Hồ Sơ Thám Tử Lâm PhongC.13 / 24
Chương 13

Hòm Thư Cũ Nhà A4

Mùi ẩm mốc của những mảng tường vôi bong tróc hòa cùng tiếng quạt trần kẽo kẹt ở chiếu nghỉ tầng hai Chung cư Hòa Bình, nơi xấp giấy gấp tư nằm vương vãi trên nền gạch hoa cũ. Ký ức ngột ngạt ấy dường như vẫn còn bám riết lấy từng nếp áo sơ mi màu măng sét đã ngả màu của người đàn bà đang ngồi đối diện với Lâm Phong trên căn gác hai tiệm sách Mực Nâu.

Gió cuối thu từ tán cây xà cừ cổ thụ góc phố Đinh Lễ tạt qua ô cửa kính mở hé, kéo theo tiếng chuông gió bằng đồng khẽ va vào nhau lanh canh, gieo vào không gian tĩnh mịch những vệt âm thanh mỏng manh như sương sớm. Căn gác sách Mực Nâu vào giờ này vắng lặng lạ thường. Mùi giấy mục ngai ngái bốc lên từ những kệ sách lưu trữ văn bản luật pháp cũ, quyện cùng mùi gỗ thông khô và hương trầm thơm nhàn nhạt tỏa ra từ góc án thư. Phong ngồi im lặng sau bàn gỗ gụ nâu thẫm, tay cầm chiếc chén đất nung nhỏ men da lươn ram ráp, khẽ nhấp một ngụm trà mạn Thái Nguyên đậm vị đắng đót rồi mới lan tỏa hậu ngọt sâu lắng nơi cuống họng. Đôi mắt anh nửa khép nửa mở, như đang đăm chiêu nhìn vào một điểm vô định nào đó nằm giữa hiện thực và những giả thiết mông lung.

Bên cạnh anh, trên chiếc kỷ con bằng gỗ trắc, bàn cờ tướng vẫn bày dở một thế cờ tàn từ ba năm trước: quân tướng đỏ bị vây hãm ngặt nghèo bởi hai quân tốt đen đã áp sát cửu cung, nhưng nước cờ thoát hiểm duy nhất lại nằm ở hướng thoái mã — một nước lùi kín đáo, ngược hướng suy nghĩ thông thường của phần lớn những tay cờ chuộng sự công phạt trực diện. Phong chưa từng dọn bàn cờ ấy. Nó nằm đó như một lời nhắc nhở lạnh lùng về những cạm bẫy của trực giác, nơi mắt người thường chỉ thấy sự hiểm nguy bày ra trước mắt mà bỏ quên những chuyển động ngầm đang lùi lũi chuyển dịch ở phía sau lưng.

Trần Minh Ngọc vừa đặt ấm nước sôi xuống khay trà bằng đồng, vừa kín đáo quan sát vị khách mới đến. Đó là một người phụ nữ ngoài sáu mươi tuổi, dáng người gầy guộc, hai bả vai nhô cao dưới lớp áo sơ mi bạc phếch nhưng sống lưng vẫn giữ thẳng tắp theo thói quen cố hữu của một cán bộ hành chính lâu năm. Mái tóc bà điểm bạc quá nửa, búi chặt sau gáy bằng một chiếc kẹp lưới đen đã sờn chỉ, để lộ vầng trán hằn sâu những nếp nhăn âu lo. Đôi mắt sau cặp kính lão dày cộm ánh lên vẻ hoang mang, tủi nhục xen lẫn một sự bướng bỉnh đầy gai góc — thứ lòng kiêu hãnh xơ xác của một con người từng quen sống bằng những quy tắc văn bản chỉnh chu, nay bỗng thấy trật tự đời mình bị xô đổ tan tành.

“Thưa anh Phong, cô Ngọc,” người phụ nữ mở lời, giọng khàn đặc nhưng rành rọt từng âm tiết, mang âm vang chuẩn xác của người từng ngồi bộ phận tiếp dân suốt nhiều thập kỷ, “tôi là Phạm Hạnh, nguyên chuyên viên văn phòng Sở Công Thương đã nghỉ hưu tám năm nay. Hiện tôi sống một mình cùng đứa con trai tàn tật tại căn hộ 204, nhà A4, Khu chung cư tập thể Hòa Bình. Tôi tìm đến đây… là vì cả cái khu tập thể ấy đang muốn bức tử mẹ con tôi.”

Ngọc kéo ghế ngồi xuống cạnh Phong, mở cuốn sổ tay bìa da và chiếc bút bi mực xanh, giọng nhẹ nhàng pha lẫn sự xoa dịu cần thiết:

“Bác cứ bình tĩnh kể rõ đầu đuôi ạ. Ai đang bức tử bác? Vì lý do gì?”

Bà Hạnh run run siết chặt chiếc quai túi vải dù đã sờn mép đặt trên đùi. Hơi thở bà dồn dập, lồng ngực gầy guộc phập phồng sau nếp áo:

“Họ bảo tôi là đồ điên rải thư quấy rối. Cả tổ dân phố tẩy chay mẹ con tôi suốt hai tuần qua. Sáng sớm mở cửa ra thì thấy trước bậc thềm toàn rác rưởi, vỏ tôm thối, có hôm còn có cả dầu luyn đen ngòm bôi lem nhem lên biển số nhà. Đi chợ đầu ngõ thì hàng cá, hàng rau xua đuổi không thèm bán, họ bảo tiền của kẻ ác không ai dám cầm. Họ dán giấy khắp chân cầu thang, quy chụp tôi là mụ già độc ác, ghen ăn tức ở, đêm hôm đi rải thư dọa giết người già con trẻ trong khu!”

Bà Hạnh nghẹn lời, những ngón tay khẳng khiu như cành củi khô bấu chặt vào mép bàn, làm rung rinh khay trà sứ. Nỗi nhục nhã của một người cả đời tôn sùng lề lối, giấy tờ, bỗng chốc bị biến thành một thứ ung nhọt trong mắt cộng đồng nơi mình gắn bó gần nửa đời người, dường như đang đè nặng lên từng hơi thở của bà.

Phong đặt chiếc chén đất nung xuống đĩa con, ánh mắt điềm tĩnh dõi theo từng cử động trên gương mặt khắc khổ của bà lão:

“Bác nói ‘rải thư’. Cụ thể là những lá thư gì, thưa bác?”

Bà Hạnh run rẩy kéo khóa chiếc túi vải dù cũ kỹ. Khóa kéo đã hỏng vài răng, phát ra tiếng rít ken két rợn người. Từ trong ngăn chính, bà rút ra một tập hồ sơ bọc cẩn thận trong túi nilon trong suốt, đặt lên mặt bàn trà phẳng lặng như đặt xuống một bản cáo trạng sinh tử.

“Có hai loại thư, anh Phong ạ. Hai loại hoàn toàn khác nhau, nhưng bọn họ cố tình gom chung lại để đổ hết lên đầu tôi.”

Bà run rẩy tách tập giấy thành hai phần rõ rệt. Phong khẽ liếc mắt ra hiệu cho Ngọc. Cô sinh viên báo chí nhanh nhẹn lấy đôi găng tay cao su y tế mỏng từ trong túi xách, cẩn thận xỏ vào rồi trải phẳng hai xấp giấy ra mặt bàn gỗ gụ dưới ánh đèn vàng ấm áp của căn gác.

Xấp thứ nhất gồm bốn tờ giấy A4 được đánh máy ngay ngắn bằng phông chữ Times New Roman cỡ 13, căn lề chuẩn xác theo đúng quy chuẩn văn bản hành chính nhà nước, dập ghim cẩn thận ở góc trên bên trái. Phong lướt mắt qua các dòng tiêu đề in hoa đậm nét: *“ĐƠN KIẾN NGHỊ VỀ VIỆC SAI PHẠM TRONG NGHIỆM THU CẢI TẠO HÀNH LANG VÀ LAN CAN THOÁT HIỂM NHÀ A4”*.

Lời lẽ trong văn bản đanh thép, khúc chiết, trích dẫn chi tiết từng điều khoản trong quy chuẩn xây dựng đô thị, chỉ rõ ban quản trị và ban đại diện dân phố đã tự ý bớt xén vật tư sắt mạ kẽm chịu lực, thay thế lớp sơn chống gỉ cao cấp bằng loại sơn pha tạp chất rẻ tiền khiến các mối hàn lan can hành lang mới thi công được ba tháng đã bắt đầu nứt rạn và rỉ sét từ bên trong. Từng phép tính chênh lệch đơn giá vật tư được liệt kê chi li đến từng nghìn đồng, phản ánh sự mẫn cán gần như bảo thủ của một người chuyên viên lưu trữ lâu năm. Đáng chú ý, cuối mỗi lá đơn này đều có chữ ký tay nắn nót, dứt khoát ghi rõ: *Người làm đơn: Phạm Hạnh — Phòng 204*.

“Những lá đơn kiến nghị này là do chính tay tôi viết và gửi,” bà Hạnh thẳng thắn thừa nhận, cằm khẽ ngẩng lên đầy kiêu hãnh dù khóe mắt vẫn còn ngân ngấn nước. “Họ thu của mỗi hộ dân tám triệu đồng tiền đóng góp cải tạo dãy hành lang chung và hệ thống lan can chống ngã. Nhưng họ làm ăn dối trá, bớt xén vật tư, sắt hộp mỏng tang như vỏ bao diêm. Tôi là cựu cán bộ văn phòng, tôi đọc bản dự toán là thấy ngay sự chênh lệch hàng chục triệu đồng bỏ túi riêng. Tôi gửi đơn lên ban quản trị, gửi cho tổ trưởng Đoàn Tùng, nhưng họ lờ đi. Tôi buộc phải in ra, bỏ vào hòm thư từng nhà để bà con mở mắt ra mà đòi quyền lợi.”

“Vậy còn xấp thứ hai?” Phong khẽ hỏi, ánh mắt anh đã dừng lại ở tập giấy đặt ngay bên cạnh.

Đó là sáu tờ giấy gấp tư, nhàu nhĩ và vấy bẩn những vệt bụi xám xịt của chân cầu thang ẩm ướt. Khác hẳn với văn phong hành chính chỉn chu và bố cục trang nghiêm của xấp đơn đầu tiên, xấp thứ hai hoàn toàn là chữ viết tay. Những nét chữ nguệch ngoạc bằng bút bi mực tím, nét đậm nét nhạt run rẩy như cố tình bóp méo tự dạng, từng nét chữ nghiêng ngả như những nhát dao khía vào trang giấy trắng, sặc mùi đe dọa man rợ:

*“Lũ súc sinh chúng mày mở to mắt ra mà nhìn. Ăn trên mồ hôi nước mắt người khác thì con cháu chúng mày sẽ gãy chân gãy cổ, rơi từ trên gác xuống đất mà nát thây. Đứa già sẽ chết nghẹn, đứa trẻ sẽ lộn đầu qua lan can. Máu sẽ đổ ở chân cầu thang nhà A4!”*

Và ở góc dưới cùng bên phải của mỗi lá thư viết tay độc địa ấy, thay cho chữ ký, là một hình tròn màu đen được tô đậm bằng mực bút dạ, ở giữa có nét chữ Hán giản thể vụng về nhưng rất rõ ràng: **砲** — quân Pháo trong cờ tướng.

Ngọc nhìn thấy ký hiệu ấy thì sống lưng khẽ lạnh toát. Cô ngước mắt nhìn Phong, đôi môi khẽ mấp máy nhưng không thốt nên lời.

Quân Pháo đen.

Ký hiệu cờ tướng màu đen này lập tức gợi nhắc lại chuỗi vụ án mạng và lừa đảo xuyên suốt mà họ từng đối mặt: quân Xe đen giả mạo ở xưởng tranh Đông Hồ, dấu ấn quân Tướng đen trên bản hợp đồng ngầm của tiệm vàng Kim Phúc và ổ lừa đảo SoulMate, rồi đến phong bì niêm phong sáp đen trong vụ bắt cóc cô dâu Vũ Thu Hà... Những vụ án tưởng chừng rời rạc nhưng đều mang chung một bóng ma thao túng vô hình, nơi kẻ chủ mưu dường như coi mỗi sinh mạng, mỗi bi kịch con người chỉ là một nước đi trên một bàn cờ khổng lồ.

Phong vẫn giữ nguyên vẻ mặt trầm tĩnh, nhưng đáy mắt anh khẽ nheo lại. Anh hiểu rõ quy tắc điều tra của mình: tuyệt đối không được phép để một biểu tượng ngoại vi dẫn dắt định kiến trước khi các bằng chứng vật lý độc lập lên tiếng. Biểu tượng có thể là một dấu vết thật sự, nhưng cũng hoàn toàn có thể là một trò ngụy tạo vụng về nhằm tung hỏa mù hoặc ăn theo sự hoang mang của dư luận.

“Lá thư đe dọa đầu tiên xuất hiện khi nào, thưa bác?” Phong hỏi, giọng trầm ấm giúp bà Hạnh lấy lại bình tĩnh giữa cơn kích động.

“Cách đây đúng mười ngày,” bà Hạnh nấc nghẹn, chiếc khăn mùi soa cũ kẹp chặt trong lòng bàn tay ướt đẫm mồ hôi. “Ngay sau khi tôi rải xong đợt đơn kiến nghị thứ hai vào hòm thư các nhà. Sáng hôm sau, cả khu tập thể náo loạn. Nhà chị Lan tầng ba có con nhỏ năm tuổi nhận được lá thư này ngay trước cửa; nhà ông Thành cựu chiến binh tầng một thì thấy thư nhét qua khe cửa sổ. Lời lẽ nguyền rủa bọn trẻ con ngã lan can... cả khu nhà này ai cũng biết mười năm trước, thằng Nam con tôi vì lan can gãy mà ngã từ tầng hai xuống sân ximăng, gãy dập đốt sống lưng và liệt nửa người đến tận bây giờ! Thế là ông Đoàn Tùng, tổ trưởng dân phố, lập tức triệu tập cuộc họp khẩn, công khai chỉ thẳng mặt tôi trước toàn thể cư dân. Ông ta bảo chỉ có kẻ mang lòng thù hận, cay cú vì con mình tàn tật như tôi mới nặn ra những lời độc địa nguyền rủa con cái nhà người khác như thế. Họ bảo tôi dùng đơn tố giác làm bình phong để rải thư đe dọa khủng bố tinh thần mọi người!”

Trong lúc bà Hạnh xúc động giãi bày, bàn tay bà vô tình siết lấy chiếc túi vải dù, làm xô lệch lớp vải lót đã rách mép. Phong tinh ý nhận ra bên dưới đáy túi lấp ló mép của một tờ giấy màu vàng ố đã giòn vụn thời gian. Đó là một biên bản họp dân cư đã cũ từ nhiều năm trước, góc trên bên phải bị xé rách một mảng nham nhở làm mất đi phần chữ ký người lập. Phong không vội truy vấn về mẩu giấy ấy, anh chỉ lặng lẽ ghi nhận nó vào tâm trí rồi đứng dậy, với lấy chiếc áo khoác gió màu xám treo sau cánh cửa.

“Ngọc, chuẩn bị đồ nghề hiện trường. Chúng ta tới Chung cư Hòa Bình.”

***

Khu chung cư Hòa Bình nằm nép mình sau những con ngõ ngoằn ngoèo rợp bóng cây bàng và dây điện chằng chịt gần khu vực Kim Liên. Đó là một tổ hợp nhà tập thể năm tầng xây dựng từ cuối thập niên 80, điển hình cho một thời kỳ kiến trúc bao cấp của Hà Nội: những bức tường quét vôi vàng đã bong tróc từng mảng lớn để lộ lớp gạch đỏ rêu phong, những đường ống nước chắp vá chằng chịt như mạng nhện bám ngoài mặt tiền, và vô số những chiếc “chuồng cọp” lồng sắt được các hộ dân tự ý cơi nới vươn ra không trung như những chiếc bẫy gỉ sét.

Không gian nơi đây đặc quánh mùi sinh hoạt bình dân đặc trưng: mùi cá kho tương thoang thoảng bốc lên từ một ô cửa sổ tầng trệt, mùi nước cống ngai ngái từ rãnh thoát nước hở chạy dọc lối đi chung, tiếng rao bánh khúc ngắt quãng ngoài đầu ngõ hòa lẫn tiếng lách cách của những chiếc lồng chim chào mào treo lơ lửng ngoài ban công. Người già ngồi uống trà chén rong ở quán nước đầu hồi, ánh mắt lờ đờ nhìn theo từng người lạ bước vào ngõ, trong khi vài đứa trẻ lấm lem bùn đất đang đuổi bắt nhau trên khoảng sân ximăng nứt nẻ.

Dãy nhà A4 hiện ra với cầu thang bộ ẩm thấp, bậc ximăng đã mòn vẹt ở mép giữa sau hàng chục năm người dân qua lại. Không khí trong lòng khối nhà ngột ngạt và thiếu sáng, mùi vôi ẩm và bụi than tổ ong từ nhiều năm trước dường như vẫn còn tích tụ lại trong từng góc tối. Ngay tại sảnh chiếu nghỉ tầng một, gắn chặt vào mảng tường vôi loang lổ cạnh lối vào phòng sinh hoạt cộng đồng, là một cụm gồm hai mươi hòm thư bằng sắt tây sơn màu xanh bộ đội.

Thời gian và hơi ẩm đã biến cụm hòm thư này thành một khối kim loại rỉ sét loang lổ. Hơn một nửa số hòm thư đã bung chốt khóa, cửa sắt xộc xệch há hốc như những chiếc miệng đói. Trên nóc hòm thư bám một lớp bụi xám dày, vài tờ rơi quảng cáo khoan cắt bê tông và sửa chữa bình nóng lạnh nằm vứt vương vãi, ố vàng vì nước mưa tạt qua ô thông gió.

“Toàn bộ thư đều được bỏ vào các hòm sắt này hoặc nhét qua khe cửa sắt của từng hộ,” Phong vừa nói vừa đeo găng tay cao su, rút chiếc kính lúp bỏ túi và đèn pin chuyên dụng có ánh sáng trắng 5000K ra khỏi túi áo.

Ngọc lấy chiếc máy ảnh kỹ thuật số nhỏ, chụp lại toàn cảnh cụm hòm thư từ các góc độ khác nhau. Ánh đèn flash lóe lên rọi sáng những mảng rỉ sét màu nâu sẫm và những vết cào xước nham nhở trên bề mặt kim loại. Cô bước lại gần cánh cửa gỗ quét sơn xanh của phòng sinh hoạt cộng đồng nằm cách dãy hòm thư chưa đầy ba bước chân. Cánh cửa khép hờ, không khóa, khe cửa hé ra một khoảng tối tĩnh mịch bên trong.

“Anh Phong, nhìn này,” Ngọc khẽ gọi, chỉ tay qua khe cửa vào chiếc bàn họp bằng gỗ ép bên trong. “Trên bàn có mấy ram giấy in A4 đang bóc dở, bụi bám một lớp mỏng bên ngoài. Bất cứ ai đi qua sảnh này cũng có thể đẩy cửa bước vào lấy giấy mà không ai hay biết.”

Phong gật đầu, anh không bước vào phòng mà ngồi xổm xuống trước cụm hòm thư sắt, cẩn thận đặt hai lá thư đại diện cho hai nhóm mà bà Hạnh cung cấp lên một tấm bìa cứng sạch mang theo.

“Quan sát kỹ đi, Ngọc. Em nhận thấy điều gì đầu tiên về mặt vật lý?”

Ngọc cúi thấp người, đôi mắt sáng chăm chú so sánh hai tờ giấy dưới ánh đèn pin của Phong:

“Cả hai nhóm thư đều sử dụng cùng một loại giấy photocopy Bãi Bằng định lượng 70gsm, phôi giấy hơi ngả vàng và mép giấy có những gờ xơ nhỏ li ti đặc trưng của loại giấy cắt xén công nghiệp giá rẻ. Thậm chí trên mặt giấy của cả bản kiến nghị đánh máy lẫn thư đe dọa viết tay đều xuất hiện hai vệt sọc mờ chạy dọc song song cách mép trái đúng ba phân — đó là vệt bẩn quang học do trống từ của chiếc máy in laser cũ trong phòng sinh hoạt kia để lại khi người ta in thử văn bản. Kẻ viết thư đe dọa rõ ràng đã lấy trộm giấy trắng từ chính căn phòng này để hành động.”

“Rất tốt. Nhưng điểm cốt lõi không nằm ở phôi giấy, mà nằm ở hành vi xử lý tờ giấy,” Phong dùng đầu nhíp thép nhẹ nhàng nâng nếp gấp của hai bức thư lên trước ánh sáng đèn pin xiên góc. “Hãy nhìn nếp gấp.”

Ngọc nín thở quan sát theo hướng chỉ của nhíp.

Lá đơn kiến nghị của bà Hạnh được gấp làm ba theo chiều ngang một cách hoàn hảo. Mép giấy phẳng lì, các góc cạnh trùng khít nhau tới từng nửa milimét. Đường miết nếp gấp sắc gọn, dứt khoát, chứng tỏ người gấp đã dùng một vật cứng phẳng — có thể là chiếc thước kẻ nhựa hoặc dùng móng tay miết chặt dọc theo nếp gấp trên mặt bàn phẳng. Đây là thói quen thâm căn cố đế của một người làm công tác văn thư lưu trữ suốt mấy chục năm, nơi sự cẩn trọng và chuẩn mực hình thức đã trở thành bản xạ vô thức.

Ngược lại, lá thư viết tay đe dọa lại có nếp gấp hoàn toàn đối nghịch. Nó được gấp chéo một cách cẩu thả, vội vã. Mép giấy bên trên và bên dưới lệch nhau tới bốn milimét, tạo thành một hình bình hành méo mó. Đặc biệt, đường nếp gấp không hề được miết phẳng mà phồng rộp lên, thớ giấy bị gãy vụn nham nhở, để lại những nếp nhăn nhúm hình mạng nhện xung quanh — dấu hiệu điển hình của việc người gấp đã gập vội tờ giấy trên một bề mặt gồ ghề, hoặc gập bằng một tay trong bóng tối mà không hề có điểm tựa vững chắc.

“Hai thói quen vận động cơ học hoàn toàn trái ngược,” Phong lẩm bẩm, ánh mắt lóe lên tia nhìn sắc bén. “Một người cẩn trọng đến mức bảo thủ, một kẻ vụng về, nôn nóng hoặc đang chịu áp lực thời gian cực lớn.”

“Nhưng anh Phong, chỉ dựa vào nếp gấp thì chưa đủ để thuyết phục người khác rằng bà Hạnh vô tội,” Ngọc lo lắng nói khẽ. “Người ta hoàn toàn có thể lập luận rằng bà Hạnh cố tình gấp cẩu thả để đánh lạc hướng điều tra.”

“Đúng vậy. Nếu kẻ ngụy tạo đủ khôn ngoan, hắn có thể thay đổi cách gập giấy. Nhưng có một thứ mà bản năng vô thức và điều kiện vật chất không thể dễ dàng ngụy tạo được,” Phong khẽ nhếch môi, “đó là chất kết dính.”

Phong dùng nhíp lật ngược hai chiếc phong bì đựng thư mà bà Hạnh mang theo. Cả hai đều dùng loại phong bì bưu điện sọc xanh đỏ truyền thống khổ 11x18cm bán đầy ở các quầy bưu cục. Nhưng khi Phong xoay nghiêng mép dán nắp phong bì dưới góc chiếu 45 độ của đèn pin, một sự thật kinh ngạc lập tức hiện rõ mồn một.

Ở chiếc phong bì chứa bản kiến nghị của bà Hạnh, mép nắp phong bì bị gợn sóng nhẹ, thớ giấy hơi co rúm lại. Dưới kính lúp, lớp keo dán là một vệt nước màu vàng nhạt khô cứng, loang lổ không đều, vài chỗ keo thừa lem ra ngoài mép giấy tạo thành màng vảy giòn.

“Đây là hồ tinh bột pha nước truyền thống,” Phong phân tích, giọng chắc nịch. “Loại hồ nước đựng trong lọ nhựa nhỏ giá vài nghìn đồng mà các văn phòng cơ quan cũ hay dùng. Khi gặp nước, sợi xenlulozo trong giấy hút ẩm không đều dẫn đến hiện tượng co rút bề mặt, tạo ra các gợn sóng khi khô.”

Sau đó, Phong chuyển đầu nhíp sang mép dán của chiếc phong bì chứa lá thư đe dọa có hình quân Pháo đen.

Mặt giấy ở nắp phong bì này hoàn toàn phẳng lì, không hề có một gợn sóng hay nếp quăn nào dù là nhỏ nhất. Dưới độ phóng đại mười lần của kính lúp, không hề thấy vệt hồ nước lem luốc. Thay vào đó, nằm ngay ngắn dọc theo mép nắp phong bì là một dải keo dính cấu tạo từ hàng nghìn chấm tròn polymer siêu nhỏ màu xanh ngọc bích, sắp xếp thẳng tắp theo dạng tổ ong cực kỳ tinh xảo.

Ngọc mở to mắt nhìn qua thị kính của kính lúp, buột miệng kêu lên:

“Keo dán dạng băng lăn! Loại Dotliner Tape Roller của Nhật!”

“Chính xác,” ánh mắt Phong sáng rực lên dưới ánh đèn pin. “Loại băng keo dán khô dính tức thì, phân phối keo bằng đầu lăn vi điểm. Nó không chứa nước nên không bao giờ làm nhăn giấy, dán cực nhanh, cực dính và không để lại mùi. Giá của một cây lăn keo này trên thị trường đồ dùng văn phòng cao cấp nhập khẩu không dưới sáu mươi nghìn đồng một chiếc. Ở một khu tập thể cũ kỹ với đại đa số là cán bộ hưu trí dùng hồ nước và người lao động bình dân như Chung cư Hòa Bình, có bao nhiêu người sẵn sàng bỏ tiền ra mua một cây lăn keo nhập ngoại chuyên dùng cho dân thiết kế mỹ thuật hoặc thủ công sổ tay lưu niệm này?”

“Chắc chắn không phải là bà Hạnh!” Ngọc reo lên khe khẽ, ngón tay run lên vì phấn khích. “Bà Hạnh sống bằng lương hưu eo hẹp nuôi con tàn tật, đến chiếc quai túi vải rách còn phải dùng chỉ dù tự khâu lại, làm sao bà ấy có loại keo đắt đỏ và xa xỉ này được!”

“Này! Mấy người kia là ai? Đang làm cái trò mờ ám gì ở chân cầu thang nhà người ta đấy hả?!”

Một tiếng quát tháo the thé, mang nặng âm hưởng quyền uy của kẻ quen chỉ tay năm ngón bất ngờ vang lên từ đầu cầu thang tầng một, cắt ngang cuộc trao đổi giữa hai người.

Tiếng gậy gỗ nện cộc cộc xuống nền ximăng khô khốc mỗi lúc một gần. Từ bóng tối ẩm thấp của hành lang bước ra một người đàn ông trạc sáu mươi lăm tuổi, vóc người phốp pháp, mặc chiếc áo gi-lê len màu xanh rêu bên ngoài áo sơ mi kẻ ca-rô. Khuôn mặt ông ta vuông vức, đôi lông mày rậm xếch ngược lên đầy vẻ cảnh giác, hàm răng cắn chặt để lộ vẻ hung hăng khó gần.

Phong đứng thẳng dậy, cất kính lúp vào túi áo, điềm tĩnh quan sát từng chuyển động của người đàn ông. Anh chú ý ngay đến dáng đi của đối phương: dù người này cố dồn trọng lượng cơ thể sang bên phải và tì mạnh tay lên cây gậy gỗ nghiến bịt đồng, nhưng chân trái của ông ta vẫn có một độ khựng kín đáo ở mỗi nhịp bước, phần cổ chân cử động thiếu linh hoạt như thể từng gặp phải một chấn thương nghiêm trọng ở khớp xương mà chưa bao giờ bình phục hoàn toàn.

“Chào bác,” Phong khẽ gật đầu, giọng điệu nhã nhặn nhưng giữ vững khoảng cách. “Tôi là Lâm Phong, thám tử tư. Chúng tôi nhận lời ủy thác của bà Phạm Hạnh để xác minh nguồn gốc những lá thư nặc danh xuất hiện tại khu nhà A4 này.”

“Thám tử tư cái nỗi gì!” Người đàn ông bước hẳn tới trước cụm hòm thư, cây gậy gỗ gõ mạnh xuống nền gạch hoa vỡ mép kêu *chát* một tiếng. “Tôi là Đoàn Tùng, tổ trưởng dân phố cụm Hòa Bình này đây! Ai cho phép các anh tự tiện lục lọi, săm soi tài sản chung của khu dân cư? Các anh có giấy giới thiệu của công an phường không? Có thông qua ban quản trị không?”

Ngọc lập tức bước lên một bước, giọng dõng dạc phản bác:

“Thưa bác Đoàn Tùng, cụm hòm thư này nằm ở không gian sinh hoạt chung, không hề có biển cấm hay khóa bảo vệ. Chúng tôi không lục lọi thư riêng của bất kỳ ai mà chỉ đang quan sát vị trí và dấu vết vật lý bên ngoài theo yêu cầu của một cư dân hợp pháp sống tại đây là bà Hạnh. Việc tìm ra sự thật để trả lại danh dự cho một người bị vu khống thì cần gì phải giấu giếm?”

Đoàn Tùng nghe đến tên bà Hạnh thì mặt đỏ bừng lên vì tức giận. Chiếc gậy trong tay ông ta run rẩy chỉ thẳng lên phía cầu thang dẫn lên tầng hai:

“Danh dự à? Bà Hạnh mà cũng có danh dự để đòi lại à? Cô cậu còn trẻ người non dạ, bị cái mụ già độc đoán, cay độc ấy lừa phỉnh rồi! Cả cái khu A4 này từ già đến trẻ có ai là không biết tính nết mụ Hạnh? Mười năm trước, thằng con trai mụ vì nghịch ngợm trèo qua lan can hành lang tầng hai rồi ngã lộn cổ xuống sân ximăng, gãy xương sống biến thành người tàn phế. Đáng lẽ phải tự trách mình không biết trông con, thì mụ lại quay sang căm thù, oán hận cả khu tập thể này! Mụ rủa xả từ ban quản trị đến từng hộ dân, bảo tại cái lan can mục nát làm hại con mụ!”

Giọng ông Tùng càng lúc càng to, vang dội khắp khoảng giếng trời hun hút của khu nhà, khiến vài cánh cửa gỗ ở các tầng trên bắt đầu hé mở, những ánh mắt tò mò, e ngại lén lút nhìn xuống.

“Suốt mười năm nay, mụ sống lầm lũi như một cái bóng ma, nhìn thấy ai cười nói ở hành lang là mụ lườm nguýt, thấy con nít đá bóng ở sân là mụ xách chổi ra đuổi! Giờ đây khu nhà chuẩn bị bầu lại ban quản trị, triển khai dự án sửa chữa lớn, mụ lại giở cái trò đê hèn ấy ra. Mụ đánh máy mấy cái đơn kiến nghị vớ vẩn để che mắt thiên hạ, rồi đêm hôm lén lút rải thư đe dọa con cháu người ta ngã lộn cổ! Cái giọng điệu rủa xả đứa trẻ rơi lan can ấy ngoài mụ Hạnh ra thì còn ai vào đây nữa? Đó là tâm lý bệnh hoạn của kẻ muốn kéo cả thế giới xuống vũng bùn bất hạnh cùng với mình!”

Phong vẫn đứng yên, đôi mắt sâu thẳm bình thản tiếp nhận cơn thịnh nộ dữ dội của người tổ trưởng dân phố. Anh không hề ngắt lời Đoàn Tùng, nhưng ánh nhìn của anh chậm rãi trượt từ gương mặt bừng bừng tức tối của ông ta xuống bàn tay đang nắm chặt cán gậy gỗ, rồi dừng lại ở chiếc túi ngực áo sơ mi kẻ ca-rô.

Ở mép chiếc túi áo ấy, lấp ló một chiếc kẹp cài bằng thép sáng bóng của một cây bút dạ kim loại cao cấp — một vật dụng có vẻ quá đỗi sang trọng so với bộ trang phục giản dị của một tổ trưởng hưu trí. Nhưng điều thu hút sự chú ý của Phong hơn cả chính là phản ứng cơ thể của Đoàn Tùng: mỗi khi ông ta cao giọng nhắc đến cụm từ “lan can mục nát mười năm trước”, bàn chân trái của ông ta lại vô thức co rút nhẹ, gót giày hơi nhấc lên khỏi mặt đất như một phản xạ tự vệ trước cơn đau nhức nhối âm ỉ đã ăn sâu vào tủy xương.

“Bác Tùng này,” Phong cất tiếng, thanh âm trầm tĩnh đến lạ lùng, tạo nên sự tương phản hoàn toàn với tiếng gầm gừ kích động của người đối diện. “Theo như bác nói, kẻ rải thư đe dọa nhất định phải là người có mối thâm thù với lan can khu nhà, và phải căm ghét những đứa trẻ con thường xuyên chạy nhảy ở hành lang?”

“Chứ còn ai nữa! Rõ như ban ngày rồi!” Đoàn Tùng hất cằm, giọng đầy vẻ đắc thắng.

“Vậy nếu tôi nói với bác rằng,” Phong khẽ nghiêng đầu, khóe mắt ánh lên một tia nhìn sắc bén như dao cạo, “hai bức thư dùng chung một loại phong bì bưu điện bình dân, nhưng vết keo dán trên nếp gấp của những lá thư đe dọa mang hình quân Pháo đen lại là loại hồ dán dạng lăn cao cấp nhập ngoại — thứ mà trong cả khu tập thể cũ kỹ này, có lẽ chỉ có đúng một người duy nhất sở hữu và thường xuyên sử dụng?”

Gương mặt đỏ gay của Đoàn Tùng bỗng chốc cứng đờ lại. Đôi con ngươi của ông ta khẽ co rút trong một phần mười giây, cây gậy gỗ nghiến trên tay bất giác siết chặt đến mức các khớp ngón tay trắng bệch.

Khoảng không gian ẩm mốc dưới chân cầu thang nhà A4 Chung cư Hòa Bình bỗng chốc chìm vào một sự im lặng căng như dây đàn, chỉ còn lại tiếng nước nhỏ giọt đều đặn từ đường ống cũ rỉ sét rơi xuống nền ximăng, vang lên từng tiếng *tong... tong...* lạnh lẽo.

Chương này thế nào?Đánh giá giúp Readeep đề xuất đúng hơn cho bạn