Hồ Sơ Phố CổC.17 / 38
Chương 17

Người Thợ Khung Mất Tích

Tiếng khóc nấc của một phụ nữ trẻ bên bàn tiếp dân Đội Điều tra Kinh tế kéo Vi và Khang vào một vụ việc mới ngay trong buổi sáng đầu tuần nhiều gió.

Gió heo may đầu mùa cuộn mình qua những vòm xà cừ cổ thụ dọc theo trục phố Tràng Thi, bứt rứt giật từng chùm lá úa thẫm ném rào rào xuống mặt đường nhựa vừa khô sau cơn mưa đêm. Những luồng gió sắc và buốt luồn qua từng khe hở của khung cửa sổ gỗ sơn xanh đã ngả màu xám xịt của trụ sở công an, đập lách tách vào các phiến kính mờ đục vương bụi phố. Bên trong căn phòng tiếp dân rộng chừng hơn hai mươi mét vuông, không khí đặc quánh thứ mùi hỗn tạp quen thuộc của những cơ quan hành chính vào mùa chuyển lạnh: mùi giấy bãi bằng lưu trữ lâu năm trong các ngăn tủ sắt kẹp hồ sơ mục mép, mùi cồn sát khuẩn hăng hắc từ chai nước rửa tay khô đặt nơi góc cửa, và hơi trà mạn nguội ngắt bảng lảng bốc lên từ chiếc ấm sứ Hải Dương có chiếc vòi đã sứt men một mảng nhỏ.

Ngồi co ro ở chiếc ghế băng dài bọc da giả màu nâu sờn rách mép là một cô gái trẻ trạc ngoài hai mươi tuổi. Gương mặt cô xám ngoét, hai cánh mũi phập phồng theo từng cơn nấc nghẹn, và đôi bọng mắt thâm quầng sưng húp lên vì những đêm dài thức trắng. Cô gái ngồi nép sát vào lòng một phụ nữ luống tuổi quấn chiếc khăn nhung màu hạt dẻ đã sờn chỉ viền. Người mẹ có gương mặt gầy guộc hằn sâu những nếp nhăn lam lũ của đời lao động ngoại thành; đôi bàn tay bà thô ráp, những khớp ngón tay bè ra và nứt nẻ từng vệt sâu hoắm vì sương gió bãi sông, lúc này đang run rẩy không ngừng, bấu chặt lấy gấu chiếc áo khoác dạ cũ mèm của con gái như bấu víu vào một điểm tựa sinh tồn duy nhất còn sót lại giữa căn phòng thẩm vấn lạnh lẽo.

Trên mặt chiếc bàn gỗ dán melamine loang lổ vài vết mực tím học trò và những vệt ố tròn của đáy cốc chè, một lá đơn trình báo viết tay bằng mực bút bi xanh nằm trơ trọi. Tờ giấy kẻ ngang học sinh mỏng tang bị vò nhăn nhúm ở góc, loang lổ những vệt nước mắt rơi rớt đã khô cong làm cong cả thớ giấy. Dòng tiêu đề viết hoa nguệch ngoạc, run rẩy và lệch hẳn sang một bên đập thẳng vào mắt Vi ngay khi cô vừa theo bước chân Lục Khang bước qua bậu cửa: *“ĐƠN KÊU CỨU KHẨN CẤP VỀ VIỆC CON TRAI TÔI BỊ MẤT TÍCH VÀ CÓ NGUY CƠ BỊ THỦ TIÊU”*.

Lục Khang không vội ngồi xuống ngay. Anh cởi chiếc áo khoác gió đồng phục sẫm màu vắt lên thành ghế, kéo chiếc ghế đẩu gỗ lim nặng trịch lại gần bàn tiếp dân, rồi khẽ nghiêng đầu ra hiệu cho Vi ngồi xuống vị trí đối diện với hai mẹ con. Phong thái của Khang bao năm qua vẫn giữ trọn vẹn nét trầm tĩnh, mực thước của một cán bộ điều tra hình sự kinh tế từng kinh qua hàng trăm hồ sơ phức tạp: anh không ban phát những câu an ủi đãi bôi sáo rỗng, nhưng ánh nhìn sâu hoắm dưới hàng lông mày rậm luôn toát ra sự tập trung và một thái độ lắng nghe tuyệt đối, đủ để khiến những người dân đang hoang mang tột độ cảm thấy có một bờ thành pháp lý vững chãi che chắn phía trước.

Khang với tay lấy chiếc phích nước Rạng Đông đặt dưới gậm bàn, rót hai cốc nước ấm bốc khói mỏng manh, nhẹ nhàng đẩy sang phía người mẹ già và cô gái trẻ, cùng với một đĩa bánh quy bọc nilon đã mở góc:

— Bác và chị cứ bình tĩnh uống hớp nước ấm cho lại sức. Tôi là Lục Khang, cán bộ thụ lý xác minh ban đầu của Đội. Còn đây là chị Vi, chuyên viên lưu trữ nghiệp vụ đang phối hợp rà soát tư liệu hồ sơ cùng tổ chuyên án chúng tôi. Mọi thông tin, tài liệu mà gia đình cung cấp cho cơ quan điều tra trong buổi sáng hôm nay đều sẽ được lập biên bản tiếp nhận, ghi âm lưu trữ và bảo mật chặt chẽ theo đúng trình tự tố tụng. Bây giờ, đề nghị bác và chị hít thở sâu, nói rõ từng việc: người mất tích là ai, làm nghề gì, và thời điểm gia đình mất liên lạc hoàn toàn là từ lúc nào?

Người mẹ nghe nhắc đến hai chữ “mất tích” thì ngực nghẹn ứ lại, bà đưa bàn tay xương xẩu lên đấm thùm thụp vào lồng ngực mình, miệng há ra nhưng chỉ phát ra những âm thanh khò khè đứt quãng. Cô con gái thấy mẹ như vậy liền ôm choàng lấy vai bà, đưa tay vuốt lưng cho mẹ rồi lấy tay áo gạt vội giọt nước mắt mặn chát đọng bên khóe môi, cất giọng khản đặc như có dằm xước trong cổ họng:

— Báo cáo hai cán bộ... Em tên là Trần Thị Huệ, hai mươi hai tuổi, hiện làm công nhân may thời vụ ở mạn Gia Lâm. Còn đây là mẹ em, bà Nguyễn Thị Loan, năm mươi tám tuổi, làm nông dưới bãi sông. Người biến mất... người biến mất là anh trai ruột của em, anh Trần An Huy, năm nay tròn hai mươi tư tuổi. Anh Huy là thợ mộc, chuyên đóng khung tranh và xử lý phôi gỗ cổ cho Xưởng Phục chế Bách Mộc ở mạn ngõ Bát Đàn, phố cổ. Tính đến sáng nay... đến đúng sáu giờ sáng nay, là tròn ba ngày ba đêm gia đình em hoàn toàn mất sạch mọi tung tích của anh ấy. Điện thoại thì thuê bao không liên lạc được, tài khoản Zalo, Facebook đều biến mất hoặc không hoạt động, xưởng làm việc thì bảo anh ấy tự ý bỏ việc, còn phòng trọ của anh ấy dưới bãi sông thì cửa khóa trái phía ngoài im ỉm...

Khang mở cuốn sổ công tác bìa da đen, ngòi bút bi trong ngón tay trỏ của anh bắt đầu tì nhẹ lên trang giấy kẻ ngang, từng nét chữ rắn rỏi, dứt khoát hiện ra:

— Ba ngày đêm. Theo quy định tại Điều 376 Bộ luật Dân sự và các quy chế nghiệp vụ về công tác tiếp nhận tin báo tố giác tội phạm, việc một công dân đã đủ tuổi thành niên tạm thời gián đoạn liên lạc trong vòng bảy mươi hai giờ có thể xuất phát từ nhiều biến cố dân sự: mâu thuẫn gia đình, quan hệ tình cảm cá nhân, hoặc việc đi làm xa đột xuất. Tuy nhiên, trong lá đơn này, gia đình có nêu rõ cụm từ: *“nghi ngờ bị đầu nậu đồ cổ thủ tiêu vì nắm giữ bí mật làm giả hồ sơ gỗ”*. Đây là một cáo giác có tính chất đặc biệt nghiêm trọng, trực tiếp chỉ ra dấu hiệu của tội phạm xâm phạm tính mạng hoặc bắt giữ người trái pháp luật. Căn cứ cụ thể nào khiến bác và chị dám khẳng định sự việc của anh Huy có yếu tố đe dọa sinh mạng chứ không đơn thuần là một cuộc rời đi tự phát?

Vừa nghe Khang nhắc đến hai chữ “thủ tiêu”, bà Loan dường như không kìm nén nổi cơn kinh hãi tột cùng đang đè nặng trong tâm khảm. Người đàn bà nông thôn run rẩy chồm người về phía trước, hai bàn tay thô nhám níu chặt lấy cổ tay áo khoác của Khang, nước mắt nước mũi giàn giụa:

— Chú công an ơi, lạy chú, chú cứu con tôi với! Thằng Huy nhà tôi nó thật thà, nhút nhát từ trong trứng nước, từ bé đến lớn chỉ biết cắm mặt vào xó nhà đục đục đẽo đẽo mấy thanh gỗ mục, đến con gà nó còn không dám cắt tiết thì làm sao dám gây thù chuốc oán với ai! Nhưng độ nửa tháng nay, nó lạ lắm chú ơi... Đi làm về đến nhà bãi là mắt nó dáo dác nhìn quanh như có ma đuổi sau lưng. Cơm dọn ra mâm, nó bưng bát cơm mà tay run bần bật, hễ có tiếng xe máy rú ga hay tiếng chó sủa rộ ngoài đầu ngõ đê là nó giật nảy mình, vội vàng buông đũa chạy ra chốt chặt then cửa. Đêm hôm thứ Sáu vừa rồi, tầm mười một giờ đêm, nó tự nhiên mò về nhà bãi... Nó nhét vào tay tôi một bọc tiền ba mươi triệu đồng bọc trong túi bóng đen, bảo là tiền công nó dành dụm mấy tháng qua đưa mẹ giữ để chữa bệnh khớp. Rồi... rồi nó nắm chặt tay tôi, mắt đỏ hoe, dặn đi dặn lại là mấy ngày tới mẹ với em Huệ phải cài chặt then cửa, nếu có người lạ mặt nào đến hỏi hồ sơ gỗ hay hỏi xưởng Bách Mộc thì sống chết cũng phải bảo là không biết gì hết! Nó bảo nó lỡ tay đóng mấy cái đế khung gỗ hai đáy cho người ta giấu chứng chỉ giám định giả, giờ người ta đang lùng nó để bịt đầu mối! Trời đất ơi, nó bảo nó sợ nó không sống nổi qua cái mùa đông năm nay...

Vi chăm chú lắng nghe, ngòi bút trong tay cô cũng khẽ khựng lại trên trang sổ tay nghiệp vụ. Cụm từ “Xưởng Phục chế Bách Mộc” và “khung gỗ hai đáy giấu chứng chỉ giả” lập tức va đập mạnh vào chuỗi dữ liệu mà cô và Khang đang rà soát suốt tuần qua. Chỉ mới đêm hôm trước, khi tiến hành kiểm tra đột xuất căn gác lửng mục nát tại số 17 Hàng Gương theo nguồn tin trinh sát, tổ công tác Đội Điều tra Kinh tế đã phát hiện hai thùng carton chứa đầy hóa đơn vận chuyển khống của Công ty Vận tải Á Châu được giấu tinh vi phía sau một bức vách gỗ mít ghép mộng kép. Trong số các chứng từ thu hồi được, có một tập phiếu xuất kho mang số hiệu 142/XK, đóng dấu mộc vuông đỏ chót của cơ sở chế tác gỗ Bách Mộc do một người tên Lê Bách đứng tên. Nhóm đối tượng liên quan đến đường dây buôn lậu cổ vật và hợp thức hóa nguồn gốc lâm sản quý hiếm của Tạ Minh Thành và Bùi Quang Duy đang ráo riết dùng mọi thủ đoạn để bẻ gãy các mắt xích cung cấp lời khai. Liệu việc người thợ mộc trẻ An Huy biến mất có thực sự là một màn thanh trừng trong bóng tối để xóa sạch dấu vết chứng cứ?

Vi khẽ nghiêng người về phía cô em gái, ánh mắt ấm áp nhằm xoa dịu luồng dưỡng khí căng thẳng đang bóp nghẹt lồng ngực cô gái trẻ:

— Huệ này, em cứ bình tĩnh nhớ lại thật kỹ xem. Trước đêm thứ Sáu đó, anh Huy có từng kể đích danh ai là người đe dọa anh ấy không? Có biển số xe, nhân dạng, hoặc tên gọi cụ thể của người nào từng đến xưởng hay tìm đến tận phòng trọ của anh ấy không?

Huệ cắn chặt môi dưới đến bật máu, hai vai run lên bần bật:

— Anh ấy... anh ấy không dám nói tên ai cả, chị ơi. Em gặng hỏi mãi thì anh Huy bảo nếu nói ra thì chỉ làm mẹ với em chết nhanh hơn thôi. Anh ấy chỉ kể là khoảng một tuần trước, có hai người đàn ông lạ mặt đi chiếc ô tô bốn chỗ màu trắng, ăn mặc bảnh bao như cán bộ hay người làm văn phòng nhưng ánh mắt thì lạnh tanh như dao lam, đã lần theo ngõ bãi mò vào tận cửa phòng trọ của anh ấy lúc chập tối. Họ đứng ở cửa nói chuyện rất lâu. Anh Huy kể họ đưa ra một tập tài liệu gì đó, bảo anh ấy phải ký vào biên bản xác nhận đã tự tay làm giả số tem kiểm định và phiếu xuất kho gỗ dổi cho xưởng Bách Mộc, nhận hết tội về mình thì họ sẽ cho một khoản tiền lớn rồi lo cho trốn đi nơi khác. Còn nếu anh ấy không chịu nhận tội thay, hoặc dám hé răng với cơ quan công an về các đơn hàng khung gỗ có ngăn ngầm, thì họ sẽ dìm xác anh ấy xuống đáy sông Hồng, không ai tìm thấy được. Anh Huy khóc với em, bảo nếu ký thì phải đi tù mọt gông, ô danh cả đời, mà không ký thì sớm muộn bọn họ cũng không tha. Rồi... rồi đến rạng sáng hôm sau, anh ấy bặt tăm bặt tích luôn...

Nói đoạn, Huệ vội vã thò tay vào chiếc túi xách giả da đã sờn rách quai, móc ra một chiếc điện thoại thông minh giá rẻ nhãn hiệu Vsmart bị nứt chằng chịt như mạng nhện trên mặt kính. Bằng những ngón tay run rẩy, cô mở khóa màn hình, bấm vào ứng dụng tin nhắn SMS rồi chìa thẳng màn hình ra trước mặt Khang và Vi:

— Đây... đây là tin nhắn cuối cùng em nhận được từ số điện thoại của anh Huy vào lúc bốn giờ ba mươi phút sáng ngày thứ Bảy. Đọc xong em rụng rời hết chân tay, gọi lại ngay lập tức thì máy đã tút tút rồi báo tắt nguồn hoàn toàn từ bấy đến nay!

Khang đỡ lấy chiếc điện thoại, xoay ngang màn hình để Vi cùng quan sát. Giữa giao diện tin nhắn hệ thống màu xám tro, một dòng văn bản ngắn ngủi, không có dấu câu ngắt quãng chuẩn mực hiện lên trơ trọi:

*“Em và mẹ bảo trọng. Huy có lỗi vì không lo được cho gia đình. Mọi người đừng tìm Huy nữa, coi như không có đứa con này.”*

Vi chăm chú nhìn từng ký tự trên màn hình vỡ. Với phản xạ nghề nghiệp của một người từng làm phóng viên điều tra chuyên sâu và nhiều năm đắm mình trong công tác giám định văn bản lưu trữ, não bộ của cô lập tức phân tích cấu trúc ngôn ngữ và thói quen hành văn của người viết. Cô ngẩng đầu lên, nhìn thẳng vào mắt Huệ, giọng điệu chuyển sang tông dò hỏi cẩn trọng:

— Huệ, chị muốn hỏi em một chi tiết rất nhỏ này: thường ngày khi ở nhà, hoặc lúc nhắn tin qua điện thoại, anh Huy hay xưng hô với em và nói về bản thân mình như thế nào?

Huệ thoáng ngẩn người ra trước câu hỏi dường như không ăn nhập gì với tính chất sinh tử của một vụ thủ tiêu, nhưng nhìn ánh mắt nghiêm túc của Vi, cô vẫn cố lục tìm ký ức:

— Dạ... anh Huy hơn em hai tuổi. Từ thuở bé đến giờ, ở nhà anh ấy toàn gọi em là “cún”, hoặc gọi cộc lốc là “mày”, xưng “anh”. Tính anh ấy cục mịch, ít nói lắm. Mỗi lần nhắn tin bảo em cắm nồi cơm hay dặn mẹ uống thuốc huyết áp, anh ấy chỉ nhắn cụt ngủn kiểu: “Mày cắm cơm chưa”, hay “Anh làm về muộn, đừng chờ”. Chưa bao giờ... em thề là chưa bao giờ từ bé đến lớn anh ấy tự xưng tên là “Huy” với em hay với mẹ cả. Lúc đọc cái câu “Huy có lỗi... đừng tìm Huy nữa”, em cứ thấy nó ngượng ngạo, xa lạ thế nào ấy... Cứ như thể một người nào khác đang cố tình mượn máy anh ấy để gõ những dòng này vậy.

Lục Khang gật đầu nhẹ, ngòi bút của anh vạch một đường thẳng dưới dòng ghi chú về thói quen ngôn ngữ. Anh tiếp tục truy vấn:

— Ngoài dòng tin nhắn này ra, từ thời điểm bốn giờ ba mươi sáng thứ Bảy đến nay, tài khoản ngân hàng của anh Huy có phát sinh biến động số dư nào không? Hoặc có thông báo nào từ các dịch vụ liên kết gửi về số máy hay địa chỉ của gia đình không?

— Dạ, em không biết mật khẩu tài khoản ngân hàng của anh ấy, — Huệ sụt sùi, lấy khăn tay lau nước mắt. — Nhưng sáng hôm qua... tức là sáng Chủ nhật, bà chủ xóm trọ dưới bãi đê có nhắn tin vào Zalo cho em. Bà ấy chụp màn hình biến động tài khoản của bà ấy, bảo là đúng bảy giờ sáng ngày Chủ nhật, tiền thuê nhà tháng này sáu trăm nghìn đồng và tiền nước một trăm hai mươi nghìn đồng của anh Huy đã được một tài khoản mang tên Trần An Huy chuyển khoản thanh toán tự động, nội dung ghi rõ: “Tien phong tro thang 11 Tran An Huy”. Bà chủ trọ thấy lạ nên mới sang đập cửa phòng gọi xem anh Huy có trong phòng không mà lại chuyển khoản vào sáng sớm như thế, nhưng gọi mãi không ai thưa, cửa ngoài vẫn bấm ổ khóa Việt Tiệp.

Ánh mắt của Khang và Vi chạm nhau trong tích tắc qua làn khói trà mỏng manh. Một tia sáng ngờ vực sắc bén lóe lên trong mắt người điều tra viên kinh tế.

Một người thanh niên đang trong trạng thái hoảng loạn cùng cực vì bị các băng nhóm xã hội đen hay đầu nậu cổ vật truy lùng ráo riết đến mức phải gửi tin nhắn từ biệt mang màu sắc tuyệt mệnh, liệu có còn đủ tâm trí, sự cẩn trọng và thói quen trật tự để duy trì lệnh chuyển tiền tự động, hoặc cặm cụi vào ứng dụng ngân hàng lúc bảy giờ sáng ngày hôm sau chỉ để thanh toán tròn trịa bảy trăm hai mươi nghìn tiền thuê phòng trọ?

Khang dứt khoát gập cuốn sổ công tác lại, đứng bật dậy, với tay lấy chiếc áo khoác gió ngành mặc vào người:

— Bác Loan và chị Huệ cứ yên tâm. Toàn bộ đơn trình báo và các chứng cứ điện tử gia đình cung cấp đã được ghi nhận đầy đủ. Vụ việc này có nhiều tình tiết liên đới trực tiếp đến một chuyên án kinh tế mà đơn vị chúng tôi đang thụ lý mở rộng. Ngay bây giờ, tôi và đồng chí Vi sẽ trực tiếp xuống Xưởng Phục chế Bách Mộc để làm việc với người quản lý, sau đó sẽ tiến hành kiểm tra hiện trường phòng trọ của anh Huy tại bãi sông. Chị Huệ sẽ đi cùng xe với chúng tôi để phối hợp làm thủ tục mở khóa phòng trọ dưới sự chứng kiến của công an cơ sở và đại diện tổ dân phố.

***

Xưởng Phục chế Bách Mộc nằm sâu hun hút trong một con ngõ ngoằn ngoèo lát gạch đỏ đã phủ rêu trơn tuột, phân nhánh từ trục đường Bát Đàn sầm uất. Chỉ cách phố thị tấp nập chừng vài chục bước chân, nhưng khi rẽ vào con ngõ hẹp chỉ vừa hai chiếc xe máy lách qua nhau này, không gian như chùng hẳn xuống, tách biệt hoàn toàn khỏi nhịp sống kim tiền hối hả của khu phố cổ.

Gió lạnh lùa qua những bức tường gạch vồ xám xịt từ thời thuộc địa, cuốn theo mùi mạt cưa ngai ngái nồng đượm của gỗ dổi, gỗ mít, hòa lẫn với mùi hăng nồng bốc lên từ những thùng sơn ta chưa khô và mùi khét lẹt của keo da trâu đun cách thủy thoang thoảng trong không khí ẩm ướt. Đó là thứ mùi đặc trưng của những xưởng thủ công mỹ nghệ chuyên nghề phục dựng quá khứ, nơi những món đồ gỗ cổ mục nát được đắp vá, bồi đắp bằng lớp lớp then son thếp vàng để bước chân vào các tư gia quyền quý hoặc các phòng trưng bày đồ cổ sang trọng.

Khi chiếc xe máy của Khang chở Vi dừng lại trước cánh cổng sắt kéo rỉ sét của xưởng Bách Mộc, tiếng máy cưa bàn đang rít lên ken két bỗng ngưng bặt. Tiếng đục gỗ cốc cốc đều đặn bên trong khoảng sân lợp mái tôn fibro-xi măng cũng đột ngột dừng lại.

Bước qua ngưỡng cửa gỗ ngổn ngang phôi gỗ và những bao tải chứa đầy mạt cưa mịn như bột cám, đập vào mắt Vi là một người đàn ông trung niên trạc ngoài bốn mươi tuổi, vóc dáng đanh thép, gầy gò nhưng cơ bắp cánh tay cuồn cuộn gân xanh. Ông ta mặc một chiếc tạp dề bằng vải thô nhuộm chàm đã bạc phếch, bê bết những vệt mạt cưa vàng óng và phẩm đỏ cánh sen. Đó chính là Lê Bách – tay thợ cả kiêm chủ xưởng phục chế, một nhân vật có số má trong giới săn lùng và làm mới đồ thờ gỗ cổ đất Hà thành.

Lê Bách đang cặm cụi kẹp một khung tranh sơn mài khổ lớn vào bàn vam sắt, tay cầm chiếc giũa thép tỉ mẩn gọt lại đường soi của một mộng ghép mang cá. Thấy bóng dáng sắc phục công an của Khang và thẻ công tác lấp lánh trên ngực Vi, động tác tay của Lê Bách khựng lại. Gương mặt xương xẩu với gò má cao nhọn hoắt của ông ta lập tức đanh lại như một thanh gỗ lim ngâm bùn lâu năm. Đôi mắt một mí ti hí dưới hàng lông mày chổi xể quét một lượt từ đầu đến chân hai vị khách không mời mà đến với một sự đề phòng lộ liễu.

— Lại công an à? — Lê Bách không buồn đặt chiếc giũa xuống bàn, giọng nói khàn đặc và gắt gỏng như tiếng gỗ nỏ bị nứt toác dưới nắng hanh. — Tôi đã làm việc với mấy đồng chí công an khu vực bên phường Hàng Gai từ chiều thứ Bảy rồi kia mà! Xưởng mộc của tôi là cơ sở kinh doanh cá thể có đăng ký đàng hoàng, nộp thuế môn bài đầy đủ, không tàng trữ gỗ quý thuộc nhóm một, không mua bán lâm sản trái phép. Các cán bộ muốn kiểm tra nguồn gốc lô phôi gỗ nào thì cứ việc lật từng đống mùn cưa mà soi, việc quái gì phải kéo nhau đến Đội Kinh tế quận làm rùm beng lên thế?

Khang bướcềm đạm tiến lên một bước, thái độ vô cùng nhã nhặn nhưng giọng nói đanh gọn, mang đầy tính răn đe nghiệp vụ:

— Chào anh Bách. Chúng tôi không đến đây để thực hiện quy trình kiểm tra hành chính định kỳ. Chúng tôi thuộc Đội Cảnh sát Điều tra Tội phạm về Tham nhũng, Kinh tế và Buôn lậu, có mặt tại đây theo đơn trình báo khẩn cấp của gia đình anh Trần An Huy – thợ phụ trách khâu mộc khung của xưởng anh. Gia đình anh Huy đã mất liên lạc với anh ấy ba ngày nay và có căn cứ nghi ngờ anh Huy đang bị đe dọa nghiêm trọng đến tính mạng do liên quan đến một số đơn hàng gia công đặc biệt tại xưởng này.

Nghe đến cái tên Trần An Huy, khóe môi Lê Bách giật giật. Ông ta bật ra một tràng cười khẩy the the, ném mạnh chiếc giũa thép xuống mặt bàn gỗ vang lên một tiếng *chát* chói tai khiến đám bụi mùn cưa trên mặt bàn bay thốc lên:

— Đe dọa tính mạng? Bắt cóc tống tiền? Vớ vẩn! Toàn chuyện hoang đường của mấy mụ đàn bà nhà quê rỗi việc! Có phải con mẹ với con em gái thằng Huy lại vác mặt lên cơ quan công an gào khóc, lu loa ăn vạ chứ gì? Tôi nói thẳng cho các cán bộ biết nhé, đe dọa cái con khỉ mốc! Thằng nghịch tử ấy nó ôm trọn ba mươi triệu tiền mặt của khách quen ứng cọc đóng bốn bộ khung tranh sơn thếp rồi cuốn gói chuồn thẳng cẳng từ chiều thứ Sáu rồi!

Vi tiến lại gần mép bàn thao tác của Lê Bách, ánh mắt quan sát lướt nhanh qua các công cụ nghề mộc được xếp đặt quanh xưởng:

— Anh Bách, theo tường trình của gia đình và nhận xét của chính quyền địa phương nơi cư trú, anh Huy là một thanh niên hiền lành, chịu khó, có tay nghề mộc vững vàng và chưa từng có tiền án, tiền sự. Căn cứ vào đâu mà anh lại khẳng định anh Huy ôm tiền bỏ trốn?

— Hiền lành? — Lê Bách quắc mắt, trừng trừng nhìn Vi bằng ánh mắt cay độc. — Mấy người ngồi bàn giấy ăn lương nhà nước thì biết cái thối tha gì ở cái đất xó chợ này! Mặt mũi thằng Huy thì trông cù lần, gặp ai cũng dạ dạ vâng vâng như cục đất, nhưng bên trong thì rặt một phường cờ bạc giấu mặt! Mới tháng trước thôi, hai thằng du đãng xăm trổ kín cổ dưới bãi Phúc Tân đã mò tận vào cửa xưởng này réo tên nó đòi nợ cá độ bóng đá qua mạng. Chính mắt tôi thấy, chính tai tôi nghe! Lúc ấy tôi đã chỉ thẳng vào mặt nó mà cảnh cáo: ở cái xưởng Bách Mộc này, tay nghề non kém thì tôi còn thương tình dạy dỗ, chứ dính vào tệ nạn đỏ đen thì tôi tống cổ ra đường ngay lập tức! Đến trưa thứ Sáu tuần trước, một khách quen chuyên sưu tầm tranh cổ bên phố Hàng Trống chuyển khoản cho tôi ba mươi triệu đồng tiền cọc vật tư. Tôi vừa rút tiền mặt để trên bàn đục, sai nó cầm tiền sang kho đối tác bên Gia Lâm bốc lô gỗ gụ mật về pha phôi. Thế là nó cầm cọc tiền đi luôn, không một cuộc điện thoại, máy móc tắt ngấm, xưởng việc ngập đầu ngập cổ phải bỏ dở! Nó trốn nợ cờ bạc chứ ai thèm bắt cóc một thằng thợ đục rách rưới như nó!

Khang không rời mắt khỏi từng biến đổi nhỏ nhất trên cơ mặt của Lê Bách. Bằng giác quan nhạy bén của một người chuyên đối mặt với những lời khai quanh co của các đối tượng kinh tế, Khang đọc thấy sự phẫn nộ của Lê Bách là có thực, nhưng xen lẫn trong nét giận dữ đó lại là một sự bồn chồn, hoang mang rất khó nắm bắt. Ánh mắt ông ta chốc chốc lại liếc nhanh về phía góc xưởng bên trong – nơi đặt chiếc bàn làm việc của An Huy.

— Ngoài số tiền ba mươi triệu tạm ứng mua vật tư mà anh cho rằng anh Huy đã chiếm đoạt, — Khang chậm rãi nhả từng chữ, thanh âm trầm thấp nhưng sắc như một mũi khoan ngầm, — anh Huy có mang theo bất kỳ tài liệu, sổ sách kế toán hay nhật ký giao nhận gỗ nào của xưởng Bách Mộc không? Ví dụ như... các chứng thư giám định niên đại cổ vật, hoặc phiếu xuất kho vận chuyển liên kết với Công ty Vận tải Á Châu?

Bàn tay đang với lấy miếng giẻ lau dầu của Lê Bách đột ngột cứng đờ. Miếng giẻ rơi tuột khỏi ngón tay, rớt xuống đống mùn cưa dưới chân. Một thoáng biến sắc kinh hoàng lướt qua đáy mắt người thợ cả, khiến cơ mặt ông ta co giật liên hồi trước khi ông ta kịp lấy lại vẻ hung hăng thường ngày:

— Hồ... hồ sơ gì? Sổ sách gì của Á Châu? Tôi không biết Á Châu nào hết! Xưởng tôi là xưởng mộc thủ công truyền thống, việc mua bán gỗ tôi ghi hết vào cuốn sổ tay bìa cứng để đầu bàn thờ tổ nghề kia kìa! Thằng Huy nó chỉ là thằng thợ mộc phụ trách cưa mộng, bào mặt, ghép đinh tre rồi chuyển sang cho thợ quét sơn. Nó học chưa hết lớp chín, đọc bản vẽ kỹ thuật còn bập bõm thì biết chữ nghĩa giấy tờ gì mà giữ hồ sơ bảo mật với chứng thư cổ vật! Các anh rỗi hơi thì sang bên mấy cái sới bạc chui bên bãi sông Hồng mà lùng, khéo lại tóm được nó đang ngồi dán mắt vào chiếu xóc đĩa bên đấy, chứ ở đây mà vẽ hươu vẽ vượn chuyện gián điệp với thanh trừng!

Không để ý đến thái độ chối bay chối biến của Lê Bách, Vi lẳng lặng lách qua những kiện gỗ dổi xếp sát vách tường, bước về phía bàn làm việc của An Huy ở góc trong cùng của xưởng.

Đó là một vị trí làm việc khá biệt lập, nằm sát cạnh một ô cửa sổ nhỏ có chấn song sắt han rỉ trông thẳng ra một rặng chuối dại um tùm sau lưng xưởng. Không gian làm việc của người thợ trẻ toát lên một vẻ ngăn nắp đến kinh ngạc. Trên thanh nam châm từ tính gắn chặt vào vách tường gạch, một bộ đục thép đủ kích cỡ từ mỏng đến dày được lau chùi sạch dầu mỡ, treo thẳng tắp theo thứ tự từ lớn đến bé. Chiếc cưa lọng mini dùng để trổ hoa văn tinh xảo nằm gọn ghẽ trong khay nhựa; hộp đựng đinh tre vót nhọn được đậy nắp cẩn thận.

Trên mặt bàn gỗ dán, một khung tranh bằng gỗ dổi khổ 40x60cm đang được hoàn thiện dang dở. Bốn góc khung đã được xẻ mộng mang cá chuẩn xác đến mức khít rịt, không hề có một khe hở nào dù chỉ bằng sợi tóc. Những đường bào ngọt xới, mịn màng như lụa chứng tỏ người thợ đã dành trọn sự tập trung và tỉ mỉ tối đa cho từng thớ gỗ. Tuyệt nhiên không có bất kỳ dấu hiệu nào của một cuộc cãi vã, ẩu đả, xô xát hay một sự thu dọn đồ đạc vội vã trong hoảng loạn.

— Cảm ơn sự hợp tác của anh Bách, — Khang quay sang người thợ cả, giọng nói bình thản đến lạ lùng. — Về số tiền ba mươi triệu đồng anh cho rằng anh Huy đã lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt, nếu xưởng muốn khởi tố vụ án hình sự để thu hồi tài sản, đề nghị anh mang đầy đủ hóa đơn, chứng từ giao nhận tiền và sao kê tài khoản ngân hàng lên Đội Điều tra Kinh tế để nộp đơn tố giác. Còn trong phạm vi ngày hôm nay, chúng tôi vẫn tiến hành các biện pháp xác minh theo quy trình giải quyết tin báo mất tích có dấu hiệu xâm phạm thân thể công dân.

Lê Bách hậm hực vung tay, quay ngoắt người lại phía bàn vam, cầm chiếc giũa lên tiếp tục cạo mạnh vào mặt gỗ phát ra những tiếng ken két chói óc:

— Đơn với từ cho thêm rách việc! Tôi coi như bố thí cho nó ba mươi triệu tiền ngu vì cái tội tin người! Các anh mà tìm được thằng nghịch tử cờ bạc ấy thì bảo nó vác xác về đây quỳ xuống lạy tôi, trước khi đám giang hồ bãi sông nó chặt đứt hai chân!

***

Rời khỏi ngõ Bát Đàn, chiếc xe của Khang rẽ qua đường Trần Nhật Duật rồi men theo con dốc đất đỏ nhão nhoét dẫn thẳng xuống bãi sông Hồng. Gió từ mặt nước sông Hồng thổi thốc lên bờ đê mang theo cái lạnh cắt da cắt thịt, quyện chặt với mùi phù sa tanh nồng của bãi bồi và mùi khói đốt rác âm ỉ cháy nơi triền sông.

Xóm trọ nghèo nơi Trần An Huy thuê ở nằm lọt thỏm giữa một khu đất trũng ngập tràn lau sậy và những rặng chuối tây rách lá xơ xác. Những dãy nhà cấp bốn lợp mái tôn xi măng xám xịt mọc chen chúc nhau trên nền đất ẩm thấp, nơi lối đi chung chỉ là một con đường đất gồ ghề vương vãi xỉ than và gạch vỡ.

Căn phòng trọ của Huy nằm ở cuối dãy, sát cạnh một bờ rào dâm bụt cằn cỗi đã trơ trụi lá. Khi tổ công tác cùng Huệ đến nơi, bà chủ nhà trọ – một phụ nữ béo đẫy đà mặc áo bông đỏ hoa hòe – cùng ông tổ trưởng dân phố đeo băng đỏ đã đứng đợi sẵn trước cửa phòng.

— Khổ quá các chú công an ơi, — bà chủ trọ vừa lấy chùm chìa khóa lách cách tra vào ổ vừa liến thoắng phân trần. — Tôi cho thằng Huy thuê cái phòng này ngót nghét hai năm trời rồi. Nó ngoan ngoãn, lễ phép lắm, đi làm về là cắm mặt trong phòng đục đẽo mấy cái khung tranh lặt vặt, chẳng bao giờ thấy tụ tập bạn bè uống rượu hay gái gú gì. Tiền nhà thì tháng nào cũng thanh toán sòng phẳng, chưa từng nợ một xu. Sáng hôm qua tôi thấy tài khoản ngân hàng báo nhận được bảy trăm hai mươi nghìn tiền phòng lúc bảy giờ sáng, cứ đinh ninh nó ở trong phòng ngủ nướng, trưa sang gõ cửa đưa biên lai thu tiền thì thấy cửa ngoài khóa im ỉm, gọi mãi chẳng thấy ai thưa.

*Cạch.*

Chiếc ổ khóa bấm Việt Tiệp hoen rỉ bật mở. Khang rút trong túi tài liệu ra hai đôi găng tay cao su y tế mỏng, đưa cho Vi một đôi:

— Đeo găng tay vào. Tuyệt đối tuân thủ nguyên tắc bảo toàn dấu vết hiện trường. Không chạm tay trần vào bất cứ mặt phẳng nào.

Vi nhanh nhẹn luồn các ngón tay vào lớp cao su mỏng, kéo căng viền găng ôm khít lấy cổ tay. Cô hít sâu một hơi luồng không khí ẩm lạnh của bãi sông rồi chầm chậm bước theo sau Khang vào bên trong gian phòng chật hẹp.

Trực giác của một điều tra viên và phản xạ nghề nghiệp của một chuyên viên văn khố lập tức kích hoạt mọi giác quan trong Vi. Đôi mắt sắc sảo của cô quét chậm rãi qua từng góc phòng, ghi nhận từng chi tiết vật chất với một sự tập trung cao độ.

Nếu đây thực sự là hiện trường của một vụ bắt cóc tống tiền, một vụ cưỡng bức dẫn độ của các thế lực ngầm, hay một cuộc đột nhập đe dọa lúc nửa đêm như lời khai đầy nước mắt của bà Loan và Huệ, thì theo logic vật chất của hiện trường hình sự, nơi này nhất thiết phải lưu lại những dấu vết đặc trưng của sự xung đột cơ học: bàn ghế bị xô lệch, ngăn kéo bị lục tung, chăn màn giằng xé nhăn nhúm, các vết trượt đế giày lạ dính bùn đất bãi sông trên nền gạch men giá rẻ, hoặc ít nhất cũng phải có một chiếc cốc vỡ, một vết cào xước trên khung cửa sổ.

Nhưng bức tranh thực tế đang phơi bày trước mắt Vi và Khang lại hoàn toàn đảo lộn mọi giả định ban đầu.

Căn phòng trọ rộng chưa đầy mười lăm mét vuông sạch sẽ và ngăn nắp đến một mức độ kỳ dị, thậm chí là bất thường đối với không gian sinh hoạt của một chàng trai độc thân làm nghề thợ mộc suốt ngày lấm lem mùn cưa và bụi gỗ.

Chiếc giường sắt đơn kê sát vách tường quét vôi xanh bong tróc được phủ tấm ga vải kẻ caro màu xám phẳng phiu, không một nếp nhăn. Chiếc chăn bông mỏng được gấp vuông vức như một viên gạch quân đội, hai mép chăn được vuốt thẳng tắp, gối đầu đặt ngay ngắn ở chính giữa đầu giường.

Phía góc bếp tạm kê chiếc bếp gas mini du lịch, chiếc ấm đun nước siêu tốc bằng inox đã được đổ cạn sạch nước, mở nắp và úp ngược khô ráo trên một chiếc khay nhựa màu xanh. Chiếc xô rác nhỏ bằng nhựa đặt dưới chân chạn bát hoàn toàn trống rỗng; bên trong lồng sẵn một chiếc túi nilon màu đen mới tinh tươm, phẳng phiu chưa hề có một mẩu rác thải sinh hoạt nào.

Vi bước nhẹ chân ra phía cửa ngách thông ra khoảng sân sau hẹp chừng nửa mét. Dưới làn gió bãi sông lồng lộng, ba bộ quần áo bảo hộ lao động vải thô màu xanh công nhân của An Huy đã được giặt sạch sẽ, vắt kiệt nước và treo ngay ngắn trên một sợi dây thép căng ngang, khô cong và thoang thoảng mùi xà phòng giặt rẻ tiền.

Một người đang sống trong nỗi kinh hoàng bị sát thủ rình rập, bị đầu nậu đồ cổ dọa dìm xác xuống đáy sông Hồng, làm sao có thể thảnh thơi ngồi giặt sạch từng bộ quần áo lao động, đổ cạn ấm nước, lồng túi rác mới và vuốt thẳng từng nếp gấp của chiếc chăn bông trước khi bị bắt đi?

— Không có bất kỳ dấu vết giằng co vật lý nào, — Khang khom lưng, rọi luồng ánh sáng trắng sắc lạnh của chiếc đèn pin chuyên dụng xuống sàn nhà lát gạch men hoa màu xám nhạt. — Bụi bám trên ngưỡng cửa đều đặn, không có vết kéo lê, không có dấu đế giày ngoại lai. Ổ khóa cửa bấm từ phía ngoài là loại khóa thông thường, lẫy khóa không có vết trầy xước của kìm cộng lực hay vam phá khóa cơ học.

Vi không đáp lời. Toàn bộ sự chú ý của cô lúc này bị hút chặt về phía chiếc bàn làm việc duy nhất trong phòng – một chiếc bàn gỗ ép công nghiệp chân sắt giá rẻ kê sát ô cửa sổ con con nhìn ra rặng chuối sau nhà.

Mặt bàn gỗ ép phủ lớp dán vân sồi màu nâu nhạt, tuyệt nhiên không dính một hạt mùn cưa hay một vết cáu bẩn nào. Giữa khoảng trống phẳng lặng như gương ấy, ba nhóm vật thể được xếp đặt ở những vị trí chuẩn xác đến mức dường như người đặt chúng đã dùng thước kẻ để căn ke từng milimét.

Vật thể thứ nhất: một chiếc điện thoại thông minh nhãn hiệu Xiaomi đã cũ mòn bốn góc, nằm úp sấp màn hình xuống mặt bàn. Ngay cạnh thân máy, khay chứa thẻ SIM bằng nhựa màu đen đã bị chọc ra, nằm trơ trọi một góc; khe cắm SIM trên thân máy trống hoác. Khang dùng chiếc kẹp y tế bằng thép gắp nhẹ chiếc điện thoại lên, ngón tay bấm vào nút nguồn: màn hình tối đen như mực, thiết bị đã được chủ nhân chủ động tắt nguồn hoàn toàn trước khi tháo bỏ thẻ SIM để triệt tiêu mọi khả năng định vị trạm thu phát sóng di động BTS.

Vật thể thứ hai: đặt ngay ngắn, song song với thân chiếc điện thoại, là một tập giấy tờ tùy thân gồm ba tấm thẻ nhựa được xếp chồng khít lên nhau thành một khối vuông vức. Trên cùng là tấm Căn cước công dân gắn chip mang tên Trần An Huy, sinh ngày 12 tháng 8 năm 2000; bên dưới là thẻ Bảo hiểm y tế bắt buộc và một giấy phép lái xe mô tô hạng A1 do Sở Giao thông Vận tải Hà Nội cấp. Toàn bộ các giấy tờ tùy thân cốt lõi nhất để xác nhận tư cách công dân và danh tính pháp lý của một con người đều được để lại trọn vẹn, không thiếu một mảnh.

Và vật thể thứ ba – thứ khiến Vi cảm thấy lồng ngực mình khẽ thắt lại trong một cảm giác chấn động sâu sắc – là một mảnh giấy in nhiệt màu xanh nhạt mỏng manh, phẳng phiu không tì vết, được đặt trang trọng ngay chính giữa mặt bàn, tựa như một thông điệp không lời được gửi lại cho thế giới.

Đó là một chiếc vé xe khách giường nằm một chiều của hãng xe khách Hải Vân, tuyến Bến xe Mỹ Đình – Thành phố Lào Cai.

Vi cúi thấp người xuống, đôi mắt lướt nhanh qua từng dòng chữ in kim sắc nét trên nền giấy nhiệt:

*Tuyến đường: Bến xe Mỹ Đình (Hà Nội) — Bến xe Trung tâm Lào Cai.* *Giờ xuất bến: 05:00 sáng, ngày 12 tháng 11 (tức sáng thứ Bảy).* *Biển số phương tiện: 29B-184.xx.* *Vị trí giường nằm: A04 (tầng 1, dãy giữa).* *Giá cước: 280.000 VNĐ — Hình thức thanh toán: Tiền mặt tại quầy.* *Thời gian in vé: 04:15 sáng, ngày 12 tháng 11.*

— Một chiếc vé xe khách đi Lào Cai... xuất bến lúc năm giờ sáng ngày thứ Bảy, — Vi thốt lên thành tiếng, giọng cô trầm xuống nhưng rành rọt từng từ. — Vé một chiều, mua bằng tiền mặt tại quầy bán vé trực tiếp ở bến xe Mỹ Đình vào lúc bốn giờ mười lăm phút sáng. Nghĩa là chỉ đúng mười lăm phút trước khi dòng tin nhắn từ biệt được gửi vào máy em gái, và bốn mươi lăm phút trước khi chiếc xe khách lăn bánh rời khỏi thủ đô.

Khang dùng kẹp y tế lật nhẹ mép chiếc vé lên soi dưới ánh đèn pin:

— Cuống vé kiểm soát đã bị xé theo đường răng cưa. Theo quy trình vận tải hành khách liên tỉnh, điều này đồng nghĩa với việc hành khách cầm chiếc vé này đã thực sự trình vé tại cửa xe, nhân viên phụ xe đã xé cuống kiểm soát và cho khách lên xe ổn định chỗ ngồi. Nhưng nếu cậu ta đã bước lên xe khách đi Lào Cai từ sáng sớm ngày thứ Bảy, tại sao cuống vé gốc này lại quay trở lại nằm trên chiếc bàn này, cùng với toàn bộ giấy tờ tùy thân và chiếc điện thoại đã tháo SIM?

Vi chỉ tay vào vết hằn bụi mờ hình chữ nhật xung quanh tập giấy tờ trên mặt bàn gỗ ép:

— Anh Khang, hãy nhìn trật tự sắp đặt của những thứ này xem. Không có chuyện cuống vé “quay trở lại” sau chuyến đi đâu. Người lên chiếc xe khách giường nằm năm giờ sáng hôm đó có thể chính là Huy, hoặc là một người đã cầm chiếc vé này lên xe để nhân viên soát vé xé cuống, rồi trước khi xe lăn bánh, người đó đã bước xuống xe, quay ngược trở lại căn phòng này để hoàn tất những việc cuối cùng. Cậu ta tắt nguồn điện thoại, chọc thẻ SIM vứt bỏ để cắt đứt mọi sự định vị từ phía gia đình cũng như những kẻ truy lùng. Cậu ta xếp toàn bộ căn cước công dân, bảo hiểm y tế, bằng lái xe lại đây... như một sự tuyên bố dứt khoát rằng mình từ bỏ hoàn toàn danh tính cũ, từ bỏ cái tên Trần An Huy và toàn bộ các mối ràng buộc xã hội gắn liền với nó.

Huệ đứng tựa vào khung cửa phòng, nhìn thấy tập giấy tờ tùy thân cùng chiếc điện thoại nứt màn hình của anh trai nằm trơ trọi trên bàn, hai chân cô khuỵu xuống, nước mắt lại trào ra như mưa:

— Trời ơi anh Huy ơi... Giấy tờ tùy thân anh vứt bỏ hết ở đây thì anh sống làm sao được? Anh đi đâu, anh làm gì trên biên giới rừng xanh núi đỏ? Có phải... có phải bọn người xấu nó ép anh em lên mạn ngược rồi bán sang bên kia biên giới rồi không các anh các chị ơi?

Vi chậm rãi bước lại gần, ngồi thụp xuống bên cạnh cô gái trẻ, đặt bàn tay ấm áp lên đôi vai đang run rẩy bần bật của Huệ. Bằng một chất giọng trầm tĩnh, dứt khoát nhưng chan chứa sự thấu cảm, Vi nói từng lời rõ ràng:

— Huệ, em hãy nghe chị nói và nhìn thật kỹ căn phòng này một lần nữa đi. Một người bị bắt cóc, bị khống chế bằng vũ lực hay bị đe dọa đến tính mạng, tuyệt đối không bao giờ có đủ thời gian, sự bình thản và tâm trí để ngồi gấp mép chăn vuông vức như viên gạch, rửa sạch và dốc khô từng giọt nước trong ấm điện, giặt phơi quần áo thơm tho, cài đặt lệnh thanh toán tiền nhà tự động rồi mới rời đi. Anh Huy của em không bị ai bắt cóc hay thủ tiêu cả. Anh ấy đã chủ động lên kế hoạch rời khỏi nơi này từ rất lâu rồi... Một cuộc trốn chạy hoàn toàn tự nguyện và có tính toán đến từng chi tiết nhỏ nhất.

***

Buổi chiều muộn, nắng heo may vàng ửng như mật ong rừng rải đều lên những mái ngói âm dương rêu phong của ngõ Hàng Chỉ. Không khí phố cổ lúc chập choạng tối phảng phất hương thơm ngai ngái của lá bàng rụng và mùi dầu hỏa từ những chiếc bếp dầu cũ kỹ thắp sớm trước hiên nhà.

Vi đẩy nhẹ cánh cửa gỗ bức bàn kêu lên một tiếng *cọt kẹt* quen thuộc, bước vào không gian tĩnh mịch của hiệu sách cũ do dì Ninh Thu Hà làm chủ. Sau một ngày dài căng thẳng vật lộn với các biên bản khám nghiệm hiện trường, đối chất với chủ xưởng Lê Bách và làm việc với công an cơ sở, bước chân vào hiệu sách cũ mang lại cho cô một cảm giác an yên kỳ lạ.

Nơi đây dường như đứng ngoài dòng chảy hối hả của thời cuộc. Từng chồng sách cũ bìa da ngả vàng, những tập tiểu thuyết ba xu in trên giấy rơm thập niên tám mươi, chín mươi và các tập tạp chí chuyên ngành mỹ thuật, văn hóa dân gian được xếp ngay ngắn, cao ngất ngưởng trên các giá gỗ thông mộc mạc. Mùi giấy mục ẩm sực lên mũi, hòa quyện với mùi thơm thanh tao, dịu nhẹ của những bông hoa hoàng lan rụng bên thềm giếng trời.

Dì Ninh Thu Hà đang ngồi bên chiếc bàn gỗ lim nhỏ cạnh khung cửa sổ trông ra rặng trúc quân tử. Dì trạc ngoài ngũ tuần, gương mặt đôn hậu mang đậm nét đài các, trầm mặc của người phụ nữ Hà thành xưa. Dì đeo cặp kính lão gọng đồi mồi mỏng, tay cầm chiếc chổi lông gà nhỏ tỉ mẩn quét từng hạt bụi bám trên gáy một cuốn sách chữ Nôm đóng chỉ bồi biểu.

Nghe tiếng bước chân Vi, dì Hà dừng tay, ngước mắt qua mép kính lão nhìn cháu gái. Nhận thấy vẻ mệt mỏi hằn rõ trên gương mặt thanh tú và quầng thâm nhạt nơi khóe mắt Vi, dì khẽ mỉm cười, tháo kính đặt xuống mặt bàn rồi với tay nhấc chiếc ấm tích ủ trong giành mây, rót một chén trà nụ vối vàng óng, bốc khói nghi ngút đẩy sang phía cô:

— Con bé này, từ sớm tinh mơ đến giờ lại chạy theo thanh tra Lục Khang lùng sục hồ sơ vụ án nào mà mặt mày bơ phờ, thất thần thế kia? Uống ngụm nước vối nóng cho ấm tì vị đi đã. Nhìn cái tướng đi của mày là dì biết, trong đầu mày lại đang kẹt cứng một mớ bòng bong không gỡ ra được rồi.

Vi ngồi xuống chiếc ghế mây đối diện, đón lấy chén nước vối ấm nóng bằng cả hai bàn tay. Hơi ấm từ lớp gốm mộc truyền qua lòng bàn tay khiến những đường gân đang căng cứng của cô dần giãn ra. Cô nhấp một ngụm nhỏ, để vị chát nhẹ và hậu ngọt thanh khiết của nụ vối đồng bằng thấm sâu vào cuống họng.

Đặt chén nước xuống đĩa sứ, Vi thở dài một hơi, bắt đầu chậm rãi kể lại cho dì nghe toàn bộ diễn biến của vụ việc trong ngày: từ lá đơn kêu cứu đẫm nước mắt của bà Loan và tiếng khóc xé lòng của cô em gái Huệ; thái độ giận dữ, nghi kỵ và quanh co của chủ xưởng Lê Bách; cho đến hiện trường căn phòng trọ ven đê sông Hồng sạch sẽ đến kỳ quặc, với chiếc điện thoại tháo SIM, tập giấy tờ tùy thân nguyên vẹn và cuống vé xe khách đi Lào Cai nằm ngay ngắn trên bàn.

Dì Hà yên lặng lắng nghe, thỉnh thoảng khẽ gật đầu, ngón tay gầy guộc chầm chậm miết nhẹ lên mép tờ giấy bản cổ. Đôi mắt từng trải của người phụ nữ đã sống qua bao thăng trầm, biến động của đất kinh kỳ toát lên một sự thấu hiểu sâu xa, vượt lên trên những logic lạnh lùng của các điều khoản luật pháp.

Đợi Vi dứt lời, dì Hà mới với tay lấy miếng vải nhung mềm lau lại gọng kính lão, cất giọng thủ thỉ, trầm ấm như tiếng gió xào xạc ngoài hiên:

— Vi này, cháu là đứa thông minh, trí nhớ thị giác cực tốt, nhìn đâu cũng bóc tách ra được chi tiết, đọc văn bản lưu trữ thì tìm ra vết ngụy tạo nhanh hơn bất kỳ ai. Nhưng cuộc đời này nó không phải là một xấp hồ sơ lưu trữ được đánh số thứ tự trong kho tàng thư đâu cháu ạ. Cháu đừng lúc nào cũng nhìn mọi biến cố bằng con mắt của một cô cựu phóng viên đi săn lùng tội ác, hay một cán bộ pháp lý đi tìm dấu vết của các vụ án mạng. Đời sống con người nó trớ trêu, sâu hiểm và nặng nề hơn trang giấy nhiều lắm.

Vi ngẩng đầu nhìn dì, ánh mắt thoáng gợn lên sự ngơ ngác:

— Ý dì là... chuyện anh Huy biến mất không liên quan gì đến các đường dây đồ cổ hay áp lực từ xưởng Bách Mộc sao dì?

Dì Hà khẽ lắc đầu, ánh mắt dì hướng ra khoảng sân giếng trời nơi những cánh hoa hoàng lan vàng sẫm đang chầm chậm rơi nghiêng trong gió chiều:

— Có thể có liên quan, nhưng đó chỉ là giọt nước cuối cùng làm tràn cái ly chịu đựng mà thôi. Cháu bảo thằng bé ấy mới hai mươi tư tuổi, đúng cái tuổi người ta bắt đầu thèm khát được sống cuộc đời của chính mình. Nhưng nó gánh trên vai những gì? Một bà mẹ ốm đau lam lũ suốt ngày than thân trách phận, coi con trai là chỗ dựa duy nhất để trút mọi gánh nặng sinh nhai và bệnh tật. Một cô em gái bám víu lấy anh như một bóng cây cổ thụ, biến mọi nhu cầu của mình thành trách nhiệm mặc định mà người anh phải chu cấp. Rồi ở xưởng mộc, một ông chủ cay nghiệt, bóc lột, bắt nó làm những việc dơ bẩn ở ranh giới giữa thật và giả, giữa thủ công và lừa đảo. Xung quanh nó, toàn những lời đe nẹt, trách móc, đòi hỏi và van xin.

Dì Hà dừng lại một nhịp, nhấp một ngụm nước vối rồi tiếp tục, giọng dì chùng xuống đầy xót xa:

— Một người đàn ông trẻ tuổi, khi bị dồn vào chân tường bởi chính tình yêu thương ngột ngạt của gia đình và sự áp bức của miếng cơm manh áo, có những lúc họ chọn cách biến mất không phải vì họ gặp nạn, cũng chẳng phải vì họ muốn làm tổn thương ai. Họ biến mất đơn giản chỉ vì họ ngạt thở... Họ không còn cách nào khác để tự cứu lấy linh hồn mình ngoài việc tự tay bẻ gãy mọi mối dây liên hệ.

Lời nói của dì Hà như một nhát búa gõ nhẹ nhưng đanh thép vào tâm can Vi, làm vỡ tan những giả thuyết cơ học thuần túy về một vụ án hình sự mà cô và Khang đã dựng lên từ sáng. Hình ảnh người mẹ khóc lóc thảm thiết ở phòng tiếp dân, nhưng câu nào mở miệng ra cũng là “nó phải lo cho tôi”, “nó phải nuôi em”, và ánh mắt bấu víu đầy áp lực của người em gái Huệ bỗng nhiên hiện lên dưới một góc nhìn hoàn toàn khác.

— Cháu nhìn cách thằng bé dọn dẹp căn phòng trọ mà xem, — dì Hà nói tiếp, ánh mắt bao dung nhìn xoáy vào Vi. — Một người trước khi bỏ đi xa mà vẫn cẩn thận giặt sạch quần áo, lau khô ấm nước, thanh toán đủ tiền nhà cho bà chủ trọ, nhét tiền dành dụm vào tay mẹ già... đó là một con người tử tế đến tận cùng. Nó không trốn chạy trách nhiệm bằng sự hèn hạ, mà nó đang cố gắng trả nợ hết mọi ân tình trần thế trước khi tự giải thoát cho mình. Nó tháo SIM, tắt máy, vứt bỏ căn cước công dân... không phải để đánh đố công an hay thách thức xã hội, mà là nó đang tuyệt vọng cầu xin người thân đừng dùng những giọt nước mắt, sự van vỉ hay gánh nặng đạo đức để lôi nó quay trở lại cái vũng lầy tăm tối ấy nữa. Nó muốn chết đi trong thân phận cũ để được tái sinh ở một chân trời khác, dù có phải làm một kẻ vô danh trên vùng biên ải xa xôi.

Vi ngồi bất động bên bàn trà. Ánh hoàng hôn đã tắt hẳn, nhường chỗ cho màn đêm tím thẫm buông xuống những mái ngói rêu phong của ngõ Hàng Chỉ. Gió lạnh luồn qua song cửa sổ thổi lay lắt ngọn bấc của chiếc đèn dầu đặt trên kệ sách cổ.

Những lời phân tích của dì Hà không chỉ soi rọi vào góc khuất bi kịch của người thợ mộc trẻ An Huy, mà nó còn chạm mạnh vào một vết thương sâu kín đã đóng vảy trong góc tối tâm hồn cô. Vi nhớ lại mùa đông ba năm trước – cái ngày cô kiên quyết nộp lá đơn xin thôi việc tại tòa soạn báo lớn, tháo bỏ chiếc thẻ nhà báo điều tra từng là niềm kiêu hãnh của tuổi trẻ, tắt điện thoại suốt một tháng trời và cắt đứt liên lạc với toàn bộ mạng lưới đồng nghiệp cũ. Ngày ấy, cô cũng rời đi trong sự ngột ngạt của những thỏa hiệp vô hình, sự bất lực trước những vùng cấm truyền thông và những áp lực vô hình bóp nghẹt lý tưởng sống. Cô đã lùi sâu vào căn gác xép cũ kỹ này, tìm sự trú ẩn an toàn bên những trang tài liệu phủ bụi thời gian của kho văn khố nghiệp vụ, cũng chỉ để được thở một cách đàng hoàng.

Vi mở chiếc túi xách, lấy ra cuốn sổ tay bìa da màu nâu quen thuộc. Dưới ánh sáng vàng vọt của ngọn đèn dầu, cô nhìn lại bức ký họa vội mà mình đã phác lại hiện trường mặt bàn gỗ ép tại căn phòng trọ ven bãi sông Hồng: chiếc điện thoại úp mặt bên cạnh khay SIM trống hoác, xấp thẻ căn cước xếp vuông vức, và chiếc vé xe khách giường nằm màu xanh nhạt in tuyến đường hướng về dải biên giới phía Bắc.

Bất giác, hình ảnh căn phòng trọ trống hoác, ngăn nắp và sạch bóng bụi bặm dưới chân đê sông Hồng lại hiện về rõ mồn một trong tâm trí Vi, kéo theo một niềm xót xa thăm thẳm. Cô đặt ngón tay lên mép bản vẽ chiếc vé xe khách, lẩm nhẩm lại ý nghĩ đã đóng đinh trong đầu mình suốt từ trưa đến giờ:

“Người bị bắt cóc không bao giờ có đủ bình tĩnh để dọn sạch rác và xếp vé xe ngay ngắn thế này.”

Chương này thế nào?Đánh giá giúp Readeep đề xuất đúng hơn cho bạn