Học Viện Những Ngày Tiến BộC.5 / 35
Chương 5

Những Con Số Ở Mực Xanh

Mùi mực in công nghiệp hăng nồng quyện chặt với hơi nóng khô khốc phả ra từ những giàn sấy nhiệt đón lấy Khang và An Nhiên ngay khi họ vừa lách qua cánh cửa nhôm kính xộc xệch của Tiệm Mực Xanh.

Con đường trước cổng trường Trung học Phổ thông Minh Tiến vào giờ tan tầm đang đặc quánh tiếng còi xe, khói bụi và tiếng bước chân rầm rập của hàng trăm học sinh ùa ra như ong vỡ tổ. Nhưng bước chân qua ngạch cửa tiệm in, không gian dường như lập tức bị bóp nghẹt lại bởi một thứ nhịp điệu hoàn toàn khác: tiếng máy photocopy vận hành ràn rạt liên hồi, tiếng rít cơ khí của những trục cuốn cao su miết trên mặt giấy, và tiếng lách cách khô khốc của bàn dập ghim đại.

Bên trong tiệm chật như một cái hầm chứa phế liệu văn phòng. Những chồng giấy trắng khổ A4, A3 xếp cao ngất ngưởng từ sàn nhà lên sát mép bàn, tựa như những khối bê tông trắng chực chờ đổ sụp xuống lối đi lát gạch bông đã mòn vẹt. Góc nhà chất đống những thùng carton rách mép đựng vỏ hộp mực thải lem nhem vệt đen, vệt đỏ, cạnh đó là những cuộn màng ép plastic bóng loáng to bằng bắp chân và từng bó gáy xoắn lò xo nhựa nằm lộn xộn trong những chiếc rổ nhựa rạn nứt. Ánh đèn tuýp trên trần nhà nhấp nháy liên tục, hắt xuống thứ ánh sáng trắng nhờ nhợ, làm nổi rõ từng hạt bụi giấy li ti đang bay lơ lửng trong luồng nhiệt âm ấm tỏa ra từ bụng những cỗ máy photocopy Toshiba to sừng sững như những cỗ quan tài thép.

Đằng sau tấm vách mica ngăn bụi đã ngả màu ố vàng, chú Phúc—chủ tiệm, một người đàn ông trạc ngoài bốn mươi với mái đầu hoa râm cắt cua cẩn thận và chiếc kính lão gọng đồi mồi trễ xuống tận cánh mũi—đang cắm cúi làm việc. Chú mặc chiếc áo sơ mi cộc tay cũ kỹ màu cháo lòng, hai bên ống tay áo đã được xắn cao quá khuỷu để lộ cẳng tay gân guốc lấm tấm những chấm mực đen không bao giờ rửa sạch hẳn. Đôi bàn tay bè bè của chú thoăn thoắt xếp phẳng một tệp tài liệu dày cộp chừng bốn trăm trang, vỗ bồm bộp hai đầu cho thật vuông vức, rồi đưa nhanh vào bàn cắt giấy thủ công cỡ lớn.

Chú Phúc tì ngực vào cạnh bàn, cánh tay phải ghì chặt đòn bẩy bằng thép. Một tiếng “cụp” đanh gọn xé toạc bầu không khí ồn ào. Lưỡi dao sắc lẹm ngọt ngào đi qua bốn trăm lớp giấy trắng, làm bật ra một dải viền giấy mỏng dính rơi lả tả xuống sàn gỗ.

Đứng ở mép quầy, Khang nuốt khan một ngụm nước bọt. Cổ họng cậu đắng ngắt. Cậu khẽ đưa tay nới lỏng chiếc cúc áo trên cùng của bộ đồng phục trường Minh Tiến, cảm giác chiếc cổ áo như đang siết chặt lấy thanh quản mình. Cậu liếc nhanh sang An Nhiên đang đứng lặng lẽ bên cạnh. Cô bạn ôm chặt tập hồ sơ bìa xanh trước ngực, đôi mắt đen nhánh phản chiếu ánh đèn neon mờ ảo, bờ môi mím chặt không để lộ một tia dao động.

Cả buổi chiều hôm nay đối với Khang tựa như một cơn ác mộng kéo dài. Màn chất vấn sắc lạnh, không khoan nhượng của Trần Gia Huy bên Đội Mũi Tên tại phòng họp Hội đồng Học sinh vẫn còn ong ong bên tai cậu; ánh mắt hoài nghi của Ngô Khánh Linh và đặc biệt là tờ biên bản bổ sung mang tính tối hậu thư mà Đỗ Thảo Vy vừa trao tay trước khi rời trường, tất cả đã giáng một đòn chí mạng vào lòng tự tôn vốn rất nhạy cảm của Khang. Cậu đã lỡ đứng trước mặt toàn bộ ban đại diện các khối lớp mà tuyên bố hùng hồn về tính khả thi của đề án Bến Sông. Cậu đã biến nó thành danh dự của riêng mình.

Giờ đây, cậu cần một thắng lợi. Dù là một thắng lợi nhỏ nhoi, một bước tiến cụ thể nào đó để chứng minh cho An Nhiên thấy, chứng minh cho Đỗ Mai Chi và cả lớp 10A3 thấy rằng cậu không phải là một kẻ chỉ biết vẽ hươu vẽ vượn trên giấy tờ. Và theo tính toán dọc đường đi của Khang, việc thuyết phục chú Phúc—chủ tiệm in thân thuộc sát vách trường, người đã kiếm sống bằng tiền photo tài liệu của học sinh Minh Tiến suốt bao năm qua—ủng hộ cho một dự án thiện nguyện vì cộng đồng nghèo ven sông An Hòa sẽ là một nước cờ êm thấm và dễ dàng nhất. Một sự đồng thuận mau lẹ ở đây sẽ là liều thuốc an thần xoa dịu đi nỗi ê chề mà Hội đồng Học sinh vừa ném vào mặt cậu ban trưa.

Khang hít một hơi thật sâu mùi giấy ấm, nắn lại nụ cười rạng rỡ và tự tin nhất trên gương mặt, rồi bước lên sát quầy mica. Cậu chống nhẹ hai khuỷu tay lên mép kính, cất giọng thật hồ hởi, ấm áp:

“Chú Phúc ơi! Chiều muộn thế này mà tiệm mình vẫn tấp nập quá chú nhỉ? Cháu đứng ngoài đường nhìn vào mà thấy máy chạy không ngơi tay lúc nào!”

Chú Phúc không ngẩng đầu lên ngay. Đôi mắt sau tròng kính lão vẫn dán chặt vào mép cắt của xấp tài liệu tiếp theo. Chú đưa ngón tay cái miết nhẹ kiểm tra độ phẳng của gáy giấy, rồi mới thong thả đẩy chiếc gọng kính lên sống mũi bằng một ngón trỏ còn vương vệt mực xanh tím mờ mờ. Nhận ra hai khuôn mặt quen thuộc của lớp 10A3, khóe mắt chú giãn ra thành những nếp nhăn quen thuộc, chú cười khà một tiếng:

“Khang với Nhiên đấy à? Lại đem chuyên đề hình học không gian của thầy Tùng sang photo cho cả lớp chứ gì? Đợi chú một tí, dập nốt hai xấp giáo án của bên trường tiểu học này đã, đúng năm phút thôi. Giờ tan tầm này giáo viên ghé lấy đông như nêm, trễ một cái là các cô mắng vốn chết.”

“Dạ không, chú Phúc cứ thong thả ạ. Nhưng mà chiều nay tụi cháu ghé không phải để in bài tập đâu chú,” Khang đan các ngón tay vào nhau, hạ tông giọng xuống trầm ấm và trang trọng hơn, vô thức tái hiện lại phong thái của một nhà thuyết trình mà cậu thường tập trước gương. “Tụi cháu đại diện cho nhóm hành động của khối mười, đến gặp chú vì một việc hệ trọng hơn nhiều. Một dự án mang tính bước ngoặt cho bà con nghèo, chú ạ.”

Đôi mày rậm điểm vài sợi bạc của chú Phúc khẽ nhướng lên. Chú vẫn giữ chiếc đòn bẩy dao cắt trong tay:

“Việc hệ trọng gì mà nghe to tát thế mấy cô cậu học trò?”

Thấy chú Phúc chú ý, Khang lập tức nghiêng người về phía trước, ánh mắt sáng ngời đầy vẻ tâm huyết:

“Dạ, tổ tụi cháu đang chuẩn bị triển khai một dự án xã hội quy mô tại Nhà Văn hóa Phường Bến Sông. Chú biết khu xóm Cầu dưới đó rồi đấy, bà con lao động vất vả, người già neo đơn nhiều, đời sống tinh thần và tiếp cận thông tin còn thiếu thốn trăm bề. Tụi cháu sẽ cải tạo toàn bộ góc đọc sách cộng đồng, đưa sách pháp luật và đời sống về tận nơi, đồng thời mở các lớp hướng dẫn kỹ năng số, cài đặt định danh điện tử và tra cứu thẻ bảo hiểm y tế cho các cụ già hưu trí. Toàn bộ chương trình này là vì cộng đồng, xuất phát từ tinh thần tương thân tương ái của học sinh Minh Tiến đối với dải đất ven sông An Hòa thôi chú.”

Khang khẽ dừng lại một nhịp, quan sát thấy chú Phúc vẫn chăm chú lắng nghe, trong lòng cậu thầm nhen nhóm một niềm tin đắc thắng. Cậu nhanh nhẹn mở chiếc cặp da, rút ra một tờ danh mục đã được đánh máy gọn gàng, đặt ngay ngắn lên mặt kính quầy thu ngân:

“Để chương trình lan tỏa sâu rộng và đem lại hiệu quả thực tế nhất, tụi cháu đã lên một danh mục ấn phẩm thiết yếu. Thứ nhất là năm mươi tờ áp phích cổ động khổ lớn dán ở các bảng tin khu phố và các đầu hẻm ven bến. Thứ hai là hai trăm phiếu khảo sát nhu cầu sinh hoạt thực tế của từng hộ gia đình. Và thứ ba, quan trọng nhất, là khoảng một trăm cuốn tài liệu cẩm nang bỏ túi, đóng gáy xoắn cẩn thận, in cỡ chữ lớn để hướng dẫn các cụ già cách dùng điện thoại thông minh tra cứu bảo hiểm.”

Khang mỉm cười, đôi mắt cậu lấp lánh thứ ánh sáng đầy tính thuyết phục:

“Vì đây là một chương trình từ thiện hoàn toàn phi lợi nhuận, kinh phí nhóm tự thân vận động từ sức trẻ, nên tụi cháu muốn trân trọng gửi lời mời chú Phúc tham gia với tư cách là đơn vị tài trợ in ấn độc quyền. Chú chỉ cần tài trợ miễn phí toàn bộ phần in ấn này cho tụi cháu. Coi như tiệm Mực Xanh và học sinh Minh Tiến cùng chung tay làm một việc nghĩa để đời cho bà con Bến Sông. Tên tiệm của chú sẽ được in trang trọng ở góc dưới tất cả các áp phích và trang bìa cẩm nang. Chú thấy thế nào ạ?”

Khang nói xong một hơi liền mạch, lồng ngực hơi phập phồng vì hào hứng. Cậu cảm thấy bài phát biểu ngắn của mình vừa rồi hoàn hảo không tì vết: vừa có lý, vừa có tình, vừa nâng tầm đóng góp của người nghe lên một nghĩa cử cao đẹp. Trong suy nghĩ non nớt của một học sinh chỉ quen nhìn thế giới qua trang sách, giấy và mực ở một tiệm photocopy lớn thế này có đáng là bao? Chúng nằm la liệt khắp nơi, chú Phúc in cả ngàn trang mỗi ngày, lẽ nào chú lại tiếc rẻ vài xấp giấy trắng và chút mực in cho một chương trình từ thiện mang danh trường Minh Tiến danh giá?

Thế nhưng, không gian tiệm in bỗng dưng rơi vào một khoảng im lặng kỳ quặc.

Không có tiếng reo vui, không có cái gật đầu hào sảng nào từ phía người đàn ông trung niên. Tiếng máy photocopy phía sau vẫn chạy ro ro, phun ra từng tờ giấy ấm nóng rơi xuống khay đỡ bằng nhựa với âm thanh loạt xoạt đều đặn.

Chú Phúc từ từ buông tay khỏi chiếc đòn bẩy dao cắt. Chú tháo chiếc kính lão gọng đồi mồi ra, với lấy vạt chiếc áo sơ mi cộc tay đã bạc màu cẩn thận lau tròng kính. Đôi mắt chú nheo lại, ánh nhìn nhìn thẳng vào Khang không hề có sự giễu cợt, nhưng lại đượm một vẻ nghiêm nghị, từng trải và kiên định đến mức khiến nụ cười trên môi Khang bắt đầu đông cứng lại.

Chú Phúc đeo kính lại vào mắt, thở hắt ra một hơi dài:

“Ý tưởng của các cháu thì rất tốt. Chú sống ở đất này mấy chục năm, chú lạ gì cái cảnh khổ của bà con ngoài bãi sông. Chú hoan nghênh cái tâm của tụi cháu đối với người già dưới đó.”

Khang vừa hé môi định nói lời cảm ơn thì giọng chú Phúc đã trầm xuống, từng âm sắc rơi xuống mặt bàn nặng trịch:

“Nhưng bảo chú in miễn phí toàn bộ cái danh mục này, thì chú kiên quyết từ chối. Một trang chú cũng không tài trợ miễn phí kiểu đó được.”

Nụ cười trên gương mặt Khang sượng ngắt. Cậu chớp mắt liên hồi, cảm giác như mình vừa bước hụt chân xuống một hố nước lạnh buốt. Cậu lắp bắp, hai bàn tay vô thức bấu chặt vào mép quầy kính:

“Ơ… nhưng mà… chú Phúc ơi? Tụi cháu làm từ thiện thật mà chú! Tụi cháu có kinh doanh buôn bán gì đâu, không lấy của ai một đồng một cắc tiền công nào cả! Chú giúp tụi cháu một lần này thôi, sau này cả khối mười, thậm chí cả trường Minh Tiến sang năm học mới in tài liệu ôn thi học kỳ, tụi cháu sẽ vận động mọi người sang ủng hộ tiệm chú hết…”

“Khang này,” chú Phúc khẽ giơ một bàn tay lên, cắt ngang lời phân bua trôi chảy của cậu học trò một cách dứt khoát nhưng bình thản.

Chú không nổi giận, chỉ với tay sang góc bàn kế bên, kéo lại một cuốn sổ cái khổ lớn bọc bìa da màu nâu sờn rách bốn góc, cùng chiếc máy tính bấm tay Casio cũ mèm đã mờ hết các phím số. Chú đặt cả hai thứ lên mặt quầy mica, ngay bên cạnh bản danh mục in ấn sạch đẹp của Khang.

“Từ thiện là cái tâm đáng quý, chú không phủ nhận,” chú Phúc ôn tồn nói, giọng chú vang lên trầm đục lấn át cả tiếng quạt thông gió của máy in. “Nhưng lòng tốt mà xây dựng trên sự ngây thơ về mặt chi phí và kinh tế học ngoài đời, thì cái lòng tốt đó nguy hiểm lắm cháu ạ. Chú mở cái tiệm Mực Xanh này mười bốn năm nay, phục vụ biết bao nhiêu lứa học sinh, sinh viên, giáo viên. Chú không thể để các cháu bước ra đời với một cái ảo tưởng rằng giấy và mực in trên cõi đời này tự nhiên từ trên trời rơi xuống như nước mưa.”

Chú Phúc lật một trang giấy trắng trong cuốn sổ cái, rút chiếc bút bi Thiên Long cài trên túi áo ngực ra. Ngòi bút bi nhấn mạnh lên mặt giấy, vạch ra những gạch đầu dòng rõ ràng, sắc nét:

“Nào, lại đây. Cả Nhiên nữa, bước lại đây chú chỉ cho mà thấy một trang giấy in ra đời nó phải cõng trên lưng những chi phí gì. Để rồi xem cái sự ‘tiện tay in giúp’ của cháu nó có nhẹ tựa lông hồng như cháu tưởng hay không.”

Khang nuốt nghẹn một cái, chân như dính chặt xuống sàn gạch nhưng vẫn buộc phải nhích lại gần. Bên cạnh cậu, An Nhiên đã tiến lên nửa bước, đôi mắt nâu sẫm mở to, chăm chú nhìn từng nét mực của người thợ in già.

“Thứ nhất: giá giấy trắng,” đầu bút bi của chú Phúc gõ lách cách xuống trang sổ. “Cháu ghi trong đề án là cẩm nang hướng dẫn sử dụng điện thoại và tra cứu bảo hiểm cho các cụ già hưu trí lật đọc thường xuyên. Đã là tài liệu tra cứu cho người lớn tuổi, mắt họ kém, tay họ run, cháu có thể dùng loại giấy Bãi Bằng mỏng tang định lượng 60gsm màu ngà ngà, in hai mặt thấu mực đen sì lem nhem như giấy báo gói xôi được không? Chắc chắn là không. Giấy đó lật ba bữa là quăn góc, rách bươm, ẩm một chút là dính chặt vào nhau. Cháu bắt buộc phải dùng giấy ngoại, ít nhất là IK Plus 70gsm, hoặc chuẩn nhất phải là Double A 80gsm nhập khẩu từ Thái Lan.”

Chú Phúc ngước mắt lên nhìn Khang:

“Một ram giấy Double A năm trăm tờ khổ A4 hiện tại giá nhập vào đại lý là bao nhiêu, cháu biết không? Gần tám mươi lăm ngàn đồng một ram. Chỗ tài liệu một trăm cuốn, mỗi cuốn ba mươi trang in hai mặt, cộng với hai trăm phiếu khảo sát khổ A4 của cháu, ngốn đứt ít nhất ba ram rưỡi giấy trắng. Đó là chưa tính trừ hao năm đến bảy phần trăm giấy kẹt máy, giấy lỗi nhiệt độ trong quá trình chạy hàng loạt. Riêng tiền giấy trắng ruột đã ngót nghét ba trăm ngàn đồng.”

Mặt Khang bắt đầu nóng ran lên. Cậu cảm thấy hai vành tai mình đỏ ửng như bị ai hơ lửa.

“Thứ hai: tiền mực in,” chú Phúc tiếp tục vạch một đường mực dài, gạch chân hai chữ ‘Mực màu’. “Cháu đòi in năm mươi tờ áp phích tuyên truyền khổ lớn A3 treo khắp các bảng tin phường. Cháu nghĩ áp phích cổ động thì dùng máy in đen trắng à? Không, áp phích bắt buộc phải in màu rực rỡ người ta mới nhìn. Độ phủ màu của một tờ áp phích đồ họa thông thường không bao giờ dưới sáu mươi phần trăm diện tích trang giấy. Cháu có biết một bộ bốn ống mực màu CMYK chính hãng cho con máy in kỹ thuật số công nghiệp Ricoh đằng kia giá bao nhiêu không? Gần bốn triệu đồng một bộ. Nếu chạy hết công suất với bản in phủ màu đậm đặc, chỉ vài trăm tờ A3 là các ống mực cạn trơ đáy. Năm mươi tờ áp phích A3 của cháu sẽ ngốn trọn gần một phần tư lượng mực của cả dàn máy!”

Từng lời chú Phúc nói ra như một chiếc búa tạ nện thẳng vào sự tự tin bồng bột của Khang. Cậu đứng chết trân, cổ họng khô khốc không thốt nên được một lời nào để phản bác. Những con số lạnh lùng, trần trụi đang xé toạc lớp vỏ bọc hào nhoáng của dự án mà cậu từng say sưa thuyết trình trước Hội đồng Học sinh.

“Chưa hết đâu cháu,” giọng chú Phúc vẫn đều đều, rành rẽ như tiếng gõ mõ, không hề có ý hạ nhục nhưng đầy sức nặng giáo huấn. “Thứ ba: chi phí vô hình mà tụi cháu không bao giờ nhìn thấy: khấu hao máy móc và điện năng. Cái máy in và máy photo công nghiệp nó chạy bằng điện ba pha sinh hoạt giá bậc thang giờ cao điểm của nhà nước. Mỗi một tờ giấy chạy qua cụm sấy nhiệt, thanh gạt mực bị mòn đi một phần micromet, rulo ép chịu nhiệt độ cao hai trăm độ C giảm tuổi thọ từng giờ. Chưa kể màng ép plastic bìa, lò xo kẽm đóng gáy sách, tiền ghim bấm đại.”

Chú Phúc dừng bút, ngẩng hẳn đầu lên, nhìn thẳng vào đáy mắt Khang bằng một ánh mắt từng trải:

“Và thứ tư, điều quan trọng nhất mà các cháu luôn quên khi nói về hai chữ ‘từ thiện’: tiền công lao động. Để căn chỉnh một bản thiết kế nghiệp dư của học sinh các cháu thành file in chuẩn, dàn trang A3 không bị lệch lề, đứng túc trực canh máy chạy hàng trăm lượt để không kẹt giấy, rồi dùng dao xén mép cho phẳng, đục ba mươi cái lỗ trên từng tập tài liệu, lồng lò xo xoắn, ép màng bóng… một người thợ lành nghề như chú phải đứng còng cả lưng thao tác liên tục ít nhất ba tiếng đồng hồ. Trong ba tiếng đồng hồ đó, tiệm của chú phải từ chối bao nhiêu khách vãng lai? Chú không thể photo bài tập, không thể in tài liệu đấu thầu để kiếm từng đồng bạc lẻ trang trải tiền thuê mặt bằng và nuôi hai đứa con ăn học.”

Chú thở dài một tiếng, đặt chiếc bút bi xuống mặt gỗ:

“Nếu chú gật đầu tài trợ miễn phí toàn bộ chỗ này theo lời cháu, thì bản chất không phải là ‘chú cháu mình cùng làm từ thiện’. Mà bản chất là chú đang phải tự móc tiền túi của gia đình chú ra, đem mồ hôi nước mắt và sự hao mòn máy móc của tiệm này để bù lỗ cho sự hào phóng mang danh nghĩa của các cháu. Làm việc nghĩa bằng cách bắt một người lao động khác phải è cổ chịu đựng chi phí thay cho mình mà bản thân không hề hay biết giá trị sức lao động của họ… thì cái việc nghĩa đó nó méo mó lắm, Khang ạ.”

Bàn tay thô ráp của chú Phúc vỗ nhẹ lên chiếc máy tính Casio. Những ngón tay chú thoăn thoắt bấm phím, tiếng kêu tanh tách vang lên giòn giã. Màn hình tinh thể lỏng hiện lên những con số nhảy múa:

“Đây. Chú tính cho cháu theo đúng giá vốn hỗ trợ học sinh Minh Tiến, chú không lấy một cắc tiền lãi, coi như chú góp công phụ tụi cháu: Năm mươi tờ áp phích A3 màu: hai trăm năm mươi ngàn. Hai trăm phiếu khảo sát hai mặt A4: sáu mươi ngàn. Một trăm cuốn tài liệu ba mươi trang, đóng bìa kiếng, gáy xoắn nhựa: chín trăm ngàn tròn. Tổng cộng chi phí in ấn tối thiểu, sát ván đáy bùn: một triệu hai trăm mười ngàn đồng.”

Một triệu hai trăm mười ngàn đồng!

Con số đó đập vào mắt Khang như một tia chớp rạch ngang giữa trời quang. Đầu óc cậu quay cuồng, hai chân mềm nhũn ra. Mồ hôi lạnh toát ra ướt đẫm mảng lưng áo sơ mi trắng, dính bết vào da thịt.

*Một triệu hai trăm mười ngàn!*

Trong cuộc họp giao ban nảy lửa ban trưa, khi bị Trần Gia Huy dồn vào chân tường bằng những câu hỏi hóc búa về chi phí dự toán, Khang đã đứng bật dậy, ngẩng cao đầu mà buột miệng cam đoan chắc nịch trước mặt Khánh Linh và Thảo Vy rằng toàn bộ chi phí văn phòng phẩm, giấy tờ, tài liệu của dự án Bến Sông “chỉ tốn khoảng ba trăm đến bốn trăm ngàn đồng mang tính tượng trưng”. Cậu đã đinh ninh trong đầu rằng tiệm Mực Xanh sẽ vui vẻ bao trọn gói, rằng vài cuốn cẩm nang mỏng dính chỉ tốn vài chục ngàn bạc lẻ.

Giờ đây, chỉ riêng một góc hóa đơn in ấn đã vượt gấp hơn ba lần toàn bộ hạn mức ngân sách mà cậu dám hứa hẹn với Hội đồng! Đó là chưa kể tiền khung sắt, tiền tôn, tiền gỗ đóng tủ sách, tiền sơn chống rỉ và tiền vận chuyển vật tư qua cây cầu sắt An Hòa lồi lõm gập ghềnh!

“Sao… sao lại nhiều đến mức này được ạ?” Giọng Khang lạc hẳn đi, run rẩy và khô khốc. “Cháu… cháu cứ ngỡ… cháu tưởng in ấn tài liệu học sinh chỉ vài trăm ngàn là cùng…”

“Đời thực nó không chạy theo trí tưởng tượng màu hồng của cháu đâu,” chú Phúc lắc đầu, ánh mắt thoáng chút xót xa cho sự bàng hoàng của cậu học trò nhỏ. “Kinh doanh buôn bán hay làm công tác xã hội cũng y hệt nhau thôi. Muốn làm người tốt, việc đầu tiên là phải biết nhìn thẳng vào từng con số trên hóa đơn.”

Đúng lúc bầu không khí trong tiệm đang nghẹt thở như chuẩn bị có giông bão, thì từ góc tối phía sau chiếc máy photocopy công nghiệp khổ lớn đặt sâu trong góc tường, có tiếng lách cách kim loại khẽ vang lên.

Một bóng người cao gầy, hơi lòng khòng lách qua khe hẹp giữa hai giá để giấy bước ra.

Đó là Võ Đức Lâm.

Cậu mặc một chiếc áo phông cộc tay màu xám tro cũ kỹ đã sờn rách ở mép vai, trên ngực áo lấm lem những vệt mực đen và dầu máy khô cứng. Đôi bàn tay xương xẩu, rắn rỏi của Lâm đen nhẻm những bụi than chì và dầu bôi trơn bánh răng. Cậu đang cầm một chiếc giẻ lau bằng vải vụn thô ráp, tỉ mẩn lau từng kẽ móng tay cáu bẩn.

Lâm đã đứng ở góc máy đó từ lúc nào không rõ. Cậu đã im lặng nghe trọn vẹn từng câu, từng chữ trong màn đối thoại từ đầu đến cuối.

Ánh mắt sắc lạnh, sâu thẳm của Lâm lướt qua gương mặt đang tái mét, đờ đẫn của Khang, rồi dừng lại thật khẽ trên người An Nhiên. Trên gương mặt góc cạnh phong trần của cậu học trò nghèo xóm Cầu không hề có nét cười cợt, cũng không có vẻ đắc thắng hay mỉa mai như cái cách Trần Gia Huy đã thể hiện ở phòng họp Hội đồng Học sinh. Gương mặt cậu phẳng lặng như mặt nước sông An Hòa vào một buổi chiều đứng gió.

Lâm bước chầm chậm lại gần quầy thu ngân, tiện tay ném miếng giẻ lau dầu nhớt vào chiếc xô tôn đặt dưới chân bàn. Cậu thò tay vào chiếc thùng carton đựng giấy in hỏng một mặt để cạnh máy xén, rút ra một tờ giấy trắng khổ A4 còn phẳng phiu, rồi với tay lên vành tai, rút xuống một mẩu bút chì thợ mộc ngòi dẹt đã cùn một nửa.

“Để tôi tính phần cái tủ sách cho,” Lâm cất tiếng. Giọng cậu khàn khàn, trầm thấp nhưng đanh gọn, mang một thứ âm sắc dứt khoát đặc trưng của những đứa trẻ sớm phải bươn chải nơi bến bãi.

Khang giật nảy mình, mở to mắt trừng trừng:

“Lâm? Cậu… sao cậu lại ở đây?”

“Tôi làm phụ việc ca chiều ở đây, một tuần ba buổi sau giờ tan học,” Lâm trả lời nhát gừng, mắt không thèm nhìn Khang. Cậu trải phẳng tờ giấy nháp lên mặt kính, đặt ngón tay cái giữ chặt mép giấy. “Chiều nay tôi đứng ngoài hành lang nghe Đội Mũi Tên ép các cậu rồi. Trần Gia Huy nói đúng đấy. Nếu các cậu cứ giữ cái thói quen của công tử nhà giàu, vác tiền ra tiệm sắt mua sắt hộp mạ kẽm mới toanh, mua tôn tấm loại một ly rồi thuê thợ cơ khí ngoài phố hàn thành một cái tủ sách chống ẩm hoàn chỉnh, thì riêng cái xác tủ đó sẽ ngốn không dưới hai triệu rưỡi. Ngân sách nhà trường có duyệt gấp đôi hạn mức cũng không đời nào gánh nổi cái của nợ đó.”

Bàn tay chai sạn của Lâm cầm mẩu bút chì đưa những nét dứt khoát, chuẩn xác đến kinh ngạc. Không cần đến thước kẻ, ngòi chì dẹt của cậu miết trên mặt giấy tạo thành những đường thẳng tắp, vẽ nên một bản vẽ kỹ thuật ba chiều sống động: một mẫu tủ sách dạng module ba tầng, khung xương thanh thoát nhưng có hệ thống thanh giằng chéo chịu lực hình chữ X ở mặt lưng và hai bên hông.

“Nhưng nếu chịu khó động não và dùng sức, chi phí vật tư làm tủ có thể kéo tụt xuống mức gần như bằng không,” Lâm vừa phác thảo các khớp nối vừa giải thích, giọng điệu rành rọt như một người thợ lành nghề. “Dưới bến than và mấy xưởng sửa chữa tàu thuyền cũ dọc bờ sông xóm Cầu, sau mỗi đợt đại tu xà lan, người ta thải ra hàng đống sắt hộp phế liệu loại ngắn, sắt V lỗ rỉ sét bề mặt nhưng lõi thép bên trong còn đặc và cứng như đá. Mấy thứ đó vựa ve chai thu mua theo giá sắt vụn, chỉ bốn, năm ngàn một cân. Thậm chí nếu tôi dắt các cậu ra tận xưởng, nói rõ là xin vật tư thừa về đóng tủ sách cộng đồng cho tụi trẻ con và các cụ ở Nhà Văn hóa Phường, mấy chú thợ hàn quen mặt với bố tôi sẵn sàng cho không cả đống.”

An Nhiên bước hẳn lên phía trước, hai mắt sáng lên, chăm chú nhìn theo từng nét vẽ của Lâm. Đôi vai cô khẽ thả lỏng:

“Còn các vách ngăn và đợt để sách thì sao hả Lâm? Nếu không dùng tôn tấm thì dùng vật liệu gì để chịu được sức nặng của hàng trăm cuốn sách?”

“Không bao giờ được dùng tôn,” Lâm lắc đầu, ngòi bút chì chỉ mạnh vào các mặt phẳng bên hông tủ. “Tôn tấm mỏng loại rẻ tiền rất dễ bị móp méo khi va đập, mép cắt của tôn sắc như dao cạo, người già mắt mờ quờ tay vào là đứt tay chảy máu ngay. Chưa kể tôn dẫn nhiệt cực nhanh, đêm xuống hơi ẩm sông bốc lên gặp tôn lạnh sẽ ngưng tụ thành giọt sương đọng bên trong vách tủ, sách báo ẩm mục hết. Chúng ta dùng gỗ pallet thông bỏ đi ở bến bốc dỡ hàng.”

Lâm vẽ nhanh một kết cấu ghép mộng gỗ đơn giản:

“Gỗ pallet thông người ta dùng để kê hàng thùng trên bến cảng đều đã qua xử lý nhiệt chống mối mọt theo tiêu chuẩn vận tải biển. Nó chịu ẩm và chịu lực tốt hơn ván ép mùn cưa công nghiệp gấp vạn lần. Mình chỉ cần xin khoảng bốn cái pallet cũ còn lành lặn, dùng xà bén cạy đinh ra, lựa những thanh nan thẳng thớm nhất. Dùng giấy nhám thô đánh sạch lớp rêu phong bên ngoài, rồi quét lên một lớp dầu nhớt xe máy thải pha loãng với dầu hỏa để chống mọt và chống nước ngấm sâu. Nan pallet ghép khít lại làm thành vách hai bên và đáy tủ, vừa mộc mạc, vừa chắc như bàn thạch.”

Khang đứng nhìn bản vẽ chi tiết đến từng mối ghép của Lâm mà lồng ngực thắt lại. Cậu cảm thấy một cảm giác bẽ bàng cay đắng dâng lên tận cuống họng. Những thanh sắt vụn hoen gỉ, những tấm pallet gỗ nứt nẻ lấm lem bùn đất mà Khang từng nhìn thấy lăn lóc đầy nhếch nhác ở mép sông mỗi lần đạp xe qua cầu, qua con mắt thực tế và khối óc đầy kinh nghiệm sống của Lâm, bỗng biến thành một giải pháp kỹ thuật tinh tế, chuẩn xác và đầy tính khả thi. Nó đập tan hoàn toàn những lập luận cơ khí hóc búa mà Gia Huy đã dùng để dồn ép cậu vào đường cùng ban trưa.

“Cậu nhìn kỹ chỗ mép cửa tủ này,” Lâm gõ đầu bút chì vào khe hở giữa hai cánh tủ trên bản vẽ. “Cái sai chết người của những kẻ lý thuyết suông là nghĩ rằng chống ẩm nghĩa là phải hàn kín mít như két sắt ngân hàng. Không khí ven sông An Hòa độ ẩm trung bình luôn trên tám mươi phần trăm. Cậu hàn kín mà lúc mở cửa ra lấy sách, hơi ẩm lọt vào rồi bị nhốt luôn bên trong thì cuốn sách mục nát còn nhanh hơn để ngoài trời. Điểm cốt lõi là hệ thống gioăng và khoang thở.”

Ngón tay Lâm rê dọc theo đường viền cánh tủ:

“Tôi sẽ ra mấy tiệm sửa xe máy quen dọc đường bờ sông, xin lại năm cái ruột xe máy cũ bị thủng không vá được nữa. Dùng kéo rọc thành từng dải cao su dài bản rộng hai phân, dùng đinh dù đóng cố định viền quanh mép khung cửa tủ để làm gioăng giảm chấn. Khi đóng cửa cài chốt, cao su ép chặt lại sẽ ngăn hoàn toàn gió lùa mang hơi ẩm trực tiếp từ mặt sông vào. Dưới đáy tủ, tôi thiết kế một khoang rỗng cao mười phân, có đục nhiều lỗ thông hơi nhỏ hướng vào trong, dùng để đặt khay hạt hút ẩm.”

Lâm buông mẩu bút chì xuống bàn, ngẩng mặt lên:

“Toàn bộ khung sắt hộp cũ và nan gỗ thông pallet: không tốn một xu tiền mua phế liệu. Tiền que hàn, đĩa cắt mượn của xưởng cơ khí bác Ba gần nhà tôi, tôi tự tay cắt và hàn lấy, không mất tiền công thợ. Tiền ốc vít, bản lề lá, đinh dù và giấy nhám mua ngoài tiệm kim khí: sáu mươi ngàn đồng.”

“Sáu mươi ngàn?” Khang thốt lên, giọng run rẩy như không dám tin vào những gì mình vừa nghe. Con số sáu mươi ngàn quá nhỏ nhoi so với khoản dự toán hai triệu rưỡi mà cậu từng lo sợ. Nó như một chiếc phao cứu sinh bất ngờ trôi đến giữa dòng nước xoáy.

“Đấy mới chỉ là cái xác tủ thô,” Lâm lạnh lùng dập tắt tia hy vọng vừa lóe lên trong mắt Khang. Ánh mắt cậu học trò xóm Cầu sắc như một nhát dao rọc giấy. “Cái tủ có bền đến mấy mà bên trong không có vật tư hút ẩm chuyên dụng thì cũng chỉ là đống sắt vụn đựng giấy mục. Sách ở bến sông vào mùa sương muối tháng mười một này, nếu chỉ trông chờ vào mấy bát gạo rang hay vôi bột như mấy người bày trò trên mạng thì không quá hai tuần là mốc xanh mốc đỏ hết. Cậu bắt buộc phải mua hạt hút ẩm silica gel loại công nghiệp đóng túi vải không dệt một cân, có chất chỉ thị màu xanh để biết lúc nào hạt ngậm no nước thì đem lên chảo rang khô dùng lại. Một túi đó giá sỉ ngoài chợ hóa chất là bốn mươi ngàn. Một cái tủ cần ít nhất hai túi thay phiên nhau: tám mươi ngàn. Thêm bốn cái chân đế tăng chỉnh độ cao bằng nhựa cứng bọc ren sắt để cách ly đáy tủ khỏi mặt sàn gạch ẩm ướt của nhà văn hóa: bốn mươi ngàn nữa.”

Lâm khoanh hai cánh tay lấm lem dầu máy trước ngực, giọng nói phẳng lặng không một chút cảm xúc:

“Cộng với sáu mươi ngàn tiền đinh vít bản lề, phần cơ khí của cái tủ sách ngốn chẵn một trăm tám mươi ngàn đồng tiền vật tư cứng. Tôi có thể bỏ sức lao động, bỏ thời gian và tay nghề của tôi ra để ép chi phí vật liệu đóng tủ xuống mức tối thiểu một trăm tám mươi ngàn cho nhóm. Nhưng còn phần in ấn của chú Phúc… tôi chịu. Tôi không thể bắt chú Phúc bỏ tiền túi ra làm không công cho các cậu được.”

Bầu không khí trong tiệm Mực Xanh lại một lần nữa chùng xuống, nặng nề như chì.

Chú Phúc đứng bên cạnh, nãy giờ vẫn im lặng quan sát từng nét vẽ và lắng nghe những tính toán của Lâm. Trên gương mặt hằn sâu những nếp nhăn của người thợ già thoáng hiện lên một nụ cười tán thưởng kín đáo. Chú vỗ nhẹ lên vai Lâm một cái đầy vẻ hài lòng, rồi quay sang nhìn Khang và Nhiên:

“Thằng Lâm nó tính đường cơ khí như thế là quá thực tế và chuẩn xác rồi đấy. Nó đã gánh cho tụi cháu cái phần nặng nhất là cái xác tủ. Giờ chú Phúc tính lại bài toán tổng thể cho hai đứa nghe.”

Chú kéo lại chiếc máy tính Casio, ngón tay bấm thoăn thoắt:

“Tiền vật tư tủ sách của Lâm: một trăm tám mươi ngàn. Phần in ấn của chú, nếu tụi cháu đồng ý cắt giảm số lượng áp phích A3 từ năm mươi tờ xuống còn hai mươi lăm tờ—chỉ dán ở những điểm dân cư then chốt nhất; phiếu khảo sát cô đọng lại trong một mặt A4 thay vì hai mặt; và tài liệu cẩm nang chỉ in ba mươi cuốn dùng chung tại chỗ ở Nhà Văn hóa thay vì phát đại trà một trăm cuốn mang về nhà… thì chú sẽ tính giá giấy và mực sát đáy cho tụi cháu là bảy trăm hai mươi ngàn. Cộng với một trăm tám mươi ngàn của Lâm, tổng chi phí tối thiểu không thể cắt giảm thêm một đồng nào nữa của đề án Bến Sông là chín trăm ngàn tròn.”

Chín trăm ngàn đồng.

Con số ấy như một tảng đá ngàn cân rơi thẳng xuống đỉnh đầu Khang.

Dù đã được Lâm kéo giảm chi phí đóng tủ từ hàng triệu bạc xuống còn chưa đầy hai trăm ngàn, dù chú Phúc đã cắt giảm số lượng in ấn xuống mức tối thiểu, thì con số cuối cùng vẫn là chín trăm ngàn!

Trong khi đó, ngân sách trần tối đa mà Khang đã trót cam kết trước mặt Hội đồng Học sinh chỉ vỏn vẹn bốn trăm ngàn đồng.

Khoảng thâm hụt lên tới nửa triệu đồng—năm trăm ngàn tiền mặt! Đối với một cậu học sinh lớp mười sống phụ thuộc hoàn toàn vào tiền tiêu vặt của gia đình như Khang, năm trăm ngàn là một con số khổng lồ ngoài tầm với. Nếu ngày mai cậu nộp bản dự toán này lên cho Thảo Vy và Gia Huy với con số chín trăm ngàn, chiếc bẫy mà Đội Mũi Tên giăng ra sẽ lập tức sập xuống. Gia Huy sẽ dùng chính những con số này để vạch trần sự bốc đồng, dối trá và thiếu năng lực quản trị của Khang trước toàn thể đại diện các lớp. Dự án Bến Sông sẽ bị đình chỉ ngay lập tức, và uy tín của Khang sẽ tan thành mây khói.

Bên cạnh cậu, An Nhiên đã lặng lẽ mở chiếc cặp đi học, rút ra cuốn sổ tay công tác bìa da nhỏ màu xanh mực. Cô mở trang giấy trắng dành riêng cho mục ghi chép tiến độ tài chính của tổ, rút chiếc bút kim tinh ngòi mảnh ra.

Nhiên ngẩng đầu lên nhìn Khang, ánh mắt trong veo nhưng nghiêm cẩn lạ thường:

“Khang này, chú Phúc và Lâm đã cho chúng ta những số liệu thực tế và chính xác nhất rồi. Con số thâm hụt thực tế so với hạn mức bốn trăm ngàn cậu báo cáo ban chiều là đúng năm trăm ngàn đồng. Cậu đọc lại các đầu mục để tớ ghi rõ vào biên bản tài chính của tổ. Tối nay về tớ sẽ gửi bản scan này cho Mai Chi và báo cáo trực tiếp với cô Hà. Lớp mình có thể bàn phương án trích một phần quỹ lớp hoặc tổ chức cho các bạn đi thu gom phế liệu vào sáng Chủ nhật để bù vào khoản thiếu hụt này.”

Nhìn ngòi bút kim tinh của Nhiên chuẩn bị chạm xuống mặt giấy trắng, tim Khang đập loạn xạ như muốn nhảy ra khỏi lồng ngực. Cả người cậu run lên bần bật.

*Báo cáo cô Hà? Báo cho cả lớp 10A3 biết?*

Nếu Mai Chi biết chuyện cậu đã hứa hão trước Hội đồng, nếu cả lớp biết cậu đã tự ý phóng đại năng lực để rồi giờ đây đẩy cả tổ vào cảnh nợ nần thâm hụt ngân sách gấp hơn hai lần, thì chiếc ghế tổ trưởng, thì hình ảnh một người thủ lĩnh xốc vác, bản lĩnh và đáng tin cậy mà cậu luôn dày công tạo dựng sẽ sụp đổ hoàn toàn trong tích tắc. Và tồi tệ hơn cả, cậu không thể chịu đựng được cái cảm giác để An Nhiên—cô bạn thông minh, điềm tĩnh mà cậu luôn thầm ngưỡng mộ và muốn chứng tỏ mình—nhìn thấy sự bất lực, kém cỏi và nhục nhã này của bản thân.

Không! Tuyệt đối không thể để tờ biên bản đó được ghi lại!

Gần như theo một phản xạ sinh tồn mù quáng, Khang vội vã đưa bàn tay run rẩy chụp lấy mép cuốn sổ tay của Nhiên, chặn đứng ngòi bút của cô bạn lại. Cậu nặn ra một nụ cười gượng gạo đến méo mó:

“Ấy… Nhiên! Khoan… khoan đã cậu! Đừng vội ghi con số đó vào biên bản chính thức của nhóm vội.”

Nhiên khựng lại, ngòi bút lơ lửng trên không trung. Đôi mày thanh tú của cô khẽ nhíu lại, ánh mắt thoáng hiện nét ngạc nhiên:

“Tại sao lại không ghi? Đây là báo giá thực tế của chú Phúc và Lâm mà. Chúng ta phải minh bạch mọi con số từ đầu chứ.”

“Thì… thì đúng là thực tế,” Khang nuốt khan một ngụm nước bọt cay xè, tròng mắt đảo liên hồi sang góc tiệm, giọng nói cố ép cho thật bình thản nhưng hơi thở vẫn đứt quãng vì hoảng loạn. “Nhưng đây mới chỉ là báo giá sơ bộ mang tính khảo sát thôi Nhiên à. Chú Phúc tính giá đó là dựa trên phương án in ấn truyền thống. Nhưng tớ… tớ vừa nảy ra một cách tối ưu hóa hơn nhiều. Ví dụ như phần cẩm nang tra cứu kỹ năng số, tớ hoàn toàn có thể tự chuyển đổi toàn bộ nội dung thành các file ảnh đồ họa infographic, rồi lập một mã QR code hoặc gửi thẳng qua nhóm Zalo của Hội Phụ lão phường để con cháu các cụ mở điện thoại ra hướng dẫn trực tiếp. Như thế số lượng tài liệu giấy in ra chỉ cần khoảng mười bản tượng trưng đặt ở bàn trà của bác tổ trưởng thôi!”

Khang vừa nói liến thoắng vừa vội vàng rút cuốn sổ tay cá nhân trong túi quần ra, giả vờ hí hoáy đặt bút tính toán các phép trừ ma quái trên trang giấy. Cậu cố tình dùng cánh tay áo che khuất dòng chữ chín trăm ngàn mà chú Phúc vừa ghi trong cuốn sổ cái, rồi viết một con số chênh lệch hoàn toàn bịa đặt—một trăm năm mươi ngàn đồng—vào góc sổ của mình, xoay nghiêng cho Nhiên nhìn thấy:

“Cậu thấy không? Nếu chuyển đổi số một nửa tài liệu như thế, tiền in ấn sẽ giảm xuống chỉ còn hơn hai trăm ngàn thôi. Khoản chênh lệch thực tế so với ngân sách Hội đồng cấp thực ra chỉ tầm một trăm năm mươi ngàn đồng, một con số rất nhỏ!”

Khang bước hẳn sang một bước, chắn giữa Nhiên và chú Phúc, bàn tay khẽ vỗ nhẹ lên vai cô bạn với một sự tự tin giả tạo được gồng lên hết mức:

“Nhiên đừng lo lắng quá, chuyện tiền bạc đau đầu này cứ để tớ lo liệu. Tớ là người đứng tên điều phối dự án trước Hội đồng Học sinh, tớ sẽ có trách nhiệm tự cân đối và xoay xở khoản chênh lệch nhỏ này. Tối nay cậu cứ gửi biên bản báo cáo cho Chi và cả nhóm rằng: phần kết cấu tủ sách đã được giải quyết triệt để nhờ sáng kiến kỹ thuật của Lâm, còn phần kinh phí in ấn đang được điều chỉnh tối ưu hóa theo phương thức số hóa tài liệu. Chỉ cần báo cáo như thế là Chi sẽ yên tâm, cả lớp sẽ phấn khởi, mà Trần Gia Huy với Thảo Vy cũng không thể bới lông tìm vết để đình chỉ dự án của tụi mình được nữa.”

An Nhiên đứng lặng, đôi mắt nâu sâu thẳm nhìn xoáy thẳng vào đôi mắt đang dao động dữ dội của Khang.

Sự thông minh và nhạy cảm bẩm sinh dường như mách bảo cho cô gái biết rằng có điều gì đó không bình thường đằng sau vẻ vội vã và những lời giải thích dồn dập của cậu bạn cùng lớp. Cô nhìn thấy những giọt mồ hôi li ti đang rỉ ra trên trán Khang, nhìn thấy bờ môi cậu hơi run rẩy. Nhưng nhìn vẻ mặt mệt mỏi, căng thẳng tột độ hằn rõ trên quầng mắt của Khang sau một ngày dài oằn mình chống đỡ trước những áp lực nặng nề từ trường học, Nhiên khẽ thở dài một tiếng thật khẽ.

Cô từ từ hạ ngòi bút xuống, gập nhẹ cuốn sổ tay bìa da lại:

“Được rồi. Tớ tin cậu.”

Nhiên nói rất chậm, giọng cô trầm và rõ từng thanh âm:

“Nhưng Khang này, trung thực về số liệu và tài chính là nguyên tắc sống còn đầu tiên của tổ mình. Dù thiếu năm mươi ngàn hay năm trăm ngàn, nếu gặp khó khăn thực sự, cậu phải nói ngay để cả nhóm cùng chung tay gánh vác. Tuyệt đối không được vì sĩ diện mà tự ý ôm đồm rồi làm liều một mình, nghe chưa?”

“Tớ biết mà! Cậu cứ tin ở tớ, tớ biết mình đang làm gì,” Khang cười xòa, buông một câu chắc nịch, nhưng nụ cười của cậu méo mó và trơ trọi, không chạm tới nổi đáy mắt.

Chú Phúc đứng sau quầy, lặng lẽ xé một góc giấy nháp có ghi chi tiết các khoản chi phí thực tế chín trăm ngàn đồng đưa sang cho Khang. Người thợ in già không nói thêm một lời nào. Chú chỉ khẽ thở dài một hơi kín đáo khi nhìn thấy điệu bộ lấm lét, giấu giếm của cậu học trò lớp mười. Chú đã sống hơn nửa đời người nơi góc phố này, đã chứng kiến quá nhiều sự bồng bột, nông nổi và cái giá đắt đỏ mà lòng kiêu hãnh mù quáng của tuổi trẻ phải trả giá trước những quy luật nghiệt ngã của cuộc đời cơm áo gạo tiền.

Cách đó vài bước chân, Lâm không nói một câu nào nữa. Cậu quay lưng lại, bước sâu vào góc tối ẩm thấp bên cạnh giàn máy in. Lâm cúi người nhặt chiếc cờ-lê số mười hai dưới sàn lên, bắt đầu tỉ mẩn siết lại từng con ốc định vị trên trục truyền động. Tiếng kim loại va chạm leng keng khô khốc vang lên đều đặn trong góc phòng mờ tối, như một chuỗi âm thanh đếm ngược lạnh lùng và buốt giá.

“Thôi, muộn rồi, tớ ra mở khóa xe trước đây. Cậu thanh toán tiền photo bài tập cũ rồi ra nhé,” Nhiên khẽ nói với Khang rồi quay người, đẩy cánh cửa nhôm kính bước ra ngoài hè phố đang dần chìm vào bóng tối chập choạng của buổi hoàng hôn.

Khoảnh khắc bóng lưng của Nhiên vừa khuất sau tấm kính ngăn bụi mờ ảo, nụ cười giả tạo trên gương mặt Khang lập tức sụp đổ hoàn toàn. Cậu run rẩy cầm lấy mảnh giấy báo giá chi tiết mà chú Phúc vừa đưa.

Từng con số: *Sắt phế liệu + phụ kiện: 180.000đ; In ấn tối thiểu: 720.000đ; Tổng cộng: 900.000đ* hiện lên rõ mồn một dưới ánh đèn neon nhấp nháy, tựa như một bản án kết tội đang chực chờ bóp nghẹt tương lai của cậu.

Khang không kẹp mảnh giấy ấy vào tập hồ sơ dự án bìa xanh của nhóm đang để trên bàn. Cậu cũng không cất nó vào ngăn ngoài của chiếc cặp sách.

Bằng một chuỗi động tác nhanh như chớp, lấm lét và đầy vẻ vụng trộm, Khang gấp đôi mảnh giấy lại làm tư, rồi làm tám, miết chặt các mép giấy cho thật nhỏ. Cậu kéo khóa ngăn chính chiếc cặp học sinh của mình ra, thò tay luồn sâu xuống tận đáy cùng của chiếc cặp, nhét mảnh giấy báo giá gốc ấy xuống bên dưới hai cuốn sách giáo khoa Hình học nâng cao và Ngữ văn tập một dày cộp.

Khang kéo mạnh khóa cặp lại một tiếng “xoẹt” dứt khoát, cố gắng chôn vùi sự thật trần trụi về món nợ ngân sách đang chực chờ bùng nổ, giả vờ như nó chưa từng tồn tại trên cõi đời này.

Khang cất tờ hóa đơn tính giá gốc của chú Phúc vào đáy cặp thay vì đính kèm vào tập hồ sơ gửi cho nhóm.

Chương này thế nào?Đánh giá giúp Readeep đề xuất đúng hơn cho bạn