Hẹn Nhau Ở Phiên Chợ TớiC.6 / 12
Chương 6

Chiếc ghế mượn ở chợ đá Khe Nọi

Tiếng nước suối Khe Nọi réo ầm ào qua những tảng đá cuội xám xịt, cuộn tung từng vạt bọt trắng xóa như đàn ngựa hoang lồng lộn giữa khe sâu, át cả tiếng người mua kẻ bán mặc cả lanh lảnh lẫn tiếng xoong chảo va vào nhau lách cách bên mép chợ họp tạm trên bãi bồi sỏi cát. Gió sớm từ vách đá thốc xuống mang theo mùi rêu ẩm, mùi bùn non ngai ngái và hơi lạnh buốt giá đặc quánh của vùng núi đá cao sau trận mưa đêm.

Sau cuộc cãi vã căng thẳng chiều qua với Lò Văn Bình ở chân cầu thang nhà sàn Pú Chao — khi những bất đồng về lịch trình và cách nhìn nhận cuộc sống vùng cao giữa họ bị đẩy lên đỉnh điểm — Mai đã phải bấm bụng trở dậy từ bốn giờ sáng. Cô kéo Yến rời bản bằng một cuốc xe ôm chở hàng cọc cạch của một người quen dưới chân dốc, bất chấp sương mù còn giăng kín đặc như một tấm voan xám xịt trên mặt đường đất trơn nhẫy rễ cây. Mai muốn đến Khe Nọi thật sớm, trước khi con nước lớn từ thượng nguồn giáp biên đổ ập về hạ lưu, bởi một khi lũ quét tràn qua hẻm núi, phiên chợ đá độc nhất vô nhị này sẽ hoàn toàn biến mất dưới dòng nước đỏ ngầu phù sa.

Chợ đá Khe Nọi họp lạ lùng và trần trụi hơn mọi phiên chợ vùng cao mà Yến từng biết trong suốt những chuyến đi điền dã trước đây. Ở đây tuyệt nhiên không có mái tôn kiên cố, không có những bức tường gạch táp-lô hay bờ rào đá che chắn gió núi. Cả khu chợ chỉ là một bãi đá cuội tròn nhẵn khổng lồ trải dài thoai thoải ven bờ con suối cạn nước mùa này. Người ta dựng chợ bằng cách chôn sâu những cọc tre đực xuống nền cát sỏi nhấp nhô, căng bạt dứa xanh đỏ tạm bợ cốt che bớt sương muối và cái nắng gắt buổi trưa rọi xiên qua vách núi. Khi mặt trời đứng bóng hoặc khi có tiếng còi báo nước dâng từ trạm kiểm lâm đầu nguồn, cả khu chợ lại lục tục dịch chuyển: người ta nhổ cọc, gập bạt, khiêng bàn ghế dời dần lên từng bậc đá hoa cương cao hơn. Một trật tự buôn bán bấp bênh, mong manh nhưng lại tuân theo nhịp thở dữ dằn của thiên nhiên một cách kỳ lạ.

Hơi lạnh từ lòng suối bốc lên như kim châm qua lớp áo khoác gió mỏng mảnh của Yến, buốt rát da thịt. Đôi bàn chân cô dù đã xỏ tất len dày cộm vẫn cảm nhận rõ từng đợt hơi ẩm ngấm ngược từ nền sỏi lạnh ngắt dưới đế giày thể thao. Yến ghé vội vào quầy ăn sáng dựng bằng cọc tre và mái bạt xanh của ông Bùi Văn Tấn nằm ngay mép doi cát bồi, nơi làn khói bếp bảng lảng tỏa ra mùi mỡ hành thơm nức lẫn mùi củi mục cháy đượm.

Quán của ông Tấn sơ sài đến mức tội nghiệp, dường như có thể bị một cơn gió mạnh cuốn phăng xuống dòng nước cuốn. Gian quán chỉ gồm hai chiếc bàn ghép bằng dát nứa ọp ẹp đã lên nước bóng loáng vì mồ hôi và dầu mỡ, xung quanh kê dăm ba chiếc đôn gỗ tròn thấp tè cưa vội từ những thân gỗ thông mục. Điểm sáng duy nhất và cũng là trung tâm sinh khí của quầy hàng đơn sơ ấy là chiếc chõ gang to bản bốc khói nghi ngút trên kiềng sắt ba chân đỏ rực than củi, cùng một chiếc ghế gỗ mộc duy nhất có lưng tựa bằng hai thanh gỗ nghiến ghép vát, đặt sát mép bạt, quay mặt ra dòng nước cuồn cuộn.

Chiếc ghế ấy trông thật khác biệt giữa đống đồ đạc chắp vá: chân ghế làm bằng gỗ lõi vuông vức, các góc cạnh đã mòn nhẵn bóng bẩy vì vô số bàn tay chai sạn tựa vào, phần lưng tựa uốn cong nhẹ ôm lấy sống lưng người ngồi. Nó ngạo nghễ và vững chãi, như một món đồ quý hiếm giữa sự tạm bợ của bãi bồi.

— Cho cháu một bát phở chua nhé bác, — Yến nói, giọng run rẩy vì lạnh khi cô tháo chiếc ba lô đựng đồ nghề vẽ nặng trĩu đặt xuống một góc bờ đá khô ráo cạnh chân cọc bạt.

— Có ngay, phở chua ăn nguội kèm nước dùng nóng nhé cô em! — Ông Tấn đáp giọng hào sảng, hai tay thoăn thoắt làm việc không ngơi nghỉ.

Ông bốc một nắm bánh phở cán dẹt bản to thả vào chiếc bát sắt tráng men viền xanh đã sứt vài miếng men ở đáy. Đôi bàn tay thô kệch sạm đen vì nắng gió của người chủ quán phở thao tác chuẩn xác đến mức thuần thục: tay kia vung chiếc muôi nhôm chan một thìa đầy nước sốt giấm đường chua ngọt sẫm màu cánh gián, rắc thêm một nhúm lạc rang giã dập thơm lừng, mấy lát ớt ngâm măng chua đỏ rực cay sè sống mũi, và cuối cùng là dăm miếng thịt lợn bản xá xíu thái mỏng dính xếp đều tăm tắp như nan quạt. Một bát nước dùng ninh từ xương ống bò bốc khói nghi ngút, thơm lừng mùi hồi và thảo quả nướng, được đặt kèm ngay bên cạnh chiếc bát sắt men.

Bát phở chua Khe Nọi không dùng thứ bánh phở mềm nhũn, dễ nát như thứ sợi công nghiệp dưới xuôi. Sợi phở ở đây làm từ gạo nương hạt đanh, tráng tay dày dặn, cắn vào thấy dai giòn sần sật, đượm đà vị chua thanh thoát của giấm gạo bản lên men tự nhiên quyện chặt với vị bùi béo ngậy của lạc rang giã thô và cái cay nồng ấm sực của măng ớt rừng. Yến ăn vội nửa bát, cái cảm giác ấm nóng từ nước dùng thảo quả từ từ lan tỏa từ khoang miệng xuống dạ dày, xua tan đi cơn ớn lạnh buốt giá của chuyến xe máy rạng sáng.

Khi cái đói cồn cào tạm lắng xuống, bản năng thị giác của một người làm mỹ thuật trong Yến lập tức trỗi dậy mạnh mẽ. Ánh mắt cô bị hút chặt về phía dòng suối trước mặt: con nước trắng xóa đang gầm gừ cuộn qua những tảng đá cuội xám ngoét vân hoa chằng chịt, phía xa xa bên kia bờ là vách đá dựng đứng sừng sững phủ một thảm rêu xanh thẫm ướt đẫm nước rỉ, và lác đác những bóng người gùi hàng lom khom, cẩn trọng dò dẫm lội qua đoạn suối cạn giữa làn sương khói mờ ảo. Khung cảnh hiện lên trước mắt cô như một bức tranh thủy mặc sống động đến nghẹt thở, một bố cục tự nhiên mở ra chiều sâu hun hút mà không một ống kính máy ảnh hay một bức hình tư liệu nào từng chụp có thể lột tả hết được cái hồn cốt hoang dại ấy.

Trông thấy chiếc ghế gỗ mộc có lưng tựa đang để trống ở góc quầy, không có ai ngồi, Yến tiện tay nắm lấy thành ghế kéo lê trên nền sỏi. Bốn chân gỗ nghiến cọ xát vào đá cuội phát ra những tiếng lạo xạo khô khốc. Cô lôi chiếc ghế ra sát mép nước, kê ngay ngắn bên một tảng đá cuội phẳng lì cách quầy của ông Tấn chừng chục mét — một vị trí hoàn hảo, nơi tầm nhìn khoáng đạt không bị mép bạt dứa rách hay những cọc tre của quán che khuất.

— Bác ơi, cháu mượn chiếc ghế ra đây ngồi một lát nhé! — Yến ngoái đầu nói với vào trong quầy, giọng cô lọt thỏm giữa không gian khoáng đạt.

Tiếng búa gõ lách cách vào chân kiềng sắt cùng tiếng nước suối sôi ùng ục trong chõ gang át gần hết âm thanh. Ông Tấn chỉ ngẩng vội mái đầu hoa râm lên nhìn lướt qua khoảng sân sỏi, khẽ gật nhẹ đầu như một phản xạ tự nhiên của người bán hàng đang luống cuống chan nước dùng cho một tốp khách thợ xẻ đá vừa ùa vào ngồi chật kín chiếc bàn nứa. Yến yên tâm với cái gật đầu ấy. Cô ngồi xuống, tựa tấm lưng mỏi nhừ vào hai thanh gỗ nghiến vững chãi, khẽ thở phào một hơi khoan khoái.

Cô đặt hộp màu nước chuyên dụng lên đùi, mở cuốn sổ vẽ khổ lớn bọc da bò bằng giấy ép lạnh ba trăm gam dầy dặn, rút cây bút chì than chuốt nhọn hoắt và bắt đầu vạch những nét kỷ hà đầu tiên định hình bố cục. Yến không hề nói mình sẽ ngồi bao lâu, cũng chẳng mảy may hẹn giờ trả lại. Trong tâm thức của một thị dân trẻ tuổi quen với dịch vụ tiện ích nơi thành phố, chiếc ghế ấy đơn giản chỉ là một vật phẩm tiện nghi tạm thời của quán ăn mà cô đã trả tiền bát phở ba mươi nghìn đồng để thụ hưởng.

Thời gian trôi qua êm ả và lặng lẽ theo từng vệt màu nước loang trên mặt giấy sần. Yến say sưa pha sắc lam chàm với xám tro để đặc tả độ lạnh buốt thấu xương của lòng suối đá, rồi cẩn trọng dặm thêm những vệt vàng thổ hoàng nơi ánh nắng ban mai hiếm hoi bắt đầu le lói xuyên qua khe núi hiểm trở. Ngón tay cô uyển chuyển điều khiển ngọn cọ lông sóc, mải miết đến mức quên bẵng đi tiếng bước chân dồn dập xung quanh, quên cả sự chuyển dịch âm thầm nhưng đầy đe dọa của dòng nước ngay sát gót chân mình.

Đột nhiên, từ phía thượng nguồn thung lũng, một tiếng rít dài và trầm đục vọng lại như tiếng sấm rền ngầm dưới lòng đất.

Nước suối Khe Nọi bắt đầu đổi màu với tốc độ chóng mặt. Chỉ trong vài nhịp thở, từ sắc nước trong leo lẻo ánh xanh rêu mát mắt ban nãy, dòng suối bỗng chốc ngả sang màu đỏ gạch quánh đặc phù sa, sủi bọt ngầu đục quanh các hốc đá cuội ven bờ. Trận mưa rừng xối xả đêm qua tích tụ trên các đỉnh núi cao giáp biên giờ đây mới bắt đầu dồn ứ toàn bộ áp lực nước đổ dồn về hạ lưu. Mực nước dâng lên trông thấy từng tấc một, những con sóng nhỏ giận dữ liếm láp qua mép bãi bồi sỏi cát, chỉ trong chớp mắt đã ngập quá mắt cá chân những cọc tre cắm quán phở của ông Tấn.

— Nước về rồi! Chuyển bếp! Chuyển đồ lên bờ đá mau! — Tiếng ông Tấn hét giật giọng phá tan sự yên ả hiếm hoi của bãi bồi.

Cả một góc chợ đá lập tức nháo nhào trong hỗn loạn. Cậu phụ bếp trẻ tuổi trạc mười bảy, mặt cắt không còn hạt máu, cuống cuồng bê chiếc chõ gang nước dùng đang sôi sùng sục. Hai bàn tay cậu lót vội bằng hai mảnh bao tải gai ướt nhẹp bốc khói khét lẹt, bước chân trượt lập bập, loạng choạng trên nền sỏi cát nhão nhoét vì bùn nước. Ông Tấn một tay xách bổng chiếc kiềng sắt đỏ rực than củi văng tàn lửa tanh tách, tay kia lôi phăng chiếc bàn dát nứa giật lùi tháo chạy lên bờ đá hoa cương cao hơn mép nước gần ba mét. Bát đĩa tráng men trong sọt va vào nhau loảng xoảng, tiếng người la hét, tiếng giục giã dọn hàng, tiếng đá cuội va đập dưới lòng suối tạo nên một thứ âm thanh hỗn độn, biến mép bãi bồi ven suối thành một bãi chiến trường thực sự.

— Nhấc cái bàn nứa bên kia lên! Kê đá chèn chân cọc bạt lại không gió nó thốc lật bây giờ! Thằng Vàng đâu, vác bao gạo lên gờ đá ngay! — Ông Tấn vừa thở hồng hộc vừa lấy mu bàn tay ướt nhẹp quệt mồ hôi đầm đìa trên trán, gân cổ gào lên chỉ đạo.

Nước suối Khe Nọi dâng nhanh đến mức rợn người. Những tảng đá cuội nhẵn thín ven mép bãi chỉ trong vòng mười phút ngắn ngủi đã chìm nghỉm dưới dòng nước đỏ ngầu cuồn cuộn chảy xiết. Yến giật mình co rụt hai chân lại, luống cuống thu dọn hộp màu và bảng pha màu vào lòng để tránh nước bắn. Nước phù sa đã mấp mé đến chân chiếc ghế gỗ nghiến, nhưng vì tảng đá cô chọn kê ghế vốn cao hơn mặt bãi cát bồi một chút, nên cô chỉ hơi nhấc người, kéo chiếc ghế lùi sâu vào phía gờ đá chừng vài gang tay rồi lại tiếp tục cắm cúi tỉa nốt mảng bọt nước đang cuộn xoáy dữ dội trên trang giấy.

Với một người làm nghệ thuật như Yến, sự biến chuyển dữ dằn, khốc liệt của dòng nước lũ này lại càng tạo nên một cảnh tượng kỳ vĩ, một khoảnh khắc tương phản tuyệt mỹ đáng giá ngàn vàng trên trang ký họa. Cô đắm chìm trong cảm giác hưng phấn sáng tạo mà hoàn toàn không nhận ra rằng ở phía sau lưng mình, khoảng không gian khô ráo trên gờ đá của quán phở đã bị thu hẹp lại một cách thảm hại, chỉ còn vỏn vẹn vài mét vuông chật chội, nhung nhúc đồ đạc và những bước chân thợ thuyền ướt sũng.

Giữa lúc ông Tấn và cậu phụ việc đang chật vật dùng đòn bẩy kê lại chiếc bếp lò trên gờ đá dốc đứng, một bóng người tập tễnh bước xuống từ con dốc đất đỏ dẫn vào chợ phiên.

Đó là ông Chu Văn Phúc.

Ông mặc chiếc áo chàm truyền thống đã bạc phếch ở hai bên vai áo, sờn rách ở cổ tay, một bên ống quần xắn cao quá gối để lộ ra bắp chân gầy guộc chằng chịt những vết sẹo lồi lõm của năm tháng đi rừng. Tay phải ông chống một cây gậy đẽo bằng cành sa mộc mòn vẹt đầu, tay trái ôm chặt quai một chiếc gùi nan tre nặng trịch đeo lệch một bên sườn. Trong chiếc gùi cũ kỹ lèn chặt những vật dụng đan lát hỏng hóc: hai chiếc mẹt tre rách toạc mép đan và mấy thanh nan nứa uốn cong dài ngoằng dùng để nẹp lại chõng tre.

Mỗi bước chân của ông Phúc hạ xuống nền đá cuội đều là một sự gắng gượng đau đớn tột cùng. Khớp gối bên chân phải của ông dường như đã thoái hóa nặng nề, cứng đờ và sưng mọng, khiến cả thân hình gầy guộc của ông phải nghiêng hẳn sang một bên sau từng nhịp bước. Mồ hôi lạnh rịn ra trên trán ông lão dù gió suối đang thổi lồng lộng buốt giá.

Ông Phúc dừng lại ở mép bãi đá khô, chống gậy thở dốc từng cơn nặng nhọc. Hơi thở đứt quãng phả ra thành những làn khói mỏng manh giữa bầu không khí ẩm ướt nồng nặc mùi bùn. Đôi mắt già nua, đùng đục của ông hướng thẳng về góc quán quen thuộc của ông Tấn dưới mái bạt xanh — nơi mà suốt bao năm qua, mỗi phiên chợ đá họp về, luôn có một chiếc ghế gỗ nghiến có lưng tựa vững chãi chờ sẵn để ông đặt lưng nghỉ ngơi, xoa bóp cái khớp gối đang nhức buốt đến tận tủy xương sau chặng đường rừng dốc đứng.

Nhưng góc quán giờ đây chỉ còn trơ trọi những chiếc đôn gỗ tròn thấp tè không có lưng tựa, bùn đất bám lem nhem do vừa được lôi vội từ bãi bồi ướt nước lên. Chiếc ghế gỗ có lưng tựa duy nhất đã biến mất không dấu vết.

Ông Phúc ngơ ngác nhìn quanh, đôi mày bạc nhíu chặt lại. Rồi ánh mắt mệt mỏi của ông dừng lại ở tảng đá sát mép suối, nơi Yến đang ngồi vắt chéo chân khoan thai, tựa lưng thoải mái vào hai thanh gỗ nghiến vững chãi, ngón tay thon thả cầm cây cọ tỉa lướt thoăn thoắt trên mặt giấy trắng muốt.

Ông lão đứng sững lại giữa bãi đá gió lùa. Bàn tay gầy guộc, nổi đầy gân xanh nắm chặt lấy đầu gậy sa mộc run rẩy nhè nhẹ vì quá mỏi mệt. Ông không bước tới giục giã cô gái trẻ, cũng chẳng cất tiếng gọi hay phiền hà ai. Sau một thoáng ngập ngừng cay đắng, ông lẳng lặng hạ chiếc gùi nặng trịch xuống một phiến đá lởm chởm bên lối đi, rồi chậm chạp tựa tấm lưng còng cọc vào một thân cọc tre dựng bạt, đứng chôn chân chịu trận giữa những cơn gió núi buốt lạnh đang thốc từng luồng rát bỏng vào da thịt.

Đã gần hai tiếng đồng hồ trôi qua kể từ lúc Yến kéo chiếc ghế ra mép suối ngồi vẽ.

Ông Tấn sau khi kê xong chiếc kiềng sắt, châm lại mồi lửa cho nồi nước dùng và xếp gọn mấy chồng bát đĩa tráng men thì mới có thời gian ngẩng mặt lên thở dốc. Ánh mắt ông lập tức bắt gặp dáng đứng còng queo, xiêu vẹo của ông Phúc đang run rẩy tựa người vào cọc tre, chiếc chân đau co lên gập xuống một cách khổ sở.

Gương mặt người chủ quán phở sầm tối lại như bầu trời sắp đổ mưa giông. Đôi mắt ti hí của ông ánh lên vẻ giận dữ tột cùng. Ông nhìn chiếc gùi nan tre nằm chỏng chơ dưới chân ông cụ, nhìn cái đầu gối sưng tấy đang run lên bần bật, rồi quay phắt sang nhìn Yến — người vẫn đang thản nhiên rung đùi, thả hồn theo những vệt màu nước giữa mép suối cuồn cuộn sóng đỏ.

Cơn giận tích tụ từ sáng sớm — từ nỗi vất vả chạy nước suối dâng, từ sự bức bối khi không gian quán bị dồn ép đến ngạt thở — bùng nổ dữ dội trong lồng ngực người đàn ông vùng cao. Ông Tấn không nói không rằng, sầm sập sải những bước chân nặng trịch qua bãi sỏi lạo xạo, đi thẳng ra chỗ tảng đá Yến đang ngồi.

Không một lời báo trước hay một tiếng đằng hắng, ông Tấn vươn hai bàn tay gân guốc chụp lấy phần lưng tựa bằng gỗ nghiến của chiếc ghế, giật mạnh về phía sau!

Cú giật bất thình lình khiến chiếc ghế chao đảo dữ dội. Yến chới với, mất thăng bằng suýt nữa ngã nhào từ trên tảng đá xuống dòng nước cuộn đỏ ngầu dưới chân. Hộp màu nước trên đùi cô trượt nghiêng, chiếc lọ thủy tinh rửa cọ lật úp làm nước đục ngầu bắn tung tóe ra mép quần bò và văng cả vào góc bức tranh chưa kịp khô.

— Này cô! Đứng dậy ngay! — Tiếng ông Tấn gắt lên như sấm nổ ngang tai, át cả tiếng nước gầm réo dưới chân vách đá.

Yến hốt hoảng ôm chặt lấy cuốn sổ vẽ vào ngực, mặt cắt không còn một hạt máu. Tim cô đập thình thịch trong lồng ngực, môi lắp bắp vì sợ hãi lẫn phẫn nộ:

— Bác… bác làm cái gì thế ạ? Cháu đang ngồi vẽ cơ mà! Sao bác lại giật ghế của cháu?

— Vẽ cái gì mà vẽ! Cô có biết cô ngồi ở đây bao lâu rồi không hả? — Ông Tấn trợn trừng hai mắt, gân cổ nổi lên cuồn cuộn dưới làn da cháy nắng, hai bàn tay thô ráp ghì chặt lấy thành ghế như muốn bóp nát thanh gỗ. Giọng nói the the, bực dọc cay đắng của ông vang vọng khắp một góc bãi bồi. — Cô mua của tôi một bát phở ba mươi nghìn bạc từ lúc sương sớm còn chưa tan trên đỉnh núi, mà cô kéo cái ghế này ra đây chiếm chỗ suốt hai tiếng đồng hồ! Cô tưởng cô bỏ ra mấy đồng bạc lẻ ăn sáng là cô có quyền mua đứt cái ghế kiếm cơm của người ta cả buổi chợ chắc?

Mấy người thợ xẻ đá đang xì xụp húp nước phở trên bờ đá đồng loạt dừng đũa, dỏng tai nghe. Vài người phụ nữ gùi rau, gùi măng đi ngang qua cũng dừng bước, ngoái đầu lại nhìn trỏ, xì xào bàn tán.

Mặt Yến đỏ bừng lên vì sượng sùng và nhục nhã. Cô thấy mình bị xúc phạm giữa chốn đông người, cố gắng lấy lại bình tĩnh để cất giọng thanh minh:

— Cháu… cháu có xin phép bác mượn ghế ra đây ngồi một lát rồi mà… Lúc nãy cháu hỏi, rõ ràng bác đã gật đầu đồng ý…

— Tôi gật đầu là tôi tưởng cô ngồi dăm mười phút nghỉ cái chân hay ngắm con nước rồi cô trả lại cho quán tôi làm ăn buôn bán! — Ông Tấn cắt ngang lời cô một cách tàn nhẫn, không cho Yến một khe hở nào để biện bạch. — Ai mà ngờ cô ngồi ỳ ra đây từ sớm đến trưa trật! Nước suối thượng nguồn nó dâng ngập cả bãi cát, người ta chạy đồ bở cả hơi tai, khiêng chõ bỏng cả tay cô cũng ngồi giương mắt ra mặc kệ! Cô chỉ biết cái bức tranh của cô thôi à? Cô nhìn lên bờ đá kia xem!

Ông Tấn vung cánh tay đen sạm chỉ thẳng về phía cọc bạt dứa ướt nhẹp, nơi ông Phúc đang đứng co ro, một tay bám chặt vào thân tre, một tay ôm lấy đầu gối đang run bần bật từng chập:

— Cô nhìn thấy bác Phúc chưa? Bác ấy chống gậy đi bộ hơn bốn cây số đường đèo dốc từ bản tít trên cao xuống đây, gùi đồ nan hỏng đến giao cho tôi theo đúng cái hẹn từ phiên trước! Tôi với bác ấy có cái giao kèo đổi công từ bao năm nay ở cái chợ Khe Nọi này: bác ấy nhận chẻ nan, nẹp lại mấy cái chõng tre ọp ẹp với vá mẹt rách cho quán tôi, đổi lại tôi phần riêng cho bác ấy một bát phở nóng có nhiều thịt với chiếc ghế có lưng tựa này để bác ấy ngồi đan lát, nghỉ cái khớp gối thoái hóa cho đỡ buốt! Người ta già cả rồi, chân đau không đứng lâu được, đến cái chợ đá này người ta chỉ trông vào một cái chỗ ngồi quen thuộc để thở dốc, để nắn lại cái chân! Thế mà cô vác ghế đi biệt tăm biệt tích, để một ông già tật nguyền phải đứng chôn chân chịu rét suốt nửa tiếng đồng hồ ngoài gió núi kia kìa!

Từng lời, từng chữ của ông Tấn như những nhát búa tạ giáng thẳng xuống sự tự mãn và vô tâm của Yến.

— Cái chỗ này là chỗ mưu sinh, là chỗ đổi công đổi việc của người lao động nghèo chúng tôi, không phải cái công viên dưới xuôi để các cô ngồi vắt vẻo ngắm nghía lãng mạn đâu! — Ông Tấn gằn giọng từng tiếng chát chúa trước khi giật phắt chiếc ghế quay đi.

Yến chết lặng giữa tảng đá cuội.

Gió suối thốc vào mặt cô lạnh buốt, nhưng hai gò má cô lại nóng bừng như bị lửa đốt. Chiếc ghế gỗ mộc mạc, cũ kỹ, thô nhám mà cô ngỡ chỉ là một vật dụng vô tri, một tiện nghi ngẫu nhiên có thể tùy tiện di dời để phục vụ cho sự thăng hoa nghệ thuật của cá nhân mình, hóa ra lại mang một sức nặng sinh tồn khủng khiếp đến thế. Nó là một mắt xích không thể thiếu trong một giao ước lao động nghiêm ngặt và đầy ân nghĩa giữa hai con người lam lũ chốn sơn cước. Một người đổi một bát ăn ấm bụng và một chỗ ngồi giữ gìn chút sức tàn; một người đổi công sức tỉ mẩn chẻ nan, nẹp chõng để quán hàng tiếp tục tồn tại qua mùa lũ.

Sự xuất hiện tùy tiện của cô — cùng cái thói quen xem nhẹ không gian công cộng nơi chợ phiên của một kẻ quen sống trong tiện nghi đô thị — đã vô tình phá vỡ trật tự sinh kế thiêng liêng ấy suốt hai giờ đồng hồ. Cô đã cướp đi chỗ nghỉ của một người già đau yếu mà không hề hay biết, chỉ vì cô nghĩ "mình đã trả tiền bát phở".

Yến lí nhí không thốt nên lời xin lỗi nào cho trọn vẹn, vội vàng đứng bật dậy khỏi tảng đá. Đôi chân cô do ngồi bất động một tư thế quá lâu trên mặt phẳng gồ ghề bỗng tê dại đi như có ngàn mũi kim châm, khiến cô lảo đảo, suýt nữa trượt chân ngã xuống mép rêu trơn tuột.

Ông Tấn không thèm quay đầu lại nhìn vẻ bối rối bẽ bàng của cô gái trẻ. Ông một tay xách phăng chiếc ghế gỗ nghiến nặng trịch, rảo bước thoăn thoắt leo lên bờ đá cao. Ông cẩn thận đặt chiếc ghế vào góc khô ráo nhất, khuất gió nhất dưới mái bạt xanh, rồi quay sang ông Phúc, cất giọng sang sảng nhưng chứa chan sự kính trọng và ấm áp khác hẳn lúc nãy:

— Bác Phúc! Bác vào đây ngồi mau đi cho đỡ buốt cái chân! Để cháu múc ngay bát phở nóng hổi nhiều nước béo sang cho bác!

Ông Phúc khẽ gật đầu, nở một nụ cười mệt mỏi trên bờ môi thâm tím vì lạnh. Ông lê từng bước chân nặng nề, khó nhọc tiến lại gần, rồi từ từ hạ tấm lưng còng và cái khớp gối sưng tấy xuống mặt ghế gỗ vững chãi. Một tiếng thở phào nhẹ nhõm run rẩy thoát ra từ lồng ngực gầy guộc của ông lão, như thể toàn bộ gánh nặng của chặng đường đèo bốn cây số lúc này mới thực sự được trút bỏ.

Yến đứng trơ trọi bên mép đá ướt sũng, hai tay ôm khư khư cuốn sổ vẽ bị lem nhem vài giọt nước suối đục ngầu. Một cảm giác tội lỗi đè nặng, bóp nghẹt lồng ngực cô, xen lẫn sự xấu hổ ê chề.

Cô nhìn trộm về phía góc quán bạt xanh. Dưới ánh sáng le lói của bếp than rực đỏ, ông Phúc đang run rẩy đưa hai bàn tay gầy guộc xoa nắn lấy đầu gối bên phải qua lớp vải chàm thô ráp. Gương mặt ông hiện rõ mồn một trước mắt cô: những nếp nhăn hằn sâu hoắm như những rãnh cày trên nương đá mùa khô cằn, hai gò má hóp lại, mái tóc bạc lơ thơ bết dính những giọt mồ hôi lạnh, và đôi mắt đùng đục, xa xăm nhìn dòng nước lũ cuồn cuộn chảy xiết dưới lòng suối Khe Nọi.

Trông ông cô đơn, kiệt quệ và khắc khổ đến nao lòng.

Trong đầu Yến, phản xạ nghề nghiệp cố hữu của một người vẽ tranh lại bất giác trỗi dậy một cách vô thức. Đứng trước một hình ảnh có sức lay động thị giác và đầy kịch tính như thế, cô bỗng nảy ra một ý nghĩ: cô muốn chuộc lỗi bằng nghệ thuật. Cô muốn vẽ tặng ông lão một bức chân dung ký họa tả thực thật sống động. Cô sẽ đặc tả trọn vẹn vẻ mặt phong trần dầu dãi, ánh mắt u hoài chất chứa tâm sự và sự nhẫn nại phi thường của một "ông lão vùng cao lam lũ giữa phiên chợ đá".

Ý nghĩ ấy khiến Yến cảm thấy phấn chấn và được an ủi phần nào; sự tự mãn nghệ thuật lại len lỏi trở lại. Cô tin chắc rằng vẻ đẹp bi tráng, khắc khổ ấy nếu được đưa vào bộ tranh lịch miền núi sắp tới sẽ chạm đến đáy sâu cảm xúc của những độc giả thị thành, và biết đâu đấy, người thợ già khốn khổ kia sẽ cảm thấy vui lòng, cảm thấy mình được tôn vinh khi nhìn thấy chân dung của mình được khắc họa trân trọng trên trang giấy vẽ đắt tiền.

Nghĩ là làm, Yến bước từng bước ngập ngừng qua những tảng đá trơn ướt, tiến lại gần góc quán của ông Tấn. Cô dừng lại cách chiếc ghế của ông Phúc một khoảng cách chừng vài bước chân, giữ một tư thế thật lễ phép, cất giọng rụt rè:

— Cụ… cụ ơi, cháu xin lỗi cụ nhiều lắm ạ. Lúc nãy cháu vô ý quá, cháu không biết nên đã chiếm mất chỗ ngồi quen của cụ…

Ông Phúc dừng tay xoa bóp đầu gối, chậm rãi ngước đôi mắt đùng đục lên nhìn cô gái trẻ. Ánh mắt ông phẳng lặng như mặt nước hồ sâu, không có chút giận dữ hằn học nào như ông Tấn ban nãy, nhưng lại toát lên một sự xa cách lạnh lùng, một khoảng cách vô hình của một người cả đời chỉ quen nói chuyện bằng sức lao động và sự sòng phẳng.

— Không sao đâu cô em. Người trẻ dưới xuôi các cô chưa quen đi chợ đá, chưa biết tính con nước với cái lệ chỗ ngồi ở đây thôi, — ông cụ nói, giọng trầm đục, khàn khàn nhưng rành rọt từng tiếng.

Thấy ông lão không buông lời trách mắng, Yến như mở cờ trong bụng. Cô đánh bạo bước thêm nửa bước, mở cuốn sổ vẽ ra rồi hạ giọng tha thiết:

— Dạ, cháu cảm ơn cụ ạ. Thực ra cháu là họa sĩ dưới Hà Nội lên đây khảo sát để vẽ một bộ tranh lịch về cuộc sống vùng cao. Nãy giờ cháu nhìn cụ vất vả quá… Cháu thấy thương cụ lắm… Cháu muốn xin phép được ngồi đây vẽ một bức ký họa chân dung của cụ được không ạ? Cháu muốn vẽ lại gương mặt từng trải, khắc khổ và đầy nghị lực của cụ bên bến chợ Khe Nọi này… Khi vẽ xong, cháu sẽ gửi tặng cụ một bản in thật đẹp mang về treo trong nhà làm kỷ niệm ạ.

Yến vừa dứt lời, nụ cười cầu thị còn chưa kịp tắt trên môi thì bàn tay đang xoa nắn đầu gối của ông Phúc bỗng khựng lại giữa không trung.

Không khí xung quanh dường như đông cứng lại trong tích tắc.

Gương mặt hiền từ, mệt mỏi của ông cụ đanh lại một cách rõ rệt. Những nếp nhăn quanh khóe mắt co rúm lại, ánh nhìn đùng đục ban nãy bỗng lóe lên một tia sáng sắc lạnh, nghiêm nghị. Ông không nhận lời, cũng chẳng mỉm cười trước lòng tốt của cô gái thị thành. Thay vào đó, ông dứt khoát xua mạnh bàn tay gầy guộc giữa khoảng không, một cử chỉ cự tuyệt không chút do dự.

— Thôi cô em! Cất cái sổ vẽ ấy đi, đừng có vẽ cái mặt tôi làm gì! — Giọng ông Phúc bỗng đanh lại, mang theo một sự tự ái sâu sắc và cay đắng của một người thợ già suốt đời sống bằng đôi tay mình.

Yến sững người, nụ cười đông cứng trên mặt:

— Ơ… cụ ơi, cháu…

— Mặt tôi có cái gì mà khắc với khổ? — Ông Phúc ngắt lời cô, giọng ông tuy không gắt gỏng như tiếng thét của ông Tấn nhưng lại có sức nặng nghìn cân khiến người nghe phải chột dạ. — Tôi già rồi, cái khớp gối nó hỏng theo cái tuổi tác của trời đất thì tôi đi chậm, tôi phải chống gậy. Tôi chống gậy đi kiếm miếng ăn, chứ tôi có phải kẻ tàn tật đi ăn xin đầu chợ xó chợ đâu mà cô bảo cô thương với hại? Cô đòi vẽ cái mặt tôi lên tranh để cho người ta nhìn vào rồi thương hại tôi à?

Từng câu nói của ông lão như những mũi kim đâm thẳng vào tim Yến. Cô chết trân tại chỗ, câu từ nghẹn ứ lại nơi cuống họng. Lời đề nghị mà cô đinh ninh là một cử chỉ chuộc lỗi cao thượng, một sự "tôn vinh vẻ đẹp lao động", hóa ra lại bị xem là một sự sỉ nhục trần trụi đối với lòng tự trọng của người đối diện.

Ông Phúc với tay kéo chiếc gùi tre lại sát chân mình. Ông lôi từ trong gùi ra chiếc mẹt tre đã rách toạc một mảng đan lớn ở giữa đáy, rồi rút từ trong cạp quần ra một con dao vót nan nhỏ chỉ bằng ngón tay cái. Lưỡi dao bằng thép nhíp xám xịt nhưng phần mép sắc lẹm, sáng bóng lên dưới ánh sáng ban ngày nhờ được mài giũa cẩn thận qua hàng ngàn phiên chợ:

— Tôi đến cái chợ Khe Nọi này là để làm việc! Tôi đổi công với chú Tấn, sửa lại đồ đạc hỏng hóc để lấy bát phở ăn, chứ tôi không phải cái tượng đá ngồi đây làm cảnh cho người ta chụp ảnh, vẽ tranh mua vui hay để người ta nhỏ vài giọt nước mắt xót thương! Người miền núi chúng tôi sống được là nhờ đôi bàn tay này còn biết cầm dao, còn biết chẻ nan, còn biết vá cái mẹt, cái chõng tre cho người khác dùng. Chừng nào tôi còn tự nuôi được cái thân tôi thì tôi không có gì là khổ cả! Nếu cô muốn vẽ tôi như một kẻ đáng thương để người dưới xuôi nhìn vào chép miệng tội nghiệp thì tôi cấm tiệt, tôi không cho vẽ!

Sự kiêu hãnh thầm lặng nhưng cứng cỏi như đá núi của người thợ già khiến Yến bàng hoàng tột độ.

Trong giây phút ấy, một chuỗi những ký ức cay đắng trong suốt chuyến đi chợt ùa về dồn dập trong tâm trí cô: bài học nhức nhối với chiếc thau nhôm cũ kỹ của bà Duyên ở Pả Lùng, sự ngượng ngùng bên nồi thắng cố của bà Mỷ ở phiên chợ Sín Mây, hay ánh mắt cấm đoán nghiêm ngặt của ông Vàng A Sính trước cửa kho thóc gia đình… Cứ mỗi lần cô bước chân vào thế giới này với tâm thế của một kẻ ban phát cái nhìn nghệ thuật, cứ mỗi lần cô cố tình nhào nặn những con người bằng xương bằng thịt nơi đây thành một "biểu tượng" mỹ miều, bi tráng theo định kiến của riêng mình, cô lại vấp phải bức tường tự trọng kiên cố của họ.

Họ không cần thứ nghệ thuật thi vị hóa nỗi nhọc nhằn của họ. Họ không cần sự thương hại của những thị dân no đủ muốn tìm kiếm cảm xúc thẩm mỹ từ sự thiếu thốn của người khác. Cái họ cần duy nhất là sự sòng phẳng, là sự thừa nhận và tôn trọng đối với giá trị lao động thực tế mà họ đang cống hiến cho cuộc đời.

Nhìn những ngón tay gầy guộc, sần sùi với những vết sẹo cứa ngang dọc của ông Phúc đang thoăn thoắt bấm vào mép mẹt, lựa từng sợi nan nứa cũ để chuẩn bị đan dặm, Yến hít một hơi thật sâu. Lồng ngực cô thắt lại, nhưng tâm trí cô bỗng trở nên sáng tỏ lạ lùng. Cô gạt bỏ hoàn toàn ý nghĩ về một bức tranh chân dung bi lụy, gạt bỏ cái tôi nghệ sĩ phù phiếm sang một bên.

Cô cúi đầu thật thấp trước người thợ già, cất lời bằng tất cả sự thành khẩn xuất phát từ đáy lòng:

— Cụ ơi, cháu hiểu rồi ạ. Cháu xin lỗi cụ thật lòng, là do cháu nghĩ nông cạn và hồ đồ quá… Cháu xin lỗi vì đã xúc phạm đến cụ. Cháu hứa cháu sẽ không vẽ mặt cụ nữa đâu ạ. Nhưng… cụ cho phép cháu được ngồi nép ở góc đá đằng kia, chỉ xin được vẽ đôi bàn tay cụ đang vót nan và vá lại chiếc mẹt này thôi được không ạ? Cháu muốn ghi lại công việc đan lát của cụ cho thật đúng, từng mối nan, từng thớ nứa, cháu sẽ không thêm thớt hay bịa đặt bất cứ chi tiết nào hết ạ.

Ông Phúc dừng lưỡi dao vót nan trên thanh nứa tép, ngẩng đầu lên nhìn sâu vào đôi mắt Yến.

Đôi mắt người thợ già nheo lại, quan sát từng biểu cảm trên gương mặt cô gái trẻ. Nhận thấy sự ăn năn chân thật trong ánh nhìn cúi xuống và đặc biệt là sự chuyển biến rõ rệt trong cách dùng từ của cô — từ sự thương hại dành cho "gương mặt khắc khổ" chuyển sang sự tôn trọng đối với "đôi bàn tay vót nan vá mẹt" — nét mặt căng thẳng của ông cụ từ từ giãn ra. Ánh mắt ông dịu lại như ánh chiều buông trên nương ngô.

Ông im lặng một thoáng lâu, chỉ có tiếng suối rầm rì phía sau lưng đáp lời. Rồi ông khẽ cúi đầu xuống chiếc mẹt, ngón tay cái chai sạn tì chặt lên dải nan nứa mỏng dính, giọng nói trầm xuống nhưng không còn vẻ gay gắt:

— Vẽ tay làm việc thì được. Nhưng liệu mà ngồi nép vào mép đá tít đằng kia, đừng có chắn lối người ta bưng nước phở qua lại mà bỏng người ta. Mà nhớ vẽ cho đúng đấy nhé: cái nan này là nan cật nứa tép trên đỉnh Pú Chao, phải luộc kỹ bằng nước tro bếp rồi mới phơi khô để chống mọt. Khi đan vá cái đáy mẹt này phải đan mắt đôi đè ba, nẹp cạp bằng mây rừng, chứ không phải đan liếp bừa bãi như mấy thứ rổ rá hàng chợ dưới xuôi đâu.

— Dạ! Cháu nhớ rồi ạ, cháu cảm ơn cụ nhiều lắm! — Yến thở phào nhẹ nhõm, cảm giác như một khối đá tảng vừa được nhấc khỏi lồng ngực mình.

Lần này, cô tuyệt nhiên không dám tìm kiếm bất kỳ một chỗ ngồi êm ái hay tiện nghi nào nữa. Yến dời hẳn sang một tảng đá cuội khô ráo nằm nép sát vào vách đá hoa cương dựng đứng, hoàn toàn nằm ngoài luồng di chuyển của khách ăn phở và cách xa dòng nước lũ đang cuồn cuộn gầm gào dưới mép bãi. Cô ngồi xổm trên mặt đá gồ ghề, đặt cuốn sổ vẽ lên hai đầu gối làm điểm tựa, cẩn thận đặt từng nét bút chì than đầu tiên lên mặt giấy.

Dưới ngòi bút của Yến, đôi bàn tay của ông Chu Văn Phúc hiện lên không phải như một chứng tích tàn tạ của tuổi già hay bệnh tật, mà là một thực thể sống động của kỹ nghệ và nghị lực sinh tồn. Từng khớp ngón tay to bè, thô ráp, những móng tay cáu bẩn bám chặt lấy sống dao vót điêu luyện, lướt ngọt xớt qua từng thớ nứa dẻo quánh để cho ra đời những dải nan mỏng tang, đều đặn tăm tắp. Động tác luồn nan, đè nan, siết chặt từng mắt đan của ông cụ chuẩn xác và nhịp nhàng đến kinh ngạc, tựa như một vũ điệu của sự sinh tồn được tôi luyện qua hàng chục năm ròng rã. Nhìn đôi bàn tay ấy làm việc, không một ai có thể nghĩ rằng nó thuộc về một người già đang phải cắn răng chịu đựng những cơn đau nhức buốt xương từ khớp gối thoái hóa.

Từ phía con dốc đá trên cao dẫn vào chợ, một bóng người quen thuộc bước xuống.

Mai tay cầm cuốn sổ ghi chép hành trình dày cộp, tay kia xách một túi hạt dẻ nướng nóng hổi vừa mua ở dãy hàng rong đầu dốc. Đôi mắt sắc sảo của cô quét nhanh qua toàn cảnh bãi bồi: nhìn thấy Yến đang ngồi co ro trên tảng đá cuội sát vách núi chăm chú phác họa đôi tay ông lão, nhìn thấy chiếc ghế tựa gỗ nghiến đã nằm ngay ngắn bên cạnh bàn nứa của ông Phúc, và nhìn thấy ông Tấn đang cẩn thận đặt bát phở bốc khói nghi ngút trước mặt người thợ già, Mai lập tức xâu chuỗi được toàn bộ câu chuyện vừa diễn ra.

Mai bước lại gần, không hề lên tiếng cắt ngang nét vẽ đang liền mạch của bạn mà chỉ lẳng lặng đứng bên cạnh quan sát từng chuyển động của ngòi bút chì than. Cho đến khi Yến dừng tay lại, cẩn thận nhúng ngọn cọ vào chiếc lọ nước nhỏ để chuẩn bị lên lớp màu đầu tiên, Mai mới khẽ cất tiếng, giọng bình thản nhưng đầy ngụ ý:

— Lại vừa gây chuyện với chiếc ghế của quán đúng không?

Yến giật thót mình ngẩng đầu lên, bắt gặp ánh mắt thấu suốt của Mai. Cô gượng cười một cách ngượng ngùng, hai má lại ửng đỏ:

— Cậu tinh thật đấy… Tớ vừa bị ông Tấn mắng cho một trận nhớ đời. Tớ cứ đinh ninh mua bát phở rồi thì muốn mượn cái ghế ngồi vẽ bao lâu cũng được…

Mai khẽ thở dài, bước tới ngồi xuống một gờ đá bên cạnh bạn. Cô mở túi giấy, chìa mấy hạt dẻ nướng nứt vỏ thơm lừng về phía Yến, giọng cô trầm và chắc nịch, mang theo sự từng trải sâu sắc của một người đã nhiều năm lăn lộn buôn bán qua khắp các chợ phiên miền ngược:

— Ở chợ phiên vùng cao, nhất là cái chợ tạm bợ họp ven bãi bồi sỏi đá như Khe Nọi này, không bao giờ có cái gì gọi là 'tiện nghi thoải mái' vô điều kiện đâu Yến ạ. Cậu nhìn xung quanh xem, con nước suối thượng nguồn nó dâng lên một tấc là cả cái khu chợ này phải co cụm lại một mét. Từng mét vuông bãi đá khô ráo, bằng phẳng ở đây đều là tài sản mưu sinh có chủ quyền bất thành văn của người ta. Người ta phải tranh nhau từng hòn đá cuội phẳng để kê được cái bếp lò đỏ lửa, đặt được cái bàn nứa bán bát ăn. Chiếc ghế gỗ nghiến có lưng tựa duy nhất của quán ông Tấn không phải là đồ nội thất bày biện ra để trang trí cho đẹp mắt hay để phục vụ khách ngồi ngắm cảnh; nó là một công cụ lao động, là một vật trao đổi sinh kế cực kỳ quan trọng để ông ấy giữ mối làm ăn và duy trì cái giao ước đổi công sửa đồ với ông Phúc.

Mai chỉ tay về phía chiếc chõng tre ọp ẹp đang nằm chờ nẹp lại dưới gầm bàn nứa của quán phở:

— Cậu kéo chiếc ghế ấy ra mép nước ngồi vẽ suốt hai tiếng đồng hồ, đồng nghĩa với việc cậu đã tước đoạt mất hai tiếng nghỉ ngơi quý giá của một người già tàn tật sau chặng đường leo đèo buốt giá. Cậu làm gián đoạn toàn bộ công việc sửa chữa bàn ghế phục vụ cho cả quán, và cậu gián tiếp làm mất đi một chỗ ngồi đắc địa có thể xoay vòng cho bốn, năm lượt khách thợ xẻ đá vào ăn phở. Ở cái chốn khắc nghiệt này, chỗ ngồi và thời gian chờ đợi đều được quy đổi sòng phẳng thành tiền bạc, thành bát cơm, thành miếng ăn nuôi sống cả gia đình người ta. Cậu không thể đem cái tư duy đi cà phê máy lạnh dưới phố, trả mấy chục nghìn tiền nước rồi mặc nhiên ngồi chiếm bàn làm việc cả buổi sáng để áp đặt lên cái chợ đá này được đâu.

Từng lời phân tích của Mai như mở toang những góc khuất nhận thức mà bấy lâu nay Yến chưa từng chạm tới. Cô cắn chặt môi, mắt nhìn chằm chằm vào bức tranh đôi bàn tay vá mẹt đang dần thành hình trên trang giấy.

Những nét chì, những mảng màu nước giờ đây không còn là sự biểu diễn kỹ thuật thuần túy của một họa sĩ thị thành nữa. Chúng mang theo sức nặng của sự trả giá, của bài học về sự va đập giữa hai thế giới quan. Yến cay đắng nhận ra rằng cái đẹp thực sự của đời sống lao động vùng cao không bao giờ nằm ở những hình tượng bi tráng, khắc khổ do những kẻ đứng ngoài tự huyễn hoặc và tô vẽ để thỏa mãn nhu cầu cảm xúc của bản thân. Cái đẹp ấy nằm ở sự sòng phẳng, kiên cường và lòng tự trọng thiêng liêng của những con người đang ngày ngày chật vật bám lấy từng tảng đá cuội, từng mét vuông bãi bồi để mưu sinh giữa sự nghiệt ngã của thiên nhiên.

— Tớ biết lỗi của tớ rồi, — Yến khẽ nói, giọng cô chân thành và đầy kiên định.

Cô cẩn thận gấp cuốn sổ vẽ lại sau khi lớp màu nước đã se mặt, xếp gọn các tuýp màu vào ba lô rồi đứng dậy, đưa tay phủi sạch lớp bụi cát bám trên ống quần bò.

— Để tớ sang thanh toán tiền mượn chỗ đàng hoàng cho bác Tấn.

Yến bước những bước vững chãi trở lại quầy phở. Lúc này, nước suối Khe Nọi đã ngoạm sâu vào bờ cát, nuốt chửng hơn nửa bãi bồi cũ. Tiếng nước gầm réo cuộn xiết dưới chân bờ đá nghe rợn người, bọt nước đỏ ngầu bắn tung tóe lên tận những cọc tre cắm quán. Ông Tấn đang cặm cụi lúi húi rửa một chồng bát sắt tráng men trong một chiếc chậu nhôm lớn kê trên mỏm đá cao.

— Bác Tấn ơi, — Yến cất tiếng gọi nhẹ nhàng.

Cô rút từ trong chiếc ví vải ra một tờ tiền mệnh giá năm mươi nghìn đồng, cẩn thận đặt ngay ngắn lên mặt bàn nứa khô ráo trước mặt người chủ quán:

— Cháu gửi bác tiền bát phở chua lúc sáng ạ. Và cháu xin phép được gửi thêm hai mươi nghìn tiền cháu mượn chiếc ghế gỗ của bác để ngồi vẽ suốt hai tiếng đồng hồ vừa rồi. Cháu thực sự xin lỗi bác vì sự vô ý của cháu đã làm phiền đến quán, và làm ảnh hưởng đến chỗ nghỉ ngơi của cụ Phúc ạ.

Ông Tấn dừng tay rửa bát, ngẩng khuôn mặt đẫm mồ hôi và khói bếp lên. Ông nhìn tờ tiền năm mươi nghìn phẳng phiu trên mặt bàn nứa, rồi ngước nhìn thẳng vào gương mặt chân thành, ánh mắt không còn chút tự phụ nào của cô gái trẻ. Cơn giận dữ lôi đình lúc ban sáng dường như đã tan biến tự lúc nào, nhất là sau khi ông đứng từ xa chứng kiến cô gái ngoan ngoãn dời chỗ sang tảng đá khô sát vách núi, ngồi xổm hàng giờ liền chỉ để cắm cúi vẽ lại đôi bàn tay vót nan của ông Phúc.

Người chủ quán phở khẽ thở dài một tiếng, đưa bàn tay ướt sũng lau vào chiếc tạp dề bằng bao tải gai trước bụng. Ông cầm tờ tiền lên, nhưng ngón tay thô ráp chỉ rút lấy ba mươi nghìn đồng tiền bát phở chua, rồi dứt khoát đẩy tờ hai mươi nghìn còn lại ngược về phía mép bàn của Yến:

— Tiền bát phở thì tôi cầm đúng giá, còn tiền mượn ghế thì tôi không lấy. Cất đi cô em. Quán tôi ở cái chợ đá này là quán bán đồ ăn thức uống cho người lao động, chứ tôi không mở cái dịch vụ cho thuê chỗ ngồi lấy tiền lẻ. Lúc sáng tôi có nặng lời mắng cô là mắng để cô hiểu cái lý, cái lẽ sống ở cái chợ này: muốn dùng đồ của ai thì phải mở miệng hỏi cho rõ ngọn ngành, phải biết cái đồ ấy người ta dùng vào việc gì và lúc nào người ta cần đến nó. Cô biết nhận ra cái sai, biết dẹp cái tự ái đi mà ngồi nép vào cho người ta làm ăn, thế là cô biết điều rồi.

Nói đoạn, ông Tấn quay đầu nhìn về phía ông Phúc — người lúc này đã ăn xong bát phở nóng và đang tỉ mẩn dùng dây mây nẹp chặt vành mẹt:

— Bác Phúc bác ấy vừa khen cô đấy. Bác ấy bảo con bé dưới xuôi thế mà khéo tay, vẽ đôi bàn tay cầm dao vót nan của bác ấy trông gân guốc, chuẩn chỉ y như thật, nhìn vào là thấy ngay cái nét của thợ đan lành nghề chứ không phải vẽ bậy bạ. Phiên chợ tới con nước có rút, cô có mang tranh lên trả cho bác ấy thì nhớ ghé lại quán tôi, tôi lại làm cho bát phở chua thật ngon ăn kèm nước dùng nóng nhé.

— Dạ! Cháu cảm ơn bác nhiều lắm ạ! — Yến cúi đầu thật sâu, một nụ cười rạng rỡ và nhẹ nhõm nở trên môi cô. — Cháu nhất định sẽ mang bản in tranh hoàn chỉnh lên gửi biếu cụ Phúc và quán của bác ạ!

Một cơn gió núi lạnh buốt từ hẻm vực sâu bỗng thốc mạnh từng cơn dữ dội qua lòng suối Khe Nọi, giật tung mép bạt dứa xanh kêu phần phật, cuốn tung những bụi nước suối li ti lên mịt mù không trung.

Bầu trời Khe Nọi trong chốc lát bỗng sầm tối lại một cách đáng sợ. Những đám mây đen kịt, nặng trĩu hơi nước từ phía các dãy núi cao giáp biên giới phía bắc cuồn cuộn đổ dồn về thung lũng như những cột khói khổng lồ che kín cả khoảng không gian núi rừng. Tiếng sấm rền vang lục cục từ phía thượng nguồn vọng lại từng hồi đanh gọn, trầm đục, báo hiệu một cơn mưa rừng xối xả khủng khiếp sắp quét qua toàn bộ thung lũng và đỉnh đèo Dốc Mù Sương.

Mai từ bờ đá bước vội lại gần, nhìn lên vòm trời đang sà thấp xuống sát các ngọn sa mộc, nét mặt cô đanh lại đầy lo lắng và căng thẳng. Cô kéo phăng khóa chiếc áo khoác gió lên tận cằm, siết chặt quai ba lô trên vai rồi quay sang giục giã Yến bằng một giọng gấp gáp:

— Thu dọn đồ nghề nhanh lên Yến! Mưa to đầu nguồn đổ dồn dập về thế này thì con đường độc đạo qua đèo Dốc Mù Sương sắp bước vào đợt sạt lở nguy hiểm rồi đấy. Xe anh Bình mà không tới đón kịp thì trưa nay hai đứa mình mắc kẹt lại ở chợ đá này mất!

Mây đen cuồn cuộn tràn qua đỉnh núi Khe Nọi, tiếng sấm rền báo hiệu đoạn đường đèo Dốc Mù Sương sắp bước vào đợt trượt sạt nguy hiểm.

Chương này thế nào?Đánh giá giúp Readeep đề xuất đúng hơn cho bạn