Hẹn Nhau Ở Bàn Số BảyC.6 / 26
Chương 6

Cuộc hẹn bị bỏ quên

Màn hình điện thoại đặt úp trên chiếc ghế nhựa tròn bất thần sáng bừng lên, rung bần bật từng nhịp khô khốc trên nền nhựa màu xanh rêu đã bạc màu vì nắng. Con số hiển thị cuộc gọi nhỡ lúc mười lăm giờ ba mươi lăm phút mang tên Võ Ngọc Mai nhấp nháy đỏ lừ, ngay đúng khoảnh khắc Hà vừa rướn người, quẹt mu bàn tay áo nhễ nhại mồ hôi để lau đi vệt dầu mỡ cháy khét bám chặt dưới gầm kệ gia vị của quán Cơm Nhà Bà Lan.

Đầu gối cô nhức buốt. Cơn đau âm ỉ từ hai khớp bánh chè truyền thẳng lên thắt lưng sau gần năm tiếng đồng hồ xoay vòng như chong chóng giữa việc bưng bê khay cơm ca trưa, dọn dẹp thức ăn thừa của khách và thụt rửa từng xấp chén đĩa cao ngất ngưởng. Không khí bên trong gian bếp lúc này đặc quánh lại, ngột ngạt như một cái lò xông hơi chưa kịp xả van. Hơi nóng hầm hập phả ra từ bức tường gạch phía sau hai bếp khè đôi vẫn còn đượm than hồng, quyện với mùi xà phòng chanh hóa chất nồng nặc đến gai cả sống mũi, át đi cả mùi tanh nồng của rổ đầu cá lóc vừa rã đông dưới chân bồn rửa.

Giờ này, quán đã cài then sắt cổng trước, thả tấm rèm nhựa chống ruồi màu xanh đùng đục xuống sát thềm xi măng, chỉ mở hé cánh cửa ngách bằng tôn bên hông nhà hướng ra con hẻm nhỏ để đón chút gió chiều hiếm hoi. Theo bảng lịch biểu phân ca mới toanh được nẹp góc cẩn thận, dán ngay ngắn trên cây cột bê tông giữa nhà từ sáng sớm nay, ca làm việc buổi trưa đã chính thức kết thúc từ lúc mười bốn giờ ba mươi.

Mọi người đã đi hết. Cô Hạnh phụ bếp rửa dọn xong phần khay đựng của mình, lau khô đôi ủng cao su rồi dắt chiếc xe đạp cọc cạch rời đi từ sớm để kịp giờ đón cháu ngoại tan trường. Thằng Duy, đứa nhân viên chạy bàn mới được tuyển tuần trước, cũng thu dọn đồ nghề gọn gàng vào chiếc ba lô vải dù, kiểm tra lại danh sách việc vặt trên bảng rồi bước ra trạm xe buýt đầu ngõ đúng giờ để sang trung tâm giáo dục thường xuyên học lớp điện dân dụng buổi chiều. Còn anh Khải, sau khi ăn vội nửa tô cơm nguội chan nước canh chua nguội ngắt, đã dắt chiếc xe Wave cà tàng ra ngõ, nổ máy giòn giã chạy đi giao nốt mấy chuyến phụ tùng xe máy lặt vặt cho tiệm sửa xe ngoài ngã năm.

Đáng lẽ ra, đúng theo lịch trình tự bản thân vạch sẵn trong đầu từ hai ngày trước, Hà đã có thể cởi bỏ chiếc tạp dề bám đầy vết ố nước tương này ra, xả một gáo nước mát lạnh rửa trôi lớp mồ hôi dính dớp trên mặt, thay chiếc áo thun cotton màu trắng ngà sạch sẽ tinh tươm rồi dắt chiếc xe máy ra khỏi con hẻm quanh co của đường Vườn Me. Đáng lẽ ra, cô đã có mặt ở quán cà phê nhỏ có giàn hoa giấy rủ bóng mát rượi cách đó bốn ngã tư – nơi cô và Mai, con bạn thân nối khố từ hồi còn mặc áo dài trắng học chung lớp mười hai trường huyện, đã hẹn hò nhau từ đầu tuần để ngồi tán gẫu sau chuỗi ngày dài đằng đẵng không có lấy một bữa trò chuyện ra hồn.

Thế nhưng, mọi dự tính ngăn nắp ấy đã hoàn toàn sụp đổ chỉ vì một cái liếc mắt tình cờ.

Lúc gom chiếc chổi quét nhà và cây lau sàn đem cất vào góc kho hẹp phía sau gian bếp, ánh mắt Hà vô tình va phải mấy tầng kệ sắt V lỗ chất đầy những can nước tương loại năm lít, hũ muối ớt xanh đã đóng cặn keo lại quanh miệng nắp, và những chồng khay nhựa màu đỏ bám một lớp bụi khói bếp đen sì, nhờn dính.

Không một ai lên tiếng phân công Hà phải dọn chỗ đó. Trên tấm bảng mica trắng treo ở cột bê tông, ở ô việc cần làm sau ca trưa, không hề có lấy một nét bút lông nào yêu cầu khu vực kho gia vị phải được lôi ra kỳ cọ sáng bóng vào buổi chiều oi ả này. Thậm chí nếu cứ để nguyên như thế thêm ba ngày, năm ngày nữa, quán vẫn cứ vận hành, nồi nước lèo vẫn sôi và dòng khách trưa vẫn nườm nượp ghé qua ăn đĩa cơm sườn năm mươi ngàn.

Thế nhưng, một phản xạ quen thuộc đến mức bệnh hoạn, một quán tính ăn sâu vào từng thớ thịt từ những năm tháng dài gánh vác quán ăn này đã thò tay ra, níu chặt lấy tâm trí cô. Não bộ Hà ngay lập tức nhảy số, tự động vẽ ra hàng loạt viễn cảnh tồi tệ nếu chỗ bẩn thỉu ấy bị bỏ mặc: nếu không ai làm, góc kho này sẽ bốc mùi hôi chua của mắm muối rỉ sét; nếu mẹ bước vào nhìn thấy, mẹ sẽ lại thở dài sườn sượt rồi ráng cắn răng cúi cái đầu gối thoái hóa độ ba sưng vù xuống mà cọ rửa cho bằng được; nếu anh Khải đi giao hàng về thấy đống đồ bừa bãi chắn lối đi, anh sẽ lại đá thúng đụng nia, càu nhàu rằng trong cái nhà này chẳng ai biết để mắt tới những góc khuất, rồi cả bữa cơm chiều sẽ chìm trong không khí nặng trềnh trệch như đeo chì.

Thế là, như một cái máy được lập trình sẵn cho sự cam chịu, Hà buông chiếc chổi xuống, xắn ngược hai ống tay áo lên tận bắp, kéo lê chiếc xô nhựa màu xám đầy ắp nước xà phòng chanh, lôi miếng giẻ sắt cọ xoong ra và tự trấn an bản thân bằng một lời tự nhủ dối trá quen thuộc: *“Chỉ nửa tiếng thôi mà. Mình làm nhanh tay loáng một cái là xong ngay ấy mà, vẫn kịp giờ chạy sang với Mai.”*

Nửa tiếng tự hứa ấy đã trôi tuột đi không một dấu vết. Ba mươi phút biến thành một tiếng, rồi một tiếng rưỡi đồng hồ trôi qua trong tiếng kỳ cọ ken két của miếng giẻ sắt miết trên mặt tôn gỉ sét, trong tiếng nước bẩn đổ ào ào xuống cống thoát sàn, và trong những giọt mồ hôi cay xè cứ thi nhau chảy dài vào khóe mắt.

Nhìn con số 15:35 cùng biểu tượng cuộc gọi nhỡ màu đỏ chót trên màn hình điện thoại, lồng ngực Hà thắt lại một nhịp đau nhói. Một cảm giác tội lỗi pha lẫn hoảng loạn tràn ứ lên tận cổ họng. Cô cuống cuồng lấy mu bàn tay áo quệt vội vệt mồ hôi đang nhỏ tong tòng trên cằm, bàn tay còn lại ướt nhẹp nước xà phòng nhờn dính vụng về chùi đại vào mép ống quần tây lửng cho ráo bớt rồi run run mở khóa màn hình.

Mục thông báo hiện lên tin nhắn Zalo gửi từ ba mươi lăm phút trước của Mai:

*“Tao xong việc kiểm kho sách ở cửa hàng văn phòng phẩm rồi nè, đang tiện đường ghé quán lấy cuốn sách nấu ăn Nam Bộ tuần trước mượn của bác Lan luôn. Mày chuẩn bị xong chưa Hà? Tao chạy xe qua rước mày luôn hay hai đứa mình hẹn ở quán hoa giấy?”*

Hà nuốt khan một ngụm nước bọt, thấy cổ họng mình đắng nghét như vừa ngậm phải một lát mướp đắng sống. Những đầu ngón tay dính xà phòng nhớp nháp trượt đi trượt lại trên bàn phím cảm ứng, gõ ra từng con chữ vội vã, chắp vá, nghe vừa hèn mọn vừa ngượng ngùng đến mức chính mắt cô đọc lại cũng cảm thấy muốn độn thổ:

*“Mai ơi, tao xin lỗi mày nhiều lắm luôn! Tao lỡ tay nhận dọn dẹp lại cái kho đựng gia vị cho quán, đồ đạc bừa bộn dầu mỡ quá tao cọ nãy giờ chưa xong, người ngợm tao dính đầy dầu với nước xà phòng hôi rình hết trơn rồi. Chắc chiều nay mình không đi uống nước được rồi Mai à. Mày đừng giận tao nghen, để hôm khác tao rảnh tao bao bù cho mày chầu nước thiệt ngon nha…”*

Nút “Gửi” vừa chớp lên màu xanh lá thì từ phía cánh cửa tôn bên hông quán, một chuỗi âm thanh khô khốc vang lên.

*Cộc. Cộc. Cộc.*

Tiếng gõ dứt khoát, vang rền trên bề mặt kim loại mỏng manh của cánh cửa ngách làm Hà giật nảy mình, đánh rơi cả chiếc điện thoại xuống lòng chiếc ghế nhựa.

Cô bàng hoàng ngẩng phắt đầu lên.

Võ Ngọc Mai đã đứng sững ở ngay bậu cửa từ lúc nào.

Trên tay Mai đang ôm khư khư cuốn sách dạy nấu ăn bìa cứng dày cộm bọc giấy báo cẩn thận. Mai vẫn đang mặc chiếc áo sơ mi đồng phục ngắn tay màu xanh da trời nhạt của chuỗi cửa hàng văn phòng phẩm bên đường lớn, bên ngực trái cài chiếc bảng tên bằng mica trong suốt, mái tóc đuôi ngựa cột cao hơi xộc xệch vì gió đường, đôi giày vải bata lấm tấm một lớp bụi đường màu xám trắng.

Mai không bước vào ngay. Cô đứng chôn chân trên ngưỡng cửa sổ ngách, ánh mắt chậm rãi, lạnh lùng quét một lượt khắp gian bếp: từ chiếc xô nhựa đựng nước xà phòng đen ngòm sủi bọt nhớp nháp dưới chân Hà, qua đống chai lọ gia vị nằm lăn lóc ngổn ngang trên nền gạch tàu đỏ quạch còn lênh láng nước bẩn, rồi cuối cùng dừng lại trân trân trên chiếc điện thoại Hà vừa vội vã buông xuống ghế.

Đúng lúc đó, trong chiếc túi xách đeo chéo của Mai, một tiếng bíp ngắn vang lên – âm thanh báo tin nhắn Zalo của Hà vừa được máy chủ chuyển tới nơi.

Mai thậm chí không buồn thò tay vào túi rút máy ra. Ánh mắt cô không hề chớp. Sự thất vọng hiện rõ mồn một trên gương mặt tròn trịa vốn luôn rạng rỡ, tươi tắn của cô bạn thân; nó lộ liễu, trần trụi đến mức không có bất kỳ một lớp phấn son hay nụ cười xã giao nào có thể che giấu nổi. Đôi môi Mai mím chặt lại thành một đường chỉ mỏng dính, hai bên cánh mũi phập phồng theo từng nhịp thở dồn dập.

“Mày khỏi mất công phân trần hay gửi tin nhắn thanh minh nữa đâu Hà,” giọng Mai cất lên, trầm đục, đều đều một cách bất thường, thiếu hẳn cái vẻ lanh chanh, giòn tan như ngô rang thường ngày. “Nhìn cái xô nước đen thui dưới chân mày với hai bàn tay dính đầy mỡ bò kia là tao tự đọc được hết nội dung trong máy rồi.”

Hà luống cuống buông rơi miếng giẻ sắt đang cầm trong tay vào đáy xô. Miếng giẻ chìm nghỉm, bọt xà phòng kêu xèo xèo vài tiếng vụn vặt rồi tắt ngấm giữa không gian tĩnh mịch. Cô lúng túng đứng bật dậy, hai bàn chân xỏ trong đôi dép lào ướt nhẹp trượt nhẹ trên nền xi măng trơn nhớt. Cố kéo khóe môi lên thành một nụ cười nhằm xua bớt bầu không khí đặc quánh đang đè nặng trong gian phòng, Hà run rẩy cất tiếng:

“Ủa… Mai… mày tới hồi nào vậy? Sao không đứng ngoài ngõ gọi lớn cho tao ra mở cổng trước? Nè, vào nhà đi, vào ngồi cái quạt máy đằng bàn số bảy cho mát. Tao… tao dọn gần xong thiệt rồi, thề với mày luôn, chỉ còn có hai cái ngăn dưới cùng này là tao tráng nước xong liền à…”

“Tao đứng nhìn mày chùi cái kệ đó từ lúc mày còn cúi gập lưng dưới đất, lôi từng cái can nước tương rỉ sét ra ngoài kia kìa,” Mai bước qua ngưỡng cửa, tiến thẳng vào ba bước rồi đặt mạnh cuốn sách nấu ăn lên mặt bàn gỗ số bảy cái *cộp*. Tiếng va chạm nặng trịch vang lên như một tiếng đập bàn dằn mặt giữa khoảng không gian vắng lặng của buổi trưa muộn. “Tao đứng ngay cái cửa tôn này đúng mười phút tròn rồi đó Hà.”

Hà sượng sùng đứng trơ trơ giữa bãi chiến trường bừa bộn, hai bàn tay cáu bẩn vô thức giấu ra sau lưng, ngón tay bấu chặt vào mép vải quần:

“Tao xin lỗi… Tao biết tao sai hẹn với mày rồi. Nhưng mà tại cái kho này dơ quá, nước tương với mắm ớt từ tuần trước chảy ra dính kẹo cứng ngắc dưới sàn gạch. Hồi sáng mẹ tao đi tái khám cái chân ở bệnh viện về than đau nhức buốt cả hông, anh Khải thì chạy xe ngoài đường nắng nôi suốt từ sáng tới giờ, tao dọn bếp xong thấy ngứa mắt quá nên tiện tay lôi ra cọ rửa luôn cho quán nó sạch sẽ tinh tươm, chứ thực tình không ai bắt ép tao làm hết trơn á…”

“Đúng rồi, chính vì không ai ép mày hết nên tao mới thấy tức đó Hà!”

Mai ngắt lời, giọng cô không gào thét nhưng từng âm tiết ném ra đều sắc lẹm, dứt khoát như những nhát dao chém thẳng vào mớ lý lẽ cùn mòn của Hà.

“Không có một ai trên đời này ép mày phải chổng mông lôi cái xô nước xà phòng ra cọ cái xó bếp này vào đúng ba giờ chiều nay cả! Cái giờ này là giờ của tao với mày. Mày có nhớ tuần trước chính miệng mày đã hứa hẹn những gì không? Mày bảo tuần này quán bắt đầu áp dụng bảng phân công mới, tuyển thêm thằng nhỏ phụ việc, mẹ mày bớt việc lại rồi thì mày sẽ rảnh rang được trọn vẹn mấy tiếng buổi chiều để hai đứa mình ngồi nói chuyện cho đàng hoàng. Tao tin mày, tao ráng xin phép quản lý cửa hàng cho về sớm trước ba mươi phút, tao đội cái nắng chang chang ba mươi tám độ ngoài đường Vườn Me chạy qua đây, để rồi bước vào cửa lại thấy mày tự biến mình thành con sen, thành con ở ôm đồm mọi thứ rác rưởi của cái quán này!”

“Tao đâu có cố ý cho mày leo cây đâu Mai…” Hà nghẹn giọng, hai mắt bắt đầu cay xè, không biết vì hơi xà phòng chanh hay vì nỗi tủi thân đang trào dâng. Cô quẹt vội mu bàn tay còn dính bọt lên vạt áo trước ngực. “Tao thề là tao tính làm nhanh hai mươi phút là xong thôi, ai mà ngờ mấy cái vết ố này nó bám dai quá, làm dây dưa ra tới giờ này…”

“Lần nào mày cũng nói cái câu ‘tao đâu có cố ý’! Ba lần rồi đó Hà, mày đếm lại giùm tao đi, chưa đầy một tháng mà ba lần liên tiếp mày cho tao ngồi chờ như một con ngốc!”

Mai khoanh chặt hai tay trước ngực, ánh mắt nhìn thẳng vào khuôn mặt nhợt nhạt của Hà, thẳng thắn và rực lửa đến mức khiến Hà cảm thấy rát bỏng cả da mặt.

“Mày nhớ lần thứ nhất không? Mày hẹn tao ra quán chè đầu hẻm ăn ly chè thái, tao tới nơi ngồi đợi chảy nước mắt thì mày nhắn tin bảo mẹ vừa mua về hai ký tỏi tươi, mày phải ở lại ngồi lột cho xong đống tỏi đó vì sợ sáng mai cô Hạnh không kịp ướp thịt sườn! Lần thứ hai, mày hẹn tao chủ nhật tuần trước, tao lên đồ đàng hoàng ra quán cà phê máy lạnh ngồi gọi sẵn ly nước đợi mày suốt hơn một tiếng đồng hồ, để rồi nhận được một tin nhắn vỏn vẹn bảo là anh Khải bận đi nhậu với mấy ông bạn hội xe ôm nên mày phải ở lại lau chùi hai chục cái bàn thay phần anh mày! Rồi tới hôm nay, mày lại lôi cái kệ kho rỉ sét này ra lau một mình!”

Mai hít một hơi thật sâu, bờ vai dưới lớp áo sơ mi mỏng khẽ run lên theo từng đợt cảm xúc bị dồn nén bấy lâu nay. Cô đảo mắt nhìn một vòng quanh gian quán cơm thân thuộc – nơi cô từng lui tới không biết bao nhiêu lần từ những năm tháng còn là học sinh cấp ba, nhìn những chiếc bàn gỗ đã được lau chùi sạch bóng, nhìn tấm bảng mica trắng tinh ghi lịch phân ca còn thơm mùi mực viết lông treo trên cây cột bê tông:

“Hà này, tao chơi thân với mày mười mấy năm trời, từ cái hồi hai đứa mình còn chia nhau nửa củ khoai lang nướng sau giờ học. Tao hiểu cái tính mày thương mẹ, tao biết cái quán cơm này là nồi cơm, là manh áo, là tất cả mạng sống của cả gia đình mày từ ngày ba mày mất. Tao quý cái nết chịu thương chịu khó, không nề hà vất vả của mày, tao mới kiên nhẫn, mới nhẫn nhịn mày tới tận ngày hôm nay. Nhưng tao nói thật lòng một câu danh dự cho mày tỉnh ra: tao không bao giờ muốn cái tình bạn mười mấy năm trời của tụi mình biến thành cái thứ giẻ rách, chỉ chực chờ cái quán cơm nhà mày vắng khách, thừa mứa ra được mười lăm hai mươi phút bố thí thì mới được gặp mặt nhau! Càng không bao giờ tao muốn mỗi lần tao bước chân qua rủ bạn đi chơi là y như rằng tao lại phải xắn tay áo, cột tóc lên rồi nhảy vào bưng bàn, nhặt rau, bưng mấy cái khay dầu mỡ phụ cho quán cơm nhà mày!”

Từng lời, từng chữ của Mai như một xô nước đá dội thẳng từ đỉnh đầu xuống làm Hà chết lặng.

Trước giờ, mỗi khi người nhà cằn nhằn hay khách khứa phàn nàn chuyện cơm dẻo canh nguội, Hà luôn có sẵn một kho những lời xoa dịu dịu dàng để khỏa lấp: *“Dạ để em làm cho,” “Mẹ nghỉ đi không sao đâu,” “Để đó lát con lo hết.”* Cô đã quen dùng sự bận rộn đến nghẹt thở như một tấm khiên giáp sắt che chắn cho bản thân. Cô tự ru ngủ mình trong ý nghĩ cao cả rằng mình đang hy sinh vì cái gia đình này, rằng không có đôi bàn tay cô thì cái quán Cơm Nhà Bà Lan này sẽ sụp đổ tan tành.

Nhưng giờ đây, đứng trước ánh nhìn rực lửa và những lời vạch trần không chút kiêng dè của Mai, tấm khiên giáp sắt ấy bỗng chốc vỡ vụn thành trăm ngàn mảnh vụn. Dưới lớp vỏ bọc của sự hy sinh tận tụy, lộ ra một sự thật trần trụi và tàn nhẫn: cô đang dùng sự tùy tiện để đối đãi với người trân trọng mình nhất, biến tình bạn thành thứ rẻ rúng có thể đem ra trả giá và trì hoãn bất cứ lúc nào.

“Mai… tao biết tao sai rồi,” Hà lí nhí, giọng cô run rẩy như sắp khóc. Cô tiến lên một bước về phía bàn số bảy, bàn tay ướt rượt toan đưa ra chạm vào mép tay áo bạn như một cử chỉ làm lành quen thuộc, nhưng rồi sực nhớ tay mình đầy dầu mỡ, cô lại rụt phắt tay về, giấu sau vạt tạp dề. “Tao tệ quá, tao vô tâm quá… Thôi mày đừng giận tao nữa nghen. Chiều thứ Bảy tuần này, tao hứa danh dự với mày, tao sẽ xin nghỉ hẳn một buổi chiều luôn. Tao dắt mày đi ăn lẩu bò, tao bao trọn gói từ A tới Z cho mày xả giận đàng hoàng nghen? Lần này tao thề tao bù thiệt đó, tao hứa chắc chắn một trăm phần trăm luôn!”

“Thôi đi Hà, dẹp cái câu ‘lần sau tao bù’ của mày giùm tao một cái!”

Mai lùi phắt lại nửa bước, dứt khoát né tránh cử chỉ của bạn. Ánh mắt Mai lúc này không còn là sự bực bội bốc đồng nhất thời nữa, mà nó đã chùng xuống thành một sự bình thản lạnh lẽo đến gai người – một sự bình thản của một người đã quá mệt mỏi sau nhiều lần đặt hy vọng rồi nhận lại nỗi thất vọng ê chề.

“Mày tính bù cái gì cho tao? Mày bù nổi mấy tiếng đồng hồ tao ngồi trơ trọi một mình ngoài quán cà phê, nhìn người ta có đôi có bạn còn mình thì như con dở hơi ngồi chờ tin nhắn hủy hẹn của mày không? Hay mày bù nổi cái cảm giác tao thấy mình như một đứa thừa thãi, một món đồ chơi luôn luôn bị mày xếp sau mớ rác rưởi, mớ chai lọ gia vị với mấy cái nồi niêu của cái quán này?”

Mai lắc đầu, khóe miệng khẽ nhếch lên một nụ cười cay đắng:

“Tao nói ra những lời này hôm nay không phải để vòi vĩnh mày một bữa lẩu bò hay ép mày phải cúi đầu xin lỗi tao vài ba câu cho xong chuyện. Tao nói để mày tự mở mắt ra mà thấy là con người ai cũng có giới hạn của người ta hết. Tình cảm có sâu đậm tới mấy mà cứ bị đem ra xài xể một cách vô tội vạ như vậy thì cũng tới ngày cạn kiệt thôi. À, tiện đây tao nói luôn cho mày đỡ thắc mắc: cái nhóm đi bộ ở công viên bờ kè mỗi sáng cuối tuần ấy, từ tuần này trở đi tao sẽ không nhắn tin rủ mày nữa đâu.”

Hà sững sờ ngẩng phắt đầu lên, lồng ngực như bị ai nện một cú thật mạnh:

“Ủa… sao vậy Mai? Mày biết tao thích đi bộ hít thở không khí buổi sáng bờ kè lắm mà… Dạo này quán lu bu quá tao chưa sắp xếp tham gia đều đặn được thôi, sao mày lại gạch tên tao…”

“Bởi vì tao không muốn tự chuốc thêm sự thất vọng vào người nữa, đơn giản vậy thôi,” Mai đáp gọn lỏn, từng lời đều đều, chắc như đinh đóng cột, không có lấy một gợn sóng cảm xúc dao động. “Cứ mỗi sáng thứ Bảy, tao dậy sớm chuẩn bị giày nón đàng hoàng, hào hứng nhắn tin hỏi thì mày lại trả lời bằng cái điệp khúc quen thuộc: ‘Mai ơi mẹ tao đau lưng quá tao phải dậy nhóm bếp phụ’, ‘Mai ơi tao phải chở mẹ đi lấy giò heo mối quen’, rồi lại kết thúc bằng câu ‘hẹn mày tuần sau nghen’. Tao thấy mệt mỏi rã rời khi cứ phải đóng vai một đứa đi chèo kéo, đi năn nỉ xin xỏ thời gian của mày, để rồi nhận lại toàn là sự hụt hẫng. Khi nào mày tự thấy mày thực sự làm chủ được cuộc đời mày, làm chủ được cái quỹ thời gian của chính mày, mày tự chủ động mở miệng rủ tao, lúc đó tính tiếp. Còn từ giờ, tao giữ khoảng cách để tự bảo vệ cảm xúc của tao, và để mày khỏi phải thấy áy náy, áp lực vì tao nữa.”

Từng câu chữ của Mai rành rọt, tỉnh táo và lạnh lùng như một bản cáo trạng không thể chối cãi.

Nó làm Hà nhớ lại dáng vẻ của thằng Duy vào buổi chiều hôm trước. Khi đồng hồ điểm đúng giờ tan ca, thằng bé tháo chiếc tạp dề treo lên móc, từ chối thẳng thừng lời đề nghị bâng quơ của Khải về việc ở lại phụ khiêng mấy bao gạo: *“Dạ em tới giờ đi học rồi anh, việc này ngoài ca làm của em, mai em làm bù.”* Lúc đó, Hà đã từng thầm kinh ngạc trước sự rạch ròi đến tàn nhẫn của thế hệ tụi nhỏ. Nhưng giờ đây, nhìn vào Mai, Hà mới thấu hiểu một chân lý cay đắng: đó không phải là sự tàn nhẫn, mà là sự tôn trọng tối thiểu dành cho chính bản thân mình.

Chính sự cả nể, sự nhập nhằng vô nguyên tắc của Hà bấy lâu nay đã biến cô thành một kẻ tồi tệ. Cô luôn mặc định rằng người nhà thì sẽ xí xóa, bạn thân thì sẽ tự khắc thấu hiểu và bao dung vô điều kiện. Vì cái suy nghĩ ấu trĩ đó, cô sẵn sàng cắt xén, bớt xén từng mẩu thời gian thiêng liêng dành cho những mối quan hệ chân thành bên ngoài, đem ném tất cả vào cái hố sâu không đáy của những việc lặt vặt không tên trong cái quán ăn này.

Đúng lúc bầu không khí giữa hai người đang chìm vào sự im lặng nghẹt thở, từ cánh cửa gỗ ngăn cách gian nhà sau với quán ăn bỗng vang lên tiếng kọt kẹt khô khốc.

Cánh cửa mở ra. Bà Lan tay chống chiếc gậy tre nhẵn bóng, chậm rãi bước từng bước tập tễnh ra ngoài.

Đầu gối chân phải của bà vẫn còn quấn chặt lớp băng thun màu be dày cộm, bước đi khập khiễng, nghiêng hẳn người sang một bên. Trải qua một giấc ngủ trưa dài, sắc mặt bà đã bớt nhợt nhạt hơn ban sáng, nhưng những nếp nhăn nơi khóe mắt vẫn hằn sâu vẻ mệt mỏi kinh niên của một người đàn bà nửa đời người đứng bên chảo mỡ, khói than.

Vừa bước qua khỏi tấm màn che, nhìn thấy bóng dáng Mai đang đứng sừng sững bên cạnh bàn số bảy, mắt bà Lan lập tức sáng rực lên. Nụ cười niềm nở, vồn vã theo thói quen buôn bán bao năm của người lớn tuổi trong xóm lao động nở bừng trên gương mặt bà:

“Ủa! Con Mai đó hả con? Sang chơi với con Hà hả? Trời đất quỷ thần ơi, may quá là may, đúng lúc bác đang rầu thúi ruột định đi ra ngoài một lát đây!”

Mai thoáng giật mình. Dù trong lòng đang sôi sục bực bội với Hà, nhưng trước mặt người lớn, bản tính lễ phép được giáo dục kỹ lưỡng vẫn khiến cô vội vàng cúi đầu, giọng chùng xuống hòa hoãn:

“Dạ, con chào bác Lan. Chân bác hôm nay bớt đau nhức chưa bác?”

“Ối dào, cũng còn buốt thấu xương con ơi, cái khớp nó cứ kêu lục cục như máy xay lúa ấy, nhưng trưa nay uống hai viên thuốc giảm đau vô thì nó cũng đỡ đỡ được cái đầu gối rồi,” bà Lan cười xòa, bước từng bước cà nhắc lại gần quầy thu ngân bằng gỗ ép, với tay lấy chiếc nón lá cũ kỹ treo trên vách tường vôi bong tróc.

Vừa lật đật đội nón lên đầu, bà vừa cất giọng thân tình, ngọt ngào và tự nhiên đến mức rợn người – cái giọng điệu của một người đã quá quen với việc coi tất cả bạn bè, người quen của con cái như một phần nhân công phụ việc mặc định của cái quán này:

“Mai này, con sẵn trớn sang chơi thì ngồi ở quầy trông quán giùm bác chừng mười lăm, hai mươi phút nghen con! Bác đang tính chạy ù ra tiệm thuốc bắc bên ngã tư Vườn Me mua ve dầu xoa bóp gia truyền về bóp cho nó giãn mấy cái gân cốt ra. Con Hà nó đang dở tay lau cái kho gia vị trong bếp nhớp nháp quá, con ngồi ngó giùm bác cái tủ tiền, với lỡ có khách nào ghé hỏi mua cơm hộp ăn xế thì con nói người ta lát nữa bốn giờ quay lại giùm bác nha con! Bác đi loáng cái bác về liền á!”

Dứt lời, bàn tay xương xẩu với những ngón tay gồ ghề vì ngâm nước của bà Lan đã thoăn thoắt với lấy chùm chìa khóa quầy thu ngân đặt trên mặt kính tủ kính.

Mọi động tác của bà diễn ra trơn tru, thuần thục, không một giây ngập ngừng. Trong thế giới quan của bà Lan – một người đàn bà buôn bán lam lũ cả đời ở khu chợ lao động này, ranh giới giữa người nhà và người ngoài gần như không tồn tại. Một lời nhờ vả tiện miệng, một sự sắp đặt thản nhiên vào quỹ thời gian của một đứa trẻ vừa bước chân vào nhà, bà làm điều đó mà không hề có ác ý, thậm chí còn coi đó là một biểu hiện của sự thân tình, ruột thịt. Bà không hề cất lên một câu hỏi xem Mai có rảnh rỗi hay không, không một thoáng chần chừ xem liệu cô gái trẻ kia có đang vướng bận việc gì hệ trọng hay không.

Mai đứng sững tại chỗ.

Đôi lông mày thanh tú của cô nhíu chặt lại thành một cục. Một nét bối rối, ngượng ngùng xen lẫn vẻ ức nghẹn tột cùng hiện lên rõ mồn một trong đáy mắt. Hai bàn tay Mai siết chặt lấy quai chiếc túi xách, các khớp ngón tay trắng bệch ra. Môi cô mấp máy, chuẩn bị mở lời từ chối nhưng cổ họng như bị nghẹn lại bởi cái tình làng nghĩa xóm, cái thứ phép tắc lễ nghĩa kính trên nhường dưới bấy lâu nay vẫn trói buộc những đứa trẻ ngoan ngoãn.

Cảnh tượng ấy đập thẳng vào mắt Hà như một tia chớp rạch ngang qua màng tang.

Tim Hà đập thình thịch liên hồi. Trời đất ơi, cảnh tượng này sao mà quen thuộc đến phát tởm thế này!

Bao nhiêu năm qua, đã có bao nhiêu lần những người bạn của cô, những người quen ghé ngang qua quán Cơm Nhà Bà Lan chỉ để thăm hỏi hay trò chuyện dăm ba câu, rồi cuối cùng bị mẹ cô – hoặc chính cô – tiện miệng lôi tuột vào guồng máy phục vụ bất đắc dĩ của cái quán này?

Một đĩa cơm sườn mời ăn lấy thảo đổi lại bằng việc phụ bưng bê suốt một buổi trưa đông khách; một nụ cười xởi lởi đổi lại bằng nửa tiếng đồng hồ ngồi canh nồi nước lèo đang sôi sùng sục trên bếp lửa. Ở cái xóm Vườn Me này, sự thân tình hào sảng luôn bị trộn lẫn một cách méo mó với sự xâm phạm thô bạo vào ranh giới cá nhân của người khác. Người ta nhân danh tình cảm để tước đoạt thời gian của nhau một cách hợp pháp, và ai từ chối thì lập tức bị gán cho cái mác “ích kỷ”, “khó tính”, “mất gốc”.

Hà không thể để chuyện này tiếp diễn thêm một giây nào nữa.

Cô không thể trơ mắt nhìn Mai – người vừa mới tát vào mặt cô những lời cay đắng nhưng đúng đắn về lòng tự trọng – lại tiếp tục bị biến thành một nạn nhân của cái thói quen tùy tiện, xâm lấn này ngay trước mắt mình.

“Khoan đã mẹ!”

Tiếng thét của Hà vang lên giòn giã, dứt khoát đến mức chính bản thân cô cũng phải giật mình. Nó cắt ngang luồng gió quạt đang quay vù vù và chặn đứng bàn tay đang dắt chiếc xe đạp mini của bà Lan ngay trước bậu cửa.

Bà Lan sững người, ngơ ngác quay ngoắt lại nhìn con gái:

“Ủa, cái con này sao tự dưng la toáng lên vậy? Có chuyện gì?”

Hà không trả lời mẹ ngay. Cô hít một hơi thật sâu, gạt phắt chiếc khăn lau dính dầu mỡ sang một bên bờ tường, bước vòng qua chiếc xô nước xà phòng tiến thẳng về phía bàn số bảy. Lần đầu tiên sau bao nhiêu năm chỉ biết cúi đầu nghe theo mọi sự sắp đặt, ánh mắt Hà nhìn thẳng vào Mai – một ánh nhìn đầy sự tôn trọng, nghiêm túc và rạch ròi. Cô cất tiếng hỏi, giọng điệu bình tĩnh nhưng rõ ràng từng chữ:

“Mai, mày ghé trả sách cho bác xong rồi thì mày có việc gì gấp phải đi liền bây giờ không?”

Mai hơi ngẩn người ra trước câu hỏi trịnh trọng bất ngờ của bạn. Cơn giận dữ trong mắt cô dường như khựng lại một nhịp, nhường chỗ cho sự ngạc nhiên. Nhìn thẳng vào mắt Hà, Mai đáp rành rọt:

“Có Hà à. Tao ghé gửi lại cuốn sách cho bác Lan là tao phải chạy xe qua chi nhánh ba của cửa hàng văn phòng phẩm bên đường số Tám liền. Chiều nay bên đó nhập một chuyến xe tải chở giấy in với sổ tay mới về kho, quản lý phân công tao phải có mặt ở đó để đối soát số lượng tồn kho với mấy bạn nhân viên ca chiều. Tao đã hẹn đúng bốn giờ kém mười lăm là tao phải có mặt bấm vân tay rồi.”

“Ừ, vậy mày lấy xe đi liền đi cho kịp giờ làm, tuyệt đối đừng để trễ việc của công ty,” Hà gật đầu dứt khoát, không một chút do dự hay nài ép.

Nói xong, cô xoay người lại đối diện với bà Lan. Nhìn vào gương mặt già nua đang ngơ ngác của mẹ, Hà bước tới, nhẹ nhàng nhưng kiên quyết đỡ lấy chiếc nón lá trên tay bà đặt lại lên chiếc móc sắt trên vách tường. Cô điều chỉnh lại tông giọng của mình, mềm mỏng nhưng dứt khoát, vững chãi như một bức tường thành không thể lay chuyển:

“Mẹ để con trông quầy cho. Mai nó đang có việc gấp của công ty người ta, bạn chỉ ghé ngang qua gửi lại cuốn sách nấu ăn mượn hôm trước rồi phải đi làm ngay lập tức, mẹ đừng có tiện miệng nhờ bạn trông quán, tội nghiệp người ta trễ nải công việc rồi bị cấp trên khiển trách, trừ lương. Cái kho gia vị này con đã gom hết đồ bẩn lại gọn gàng một góc rồi, lát nữa tối đóng cửa quán xong, con bỏ ra mười phút xịt nước chà sơ lại là sạch bong, không sao hết trơn á. Còn mẹ muốn mua dầu bóp chân thì mẹ cứ ngồi yên đây uống miếng nước quạt cho mát, để con dắt xe máy chạy vèo ra tiệm thuốc bắc đầu ngã tư Vườn Me, đúng ba phút là con mua ve dầu về tới tận tay cho mẹ. Mẹ đừng có đi bộ cà nhắc ngoài đường nắng nôi nữa, cái đầu gối nó sưng to lên rồi đau buốt thêm chứ không được tích sự gì đâu.”

Bà Lan đứng chết trân tại chỗ, hai mắt mở to nhìn đứa con gái út.

Gương mặt đầy những vết đồi mồi của bà thoáng chốc đỏ ửng lên vì bẽ bàng. Bao nhiêu năm buôn bán lăn lộn, đây là lần đầu tiên bà bị chính đứa con gái vốn ngoan ngoãn, bảo vâng gọi dạ của mình chặn đứng lời nói một cách sòng phẳng và công khai như thế này.

Thế nhưng, khi nhìn vào đôi mắt kiên định không chút nao núng của Hà, rồi liếc sang dáng vẻ đứng ngồi không yên, chiếc túi xách đã kẹp chặt bên nách của Mai, chút sĩ diện của người lớn trong lòng bà Lan bỗng chốc tan biến, nhường chỗ cho sự thấu hiểu muộn màng. Bà Lan thở dài một hơi thật khẽ, bàn tay buông thõng chùm chìa khóa xuống mặt bàn, nụ cười gượng gạo nở ra trên môi:

“Trời đất ơi… vậy hả con Mai? Bác già cả rồi lẩm cẩm quá, cứ quen cái thói ở xóm lao động bạ đâu nhờ đó, không biết là con đang bận việc công ty hệ trọng. Thôi thôi, con đi mau đi kẻo trễ giờ chấm công người ta quở phạt tội nghiệp. Cuốn sách nấu ăn bác cảm ơn con nhiều nghen, bữa nào rảnh rỗi thật sự, không vướng bận việc gì hết thì bước sang đây, bác đích thân đổ bánh xèo tôm nhảy cho ăn, bác hứa danh dự không bắt làm, không nhờ vả một cái việc gì hết trơn á!”

Mai đứng nhìn bà Lan, rồi ánh mắt cô chầm chậm chuyển sang nhìn Hà.

Tất cả những nét căng thẳng, sắc lạnh như băng giá trên khuôn mặt Mai nãy giờ bỗng chốc tan biến đi đâu mất. Một sự kinh ngạc không hề che giấu hiện lên rõ mồn một trong đáy mắt cô gái trẻ. Mai chơi với Hà từ thuở thiếu thời, cô hiểu quá rõ cái tính nhu nhược, cái thói cả nể và sự phục tùng vô điều kiện của Hà đối với mẹ và cái quán cơm này. Mai chưa từng tưởng tượng nổi sẽ có một ngày, Hà dám đứng thẳng lưng lên, dõng dạc nói lời từ chối thay cho cô, vạch ra một ranh giới rõ ràng giữa việc của quán và cuộc sống riêng của người khác ngay trước mặt bà Lan.

Khuôn mặt Mai mềm lại, khóe môi khẽ cong lên một nụ cười nhẹ nhõm hiếm hoi:

“Dạ, không có gì đâu bác Lan ơi, tại hôm nay bên cửa hàng con có lịch nhập hàng đột xuất thôi ạ. Bác nhớ xức dầu rồi xoa bóp đầu gối đều đặn, đừng có ráng đi lại nhiều nghen bác.”

Nói rồi, Mai quay sang nhìn Hà, ánh mắt chùng xuống, phức tạp nhưng đã vơi đi rất nhiều sự gay gắt:

“Tao đi nha Hà.”

“Ừ… Mày chạy xe cẩn thận nha Mai,” Hà nói khẽ, lồng ngực vẫn còn đập thình thịch sau hành động bộc phát vừa rồi, cổ họng nghẹn đắng nhưng lại có một cảm giác nhẹ bẫng kỳ lạ vừa len lỏi vào tâm can.

Mai quay người bước ra khỏi cánh cửa ngách, tiếng bước chân trên nền sỏi lạo xạo. Cô dắt chiếc xe máy ra con hẻm nhỏ rợp bóng cây trứng cá. Nhưng trước khi tra chìa khóa nổ máy, Mai dừng lại vài giây, ngoái đầu qua khung cửa sổ ngách nhìn sâu vào mắt Hà một lần nữa. Giọng cô bạn thân cộc lốc, khô khốc nhưng lại ẩn chứa sự ấm áp quen thuộc của tình bạn:

“Ở bên chuỗi văn phòng phẩm của tao đợt này cũng đang loạn cào cào cả lên vì mấy cái vụ nhân viên cũ đùn đẩy, ôm việc giùm nhau rồi sinh ra tị nạnh đó… Tao cũng đang phải trầy da tróc vảy tập từ chối bớt mấy việc bao đồng đây. Mày… mày lau dọn sơ cái kho rồi đi tắm rửa nghỉ ngơi đi. Đừng có ráng quá sức, nhìn mặt mày xanh như tàu lá chuối rồi kìa.”

*Tách.* Tiếng đề xe nổ giòn giã vang lên. Chiếc xe máy của Mai vút đi, tiếng bô xe xa dần rồi tan biến vào dòng người huyên náo ngoài mặt tiền đường Vườn Me.

Hà đứng tựa lưng vào mép cửa tôn một lúc lâu.

Gió chiều thổi qua rặng cây trứng cá xao xác, mang theo hơi nóng hầm hập của mặt đường nhựa bốc lên sau một ngày phơi nắng. Mùi hoa trứng cá ngai ngái thoang thoảng bay vào gian bếp. Vị đắng chát của sự hối hận vẫn còn đọng lại trên đầu lưỡi cô, nhưng nó không còn là sự dằn vặt bế tắc như trước nữa.

Lần đầu tiên trong đời, Hà nếm trải một cách trần trụi và thấm thía hậu quả của việc luôn miệng nói “được” với tất cả mọi người. Bấy lâu nay, cô cứ ngỡ rằng việc hy sinh bản thân, việc gật đầu nhận lấy mọi gánh nặng là một đức tính cao đẹp. Nhưng hóa ra không phải. Khi cô cố gắng làm hài lòng tất cả những đòi hỏi, những việc vặt vãnh không tên trong cái quán ăn này, cô đã vô tình giẫm đạp lên lòng tự trọng, sự kiên nhẫn và tình cảm của những người thực sự yêu thương mình. Nói “được” với sự lấn lướt của người khác đồng nghĩa với việc cô đang tàn nhẫn nói “không” với chính những cam kết và mối quan hệ quý giá của bản thân.

“Hà nè…” Tiếng bà Lan gọi khẽ kéo cô giật mình quay về thực tại.

Bà Lan đứng tựa người vào mép chiếc bàn gỗ số bảy, nhìn con gái bằng ánh mắt áy náy, xót xa:

“Hồi nãy… mẹ làm con khó xử với con Mai lắm hả con?”

Hà bước lại gần, khẽ lắc đầu, đưa tay đỡ lấy cánh tay gầy guộc của mẹ:

“Không phải lỗi của mẹ đâu. Là lỗi tại con hết. Con đã hẹn người ta từ mấy ngày trước mà con không biết giữ lời, con tự ý lôi cái kho ra lau chùi vào đúng cái giờ hẹn rồi bỏ bom bạn. Mai nó mắng con, nó giận con là hoàn toàn đúng trăm phần trăm, không oan ức một chút nào hết mẹ à.”

Hà bước tới quầy thu ngân, kéo ngăn kéo lấy ra chai nước suối còn mát lạnh đưa cho bà Lan:

“Mẹ uống miếng nước cho khỏe đi. Mẹ ngồi đây nghỉ ngơi, để con chạy xe máy ra tiệm thuốc bắc mua ve dầu gừng xoa bóp cho mẹ. Đúng năm phút là con quay về liền.”

Hà dắt chiếc xe máy ra khỏi ngõ. Chuyến đi diễn ra nhanh chóng, gọn gàng đúng như lời cô nói. Năm phút sau, Hà đã quay trở lại quán với chai dầu gừng xoa bóp loại tốt bọc trong chiếc túi nilông nhỏ màu trắng. Cô đỡ mẹ vào chiếc giường gỗ trong gian phòng ngủ phía sau, cúi người thoa một lớp dầu nóng lên khớp gối sưng phù của bà, xoa bóp nhẹ nhàng cho thuốc ngấm sâu vào thớ thịt rồi cẩn thận kê một chiếc gối mềm dưới bắp chân mẹ theo đúng lời dặn của bác sĩ ban sáng.

Đợi khi tiếng thở của bà Lan bắt đầu đều đặn chìm vào giấc ngủ, Hà khép hờ cánh cửa phòng, nhẹ gót bước trở ra gian nhà trước.

Quán cơm lúc này hoàn toàn vắng lặng. Ánh nắng xế chiều nhuộm một màu vàng ươm như mật ong xuyên qua khung cửa sổ nhỏ có mấy chậu húng quế xanh um ngoài bậu sân, rọi những vệt sáng xiên khoai lên những mặt bàn gỗ mộc mạc.

Hà bước tới bàn số bảy, kéo chiếc ghế gỗ quen thuộc có vết xước dài ở mép ngồi xuống. Trước mặt cô là cuốn sách dạy nấu ăn Nam Bộ bọc giấy báo cẩn thận mà Mai vừa mang trả.

Hà với tay kéo chiếc ba lô vải dù sờn chỉ của mình lại gần. Từ ngăn trong cùng, cô rút ra một cuốn sổ tay nhỏ bìa bọc da màu nâu sẫm – cuốn sổ cá nhân cô mới mua tuần trước để ghi chép những suy nghĩ và kế hoạch riêng, một cuốn sổ hoàn toàn tách biệt với cuốn sổ cái ghi quỹ quán dày cộp của mẹ hay cuốn sổ bìa đen từng ghi những món nợ cũ rích của gia đình.

Cô mở một trang giấy trắng tinh, ngón tay miết nhẹ lên bề mặt giấy phẳng phiu. Bấm chiếc bút bi nghe một tiếng *tách* dứt khoát, Hà tỳ ngực vào mép bàn, nắn nót viết từng nét chữ ngay ngắn vào chính giữa trang giấy:

*“Thứ Năm tuần sau, 15:00 – 16:30: Hẹn cà phê với Mai ở quán Cây Khế.”*

Hà dừng bút, nhìn chằm chằm vào dòng chữ ấy trong vài giây. Lần này, cô không viết thêm những câu tự trách sáo rỗng hay những lời hứa hẹn thề thốt viển vông như mọi khi nữa. Thay vào đó, cô đổi sang cây bút mực đỏ, gạch một đầu dòng rõ ràng, cụ thể và đầy tính thực tế ngay phía dưới:

*“Hành động cần làm trước thứ Tư:* *- Thứ Hai: Trao đổi với Duy để thỏa thuận đổi ca chiều thứ Năm, hoặc nhờ cô Hạnh ở lại phụ quầy 2 tiếng (tính thêm tiền công theo giờ rõ ràng, thanh toán sòng phẳng cuối buổi).* *- Thứ Ba: Báo trước lịch nghỉ 2 tiếng này cho anh Khải để anh chủ động sắp xếp, tuyệt đối không nhận thêm đơn giao hàng phát sinh ngoài giờ.* *- Nguyên tắc cốt tử: Đã lên lịch hẹn cá nhân thì tuyệt đối không được phép hủy sát giờ vì bất kỳ việc phát sinh nào của quán.”*

Viết xong dấu chấm hết, Hà buông bút, thở ra một hơi dài nhẹ nhõm.

Cảm giác nặng trĩu đè nén trên lồng ngực cô suốt buổi chiều dường như đã tan biến, nhường chỗ cho một sự vững chãi, rõ ràng kỳ lạ đang bắt đầu bén rễ trong tâm trí. Bấy lâu nay cô cứ ngỡ học cách xây dựng ranh giới là học cách từ chối, học cách nói “không” với những đòi hỏi, sự lấn lướt của thế giới bên ngoài. Nhưng chiều nay, qua từng lời rát bỏng của Mai, Hà mới vỡ lẽ ra một nửa sự thật còn lại: xây dựng ranh giới còn là học cách nói “có” một cách trọn vẹn, có trách nhiệm và giữ trọn chữ tín với những cam kết của chính bản thân mình.

Hà gấp cuốn sổ tay lại, cẩn thận nhét sâu vào đáy ba lô.

Cô đứng dậy, bước vào bếp dọn dẹp nốt bãi chiến trường dang dở. Lần này, cô không còn vừa làm vừa bực bội hay cắn rứt nữa. Cô đổ xô nước xà phòng đen ngòm đi, tráng sạch sàn gạch, xếp gọn gàng các chai lọ gia vị vào một góc ngăn nắp để chuẩn bị cho ca làm ngày mai. Xong xuôi, cô kiểm tra lại bảng phân công trên cột bê tông, chuẩn bị sẵn khay đựng thực phẩm cho buổi sáng rồi mới bước vào phòng tắm gột rửa sạch sẽ lớp dầu mỡ trên người.

Đêm hôm đó trôi qua trong một sự tĩnh lặng khác thường của con hẻm Vườn Me. Tiếng dế rỉ rả dưới những bụi cỏ chân tường, thỉnh thoảng điểm xuyết tiếng còi xe đêm vọng lại từ phía đại lộ xa xa. Hà ngủ một giấc sâu và không mộng mị, đôi chân mỏi nhừ được thả lỏng hoàn toàn trên chiếc chiếu cói mát rượi.

Thế nhưng, sự bình yên hiếm hoi ấy không kéo dài được bao lâu.

Đến rạng sáng ngày hôm sau, khi kim đồng hồ trên vách tường điểm đúng năm giờ mười lăm phút, sương sớm còn đọng mờ căm trên những tấm bạt che phía trước quán Cơm Nhà Bà Lan, chiếc điện thoại đặt đầu giường của Hà bỗng reo vang dồn dập.

Tiếng chuông điện thoại inh ỏi xé toang không gian tĩnh mịch của buổi sớm.

Hà giật mình tỉnh giấc, tim đập thình thịch trong lồng ngực. Cô quờ tay lấy máy, nheo mắt nhìn qua màn hình sáng lóa. Tên của Khải đang nhấp nháy liên hồi kèm theo biểu tượng cuộc gọi khẩn cấp.

Hà vừa bấm nút nghe và áp máy vào tai, chưa kịp cất tiếng thì giọng nói của Khải từ đầu dây bên kia đã ập tới như một cơn bão. Giọng anh thở dốc, nghẹn ngào, hoảng loạn tột độ giữa một mớ âm thanh hỗn tạp, chát chúa của tiếng còi xe tải hạng nặng gầm rú, tiếng bánh xe nghiến rền rĩ trên mặt đường ướt sũng và tiếng la hét ngã giá ỏm tỏi của hàng trăm tiểu thương:

“Hà hả?! Mày dậy liền đi Hà ơi! Chết mẹ rồi! Tao đang đứng chôn chân ở giữa chợ đầu mối nông sản đây… Đêm qua mưa lớn ngập trắng xóa hết mạn miền Tây, mấy tỉnh đứt đường xe không lên kịp! Giá rau củ quả ngoài chợ Vườn Me sáng nay vừa mở cửa đã bất ngờ tăng vọt lên gấp rưỡi hết trơn rồi!”

Chương này thế nào?Đánh giá giúp Readeep đề xuất đúng hơn cho bạn