ ngẩng đầu lên, trong đôi mắt đục ngầu vì mệt mỏi và đau đớn bỗng bùng lên một ngọn lửa căm hờn rực cháy—thứ lửa giận dữ mà một đệ tử nội môn từng một thời tôn sùng tuyệt đối mọi quy củ nghiêm ngặt của tông môn chưa từng bao giờ bộc lộ. "Dấu triện hoa sen cụt cánh của Chấp Pháp viện, chữ ký duyệt phân bổ nhân lực của đích thân Đỗ Kính, và biên bản giao nhận nhân sự phụ trách trạm dẫn ngầm... Tôi đã cạy khóa ngăn kéo đáy tủ hồ sơ lưu niệm của chính phủ Quan Tế để lấy ra từng tờ một."

Lê Vãn lập tức gạt toàn bộ đồ nghề trắc lượng sang một bên phiến đá. Chị cởi phăng chiếc áo khoác dày lót lông chiên của mình, trải rộng ra mặt bệ thờ bằng đá hoa cương phủ đầy bụi xỉ than giữa gian tiền đường.

Ninh Chiêu rút con dao găm nhỏ găm bên hông, lưỡi thép sắc ngọt lướt nhẹ rạch đứt lớp sáp niêm phong dày cộp bọc quanh mép da trâu. Ngay khi lớp vỏ bọc bằng da thú thô ráp được mở tung ra, mùi giấy mốc lâu năm, mùi mực dầu thông cô đặc quyện lẫn với mùi tro khoáng nồng nặc lập tức bốc lên ngùn ngụt, xộc thẳng vào khứu giác bốn con người trong gian miếu ẩm thấp.

Đó là hàng trăm tờ công văn điều động nhân sự, sắc lệnh điều chuyển lao dịch, và các biên bản bàn giao đệ tử được đóng gáy cẩn thận thành từng tập riêng biệt theo từng năm hành chính, trải dài từ năm Thiên Hưng thứ bốn mươi mốt cho đến tận tháng trước. Những tờ giấy hoa tiên và giấy bản dày dặn, phẳng phiu, mang dấu mộc đỏ chói lọi của thượng tầng Thanh Lư Tông, tỏa ra sự lạnh lùng tàn nhẫn của quyền lực hành chính tối cao.

Lê Vãn cẩn thận rút từ trong túi ngực chiếc áo tơi ra những trang giấy rách nát, vàng ố và dính đầy vết dầu máy cháy dở mà họ đã liều mạng mang ra khỏi buồng Cửu Giá dưới đáy giếng Mặc. Những trang nhật ký tiếp nhận tải sống ấy mang nét chữ khắc bằng dùi sắt khô khốc, vội vã của những người vận hành trận ngầm, ghi nhận tỉ mỉ từng chỉ số nạp lực, từng chu kỳ áp suất và mức độ hao tổn thể xác của những kẻ bị trói trên giá sắt.

Chị trải hai tập tài liệu song song với nhau trên mặt áo khoác. Một bên là các trang giấy rách nát dập than củi đen đúa từ di tích ngầm ẩm mốc, một bên là hồ sơ lưu trữ điều động hành chính sạch sẽ, tinh tươm mang mộc son trang trọng của Chấp Pháp viện và phủ Quan Tế.

"Đối chiếu đi," giọng Lê Vãn lạnh lùng nhưng ngón trỏ và ngón cái của chị run rẩy kịch liệt khi cầm cây bút chì than lên. "Mã số tiếp nhận tại Cửu Giá luôn tuân theo cấu trúc cơ học cố định: Tháng, Năm, Trạm nạp lực, và cấp độ kiếm cốt của tải sống. Tôi sẽ đọc mã buồng ghi trên nhật ký cơ khí, Hạ Từ tìm ngày xuất kho ngoại viện trong hồ sơ hành chính."

Không gian trong ngôi miếu hoang chùng hẳn xuống, ngột ngạt và nặng nề đến nghẹt thở. Ngoài kia, tiếng gió bấc rít qua những kẽ ngói vỡ hòa cùng tiếng lật giấy sàn sạt, khô khốc của những bàn tay dính máu và bụi than.

"Thiên Hưng năm thứ bốn mươi sáu, tiết Sương Giáng," Lê Vãn đặt ngòi bút chì than lên một dòng chữ bị cháy sém một góc của nhật ký Cửu Giá, giọng chị trầm xuống như tiếng vọng từ đáy mồ. "Buồng nạp số Bốn. Mã số cơ học: SK-4-09. Ghi chú của thợ vận hành: 'Tải sống ngưng tụ cốt cách tầng một, chịu tải được ba mươi nhịp bão tro, kiếm cốt rạn nứt hoàn toàn, xả cặn tro kim loại vào rãnh ngầm số Bảy'."

Hạ Từ lật nhanh tập hồ sơ năm bốn mươi sáu. Những ngón tay rớm máu của cô lướt qua hàng trăm dòng tên được viết nắn nót bằng mực tàu đen nhánh, rồi dừng sững lại ở một trang công văn chuyển giao lao dịch đặc biệt có đóng dấu giáp lai đỏ rực:

"Ngày hai mươi mốt tháng Chín năm Thiên Hưng bốn mươi sáu... Lệnh điều động đệ tử ngoại viện Lục Viễn Chu, mười bảy tuổi, thuộc đội tuần tra đêm ca ba của cổng thành phía Đông, chuyển sang công tác 'bảo trì đường ống dẫn khí thung lũng Trầm Đới'."

Hạ Từ nghẹn lời, ngực cô phập phồng dữ dội khiến vết thương nơi xương sườn nhói buốt, móng tay cô cắm sâu vào mặt giấy đến mức trắng bệch. "Ba ngày sau đó... tức là ngày hai mươi tư tháng Chín, hồ sơ nhân sự ngoại môn ghi chú bổ sung bằng mực đỏ: 'Đệ tử Lục Viễn Chu tự ý bỏ trốn khỏi tông môn vì vướng nợ nần cờ bạc ngoài trấn Lò Khê, tước bỏ hoàn toàn danh phận đệ tử, phát lệnh truy nã toàn cảnh'."

Ninh Chiêu siết chặt chiếc then chốt chữ U trong túi áo ngực. Bàn tay bọc vải gai của cô run lên bần bật. Miếng thẻ bài bằng gỗ thị gãy góc mà cô nhặt được ở đáy rãnh cống ngầm số Bảy—tấm thẻ mang tên Lục Viễn Chu bị vùi lấp dưới lớp bùn tro toan tính—như đang bốc cháy, tỏa ra hơi nóng bỏng rát áp thẳng vào lồng ngực cô.

Hình ảnh một thiếu niên mười bảy tuổi vừa mới nhen nhóm được chút kiếm cốt mỏng manh trong tủy xương, một người lính tuần tra đêm cần mẫn từng chia sẻ chiếc bánh bột mì khô khốc cho đồng đội, bị lừa ký tên vào tờ giấy điều động lao dịch để rồi bị cùm chặt vào khung sắt Cửu Giá. Ba mươi hai chiếc vuốt bạc cắm sâu vào từng đốt sống lưng để bòn rút đến giọt tủy kiếm cuối cùng phục vụ cho đại trận. Và khi cậu trút hơi thở cuối cùng trong đau đớn tột cùng dưới đáy giếng cạn tối tăm, thi thể bị xả trôi theo rãnh nước thải, thì trên mặt đất rực rỡ ánh sáng, tông môn lại nhẫn tâm đóng lên tên tuổi cậu một vết nhơ hèn hạ: kẻ trốn nợ nhục nhã.

"Tiếp tục đi," Tống Hoài gằn giọng qua kẽ răng nghiến chặt, đôi mắt anh đỏ ngầu những tia máu.

"Thiên Hưng năm thứ bốn mươi lăm, tiết Lập Thu," Lê Vãn lật tiếp một trang nhật ký khác dính đầy dầu cháy khét, khuôn mặt chị tái nhợt như xác người chết trôi. "Buồng nạp số Hai và số Bảy. Hai tải sống vận hành đồng thời. Mã số: LK-2-12 và LK-7-13. Ghi chú cơ học: 'Tải sống thuộc ngạch thợ lò dẫn khí, kiếm cốt non nớt chưa định hình, tiêu hao cạn kiệt trong vòng bốn mươi nhịp bão tro, nẹp xương hợp kim biến tính hoàn toàn vì quá nhiệt, thải bỏ vào kho phế tích Nam Trụ'."

"Hồ sơ phân viện Công Tượng," Hạ Từ lật tập giấy dày cộp tiếp theo, giọng cô lạc hẳn đi, run rẩy trong một tiếng nấc nghẹn ngào uất ức. "Tháng Bảy năm bốn mươi lăm... Đệ tử lò rèn Trần Khôi và thợ phụ Triệu Mẫn... Được lệnh điều động khẩn cấp để 'tăng cường cho tổ khảo sát áp suất ngầm đài Huyền Khuyết'. Bảy ngày sau khi ký nhận điều động, biên bản y tế của viện Dược Sư do chính Đỗ Tuyên ký tên đóng dấu xác nhận: 'Cả hai người chết tại chỗ do nhiễm sốt tro khoáng ác tính đợt một, nguy cơ lây nhiễm diện rộng, thi thể đã thiêu hủy tập trung để phòng dịch, tro cốt rải xuống hố sâu thung lũng'."

Từng dòng mã số khô khốc, vô hồn trên những mảnh giấy rách nát thu lượm dưới đáy vực sâu giờ đây dần dần hiện hình thành những gương mặt bằng xương bằng thịt.

Đó không phải là những con số thống kê cơ học trừu tượng nằm trên bản vẽ kỹ thuật. Đó là những thiếu niên ngoại viện từng quét từng chiếc lá sồi rụng trên sân Bạch Thạch mỗi sớm mai; đó là những đệ tử tuần tra đêm từng ngồi chụm đầu bên bếp lửa sưởi ấm, chia nhau nửa củ khoai nướng giữa cơn mưa tuyết buốt giá; đó là những người thợ phụ lò rèn quanh năm lấm lem than củi, từng đứng bên bễ rèn say sưa bàn chuyện gom góp từng hào bạc lẻ để gửi về quê nhà phụng dưỡng mẹ già tật nguyền. Họ đều là những con người bình dị vừa mới chạm tới ngưỡng cửa đầu tiên của con đường tu hành gian nan, những người chăm chỉ lao dịch từ sáng sớm tới đêm muộn và luôn ngây thơ tin rằng nếu mình nỗ lực rèn luyện, một ngày nào đó sẽ được bước chân qua cánh cổng nội môn, trở thành những kiếm tu chân chính bảo vệ xóm làng khỏi tai ương bão tro.

Nhưng thay vào đó, họ bị bốc đi trong đêm tối mịt mùng. Họ bị lừa gạt, bị biến thành những cục than sống, những thanh củi dẫn lực để người ta chụm vào lò lửa ngầm, duy trì màn chắn phòng hộ và che đậy cho những trò lừa đảo thần thánh, những nghi lễ giả tạo rực rỡ trên đài tế Huyền Khuyết.

"Khớp hoàn toàn..." Lê Vãn buông rơi mẩu bút chì than xuống mặt bệ đá hoa cương. Hai bàn tay chị ôm chặt lấy trán, hơi thở dồn dập, đứt quãng. "Hai tầng chứng cứ hoàn toàn độc lập... Không thể nào chối cãi được nữa. Hồ sơ nhân sự lưu trữ của viện Chấp Pháp và nhật ký tiếp nhận tải sống thực tế tại buồng Cửu Giá khớp nhau từng ngày, từng giờ, từng mã số điều động cho đến từng chữ ký của người giao nhận. Đỗ Kính không thể nào đổ lỗi cho sự cố rò rỉ khí độc hay tai nạn sập hầm địa chất được nữa. Đây là một hệ thống giết người có tổ chức, có quy trình vận hành khép kín, được văn bản hóa và chuẩn hóa suốt nhiều thập kỷ qua."

Hạ Từ run rẩy thọc sâu bàn tay vào đáy túi da trâu, rút ra một mảnh giấy hoa tiên màu vàng nhạt—loại giấy thảo văn bản bằng lụa mỏng chỉ được dùng riêng cho các sắc lệnh tối mật của viện Chấp Pháp và phủ Quan Tế:

"Chưa hết đâu... Đây là lệnh điều động khẩn mà tôi tìm thấy trong ống thư mật niêm phong bằng sáp đen của Đỗ Kính ngay trước lúc tôi trốn đi. Nghi lễ Bổ Khuyết tiếp theo... không phải đợi đến mùa bão tro năm sau như thông lệ hàng năm nữa. Nó đã được ấn định vào đúng đêm trăng tròn tới, tức là chỉ còn ba ngày nữa."

Ninh Chiêu giật mình ngẩng phắt dậy, lưỡi kiếm non bên hông khẽ va vào thành đá kêu một tiếng khô khốc: "Ba ngày nữa? Tại sao lại gấp gáp đến mức đó?"

"Vì đài Huyền Khuyết sau lễ tế của Tạ Vân đã bị hụt áp nghiêm trọng. Vụ nổ ngầm khiến tro cặn kim loại trào ngược ra tận các giếng nước ở trấn Lò Khê, gây hoang mang tột độ cho dân chúng; thêm vào đó, cống ngầm số Bảy bị chúng ta đột nhập và phá hủy van xả phụ đã làm tê liệt hệ thống cân bằng áp lực tự động," Hạ Từ cắn chặt môi dưới đến mức bật máu tươi. "Đỗ Kính cần một đợt nạp lực cực lớn để ổn định lại toàn bộ mạng lưới địa mạch trước khi các viện chủ khác phát hiện ra sự sụt giảm linh áp bất thường. Danh sách chín tải sống mới... đã được lập xong và niêm phong."

Cô ngập ngừng nhìn sang Ninh Chiêu, ánh mắt ngập tràn vẻ hoảng loạn, đau xót và căm phẫn tột cùng:

"Trong chín cái tên bị cách ly tại khu biệt lập ngoại viện đêm qua... có ba người thuộc đội chạy trạm chuyển thư của Bùi Sách. Những người bạn thân thiết nhất của cậu ấy. Đỗ Kính đã ký lệnh chuyển họ xuống trạm nạp lực ngầm với danh nghĩa 'chuẩn bị nghi thức hộ đàn danh dự cho lễ tế trăng rằm'."

Một luồng khí lạnh buốt chạy dọc từ thắt lưng lên đỉnh đầu Ninh Chiêu. Bùi Sách—cậu thiếu niên chạy trạm gầy gò luôn giấu đi sự kiệt quệ sau nụ cười tươi tắn, người đã liều lĩnh đập vỡ hũ toan thạch đặc để cứu nhóm của cô thoát khỏi y xá, người đang còng lưng gánh trên vai món nợ mười lăm đồng bạc của người cha già bệnh tật—hoàn toàn không hề hay biết rằng ba người anh em cùng phòng, những người cùng ăn chung một niêu cơm với cậu, đang bị nhốt trong phòng kín để chờ ngày bị đẩy vào cỗ máy nuốt tủy sống tàn bạo.

Đúng lúc đó, một âm thanh nghẹn ngào, run rẩy và thê lương bỗng cất lên từ góc tối u ám phía sau pho tượng hộ pháp mất đầu.

Tống Hoài đang nhìn trừng trừng vào một trang giấy ố vàng nằm dưới đáy tập hồ sơ điều động của sáu năm về trước. Những ngón tay thô ráp, chằng chịt vết sẹo kiếm chém của anh run lên bần bật, móng tay cào rách cả góc giấy dính đầy bụi than lâu ngày. Đôi vai gầy guộc của người cựu kiếm tu Minh Kiếm co giật dữ dội. Chiếc nẹp lưng bằng thau đỏ siết chặt vào da thịt anh kêu ken két theo từng cơn run rẩy của lồng ngực.

"Sáu năm... đã sáu năm trôi qua rồi..." Giọng Tống Hoài vỡ vụn ra, khàn đặc và chát chúa như tiếng kim loại rỉ sét cọ xát trên đá cuội khô.

Ninh Chiêu bước vội lại gần: "Anh Tống Hoài?"

Giọt nước mắt đầu tiên rơi xuống trang giấy ố vàng, làm nhòe đi một dòng chữ viết bằng mực đỏ đã phai màu. Và rồi, một tiếng khóc nghẹn ngào, cay đắng, u uất bị dồn nén suốt hơn hai ngàn ngày đêm bỗng vỡ òa ra từ sâu thẳm lồng ngực người đàn ông ba mươi bảy tuổi. Tống Hoài gục đầu xuống hai bàn tay cáu bẩn, bờ vai anh rung bần bật, những giọt nước mắt nóng hổi tuôn trào qua kẽ ngón tay gầy guộc, rơi lã chã xuống nền đất nện ẩm ướt.

"Là lỗi của tôi... Ninh Chiêu, Lê Vãn... Tất cả là do sự hèn hạ của tôi..." Anh khóc nấc lên như một đứa trẻ bị bỏ rơi giữa cánh đồng tuyết trắng, giọng nói nghẹn ngào đứt quãng trong những tiếng nấc xé lòng xé ruột. "Suốt sáu năm qua, tôi để mặc cho người đời sỉ vả, gọi mình là kẻ tẩu hỏa nhập ma, là kiếm tu phế vật bại hoại môn phong... Tôi tự lừa dối bản thân, tự thêu dệt nên câu chuyện rằng mình đã dũng cảm rút kiếm chống lại trưởng lão viện Quan Tế để bảo vệ đệ tử ngoại môn... Nhưng không phải! Sự thật kinh tởm hơn thế nhiều! Không phải như thế!"

Anh ngẩng khuôn mặt đẫm lệ lên, đôi mắt đỏ ngầu chìm đắm trong một cơn dằn vặt tàn khốc:

"Năm đó, tại trạm nạp lực số Bảy dưới lòng đất... người bị xích chặt vào giá nạp đầu tiên là Lâm Nhược, cô sư muội cùng lớn lên với tôi ở xóm Lò Vôi từ thuở hàn vi đói rách. Con bé mới tròn mười chín tuổi, vừa ngưng tụ được chút kiếm cốt thanh khiết... Khi van xả áp mở ra và tiếng còi hơi rít lên báo hiệu chu kỳ rút tủy bắt đầu, tôi đã phát điên vì hoảng sợ. Lẽ ra theo quy tắc phá vỡ cơ cấu trận pháp ngầm, tôi phải dùng toàn lực kiếm ý Minh Kiếm chém đứt then nạp trung tâm của đường dẫn chính để cắt đứt dòng linh dịch, mở cửa thoát hiểm khẩn cấp cho toàn bộ mười hai đệ tử bị giam trong khoang... Nhưng tôi... tôi đã không làm thế!"

Tống Hoài vung nắm tay gầy guộc đấm mạnh xuống nền đất nện, đất cát và vụn ngói bắn tung tóe:

"Tôi sợ con bé chết! Tôi sợ nếu chém then nạp, phản lực kiếm khí sẽ làm nổ buồng chứa của Lâm Nhược trước tiên! Tôi đã bỏ qua nhịp then chính, liều mạng lao về phía giá kẹp của Lâm Nhược để chém đứt sợi xích khóa giữ người của con bé! Tôi cứu được nó ra khỏi giá nạp... nhưng vì tôi để lỡ mất ba nhịp then sống còn, cơ cấu tự khóa của đại trận đã sập xuống! Cánh cửa sắt ngàn cân sập xuống khóa chặt lối thoát! Toàn bộ mười một đệ tử còn lại... cả một đoàn thiếu niên... bị dòng xoáy linh dịch cuốn thẳng vào hầm nghiền sâu không đáy! Tiếng gào thét của họ... tiếng xương cốt vỡ vụn... tiếng máu tươi phun ra từ các ống xả áp... suốt sáu năm qua chưa một đêm nào tôi không nghe thấy! Từng đêm, từng đêm một!"

Anh ôm chặt lấy đầu, thở dốc trong đau đớn cùng cực, mười đầu ngón tay cắm sâu vào mái tóc bết bát bụi xỉ:

"Trưởng lão Quan Tế đánh nát đốt sống thứ tư của tôi, dùng chưởng lực phế bỏ hoàn toàn kiếm cốt của tôi... Nhưng cú đánh tàn độc đó không làm tôi đau đớn bằng khoảnh khắc tôi nhìn thấy cánh cửa gang sập xuống chôn vùi tất cả bọn họ. Tôi là kẻ hèn nhát! Tôi đã chọn cứu một người quen cũ mà bỏ mặc mười một mạng người vô tội bị nghiền nát thành tro bụi! Tôi sống sót... chỉ vì tôi là một kẻ ích kỷ đê tiện không dám đối diện với cái chết của người thân mình!"

Sự im lặng bao trùm lấy ngôi miếu hoang rách nát, một sự im lặng nặng nề, u tối đến mức khiến người ta nghẹt thở. Tiếng gió bấc rít qua những khe nứt trên vách tường đá nghe như tiếng khóc than ai oán của mười một linh hồn thiếu niên bị vùi dập dưới đáy mồ sâu suốt sáu năm ròng.

Lê Vãn đứng sững sờ bên bệ thờ bằng đá, hai bàn tay buông thõng bên hông, ánh mắt chị đờ đẫn nhìn người cựu kiếm tu đang quằn quại trong vũng lầy tội lỗi. Hạ Từ cắn chặt môi dưới, hai mắt hoe đỏ, bàn tay ôm ngực run rẩy nhìn người tiền bối từng một thời là niềm tự hào kiêu hãnh của Kiếm viện Thanh Lư Tông, nay đang quỳ rạp dưới đất như một chiếc lá khô rách nát.

Ninh Chiêu không lùi bước. Cô bước tới, ngồi quỳ một chân xuống nền đất ẩm ngay trước mặt Tống Hoài.

Bàn tay phải chai sạn, thô ráp vì quanh năm cầm búa nặng của cô vươn ra, nắm chặt lấy bả vai đang run rẩy dữ dội của anh. Bàn tay trái mang vết bỏng toan co rút gân gập lại, nhẹ nhàng nhưng dứt khoát đặt lên mu bàn tay đầy sẹo của Tống Hoài, truyền qua lớp băng vải mỏng manh hơi ấm thô mộc, kiên định của một người thợ rèn lò xỉ.

"Nhìn thẳng vào tôi này, anh Tống Hoài," Ninh Chiêu nói, giọng cô không hề cao nhưng từng từ từng chữ vang lên đanh thép, chắc nịch như nhát búa nện xuống đe thép nguội.

Tống Hoài run rẩy ngẩng đầu lên, ánh mắt hoang dại, đẫm lệ của anh chạm phải ánh mắt bình thản, sâu thẳm và kiên cường lạ thường của người nữ thợ rèn.

"Anh không phải là kẻ hèn nhát," Ninh Chiêu nói, ánh mắt cô không hề có lấy một tia thương hại—thứ cảm xúc mà một kiếm tu kiêu hãnh như Tống Hoài luôn ghê tởm nhất—mà chỉ có sự thấu hiểu khắc nghiệt của một người cũng mang trên mình những thương tật thể xác vĩnh viễn. "Đứng trước một cỗ máy quái vật khổng lồ được thiết kế tinh vi để nuốt chửng tủy sống con người, một người cầm kiếm muốn cứu người thân đang hấp hối ngay bên cạnh mình thì có gì là sai? Sai lầm không nằm ở sự lựa chọn bản năng của anh trong khoảnh khắc sinh tử ngàn cân treo sợi tóc đó. Sai lầm nằm ở những kẻ đã dựng lên cái trận pháp hút tủy người này! Sai lầm nằm ở Đỗ Kính, nằm ở cả cái thể chế tông môn mục ruỗng đã trói chặt những thiếu niên mười bảy, mười tám tuổi vào giá sắt để phục vụ cho sự trường tồn giả tạo của chúng!"

Hạ Từ cũng bước lại gần. Cô nén chặt cơn đau buốt buốt tận óc từ hai dải xương sườn gãy, quỳ sụp xuống bên cạnh Tống Hoài. Người đệ tử nội môn chấp pháp tháo thanh kiếm lệnh gãy đôi bên hông ra, đặt ngay ngắn trên mặt đất trước mặt cựu Minh Kiếm:

"Tống sư huynh. Suốt sáu năm qua, tông môn nhồi nhét vào đầu tôi rằng anh là kẻ phản đồ đê tiện, là kẻ tẩu hỏa nhập ma làm ô danh truyền thống kiếm đạo nghìn năm của tổ phụ. Nhưng ngày hôm nay, đứng ở đây, nhìn vào danh sách này, nhìn vào những cái tên bị xóa sổ một cách có hệ thống... tôi mới hiểu ai mới thực sự là kẻ phản bội. Anh đã sống sót qua đòn đánh nát kiếm cốt của trưởng lão. Anh đã kéo lê tấm thân tàn phế, đau đớn này suốt sáu năm ở xóm thợ rèn hôi hám, cắn răng chịu đựng những ánh mắt khinh bỉ, nhổ toẹt của những kẻ từng gọi anh là sư huynh. Nếu anh thực sự là kẻ hèn nhát, anh đã tự sát bằng một nhát kiếm hoặc bỏ trốn khỏi mảnh đất Hạ Lĩnh này từ lâu rồi."

Hạ Từ nhìn thẳng vào mắt anh, giọng cô nghẹn lại nhưng dứt khoát:

"Anh sống sót đến ngày hôm nay không phải để ngồi trong xó miếu này khóc than và tự nguyền rủa bản thân mình. Sự sống sót của anh là một món nợ trách nhiệm! Món nợ với mười một người đã chết dưới hầm sâu sáu năm trước, và món nợ với chín thiếu niên vô tội chuẩn bị bị đẩy vào buồng Cửu Giá ba ngày nữa! Nếu anh buông xuôi, nếu anh gục ngã ở đây, ai sẽ là người chỉ ra nhịp gãy cơ học của then nạp trung tâm? Ai sẽ là người đứng ra làm chứng trước mặt các viện chủ rằng trạm số Bảy là một lò sát sinh tàn bạo? Chỉ có anh—người duy nhất từng sống sót bước ra từ cỗ máy đó—mới làm được điều này!"

Tống Hoài ngơ ngác nhìn hai người phụ nữ trước mặt mình. Từng lời nói của họ rơi xuống tâm can anh như những nhát búa giáng thẳng vào bức tường băng giá, u uất đã giam cầm linh hồn anh suốt sáu năm ròng rã.

Cơn run rẩy nơi lồng ngực anh dần dần lắng xuống. Tống Hoài hít một hơi thật sâu, luồng khí lạnh buốt tràn vào buồng phổi làm nhói buốt vết thương cũ nơi đốt sống lưng, nhưng ánh mắt sâu hoắm của anh dần lấy lại vẻ sắc bén, kiên định của một kiếm tu từng lĩnh ngộ trọn vẹn kiếm ý Minh Kiếm. Anh đưa ống tay áo rách quệt sạch nước mắt trên mặt, khẽ gật đầu:

"Tôi hiểu rồi... Món nợ máu này, tôi sẽ trả bằng việc dùng chính đôi tay này đập tan cái then nạp chết tiệt đó."

Ở phía bên kia bệ đá hoa cương, Lê Vãn vẫn đứng bất động như một pho tượng đá. Gió lạnh lùa qua mái miếu vỡ làm tà áo tơi của chị bay phần phật, va vào thành bệ thờ kêu l phần phật.

Chị nhìn trừng trừng vào tập tài liệu hai tầng đã được khớp nối hoàn chỉnh, rồi chậm rãi mở chiếc túi da trắc lượng đeo chéo bên hông. Lần này, chị không lấy ra kính đo độ nghiêng hay la bàn đồng thau, mà rút từ ngăn đáy có khóa đồng ra một tập hồ sơ dày cộp đã ngả sang màu vàng sẫm—tập báo cáo thẩm định địa chất thung lũng Trầm Đới được lập từ mười năm trước, bản gốc mang chữ ký tay của chính chị và con dấu tròn của Cục Địa Mạch.

"Nếu đã nói về trách nhiệm, về sự đồng lõa và nỗi hèn nhát..." Lê Vãn cất giọng, tiếng chị khô khốc, nghẹn ngào và run rẩy lạ thường. "Thì người đáng bị nguyền rủa nhất ở đây... chính là tôi."

Ninh Chiêu và Hạ Từ cùng ngạc nhiên quay lại nhìn chị.

Lê Vãn bước từng bước nặng nề tới bệ đá, lật mở từng trang báo cáo chi chít những biểu đồ trắc địa, những đường cong áp suất mạch đất và các bảng số liệu đo lường địa chấn:

"Mười năm trước, sau khi thầy tôi—Chánh khảo sát Phạm Duy—cùng toàn bộ đoàn khảo sát số Ba thiệt mạng trong ống xả áp khẩn cấp của trận ngầm, Cục Địa Mạch đã triệu tập tôi vào phòng kín. Họ đưa cho tôi bản báo cáo sơ bộ này, yêu cầu tôi ký tên xác nhận nguyên nhân cái chết của mười lăm người trong đoàn là do một vụ nổ khí mê-tan tự nhiên trong tầng đá phiến. Khi đó, tôi run rẩy, tôi sợ hãi... Tôi tự biện hộ cho sự hèn nhát của mình rằng tôi chỉ là một trắc lượng sư tập sự thấp cổ bé họng; rằng nếu tôi không ký, gia đình thầy tôi sẽ bị tước bỏ toàn bộ tiền tuất, bản thân tôi sẽ bị tống giam vào ngục tối Nam Trụ... Và tôi đã đặt bút ký."

Chị run run chỉ ngón tay vào một loạt các đồ thị hình sin bị đứt gãy, biến dạng trên mặt giấy ố vàng:

"Nhưng tội lỗi của tôi không dừng lại ở đó. Suốt năm năm làm việc tại Cục Địa Mạch sau cái chết của thầy, mỗi khi hệ thống Cửu Giá vận hành và hút cạn tủy sống của người sống, áp lực địa mạch của toàn bộ vùng Hạ Lĩnh đều tụt dốc đột ngột theo một chu kỳ nhân tạo cố định. Các cọc mốc địa chấn rung lắc dữ dội, các mạch nước ngầm bị nhiễm độc toan khoáng nặng nề. Tôi là người trực tiếp thu thập và xử lý các chuỗi số liệu đó. Tôi thừa biết những đợt sụt áp ấy hoàn toàn trái ngược với quy luật vận động tự nhiên của vỏ đất... Nhưng trong mọi bản báo cáo định kỳ gửi lên tông môn, tôi đều dùng công thức hiệu chỉnh sai số toán học để làm phẳng các đỉnh nhọn dị thường trên đồ thị. Tôi viết trong phần kết luận rằng đó chỉ là 'những dao động tự nhiên do triều cường của biển tro ngoài khơi xa'."

Lê Vãn ngẩng đầu lên, đôi mắt chị trũng sâu, ngập tràn sự tự ghê tởm chính bản thân mình:

"Tôi đã dùng chính chuyên môn của mình, dùng chính những con số toán học và kiến thức trắc địa mà thầy tôi dày công truyền dạy để hợp thức hóa sự dối trá tàn bạo của Đỗ Kính. Tôi sợ mất đi vị trí trắc lượng sư danh giá, sợ mất quyền tiếp cận các di tích cổ, sợ bị khai trừ khỏi giới học thuật... Tôi tự ru ngủ lương tâm mình rằng tôi làm thế là để âm thầm thu thập chứng cứ, để chờ ngày tìm ra sự thật về cái chết của thầy. Nhưng thực chất, tôi chỉ là một kẻ hèn hạ đồng lõa, gián tiếp tiếp tay cho phủ Quan Tế che đậy các đợt sụt áp do nghi lễ gây ra. Nếu tôi dũng cảm công khai những sai số dị thường này từ năm năm trước, có lẽ... có lẽ Lục Viễn Chu, Trần Khôi, Triệu Mẫn, và hàng chục đệ tử khác đã không phải chết một cách oan khuất và tức tưởi như thế dưới đáy giếng sâu."

Chị cầm cây bút chì than lên, ấn mạnh ngòi chì xuống mặt giấy, gạch một đường chéo dứt khoát, tàn nhẫn và sâu hoắm lên chữ ký mang tên mình ở cuối bản báo cáo cũ:

"Hôm nay, trước mặt mọi người, tôi tuyên bố hủy bỏ hoàn toàn tính pháp lý của bản báo cáo giả tạo này. Tôi sẽ công khai toàn bộ các tập dữ liệu gốc chưa qua chỉnh sửa, công khai cả hành vi ngụy tạo số liệu trắc địa trong quá khứ của chính bản thân tôi. Dù hội đồng tông môn có tước bỏ tư cách trắc lượng sư, dù họ có phế bỏ tu vi hay tống tôi vào ngục tối suốt đời... tôi cũng sẽ đứng ra làm chứng."

Ninh Chiêu nhìn người phụ nữ khảo cứu trận pháp luôn giữ vẻ mặt lạnh lùng, xa cách, người luôn đòi hỏi tính chính xác tuyệt đối đến mức khắc nghiệt trong từng nét vẽ. Giờ đây, khi gạt bỏ lớp vỏ bọc kiêu hãnh của một học giả hàn lâm, Lê Vãn chỉ còn lại sự trần trụi của một con người đang dũng cảm xé toạc vết nhơ lớn nhất trong cuộc đời mình để chuộc lại lỗi lầm.

Không còn ai trách móc ai nữa.

Trong gian miếu hoang rách nát giữa rừng sồi mù sương, bốn con người mang trên mình những vết thương thể xác và tinh thần khác nhau—một người thợ rèn mang bàn tay tật nguyền cùng nỗi đau đáu về người cha mất tích bí ẩn; một cựu kiếm tu mang kiếm cốt vỡ nát cùng nỗi ân hận giày vò suốt hai ngàn ngày đêm; một đệ tử chấp pháp mang hai dải xương sườn gãy nát và niềm tin sụp đổ hoàn toàn vào quy củ tông môn; một nhà khảo cứu mang nỗi hổ thẹn của kẻ từng ký tên vào sự dối trá của quyền lực.

Họ không còn là những mảnh vỡ đơn độc, yếu ớt lần mò trong bóng tối dày đặc nữa. Những mảnh ghép của sự thật được thu thập từ bốn hướng khác nhau—từ cấu trúc vật chất của then chốt kim loại, quy chuẩn vận hành cơ học của trắc lượng sư, hồ sơ nhân sự mật của Chấp Pháp viện cho đến dữ liệu biến động địa tầng của Cục Địa Mạch—đã ráp nối lại thành một bức tranh hoàn chỉnh, sắc bén và không thể nào phá vỡ.

Ninh Chiêu chậm rãi rút từ trong túi áo ra chiếc then chốt chữ U của cha cô, ông Ninh Trác. Cô trân trọng đặt khối kim loại xám tro mang vết đục ba rãnh nghiêng mười bảy độ lên chính giữa tập hồ sơ điều động. Kim loại nặng trịch đè chặt lên những cái tên của những người đã khuất.

Bên cạnh chiếc then chốt là mảnh nhật ký nạp tủy năm Thiên Hưng ba mươi hai mang tên Du Hành.

Bên cạnh đó là bản sao bệnh án mật số 47 do chính tay bác sĩ Trần Mộc ký tên, xác nhận cấu trúc xương rỗ tổ ong đặc trưng của những người bị bòn rút kiệt quệ kiếm cốt.

Và dưới cùng là tập hồ sơ điều động nhân sự dày cộp mang triện son đỏ rực của Đỗ Kính cùng bản đồ đối chiếu sai số địa tầng của Lê Vãn.

Ninh Chiêu đưa bàn tay phải chai sạn đặt lên trên tập tài liệu:

"Không trốn tránh, không giấu giếm trong bóng tối nữa. Chúng ta không thể để chín thiếu niên tiếp theo bước vào buồng Cửu Giá trong đêm trăng rằm tới. Chúng ta cũng không thể lựa chọn con đường đánh lén hay ám sát Đỗ Kính trong bóng tối, bởi vì nếu chúng ta làm thế, cỗ máy tuyên truyền của phủ Quan Tế sẽ lập tức biến chúng ta thành những kẻ làm phản tà đạo, và nghi lễ Bổ Khuyết đẫm máu vẫn sẽ tiếp tục diễn ra trên xương máu của những đệ tử vô tội khác."

Cô ngước nhìn ba người đồng đội, ánh mắt cô sáng quắc, rực rỡ như ánh lửa tôi thép trong lò rèn:

"Chúng ta sẽ mang toàn bộ tập hồ sơ chứng cứ này, mang chiếc then chốt có góc thoát hiểm của cha tôi, mang lời khai nhân chứng của anh Tống Hoài, hồ sơ điều động của Hạ Từ và số liệu địa tầng của chị Lê Vãn, bước thẳng vào Nghị sự đường của Thanh Lư Tông. Chúng ta sẽ đứng giữa thanh thiên bạch nhật, trước mặt viện chủ Cố Thanh, viện chủ Dược Sư, toàn thể Chấp Pháp viện và hàng ngàn đệ tử các viện, dõng dạc đòi quyền kiểm chứng công khai!"

Tống Hoài vươn bàn tay gầy guộc đầy vết sẹo của mình ra, đặt chặt lên mu bàn tay Ninh Chiêu: "Tôi sẽ là người đầu tiên bước lên bục nhân chứng."

Hạ Từ cắn răng chịu đựng cơn đau từ lồng ngực, đặt bàn tay rớm máu của mình lên trên tay Tống Hoài: "Tôi sẽ dùng tư cách đệ tử chấp pháp nội môn để bảo đảm tính xác thực của toàn bộ hồ sơ lưu trữ."

Lê Vãn đặt bàn tay trầy xước của mình lên trên cùng, ánh mắt kiên định, không còn một chút do dự hay sợ hãi: "Tôi sẽ trực tiếp đối chất với Cục Địa Mạch về toàn bộ các đợt sụt áp nhân tạo suốt mười năm qua."

Bốn bàn tay siết chặt lấy nhau trên tập tài liệu đẫm máu, nước mắt và bụi than. Một giao ước mới được hình thành giữa gian miếu hoang tàn phế, không phải bằng những lời thề thốt hoa mỹ rỗng tuếch, mà bằng chính những thương tật thể xác và quyết tâm sinh tử của những con người không còn gì để mất ngoài sự thật.

*ĐOONG...*

Một tiếng chuông đồng khổng lồ, trầm đục và nặng nề bất ngờ xé toạc bầu không khí tĩnh lặng, u tịch của khu rừng sồi.

Âm thanh dội thẳng từ đỉnh núi Thanh Lư xuống các thung lũng sâu, cuộn trào như sấm sét rền vang giữa mùa đông, làm rung chuyển cả những cành sồi trơ trụi và khiến đàn quạ đen đậu trên mái ngói miếu hoang hoảng loạn đập cánh bay tán loạn lên bầu trời mù sương chì đục.

*ĐOONG... ĐOONG... ĐOONG...*

Tiếng chuông không hề dừng lại ở ba hồi báo hiệu giờ giấc hay chuyển ca tuần tra thông thường. Nó tiếp tục dồn dập, gấp gáp, vang vọng liên hồi với một tần số rợn người, chấn động dữ dội vào màng nhĩ của bốn con người trong miếu.

Năm hồi... sáu hồi... bảy hồi... tám hồi...

Và rồi, hồi chuông thứ chín ngân dài, chát chúa và u uất vang lên, đọng lại thành một chuỗi dư chấn nặng nề kéo dài miên man trên các tầng mây xám tro của rặng núi phía bắc.

Cả bốn người trong miếu đồng loạt biến sắc. Hạ Từ run rẩy vịn chặt một tay vào bậu cửa gỗ mục để giữ cho thân mình không quỵ ngã, khuôn mặt cô cắt không còn một giọt máu:

"Chín hồi đại hồng chung... Đó là Cửu Hồi Tang Chung của đỉnh Huyền Khuyết..."

Tiếng đại hồng chung từ đỉnh núi Thanh Lư Tông vang lên chín hồi dồn dập: Lệnh triệu tập khẩn cấp toàn bộ các viện đã được ban hành.

Chương này thế nào?Đánh giá giúp Readeep đề xuất đúng hơn cho bạn