Kiếm Cốt Dưới Tro — Phần 1: Cửa Trời Không Có TiênC.22 / 40
Chương 22

Những ngày không cầm kiếm

Gió biển tro thốc vào lán chài xiêu vẹo từng luồng bụi xám xịt rát mặt, át cả tiếng rên khe khẽ của Tống Hoài trên chiếc chõng tre ọp ẹp.

Mùi tro tanh tưởi quyện với hơi nước mặn chát từ mép bãi sỏi xộc thẳng qua những tấm liếp nứa rách bươm, mang theo cái lạnh thấu xương của vùng duyên hải cằn cỗi. Dưới ánh sáng lờ nhờ hắt vào từ cửa lán trống hoác, sắc mặt Tống Hoài xám ngoét không còn một giọt máu. Từng cơn co giật giằng giật chạy dọc từ thắt lưng lên bả vai anh, mỗi nhịp giật lại khiến các thớ cơ quanh đốt sống thứ tư rút cứng ngắc như những sợi dây cung bị kéo căng quá độ. Máu đen ứ từ đáy phổi trào qua kẽ răng, sùi bọt thẫm màu nơi mép môi khô nẻ rớm máu.

Đòn kiếm ý Minh Kiếm cưỡng bức dồn qua thân gậy mun để chèn cửa van gang lúc tháo chạy khỏi buồng Cửu Giá đã nghiền nát lớp vảy hàn mong manh của kiếm cốt vốn vỡ nát suốt sáu năm qua. Toàn bộ hệ thống kinh mạch sau lưng anh lúc này chẳng khác nào một đống đổ nát rỉ máu ngầm, từng luồng kình khí tán loạn va đập vào xương tủy như những mũi khoan rỉ sét.

"Giữ chặt vai anh ấy, đừng để lật sườn!" Ninh Chiêu quỳ rạp trên nền đất nện ẩm sì, giọng khản đặc vì khói độc và kiệt sức.

Hai bàn tay cô run bần bật. Mu bàn tay trái bọc lớp vải gai cháy sém đang rỉ ra thứ dịch vàng nhức buốt, mép da non mới lên bị kéo giằng cật lực theo từng cử động, nhưng cô vẫn nghiến chặt răng, dùng cùi chỏ và cẳng tay tì chặt lấy mỏm vai gầy guộc của cựu kiếm tu. Bên cạnh, Lê Vãn vừa lóng ngóng dùng hai hòn đá cuội ghè nát nắm rễ cây thổ sâm đen ngòm vừa vội vã vắt thứ nước chát ngắt vào chiếc bát gốm sứt mẻ.

Đó là thứ rễ cỏ dại mọc luồn trong khe đá bờ tro mà Từ Bách—người giữ giếng đang ngồi tựa lưng thở dốc ở góc cột đối diện—vừa lê tấm thân trật khớp hai vai đi bới về được. Cả người Từ Bách phủ một lớp bụi khoáng xám xịt, hai ống tay áo rách bươm để lộ khớp bả vai sưng vù, tím bầm như củ ấu, mỗi lần cựa quậy là một lần hàm răng ông va vào nhau cầm cập.

"Thuốc này đắng và chát, chỉ cầm máu tạm ở phế nang thôi," Lê Vãn thở hổn hển, tay áo rách tơi tả dính đầy bùn toan khoáng và vệt rỉ đồng. "Kinh mạch rạn nứt thì rễ cây không nối nổi. Nhiệt độ cơ thể anh ấy đang bốc lên quá nhanh, da nóng rực như than ủ trong bễ rèn, cứ thế này thì tủy sống sẽ bị đốt cháy khô mất."

Ninh Chiêu không đáp, cô lột phăng dải vải thô sạch nhất còn sót lại bên trong vạt áo, nhúng ngập vào chậu nước lạnh vừa múc dưới lạch nước ngầm ven vách đá. Nước lạnh buốt làm các vết xước toác trên kẽ ngón tay cô nhức nhối như bị hàng trăm mũi kim chích cùng lúc. Cô vắt ráo rồi áp mạnh lên vầng trán hầm hầm của Tống Hoài, một tay kia đón lấy bã rễ thảo mộc giã nhuyễn sền sệt từ tay Lê Vãn, xé toạc lớp áo giáp gai tả tơi sau lưng anh để đắp thẳng vào vùng đốt sống thắt lưng.

Bã thuốc vừa chạm vào da thịt rực lửa của Tống Hoài liền bốc lên một làn khói mỏng khét lẹt mùi thảo mộc cháy sém. Toàn thân người đàn ông nảy lên một cái như bị sét đánh trúng, cơ lưng co quắp dữ dội khiến chiếc chõng tre kêu răng rắc như sắp gãy đôi dưới sức nặng cơ học bất thường. Hai mắt Tống Hoài trợn ngược, đồng tử co giật liên hồi trong cơn mê sảng do nhiệt hỏa của kiếm khí nghịch hành thiêu đốt tâm can.

"Đè hông xuống!" Ninh Chiêu quát khẽ, dồn toàn bộ trọng lượng nửa thân trên xuống giữ lấy xương chậu anh. Bàn tay trái tàn tật đau điếng, cảm giác như từng sợi gân duỗi vừa liền lại đang bị xé toạc ra lần nữa dưới sức cựa quậy của một kiếm tu cận kề cái chết. Cô liên tục nhúng khăn lau sạch lớp máu ứ đọng nơi khóe miệng anh, không để dịch độc tràn ngược vào khí quản.

Lê Vãn thay phiên chườm từng gáo nước lạnh lên gáy và hai bên động mạch cổ của Tống Hoài. Từng giọt nước nhỏ xuống nền đất nện bốc hơi xèo xèo, tỏa ra mùi toan tính ngai ngái đặc trưng của những kẻ vừa thoát ra từ lòng đất chứa đầy quặng rỉ.

Phải mất trọn hai canh giờ quần quật, khi bóng tối bắt đầu phủ một màu lam thẫm lên những con sóng tro ngoài bãi, hơi thở của Tống Hoài mới dần hạ từ tiếng rít thô bạo xuống thành những nhịp thở khò khè đứt quãng. Cơn co giật tạm thời lắng xuống, nhưng vầng trán anh vẫn hầm hầm sốt, đôi môi xám xịt mím chặt không còn chút sinh khí, hai bên thái dương lõm sâu xuống như người đã chết khô nhiều ngày. Kiếm cốt rạn nứt đã tước đoạt hoàn toàn khả năng vận lực; giờ đây anh chẳng khác nào một phế nhân nằm chờ chết nếu không có thuốc giảm đau và cao dán chuyên dụng để phong bế kinh lạc tổn thương.

Ninh Chiêu ngồi bệt xuống nền đất nện ẩm ướt, dựa lưng vào mép chõng tre, lồng ngực phập phồng nghẹn ứ. Căn lán chài này nằm chơ vơ ở rìa bến nước cạn, thuộc một xóm chài nghèo xơ xác nép mình bên mép biển tro. Dân chài ở đây sống tách biệt với các trấn lớn, ngày ngày cào tro mặn, lọc cặn khoáng đổi lấy chút lương khô và than cám từ các thuyền buôn lậu qua lại. Họ không chứa chấp kẻ trốn chạy từ tông môn, và càng không hào phóng cho không thuốc men hay nơi trú ẩn cho những kẻ lạ mặt mang thương tật đầy mình, người nồng nặc mùi hỏa hoạn và cặn cơ giới.

Lúc này, một bóng người gù gập bước ngập ngừng vào cửa lán, che khuất chút ánh sáng cuối cùng của hoàng hôn ảm đạm. Đó là lão Trương, trưởng xóm chài. Lão cầm chiếc tẩu thuốc rỗng không có lửa, cặp mắt đục ngầu lấm lét nhìn Tống Hoài đang nằm bất động, rồi đảo qua Từ Bách, cuối cùng dừng lại trân trân ở túi đồ nghề bằng da bò nứt nẻ đặt dưới chân Ninh Chiêu.

"Các người muốn ở lại qua đêm nay thì phải có cái giá của nó," lão Trương gõ cành cạch cán tẩu vào vách nứa, giọng rè rè như tiếng hai mảnh gang vỡ cọ xát trên cát biển. "Người của phủ Quan Tế vừa dán cáo thị truy nã khắp các trạm tuần tra ven bờ từ đầu giờ Thân. Họ lùng sục ráo riết những kẻ trốn chạy từ vụ hỏa hoạn kho lò. Chứa chấp các người là cả cái xóm này mất toi suất đổi than sạch của tháng này, cả lũ trẻ con sẽ phải hít bụi tro mà sống."

Lão dừng lại một nhịp, nhổ một bãi nước bọt mặn chát xuống bậu cửa rồi nói tiếp: "Trong làng có hai gói bột lá Ngải Tê của tàu buôn Trầm Quan để lại từ chuyến trước. Thứ đó đem sắc nước có thể cắt cơn sốt ngầm, làm dịu đau nhức xương tủy cho kẻ kia, nhưng chúng tôi không đổi lấy mấy mảnh giấy than củi hay mấy cái thẻ bài rách của các người. Dân ở bãi tro này không ăn được thẻ bài."

Từ Bách ở góc nhà gượng cử động cánh tay trật khớp, nghiến răng ken két định chống gậy đứng lên gắt, nhưng Ninh Chiêu đã giơ một bàn tay lên ngăn lại.

Cô chống gối đứng dậy, bỏ qua cơn đau buốt đang chạy rần rật từ cổ tay trái lên vai. Cô quét mắt nhìn qua vai lão Trương ra khoảng sân đất nện ngoài bãi sỏi. Ở đó, bốn năm người đàn ông và đàn bà xóm chài trong những tấm áo tơi rách tơi tả đang vây quanh một cỗ chõ cất nước ngọt bằng đồng đỏ chắp vá. Bên dưới chõ là một bếp lửa nhóm ngắc ngứ bằng củi mục và mùn cặn tro xám xịt, khói đen bốc lên mù mịt cay xè. Nước muối toan tính rỉ tong tỏng qua các vết nứt nham nhở ở đáy chõ, rơi vào bếp than làm phát ra những tiếng xèo xèo yếu ớt. Hơi nước ngọt bốc thoát ra ngoài qua các khe hở thành từng cụm trắng xóa lãng phí, rốt cuộc chẳng đọng được bao nhiêu giọt vào chiếc chum sành hứng bên dưới.

Ở vùng biển tro độc hại này, không có nước ngọt nghĩa là chết khát trong vòng ba ngày, hoặc phải liều mình uống thứ nước lợ nhiễm toan khiến ruột gan mòn rách từng khúc. Cỗ chõ cất nước ấy chính là tính mạng của cả xóm chài, nhưng nó đã mục nát và biến dạng đến mức thợ thiếc bình thường trong vùng không ai dám động búa vì sợ làm vỡ toác mảng đồng mỏng như cánh ve.

"Cỗ chõ ba tầng kia bị xé rách đường hàn đáy do biến dạng nhiệt không đều," Ninh Chiêu cất giọng bình thản, đôi mắt đen sâu thẳm nhìn xoáy vào gương mặt nhăn nheo như vỏ cây khô của lão trưởng xóm. "Mối tán đinh cũ đã bị ăn mòn điện hóa giữa đồng và chốt sắt tạp, các người trét đất sét trộn tro vào chỉ làm nó tích nhiệt cục bộ và bục nhanh hơn. Tôi sẽ gò hàn lại toàn bộ đáy chõ, nắn lại phễu ngưng tụ và khóa kín toàn bộ khe hở hơi nước cho các người. Đổi lại, cho chúng tôi chỗ ẩn náu trong lán này ba ngày, hai gói bột Ngải Tê, nửa hũ mỡ cá tro và mười cân than củi sạch."

Lão Trương nheo mắt nhìn cô gái có cánh tay trái quấn vải gai lòng thòng, trên mặt còn vương vệt nhọ nồi và vết trầy xước: "Cô là thợ lò? Cỗ chõ đó làm bằng đồng đỏ mỏng tang mục rỗng, mấy tay thợ thiếc dưới bến Tàn Đăng tuần trước nhìn qua còn lắc đầu chê không có thép đệm để tán đinh, bảo đập vào chỉ tổ nát vụn."

"Đưa tôi một chiếc búa quai đe cũ, một cái đe cóc và ba thanh đồng phế liệu của các người," Ninh Chiêu lạnh lùng đáp, không một chút do dự. "Nửa canh giờ sau lửa lên mà không kín hơi, các người cứ việc trói bốn chúng tôi lại nộp cho lính tuần phủ lĩnh thưởng."

Lão Trương nhìn chằm chằm vào mắt cô suốt mười nhịp thở, như cố tìm kiếm một nét chùn bước hay lừa dối. Cuối cùng, lão quay ngoắt người ra cửa, hất hàm ra hiệu cho đám người ngoài bãi dẹp chỗ.

Mười lăm phút sau, giữa khoảng sân lộng gió biển tro buốt giá, Ninh Chiêu ngồi xổm bên một hòn đá tảng dùng làm bệ đỡ chiếc đe cóc bằng sắt rỉ mà dân chài vừa khiêng tới. Chiếc búa họ đưa cho cô là loại búa rèn cán bằng gỗ sồi đã nứt dọc một đường dài, đầu búa mẻ một góc to tướng, nặng chừng bốn cân—loại búa thô thiển, mất cân đối mà ở xưởng Lò Ninh trước kia người ta chỉ dùng để ghè vỡ xỉ than dưới đáy lò nung.

Ninh Chiêu hít một hơi sâu. Luồng không khí mặn chát của biển tro tràn ngập hai lá phổi, mang theo vị đắng ngắt của khoáng chất độc hại và hơi lạnh cắt da. Cô cởi bỏ dải nẹp tre tạm bợ ở cẳng tay trái. Vết bỏng sâu do thanh giằng sắt đè lên trong vụ hỏa hoạn kho Nam Trụ lập tức phơi bày dưới ánh sáng xám xịt của bầu trời ven biển: lớp da non đỏ au kéo rúm ró từ mu bàn tay lên tận cổ tay, các sợi gân duỗi căng cứng như những sợi dây thép bị quá nhiệt rồi làm nguội đột ngột, khiến bốn ngón tay co quắp lại thành hình móng vuốt cứng ngắc, chỉ có ngón cái còn cử động tương đối linh hoạt. Mỗi lần cô thử duỗi các ngón tay ra, một cơn đau rách thịt buốt nhói chạy dọc theo xương quay lên tận bả vai, làm các khớp xương run lên bần bật ngoài tầm kiểm soát.

Cô không có quyền buông xuôi lúc này. Sau lưng cô, trong gian lán tối tăm ẩm thấp, Tống Hoài đang nằm thoi thóp giữa lằn ranh mỏng manh của sự sống và cái chết; Lê Vãn đang cặm cụi bảo vệ từng mẩu tài liệu rách nát thấm đẫm mồ hôi và máu; và Từ Bách thì tàn phế nửa thân trên vì đã liều mạng tin tưởng đi theo cô rời khỏi đống tro tàn của Lò Khê.

Ninh Chiêu rút dải vải thô bền chắc nhất, cắn một đầu vào miệng, đầu kia quấn chặt bàn tay trái bị thương vào cán chiếc kìm sắt. Cô dùng răng siết mạnh, khóa cứng hàm kìm lại quanh phôi đồng, biến bàn tay tàn tật thành một chiếc cẩu giữ bất động. Bằng cách đó, cô không cần phải dùng lực của các ngón tay co rút mà mượn toàn bộ lực tì của cẳng tay để ghì phôi trên mặt đe.

Cô nâng chiếc búa nặng bốn cân bằng tay phải. Bắp tay phải của cô lập tức gồng lên, nhưng cô nhanh chóng thở hắt ra, điều chỉnh lại trọng tâm cơ thể theo đúng bài học vỡ lòng mà Tống Hoài từng bắt cô lặp đi lặp lại trên những viên gạch nghiêng ở Lò Khê: thả lỏng khớp vai, hạ thấp đan điền xuống nửa tấc, biến bả vai và khớp hông thành một hệ thống bản lề trơn tru thay vì gồng cứng cơ bắp để chịu phản chấn của kim loại nguội.

*Keng!*

Nhát búa đầu tiên nện thẳng xuống tấm đồng đỏ mỏng tang. Âm thanh đục ngầu vang lên giữa bãi cát rải rác tro tàn. Tấm đồng cong vênh dưới sức nặng thô bạo của đầu búa mẻ, mép nứt xé toạc ra thêm nửa phân dọc theo đường rỉ sét cũ. Đám dân chài đứng quanh lập tức xì xào, vài gã đàn ông nắm chặt lấy những chiếc đòn gánh bằng gỗ nghiến, ánh mắt lộ vẻ nghi ngại và hăm he.

Ninh Chiêu không hề bối rối. Ánh mắt cô dán chặt vào bề mặt kim loại. Cô lắng nghe tiếng kim loại vọng lại từ mặt đe—tiếng đanh gắt của phần đồng nguội bị nén, tiếng xốp giòn của lớp oxit rỉ bám sâu bên trong thớ đồng qua nhiều năm ngâm nước muối. Bàn tay trái bị trói chặt vào cán kìm rung lên bần bật theo từng nhịp chấn động; cơn đau từ vết bỏng nhức buốt đến tận chân răng, dịch mủ và máu rỉ qua lớp vải quấn thấm ướt đẫm cán kìm sắt lạnh ngắt.

Mồ hôi túa ra trên trán cô, chảy dài xuống mi mắt cay xè rồi nhỏ tong tỏng xuống mặt đe nóng hổi, nhưng nhát búa thứ hai, thứ ba giáng xuống đã bắt đầu biến đổi nhịp điệu một cách kỳ diệu.

*Keng! Cắc! Keng!*

Cô không dùng sức đập chết phôi đồng như một gã phu rèn vụng về. Cô dùng chính góc vát của đầu búa mẻ, gõ miết theo hình rẻ quạt thoai thoải, dồn kim loại dẻo từ ngoài mép lành lặn lấp dần vào khe nứt nẻ. Đó là kỹ thuật gò mép vỏ nồi hai lớp mà Ninh Trác từng cầm tay dạy cô năm cô mới mười hai tuổi, trong những đêm đông rét mướt ở góc xưởng Lò Khê cũ. Khi ấy, cha cô đã bảo: *"Đồng đỏ có tính nết của nước, đập mạnh thì nó bắn tung, vỗ nhẹ miết đều thì nó chảy về chỗ trũng."*

Từng lớp đồng đỏ dưới bàn tay rắn rỏi và chuẩn xác của cô dãn đều ra, mềm mại như sáp ấm dưới nhiệt lượng của những nhát búa liên hoàn, uốn lượn ôm khít lấy gờ đá của đáy chõ cất nước. Khi các đinh tán đồng cũ được nung đỏ trên bếp than cám cắm xuyên qua lỗ mộng vừa nong, Ninh Chiêu không hề ngừng tay. Cô vung búa tán hoa đều đặn tám nhịp tròn trịa quanh đầu đinh, mỗi nhịp tán là một lần khóa chặt mép nối kim loại, ép chặt hai lớp đồng vào nhau đến mức không cần đến một giọt thiếc hàn phụ gia nào mà vẫn khít khao như một khối đúc liền.

Nửa canh giờ trôi qua trong tiếng búa gõ dồn dập, đều đặn như nhịp thở của một cỗ máy sống và tiếng thở dốc nặng nề của người nữ thợ rèn. Mỗi nhát búa quai đe giáng xuống là một lần cơ bắp lưng và bả vai cô phải chịu lực giằng xé dữ dội, nhưng trục cơ thể của cô vẫn vững như một tảng đá cắm sâu vào lòng đất bãi tro. Cơn đau thể xác dường như bị cô cô lập lại ở một góc tâm trí, nhường chỗ cho sự tập trung tuyệt đối vào đường chạy của các thớ kim loại.

Khi Ninh Chiêu buông chiếc búa nặng nề xuống nền cát sỏi, cỗ chõ cất nước ba tầng đã được lắp ráp hoàn chỉnh trở lại trên bếp lò của xóm chài. Đáy chõ phẳng phiu, các đường nứt được vá kín bằng những dải vảy đồng tán hoa đều tăm tắp, phễu ngưng tụ bên trên được nắn tròn trịa, khớp khít hoàn toàn với miệng nồi.

Nước biển tro sẫm màu được đổ đầy vào khoang dưới, ngọn lửa than bùng lên dữ dội. Mười lăm phút sau, hơi nước ngọt ngào bốc lên cuồn cuộn qua ống ngưng tụ bằng tre bịt kín, ngưng đọng lại và chảy ròng ròng thành một dòng nước trong vắt, mát rượi vào chiếc chum sành trước sự sững sờ, câm lặng của đám dân chài.

Lão Trương run rẩy bước tới, đưa bàn tay thô ráp đầy cáu bẩn hứng một ngụm nước ngọt đưa lên miệng nếm thử. Vị ngọt lành, thanh khiết không còn chút mùi toan hay cặn chát khiến đôi môi nứt nẻ của lão run rẩy. Lão lặng lẽ quay sang nhìn người nữ thợ rèn đang đứng thở dốc bên hòn đá tảng, hai bàn tay buông thõng run rẩy, lớp vải quấn tay trái đã ướt đẫm máu tươi.

Lão không nói thêm một lời thừa thãi nào, lập tức móc từ trong chiếc bọc gai bên hông ra hai gói bột lá Ngải Tê gói kỹ trong lá chuối khô, cùng một hũ sành đựng mỡ cá tro đặc sánh và mười cân than củi sạch trao tận tay cô.

"Thứ tay nghề này... không phải của người trần mắt thịt vùng này," lão Trương lẩm bẩm, ánh mắt đục ngầu thoáng qua vẻ kính nể xen lẫn sợ hãi sâu sắc. "Các người cứ ở yên trong lán. Lính tuần phủ có vào xóm lùng sục, tôi sẽ bảo lán đó chứa lưới hỏng và xác cá thối, không ai dám thò đầu vào đâu."

Ninh Chiêu ôm bọc thuốc và hũ mỡ quay trở lại căn lán chài xiêu vẹo. Cô pha ngay một gói bột Ngải Tê vào bát nước nóng vừa cất từ chõ đồng, mùi thơm the mát và đắng nồng lập tức lan tỏa trong không gian ẩm thấp. Cùng với sự hỗ trợ của Lê Vãn, cô cạy hàm răng nghiến chặt của Tống Hoài, cẩn thận đổ từng thìa nhỏ nước thuốc vào cuống họng anh, dùng ngón tay vuốt nhẹ thực quản để anh nuốt trôi.

Dược tính the mát cực mạnh của lá thuốc vùng biển sâu lập tức phát huy tác dụng lên các đường kinh lạc đang bốc hỏa. Hơi thở rít ráo của Tống Hoài dần êm lại, sắc xám ngoét trên mặt chuyển sang màu hồng nhạt của sự sống, các thớ cơ co giật dữ dội dọc hai bên sống lưng anh từ từ giãn ra, mềm mại trở lại. Anh chìm vào một giấc ngủ sâu thực sự, chấm dứt cơn sốt mê sảng nguy hiểm từng đe dọa thiêu rụi kiếm cốt tàn phế của anh.

Ninh Chiêu thở phào một hơi dài, cô dùng mỡ cá tro bôi lên vết bỏng ở tay mình rồi quấn lại bằng dải vải sạch. Mỡ cá tro lạnh buốt làm dịu đi cơn đau rát buốt, nhưng sự tê dại nơi các đầu ngón tay thì vẫn không hề thuyên giảm.

Khi gian lán chìm vào sự yên tĩnh nặng nề của buổi chiều tà muộn màng, Lê Vãn bước nhẹ tới, kéo Ninh Chiêu ra góc chiếc bàn gỗ mục kê sát vách nứa.

Trên mặt bàn ọp ẹp, ống đồng đựng bản dập than củi đã được mở nắp đặt ngay ngắn, bên cạnh là một mảnh nhật ký vận hành lem luốc dính bùn toan và chiếc then chốt rèn chữ U bằng thép non mà Ninh Chiêu nhặt được ở hộp cứu hộ khẩn cấp của cụm van số Ba trước khi trốn khỏi hầm Cửu Giá.

Lê Vãn cẩn thận rút từ trong đãy da đeo bên sườn ra một ống nghiệm thủy tinh nhỏ chứa thứ dung dịch màu hổ phách trong suốt. Đó là thuốc thử toan tính đặc biệt mà chị đã bí mật cất giữ từ ngày rời khỏi Cục Địa Mạch, dùng để xác định niên đại và thành phần chất kết dính cơ học của tông môn.

"Ninh Chiêu, nhìn kỹ đây," Lê Vãn thì thầm, giọng chị run lên vì một nỗi căng thẳng tột cùng. Chị dùng chiếc que thủy tinh mảnh nhúng vào dung dịch, rồi chấm một giọt màu hổ phách lên bề mặt lớp sơn màu xám tro phủ ngoài thân chiếc then chốt chữ U.

Giọt hóa chất vừa chạm vào lớp sơn xám liền phát ra tiếng xèo xèo cực nhỏ, sủi lên những bọt khí li ti màu trắng đục. Dưới ánh sáng le lói của bếp than cám liu riu trong góc lán, lớp sơn xám ngoài cùng từ từ bong tróc ra, để lộ một vệt màu xanh cánh chả rực rỡ đặc trưng trước khi chuyển dần sang màu tro quánh đặc.

Lê Vãn ghé sát mắt quan sát phản ứng đổi màu, các ngón tay chị siết chặt lấy mép bàn gỗ đến mức các khớp ngón trắng bệch: "Chất kết dính này là nhựa thông hóa thạch vùng Vạn Độc pha với bột kẽm trắng tinh chế qua lửa ngầm. Đây là công thức sơn phủ chống ẩm mốc và toan khí độc quyền mới nhất của Viện Công Tượng Thanh Lư Tông. Năm năm trước, khi tôi còn làm phụ tá ở Cục Địa Mạch, công thức này vẫn đang trong giai đoạn thử nghiệm cơ bản ở phòng thí nghiệm vật liệu sâu dưới lòng đất. Họ mới chỉ chính thức tinh chế thành công và cấp phát rộng rãi cho các công trình ngầm trọng yếu trong vòng ba năm trở lại đây mà thôi."

Căn lán chài như rơi vào một khoảng chân không ngột ngạt đến nghẹt thở. Lời khẳng định lạnh lùng và chuẩn xác của Lê Vãn rơi xuống như một nhát búa tạ nện thẳng vào màng nhĩ Ninh Chiêu, làm màng tai cô lùng bùng chao đảo.

Ba năm trở lại đây.

Bốn chữ ấy như một bản án nghiệt ngã xoáy sâu vào tâm can cô.

Ninh Trác—người cha nghiêm cẩn, người thợ rèn cả đời chỉ biết cúi đầu bên đe lửa ở xưởng rèn Lò Khê hoang tàn—đã mất tích mười một năm trước sau một chuyến đi nhận sửa chữa khí cụ bí mật ven biển tro. Suốt mười một năm đằng đẵng qua, cô luôn đinh ninh rằng ông hoặc đã chết rấp ở một xó xỉnh hoang tàn nào đó ngoài biên cương, hoặc đã bị vùi xác dưới lòng đất sâu trong những vụ sập hầm mỏ quặng. Suốt mười một năm, hình bóng ông trong tâm trí cô là một người thợ già lam lũ, lương thiện, bị cuộc đời xô đẩy và vùi dập.

Nhưng lớp sơn xanh cánh chả này, phản ứng hóa học không thể chối cãi này, chứng minh một sự thật đanh thép: Ninh Trác vẫn còn sống.

Ông còn sống rất lâu sau khi rời bỏ cô và lò rèn nhỏ bé ấy. Và ít nhất là trong vòng ba năm trở lại đây, chính đôi bàn tay gân guốc của ông đã trực tiếp cầm kìm, cầm búa, đứng trước cụm van số Ba dưới đáy đại sảnh Cửu Giá đen tối kia để bảo trì, gia cố và phết lớp sơn chống rỉ này lên chiếc then chốt cứu hộ.

Một cảm giác kinh hoàng lạnh toát bò dọc từ thắt lưng lên tận đỉnh đầu Ninh Chiêu, bóp nghẹt lấy trái tim cô khiến cô không thể hít thở nổi.

Nếu ông còn sống và ở đó ba năm trước... vậy thì cỗ máy tước đoạt kiếm cốt tàn bạo kia là gì đối với ông? Chín chiếc giá sắt đen ngòm với ba mươi hai móng vuốt bằng bạc tinh luyện cắm sâu vào tủy sống con người, những chiếc phễu đồng khổng lồ dẫn dịch tủy và tro kim loại, sự biến mất đầy uẩn khúc của bốn mươi hai đệ tử ngoại viện qua nhiều thế hệ, cái chết thảm khốc của Du Hành mười bốn năm trước và bi kịch rút tủy của Tạ Vân cách đây mới vài ngày... Liệu cha cô có dự phần vào cái địa ngục trần gian ấy không?

Có phải chính người cha mà cô ngày đêm kính trọng, người từng dạy cô từng góc búa, từng nét đục, từng đạo lý làm nghề rằng *"búa đập xuống sắt là để dựng nhà, rèn cày, giữ mạng sống cho người đời"*, lại chính là kẻ đồng mưu đắc lực, là tên thợ rèn phục vụ cho dã tâm của Đỗ Kính để lắp ráp, cải tạo và vận hành cỗ máy nghiền nát đồng bào mình?

Ninh Chiêu lùi lại một bước, hai đầu gối cô mềm nhũn, va mạnh vào mép chõng tre ọp ẹp. Cô đưa bàn tay phải lên ôm lấy mặt, lồng ngực co thắt lại trong một cơn đau đớn dữ dội, một nỗi thống khổ còn tàn nhẫn hơn bất kỳ vết bỏng thể xác nào cô từng nếm trải.

Cả đời cô học nghề từ ông, nhìn những vết đục ba rãnh nghiêng mười bảy độ như một kim chỉ nam bất di bất dịch của danh dự người thợ rèn họ Ninh. Nếu danh dự ấy, nếu những kỹ thuật tinh xảo ấy lại được dùng để phục vụ cho việc bòn rút tủy sống của những kiếm tu vô tội đến chết... thì toàn bộ sự tồn tại của Lò Ninh, toàn bộ những khổ ải cô đã cắn răng chịu đựng để giữ lấy cái lò rèn rách nát ấy... hóa ra chỉ là một trò hề ghê tởm hay sao?

"Ninh Chiêu..." Lê Vãn khẽ gọi, ánh mắt đầy ái ngại và chua xót khôn cùng. Là người từng trải qua nỗi đau đớn tột cùng khi phát hiện ra bản báo cáo khảo sát địa mạo sai lệch do chính tay sư phụ mình ký tên để hợp thức hóa việc chôn vùi hàng trăm phu mỏ, chị hiểu rõ sự sụp đổ niềm tin này khủng khiếp và tàn phá tâm can con người đến mức nào.

Đêm dần buông xuống, nuốt chửng xóm chài ven biển tro vào một màu đen đặc quánh. Gió ngoài bãi sỏi rít lên từng hồi thê lương như tiếng khóc than của những linh hồn chết đuối dưới đáy biển tro, quất từng đợt tro mặn vào vách nứa nghe ràn rạt, khô khốc. Lê Vãn và Từ Bách sau một ngày dài kiệt quệ về cả thể xác lẫn tinh thần đã thiếp đi ở góc lán, tiếng thở của họ nặng nề hòa lẫn vào tiếng sóng vỗ bờ xa xăm.

Giữa gian lán tối tăm, chỉ còn bếp than cám liu riu tỏa ra những đốm lửa đỏ âm ỉ, hắt lên vách nứa những cái bóng méo mó. Ninh Chiêu ngồi co ro bên cạnh chõng tre, hai đầu gối bó chặt lấy ngực, mái tóc rối bời rũ rượi che khuất gương mặt. Chiếc then chốt chữ U bằng thép non nằm trơ trọi trên vạt áo chàm rách nát của cô, lạnh buốt và nặng trĩu như một khối chì ngàn cân.

Một tiếng cựa mình khẽ khàng vang lên từ chiếc chõng tre.

Tống Hoài đã tỉnh lại từ lúc nào. Dù cơ thể vẫn suy kiệt nghiêm trọng, nửa thân dưới gần như mất đi tri giác do tổn thương tủy sống, nhưng ánh mắt anh đã lấy lại được vẻ trong trẻo, sắc sảo và điềm tĩnh vốn có của một bậc kiếm tu từng bước qua muôn vàn sinh tử. Anh lặng lẽ nhìn bóng lưng run rẩy của cô gái thợ rèn in trên vách nứa, nhìn thấy những giọt nước mắt lặng lẽ rơi xuống lớp vải gai quấn quanh bàn tay trái tàn tật của cô.

"Đau... ở tay, hay đau ở đây?" Tống Hoài cất giọng khàn đặc, yếu ớt nhưng rành rọt, ngón tay trỏ run rẩy chỉ về phía lồng ngực mình.

Ninh Chiêu giật mình, vội vã đưa mu bàn tay quệt ngang mặt. Cô quay lại, thấy anh đã mở mắt, liền gượng đứng dậy bưng bát nước ấm còn lại lại gần mép chõng: "Anh đừng cử động mạnh. Kinh mạch sau lưng anh vừa mới ngậm miệng máu thôi, động đậy là bục vết rạn đấy."

Tống Hoài nhấp một ngụm nước nhỏ cho thấm giọng, rồi đưa ánh mắt trầm mặc nhìn xuống chiếc then chốt bằng thép non đang nằm trên vạt áo cô. Anh không tra hỏi, nhưng sự im lặng thấu hiểu của một người từng trải qua biến cố sụp đổ lớn nhất đời người mười bốn năm trước như một bờ vai vô hình, lặng lẽ mời gọi cô trút bỏ gánh nặng đang bóp nghẹt tâm hồn.

Ninh Chiêu nghẹn ngào, giọng cô vỡ ra từng chặng trong đêm vắng, run rẩy và chất chứa một nỗi sợ hãi tột cùng: "Anh Tống Hoài... lớp sơn trên then chốt này mới chỉ có ba năm. Cha tôi... ông ấy vẫn còn sống ở đó. Ông ấy ở ngay trong cái buồng giam Cửu Giá tàn độc đó suốt những năm qua..."

Cô siết chặt hai bàn tay lại vào nhau, móng tay cắm sâu vào lớp da thịt non đến rướm máu tươi: "Tôi sợ lắm... Tôi sợ rằng bao năm qua tôi tìm kiếm một bóng hình không xứng đáng. Nếu chính bàn tay thợ rèn của cha tôi đã rèn nên những chiếc giá kẹp sắt kia, nếu chính ông ấy đã lắp những móng vuốt bạc đó để cắm vào lưng Du Hành, vào lưng những đệ tử vô tội... thì tôi biết đối diện với sự thật này thế nào đây? Bàn tay ông ấy... liệu có phải đã nhuốm đầy máu của họ rồi không? Cả đời tôi học nghề từ một kẻ đao phủ hay sao?"

Những giọt nước mắt kìm nén bấy lâu vỡ òa, rơi lã chã xuống mặt đe cóc rỉ sét đặt dưới chân giường. Nỗi sợ hãi tột cùng này đã đè nặng lên tâm trí cô suốt từ khoảnh khắc Lê Vãn đọc ra kết quả thử nghiệm, một nỗi sợ còn kinh hoàng, tàn khốc hơn cả cái chết hay sự truy lùng ráo riết của phủ Quan Tế ngoài kia.

Tống Hoài lặng im lắng nghe từng lời đứt nghẽn của cô. Anh không buông ra những lời an ủi sáo rỗng, cũng không vội vã phủ nhận. Anh cố gắng chống khuỷu tay phải xuống mặt chõng tre, gượng nhấc nửa thân trên lên một chút, ánh mắt đăm đăm nhìn vào chiếc then chữ U đang nằm trên đùi Ninh Chiêu.

"Đưa chiếc then đó cho tôi," Tống Hoài thều thào ra lệnh, giọng điệu có một uy quyền trầm tĩnh kỳ lạ.

Ninh Chiêu ngập ngừng nhặt thanh thép nguội ngắt, cẩn thận đặt vào lòng bàn tay gầy guộc đầy vết sẹo của anh.

Tống Hoài dùng ngón tay cái—ngón tay chai sần thô ráp của một kiếm tu từng đạt tới cảnh giới Minh Kiếm đỉnh cao mười bốn năm trước—chậm rãi miết dọc theo từng gờ kim loại trên sống then chốt. Ngón tay anh di chuyển rất chậm, cảm nhận từng vết búa, từng đường giũa thô ráp còn sót lại trên phôi thép non. Cuối cùng, ngón tay anh dừng lại ở góc uốn vuông của chữ U, nơi tiếp giáp giữa thân then và móc hãm, nơi có một vết vát chéo mảnh như sợi chỉ nhưng sắc gọn lạ thường.

"Chiêu này," Tống Hoài cất giọng trầm tĩnh, từng lời nói ra chậm rãi nhưng chắc nịch như từng nhát đinh đóng sâu vào cột gỗ lim, "cô là thợ rèn, cô hiểu kim loại và cấu trúc cơ học hơn tôi gấp mười lần. Nhưng lúc này, cô đang nhìn nó bằng nỗi sợ hãi yếu đuối của một người con gái đi tìm cha, chứ chưa nhìn bằng con mắt tỉnh táo của một người thợ rèn thực thụ."

Ninh Chiêu ngẩng đầu lên, đôi mắt ướt đẫm ngơ ngác nhìn thẳng vào anh.

"Hãy nhìn thật kỹ vào góc hãm này," Tống Hoài chỉ đầu ngón tay vào vết vát chéo nhỏ hẹp. "Một chiếc then chốt chịu lực áp suất thủy lực cực lớn của cụm van số Ba—nơi kiểm soát toàn bộ dòng dịch mặn dẫn vào buồng Cửu Giá—đòi hỏi độ dày đồng nhất ít nhất là một phân thép tôi cứng để chống lại lực xé ngang khi dòng chảy biến thiên đột ngột. Bất kỳ người thợ cơ khí nào của Thanh Lư Tông cũng biết quy chuẩn đó."

Anh ngước mắt nhìn sâu vào đồng tử đang mở to của Ninh Chiêu: "Nhưng ở đây, trên chiếc then dự phòng này, cha cô đã dùng giũa thô mài khuyết ngầm đúng ba ly, tạo thành một góc nghiêng mười bảy độ hoàn hảo ngay tại điểm chịu ứng suất uốn lớn nhất của cấu trúc."

Tống Hoài ngừng lại để thở dốc một nhịp, lồng ngực gầy guộc phập phồng vì gắng sức, nhưng ánh mắt anh sáng quắc như một ngọn đuốc rực cháy giữa đêm đen: "Nếu ông ấy là một kẻ đồng mưu toàn tâm toàn ý phục vụ cho cỗ máy của Đỗ Kính, tại sao lại phải mài khuyết góc hãm của một chiếc then chốt nằm trong hộp cứu hộ khẩn cấp? Một chiếc then chốt bị mài khuyết đúng góc mười bảy độ như thế này, khi hệ thống van vận hành ở áp suất định mức bình thường thì nó vẫn giữ được khớp khóa cơ học, máy móc không thể phát hiện ra sự cố. Nhưng chỉ cần một người có sức vóc người thường, không cần tu vi kiếm khí, dùng tay giật mạnh móc giằng với một lực khoảng bảy mươi cân, then chốt sẽ lập tức gãy ngang theo đúng điểm khuyết đó, làm bung toàn bộ lẫy khóa cơ học của cụm van, xả ngược toàn bộ áp suất ra ngoài."

Tống Hoài siết nhẹ bàn tay quanh thanh thép: "Ninh Trác không thể công khai cầm búa đập phá cỗ máy khi xung quanh ông ấy là hàng chục cặp mắt giám sát của chấp pháp đài và cấm chế trận pháp. Nhưng bằng cách mài khuyết chiếc then này và lặng lẽ đặt nó vào hộp cứu hộ khẩn cấp của cụm van số Ba, ông ấy đã ngầm cài lại một đường sống cho những kẻ bên trong. Một người thợ rèn để lại then chốt dự phòng có góc mài khuyết có chủ đích như thế này... không bao giờ, tuyệt đối không bao giờ là kẻ đồng lõa với phường đồ tể. Đó là một người thợ đang cắn răng nuốt nhục, chịu đựng sự giam cầm để chờ đợi thời cơ phá trận từ bên trong."

Từng lời, từng chữ của Tống Hoài như một luồng gió mát lành thổi bùng ngọn lửa hy vọng tưởng chừng đã lụi tàn thành tro nguội trong lòng Ninh Chiêu.

Góc mài mười bảy độ.

Đúng rồi! Đó chính là góc vát độc môn mà cha cô luôn dùng khi rèn dao rọc giấy, rèn then cài cửa thoát hiểm hay những chiếc lẫy bẫy thú ở xưởng Lò Khê ngày trước. Ông từng bảo với cô rằng: *"Góc mười bảy độ là góc của lối thoát, là góc để khi cần, kẻ yếu nhất cũng có thể bẻ gãy then khóa mà chạy thoát thân."*

Và lời dặn dò bí ẩn của ông với Từ Bách mười một năm trước bỗng chốc vang vọng lại rành rọt trong tâm trí cô: *"Nếu thấy bùn đen khét mùi lưu huỳnh trồi lên thì hãy dùng búa đập vỡ then sắt thứ ba mà chạy."*

Then sắt thứ ba... chính là cụm van số Ba!

Cha cô không hề phản bội lương tri của một người thợ rèn. Ông bị giam cầm, bị ép buộc bằng vũ lực hoặc tính mạng, nhưng dưới sự giám sát ngặt nghèo và tàn bạo của bộ máy quyền lực Thanh Lư Tông, người thợ già ấy vẫn dùng chính nghề nghiệp, chính những hiểu biết sâu sắc về kim loại của mình để âm thầm gài sẵn những chiếc chìa khóa giải thoát cho những người đi sau. Ông chưa từng khuất phục.

Ninh Chiêu run rẩy đưa hai tay đón lấy chiếc then chốt từ tay Tống Hoài. Thanh thép non lúc này dường như không còn buốt lạnh nữa. Qua lớp vảy sắt thô ráp và góc mài mười bảy độ sắc lẹm, cô cảm nhận được hơi ấm kiên định, bền bỉ và nhẫn nhục của người cha đã một mình chống chọi trong bóng tối của lòng đất suốt ngần ấy năm trời để bảo vệ chút lương tri cuối cùng.

Cô cúi đầu thật sâu, quệt sạch những giọt nước mắt còn vương trên má, ánh mắt cô lấy lại vẻ kiên định, sắc sảo như thép vừa tôi qua lửa đỏ: "Tôi hiểu rồi... Cảm ơn anh, anh Tống Hoài."

"Nghỉ ngơi đi," Tống Hoài mỉm cười nhạt nhòa, nụ cười hiếm hoi nở trên gương mặt khắc khổ đầy vết thương tích của cựu kiếm tu. Anh khép hờ đôi mắt mệt mỏi lại, giọng nhỏ dần: "Con đường phía trước... từ bãi biển tro này đến đài Huyền Khuyết, chúng ta không còn đường lùi nữa đâu."

Ninh Chiêu đứng dậy, cẩn thận nhét chiếc then chốt chữ U vào sâu trong túi áo ngực, ngay sát vị trí trái tim mình. Cô bước nhẹ qua chỗ Lê Vãn và Từ Bách đang ngủ say, đẩy nhẹ cánh liếp nứa rồi bước ra khỏi lán chài.

Đêm đã về khuya. Bầu trời bên trên biển tro mờ đục một màu xám chì ảm đạm, ánh trăng thượng tuần yếu ớt xuyên qua màn mây tro khoáng lơ lửng, rải một lớp bạc mờ ảo, lạnh lẽo lên mặt nước tối tăm gợn sóng cặn. Gió biển thổi tung mái tóc dài bết dính của cô, mang theo cái lạnh thấu xương nhưng làm đầu óc cô trở nên tỉnh táo lạ thường.

Xa xa ngoài khơi, trên mặt biển tro tĩnh lặng đến rợn người, những đốm sáng màu đỏ quạch lập lòe của các đoàn tàu vận tải bọc sắt không treo cờ đang lầm lũi rẽ sóng tro chạy về hướng đông bắc—hướng dẫn thẳng tới cửa trời thứ hai mang tên Trầm Quan. Đó là những chuyến tàu chở đầy khoáng thạch toan tính và những thùng hàng bí mật phục vụ cho các đại trận của tông môn.

Ninh Chiêu bước xuống mép bãi sỏi, ngồi bệt lên một mỏm đá nhô ra mép nước mặn chát. Cô rút từ bên hông ra thanh kiếm sắt ngắn phôi thép non—thứ vũ khí duy nhất cô còn giữ lại được sau chuyến tháo chạy kinh hoàng khỏi buồng Cửu Giá. Lưỡi kiếm đã mẻ vài vết nhỏ do va đập với then gang của cửa xả, bề mặt thép non ám một lớp muội đen xỉn màu.

Đặt thanh kiếm lên đầu gối, cô lấy miếng đá mài thô nhặt được ở bãi sỏi lúc nãy, nhúng chút nước biển mặn chát rồi bắt đầu liếc lưỡi kiếm dưới ánh trăng mờ.

*Xoẹt... xoẹt... xoẹt...*

Tiếng đá mài cọ xát vào thớ thép vang lên đều đặn, nhịp nhàng giữa đêm thanh vắng, hòa lẫn vào tiếng sóng tro vỗ bờ rì rầm. Bàn tay trái bị thương của cô áp chặt vào sống kiếm làm điểm tựa; cơn đau buốt từ vết bỏng và những sợi gân co rút vẫn còn đó, nhức nhối theo từng nhịp đập của mạch máu, nhưng nhịp mài của tay phải cô không hề run rẩy lấy một phân.

Mỗi đường mài miết dọc theo thân thép là một lần cô gột rửa sạch sẽ những hoang mang, sợ hãi và yếu đuối cuối cùng trong tâm hồn. Mỗi nhát liếc đá là một lần cô mài sắc thêm ý chí sinh tồn, quyết tâm tự vệ và ý thức bảo vệ những con người đang nằm sau lưng cô trong căn lán xiêu vẹo kia.

Cô không còn là người con gái chỉ biết tìm cha trong sự mù quáng và tuyệt vọng nữa. Giờ đây, cô là người mang theo chiếc then chốt có góc mài mười bảy độ—người thừa kế không chỉ tay nghề rèn đúc mà cả sự phản kháng kiên cường trong câm lặng của Ninh Trác. Cô đang chuẩn bị tâm thế sắt đá cho cuộc đối đầu không thể tránh khỏi với Đỗ Kính và toàn bộ trật tự nghi lễ đẫm máu mà đài Huyền Khuyết đang vận hành trên xương máu của biết bao kiếm tu.

Bỗng nhiên, từ màn đêm đặc quánh phía trên rặng phi lao khô cằn ven bờ, một tiếng đập cánh gấp gáp xé toạc không gian tĩnh lặng của bãi biển tro.

Một cánh chim đưa thư của ngoại viện Thanh Lư Tông—loại bồ câu xám chân đeo ống đồng chuyên dụng của đội tuần tra đêm—bay là là qua ngọn sóng tro rồi đáp phịch xuống mái nứa lán chài, mang theo mật thư khẩn cấp từ Hạ Từ.

Chương này thế nào?Đánh giá giúp Readeep đề xuất đúng hơn cho bạn