Hẹn Nhau Ở Bàn Số BảyC.5 / 26
Chương 5

Cuốn sổ không chỉ có tiền

Tám giờ ba mươi tối, cánh cửa sắt kéo của quán Cơm Nhà Bà Lan đã hạ xuống một nửa, chừa lại một khoảng hở vừa đủ một thân người cúi thấp qua lại, nhưng bầu không khí ngột ngạt bên trong còn nặng nề hơn cả cái nóng hầm hập phả lên từ lòng đường Vườn Me sau cơn mưa rào đầu mùa.

Cơn mưa xối xả ban chiều chỉ kịp làm dịu mặt đất trong chốc lát, để rồi khi tạnh hẳn, hơi ẩm đọng lại dưới các rãnh cống và kẽ nứt mặt đường nhựa lại bốc ngược lên, hầm hập như một lò xông hơi khổng lồ. Khối không khí quánh đặc ấy luồn qua khe cửa sắt, tràn vào gian nhà hẹp, quấn lấy mùi dầu mỡ chiên đi chiên lại đã nguội ngắt bám trên các vách tường ốp gạch men ố vàng, hòa lẫn với mùi nước lau sàn hương sả chanh rẻ tiền vừa mới se khô trên nền gạch bông loang lổ.

Dưới ánh sáng tái mét, lạnh lẽo của bóng đèn tuýp ba mươi sáu oát dài chơ vơ giữa trần nhà, những chiếc ghế nhựa màu xanh đỏ đã được úp ngược gọn gàng lên mặt bảy chiếc bàn inox phía ngoài. Những chiếc chân ghế chĩa thẳng lên không trung như những hàng rào gai nhọn hoắt ngăn cách không gian. Duy đã về từ lúc tám giờ sau khi phụ dọn xong đống chén đĩa ca trưa tồn lại, cô Hạnh phụ bếp cũng đã xách giỏ ni-lông đựng cơm thừa lủi thủi đi bộ ra trạm xe buýt. Quán chỉ còn lại ba người trong gia đình.

Riêng chiếc bàn số bảy nằm nép sát vách cửa sổ phía sau—nơi có chân bàn bị cập kê từ nhiều tháng nay và vừa được Duy chêm tạm bằng một miếng nhựa màu cam bẻ ra từ nắp thùng sơn vào chiều hôm qua—vẫn còn kê bốn chiếc ghế ngay ngắn dưới đất. Mặt bàn inox xước dăm chằng chịt, còn hằn lại những vệt nước lau chưa kịp ráo hẳn, phản chiếu thứ ánh sáng lờ nhờ buồn bã.

Khải ngồi vắt một chân chữ ngũ lên ghế nhựa, chiếc quai dép tổ ong cáu bẩn lủng lẳng đung đưa theo từng nhịp rung đùi sốt ruột và mất kiên nhẫn. Ống quần jean bạc phếch của anh xắn cao đến bắp chân, để lộ những vết sẹo do quẹt ống pô xe máy và những nốt muỗi cắn đỏ ửng. Gương mặt anh sạm đen vì nhiều năm dầm mưa dãi nắng ngoài đường, vệt mồ hôi khô đọng lại thành những viền muối mờ mờ màu trắng xám hai bên thái dương và bết dính những sợi tóc mai lỉa chỉa trước trán.

Cứ cách vài giây, Khải lại bóp mạnh các khớp ngón tay thô ráp của mình, phát ra những tiếng kêu *rắc rắc* khô khốc, giòn tan vang lên rợn người trong bốn bức tường ngột ngạt. Ánh mắt vằn tia máu của anh chằm chằm hướng về phía bà Lan—người đang ngồi khom lưng xoa bóp đầu gối ở chiếc ghế đối diện bên kia bàn số bảy. Giọng anh the thé, chát chúa cất lên, át đi cả tiếng rè rè đơn điệu phát ra từ chiếc tăng-phô đèn tuýp cũ kỹ trên trần:

“Con tính kỹ hết đường đi nước bước rồi, mẹ với con Hà đừng có bàn lùi, đừng có than vãn thêm một lời nào nữa. Bắt đầu từ chiều mai, cái quán này phải mở thêm ca tối. Bán từ mười bảy giờ tới hai mươi mốt giờ, thậm chí khách đông thì kéo tới hai mươi hai giờ đêm cũng được, càng có thêm đồng ra đồng vào. Quán ăn muốn sống được ở cái khu Vườn Me này là phải bắt trend, phải linh hoạt! Chiều tối nấu thêm mấy món nhậu bình dân ăn chơi đưa cay: ếch xào lăn sả ớt, lòng xào dưa chua, sườn nướng muối ớt, chân gà chiên nước mắm. Ban ngày người ta ghé ăn đĩa cơm sườn mười lăm hai mươi ngàn chắt bóp từng cắc, ban đêm người ta gọi mồi nhậu, khui két bia, tiền lời mới nhanh, mới dày! Chứ cứ tà tà bán mỗi bữa trưa kiểu này, vừa mất toi mấy chục suất của bên con Thảo trưa nay, lấy cái giống gì mà gỡ gạc? Cuối tháng này là tới hạn năm triệu rưỡi tiền mặt bằng phải nộp thẳng cho ông Tín rồi, chưa kể tiền thuốc men, tiền điện ba pha, tiền nước máy của cả cái nhà này!”

Khải nói một hơi không nghỉ, từng lời từng chữ tuôn ra xối xả như muốn dùng âm lượng và sự dồn dập để đè bẹp mọi phản kháng. Bàn tay anh đập mạnh mu bàn tay xuống mặt bàn inox phát ra tiếng *bốp* chát chúa. Anh ta hoàn toàn không nhìn xuống chiếc nẹp thun màu be bó chặt lấy đầu gối phải của mẹ, nơi phần khớp đang sưng tấy mọng đỏ, căng tròn như một trái ổi chín dưới lớp vải mỏng. Anh ta cũng chẳng buồn liếc nhìn vẻ mặt trắng bợt, đôi bờ môi nứt nẻ và ánh mắt mệt mỏi cùng cực của Hà đang đứng tựa lưng vào góc quầy thu ngân bằng nhôm kính.

Trong đầu Khải lúc này chỉ có những con số nợ nần bủa vây, những tin nhắn hối thúc tiền hàng của mối thịt mối cá ngoài chợ đầu mối, và trên hết là nỗi cay cú, bẽ bàng nhục nhã khi trưa nay bị con bé Thảo văn phòng chỉ thẳng vào mặt bắt bẻ từng câu từng chữ ngay tại chính chiếc bàn số bảy này. Cái tôi của một gã đàn ông ba mươi hai tuổi, tự nhận mình là trụ cột kinh tế gánh vác cả gia đình, đang gầm gừ đòi một lối thoát bằng cách lao đầu vào một vòng xoáy kiếm tiền mù quáng hơn.

Bà Lan ngồi co ro trên chiếc ghế nhựa thấp. Chiếc lưng còng của người phụ nữ gần sáu mươi tuổi dường như lại trĩu xuống thêm vài phân trước sự giận dữ của đứa con trai trưởng. Bàn tay gầy guộc của bà chằng chịt những đường gân xanh ngoằn ngoèo, da bàn tay sần sùi và lốm đốm những vết thâm tròn do văng mỡ sôi tích tụ suốt mấy chục năm đứng bếp. Bà run run siết chặt chiếc khăn bông cũ bọc đá lạnh chườm lên khớp gối phải. Cái lạnh buốt thấu xương của đá tan chảy qua lớp khăn ướt sũng, hòa cùng cảm giác nhức nhối âm ỉ từ sâu trong ổ khớp thoái hóa khiến bà khẽ rùng mình.

Bà Lan e dè nhìn Khải, rồi lại ngước đôi mắt đục mờ ngập tràn âu lo sang phía Hà. Cả một đời làm vợ rồi làm mẹ đơn thân buôn gánh bán bưng, bà Lan đã quen sống trong tâm thế của kẻ nhẫn nhịn. Bà nhịn ăn nhịn mặc để nuôi con, nhịn lời người đời để giữ lấy mái ấm, và quen với nỗi sợ hãi truyền kiếp mang tên thiếu thốn tiền nong mỗi khi chu kỳ đóng tiền nhà gõ cửa. Bà sợ Khải nổi giận đùng đùng rồi bỏ đi bê tha, sợ cái quán cơm nhỏ nhoi—nguồn sống duy nhất của gia đình—sẽ sụp đổ vì túng quẫn nợ nần. Bờ môi khô nẻ đầy nếp nhăn của bà run rẩy hé mở, cái đầu đã điểm hoa râm toan gật xuống một cách cam chịu, yếu ớt:

“Thì… nếu kẹt quá… hay là để mẹ ráng phụ nhặt rau với ướp sẵn thịt từ xế chiều… Rồi tối mẹ ra đứng đảo chảo phụ mày một chút…”

“Không gật đầu gì hết!”

Tiếng thốt lên của Hà cắt ngang lời bà Lan như một lưỡi dao sắc lẹm chém phăng vào bầu không khí tù đọng đặc quánh.

Đó không phải là một tiếng gào thét quá lớn, nhưng độ đanh thép, sự dồn nén và độ run rẩy kỳ lạ trong thanh âm ấy khiến Khải giật bắn mình dừng hẳn nhịp rung đùi. Chiếc quai dép tổ ong rớt xuống sàn gạch kêu một tiếng *bẹp*. Bà Lan sững sờ buông thõng bàn tay, làm chiếc bọc khăn chườm đá trượt nhẹ trên đầu gối, nước đá tan chảy ròng ròng xuống cổ chân gầy guộc.

Hà rời khỏi mép quầy thu ngân, đứng thẳng dậy. Lồng ngực cô phập phồng dữ dội sau lớp áo thun đồng phục màu xanh đã sờn vai, lưng áo ướt đẫm mồ hôi dính bết vào da thịt. Cả một ngày dài đằng đẵng như cơn ác mộng tái hiện mồn một trước mắt cô: từ sáng sớm tinh sương tất bật chuẩn bị, mười một giờ trưa căng mình chống đỡ những đợt khách đông nghẹt, những lời cằn nhằn xoi mói, cho đến đỉnh điểm là vụ việc bẽ bàng lúc trưa nay khi công ty của Thảo đòi hủy toàn bộ hợp đồng cơm trưa.

Cô nhớ như in ánh mắt thất vọng của khách hàng, nhớ cái vẻ mặt ngạo mạn, vô tâm của Khải khi trốn tránh trách nhiệm, và thắt ruột lại khi nhớ đến lời dặn nghiêm khắc của bác sĩ tại phòng khám chấn thương chỉnh hình hồi tuần trước: *“Khớp gối của mẹ cô đã thoái hóa độ ba, sụn khớp mòn vẹt gần hết rồi. Nếu còn tiếp tục đứng bếp, khuân vác đồ nặng trên ba ký thì chỉ trong vòng vài tháng nữa là khớp biến dạng, bắt buộc phải mổ thay toàn bộ khớp gối nhân tạo, chi phí không dưới sáu bảy chục triệu đồng!”*

Tất cả những uất ức, nhục nhã, xót xa và kiệt quệ ấy dồn ứ lại thành một khối nghẹn ứ, cay đắng nơi cổ họng Hà. Cô nhận ra một chân lý tàn nhẫn: trong cái gia đình này, mỗi một lần cô im lặng nuốt giận vào trong, mỗi một lần mẹ gượng cười bảo “ráng được”, thì cái giới hạn chịu đựng lại bị Khải kéo giãn ra thêm một nấc. Cứ như thế, lòng hiếu thảo giả tạo và sự nhẫn nhịn mù quáng sẽ từ từ đẩy cả gia đình này xuống vực thẳm kiệt quệ cả về thể xác lẫn tinh thần.

Không thể nhẫn nhịn thêm được nữa.

Hà bước nhanh về phía quầy thu ngân. Đôi bàn tay cô run lên bần bật vì xúc động nhưng động tác lại vô cùng quyết đoán. Cô cúi xuống hộc tủ gỗ dưới chân quầy, giật mạnh dây kéo chiếc túi xách giả da sờn rách mà cô đã dùng suốt bốn năm đại học. Bàn tay gầy guộc thọc sâu xuống tận đáy túi, lôi ra một cuốn sổ tay nhỏ bìa da màu đen đã quăn mép, gáy sổ rách tươm được dán chắp vá tạm bợ bằng một dải băng dính trong suốt đã ngả màu ố vàng.

Hà sải bước quay lại chiếc bàn số bảy.

*RẦM!*

Hà dùng hết sức bình sinh đập thẳng cuốn sổ bìa đen xuống mặt bàn inox. Lực va chạm mạnh đến mức chiếc tách sứ đựng nước trà cạn trên bàn nảy bật lên một đoạn, phát ra tiếng va đập khô khốc lanh lảnh. Miếng nhựa màu cam chêm dưới chân bàn hơi rung rinh, khiến chiếc bàn khẽ lắc lư theo quán tính.

“Mở ra mà xem!” Giọng Hà run rẩy, từng chữ rít qua kẽ răng, sắc lạnh và chứa chan phẫn uất. “Anh Khải, anh mở to mắt ra mà xem trong này ghi cái giống gì!”

Khải giật thót, nhíu chặt đôi lông mày rậm rạp, khó chịu nhìn cuốn sổ bìa đen đang nằm chỏng chơ giữa mặt bàn. Cơn giận bị một đứa em gái chỉ mặt quát tháo khiến mặt anh nóng bừng. Anh hơi chần chừ, định vung tay gạt phăng cuốn sổ đi, nhưng ánh mắt đỏ hoe, trừng trừng kiên định như muốn thiêu đốt của Hà buộc anh phải hạ tay xuống. Khải nghiến răng, đưa những ngón tay thô ráp lật mở trang bìa sổ.

Hiện ra dưới ánh đèn tuýp trắng là những trang giấy kẻ ngang chi chít những dòng chữ viết tay nhỏ nhắn, nắn nót của Hà. Nhưng càng lật về những trang gần đây, nét chữ càng trở nên vội vã, nguệch ngoạc và nghiêng ngả vì những lúc cô phải ghi chép vội vàng giữa các ca làm việc mệt nhoài.

Đó tuyệt nhiên không phải là cuốn sổ thu chi bán cơm hằng ngày mà bà Lan vẫn dùng để ghi chép tiền lời lỗ, tiền mua rau củ mỗi sáng. Đó là một cuốn sổ nhật ký đen tối—nơi ghi lại những khoảng trống vô hình, những lỗ hổng tài chính rách toác và những vết nứt vận hành mà bấy lâu nay một mình Hà âm thầm cắn răng dùng tiền túi và sức lực của chính mình để trám trét:

*“Ngày 12: Đơn anh Tuấn thợ sơn giao thiếu 1 phần thịt kho trứng, khách bực mình trừ tiền -> Hà tự bù 40.000đ.”*

*“Ngày 18: Bù tiền 3 suất cơm công ty thiết kế nội thất do anh Khải ghi nhầm đơn dặn không mỡ hành thành có mỡ hành -> khách trả lại, Hà tự bù 110.000đ.”*

*“Trưa nay: Bồi hoàn tiền 8 suất cơm cháy khét cho bên chị Thảo -> tiền quỹ của quán hụt 320.000đ, Hà đã lấy tiền túi rút từ thẻ cá nhân bỏ vào phong bì đưa tận tay khách.”*

*“Tiền thuốc trị thoái hóa khớp gối của mẹ đợt 1 tại phòng khám: 850.000đ (tiền túi Hà).”*

*“Tiền nẹp cố định khớp gối mua ở tiệm thuốc tây cạnh bệnh viện: 350.000đ (tiền túi Hà).”*

*“Tăng ca dọn dẹp, rửa khay inox thay mẹ vì mẹ đau chân không đứng được: 14 buổi tối (không tính công, mỗi buổi 2 tiếng).”*

*“Trực thay ca trưa ngoài quầy để mẹ đi châm cứu và chụp X-quang: 3 tiếng.”*

Từng dòng, từng con số, từng dấu gạch đầu dòng sắc nhọn như những vết cứa hiện lên rõ mồn một. Khải lật qua từng trang, từng trang giấy xào xạc trong không gian tĩnh mịch. Mắt anh lướt từ con số vài chục ngàn lẻ tẻ cho đến những khoản tiền thuốc hàng trăm ngàn, hàng triệu bạc.

Cơ mặt Khải khẽ co giật. Bàn tay anh hơi run lên. Trong vài giây ngắn ngủi, một tia sững sờ và bàng hoàng lóe lên trong đáy mắt người đàn ông cộc cằn. Dường như Khải chưa bao giờ hình dung được rằng, phía sau những lần sự việc rắc rối được dàn xếp êm thấm một cách kỳ lạ, phía sau những nụ cười xòa làm hòa của khách hàng, lại là một cái giá đắt đỏ đến thế. Anh không ngờ rằng cái vẻ ngoài bình yên, tàm tạm của quán cơm bấy lâu nay thực chất được duy trì bằng cách khoét rỗng từng đồng bạc lẻ từ chính khoản tiền lương phụ quán còm cõi của em gái mình.

Thế nhưng, sự thảng thốt và cảm giác hối lỗi ấy chỉ tồn tại trong chớp mắt. Ngay khoảnh khắc tiếp theo, cái tôi to đùng, thói gia trưởng cố hữu và cảm giác bị dồn vào chân tường, bị lột trần sự vô tích sự trước mặt mẹ đã khiến ngọn lửa tự ái trong lòng Khải bùng cháy dữ dội hơn bao giờ hết. Anh quăng mạnh cuốn sổ xuống mặt bàn inox cái *chát*, nghiến răng gắt lên, giọng the thé chói tai:

“Mày đem cái của nợ này ra đây để dằn mặt tao đấy à? Hà! Mày rảnh rỗi quá hóa râm hả mày? Mày ngồi rảnh háng ghi chép từng đồng từng cắc, từng giờ từng phút bẩn thỉu này để tính toán thiệt hơn với người nhà mày hả? Mày sống trong cái nhà này, ăn hạt cơm từ cái quán này, mở mắt ra là có mẹ có tao che chở, mà mày đi so đo từng hào bạc lẻ với mẹ với anh trai mày à? Mày có biết cái xã hội ngoài đường kia nó cực khổ, nó nhục nhã như thế nào không hả con ranh?!”

Khải đứng phắt dậy, đá văng chiếc ghế nhựa ra phía sau kêu *xoảng*. Anh ta sấn tới, chỉ thẳng ngón tay trỏ đen đúa, cáu bẩn vào mặt Hà, mặt đỏ gay gắt vì máu dồn lên não:

“Tao phải dầm mưa dãi nắng, chạy xe rạc cả háng từ bốn giờ sáng ngoài chợ đầu mối Bình Điền! Mày có biết bốn giờ sáng trời mưa nó lạnh thấu xương thế nào không? Tao phải lội nước ngập tới đầu gối, chen chúc giữa hàng ngàn con người hôi hám để lựa từng mớ rau muống tươi hơn một chút, cân từng ký thịt nạc heo cho rẻ hơn được vài nghìn bạc một ký! Tao phải hít khói bụi độc hại, lạng lách giữa dòng xe tải container, cúi đầu nài nỉ từng mối hàng quen để kiếm từng đồng tiền lãi còm cõi đem về cho cái quán này sống sót! Mày ngồi đây trong mát, đứng quầy bấm máy in tít tít, bưng vài ba cái đĩa cơm nhẹ hều ra bàn mà mày dám kể công với tao à? Mày thử tính xem mồ hôi, nước mắt của tao ngoài đường kia đáng giá bao nhiêu tiền một giờ hả?!”

Những lời nói cay độc, bất công tuôn ra như những tảng đá sắc nhọn ném thẳng vào ngực Hà. Cảm giác đau đớn, tủi nhục và phẫn uất tích tụ suốt bao nhiêu tháng ngày câm lặng bỗng chốc vỡ òa ra. Hai hàng nước mắt nóng hổi trào ra khỏi khóe mi cô, chảy ròng ròng xuống đôi gò má tái nhợt, ướt đẫm cằm. Nhưng cô không hề lùi bước dù chỉ nửa bước. Cô không né tránh ngón tay thô bạo đang chỉ thẳng vào mũi mình. Hà ngẩng cao đầu, quệt mạnh mu bàn tay lên má, vừa khóc vừa nghẹn ngào bật lại từng lời, giọng sắc như dao cạo:

“Tôi tính toán với anh hồi nào? Tôi tính toán với người nhà hồi nào hả anh Khải?! Nếu tôi là kẻ tính toán so đo, tôi đã không im lặng móc sạch những đồng tiền tiết kiệm cuối cùng trong ví ra để bù hết lần này đến lần khác nhằm giữ lại thể diện cho anh! Ai là người nhận bừa tám suất cơm bằng miệng với chị Thảo rồi vứt đó, bỏ đi lấy phụ tùng xe máy để người ta phải ngồi chờ chết đói suốt bốn mươi phút đồng hồ giữa trưa nắng? Là anh! Ai là người chiên trứng khét lẹt đến đắng ngắt, cạo cơm cháy dưới đáy nồi nhét đầy vào hộp để giao cho khách VIP của người ta, suýt nữa làm mất trắng cái hợp đồng cơm trưa nuôi sống cả cái quán này? Cũng là anh!”

Hà bước tới một bước, đối diện trực tiếp với Khải, bàn tay cô run rẩy bấu chặt vào mép bàn số bảy đến mức các đầu ngón tay trắng bệch:

“Anh mở miệng ra là bảo anh cực khổ ngoài đường, anh kiếm tiền về nuôi gia đình. Vậy còn cái quán này thì sao? Ai quán xuyến, ai thu dọn? Anh giao hàng xong là anh phủi tay sạch trơn, dắt xe máy đi cà phê thuốc lá, đi tụ tập bạn bè làm việc riêng của anh! Mẹ đau chân buốt đến tận mắt cá, đứng không vững bên chảo mỡ sôi sùng sục cả buổi sáng, anh có biết không? Bác sĩ người ta cảnh báo mẹ thoái hóa khớp độ ba, cấm đứng quá mười lăm phút liên tục, cấm bê đồ nặng trên ba ký, nếu không nghỉ ngơi chữa trị là phải cưa xương thay khớp gối tốn sáu bảy chục triệu bạc! Những lời đó anh có để lọt vào tai chữ nào không? Hay trong tai anh lúc này chỉ ong ong toàn tiền lời ca tối, tiền nhậu nhẹt bia bọt? Anh chỉ biết quẳng cho mẹ một bọc tiền chợ mỗi sáng rồi tự cho mình cái quyền làm đứa con hiếu thảo nhất trần đời! Còn việc lau dọn sàn nhà mỡ màng, bưng bê hàng họ, đi chợ mua bù nguyên liệu thiếu, đưa mẹ đi viện, canh giờ cho mẹ uống từng cữ thuốc giảm đau… anh mặc định đẩy hết cho một mình tôi gánh!”

“Mày câm mồm đi!” Khải gầm lên như một con thú bị thương, hai mắt đỏ ngầu vằn tia máu. “Mày nói vậy là mày dám bảo tao là thằng con bất hiếu à? Tao làm lụng quần quật từ sáng tới khuya cũng vì cái nhà này, chứ tao nuốt trôi một mình đồng nào chắc? Mày là đồ ích kỷ! Mày chỉ biết nghĩ cho bản thân mày, thấy cực một chút, thấy quán khó khăn một chút là bắt đầu giở quẻ, kiếm cớ phá đám, muốn cả cái nhà này chết đói mới vừa lòng mày hả?!”

“Tôi ích kỷ? Phải, tôi ích kỷ nên tôi mới không muốn mẹ tôi phải tàn phế vì cái ca tối chết tiệt của anh!” Hà gào lên, thanh âm cô lạc đi, vỡ vụn trong tiếng nấc xé lòng. Nước mắt rơi lã chã xuống mặt bàn inox. “Anh mở ca tối từ năm giờ chiều tới chín mười giờ đêm, ai là người đứng bếp hả anh Khải? Mẹ đứng chứ ai! Anh mở miệng nói nghe nhẹ tênh như lông hồng, bảo nấu thêm mấy món nhậu bình dân. Rồi ai đứng xào xáo liên tục bốn tiếng đồng hồ trước cái bếp gas công nghiệp nóng hừng hực? Ai dọn dẹp hàng trăm cái chén đĩa dính đầy dầu mỡ tanh tưởi tới nửa đêm? Anh chạy xe vài cuốc giao vài két bia, bưng mấy đĩa mồi rồi anh quẳng xe đó về phòng trọ anh lăn ra ngủ! Còn mẹ với tôi phải còng lưng dọn dẹp, cọ rửa tới một hai giờ sáng! Anh không phải là người có hiếu, anh là một kẻ vô trách nhiệm đội lốt một người biết kiếm tiền! Anh chỉ muốn thỏa mãn cái sĩ diện hão, cái danh xưng làm chủ quán của anh thôi!”

“Mày dám bảo tao vô trách nhiệm à?!”

Khải gầm lên một tiếng man dại. Sự thật trần trụi bị bóc trần khiến anh ta mất hết lý trí. Khải bước dấn tới một bước dài, bàn tay hộ pháp siết chặt lại thành nắm đấm gân guốc, những đường gân xanh trên thái dương và cổ anh nổi cuồn cuộn. Khoảng cách giữa hai anh em lúc này chỉ còn chưa đầy nửa mét, nghẹt thở và căng thẳng tột độ. Không khí trong quán ăn dường như đông cứng lại, lạnh ngắt dù hơi nóng vẫn bốc lên từ mặt sàn. Chỉ cần một cử động nhỏ nữa thôi, một cái vung tay hay một lời lăng mạ tiếp theo, thì sự rạn nứt này sẽ vĩnh viễn xé toạc gia đình thành trăm mảnh không bao giờ có thể hàn gắn lại được.

“ĐỦ RỒI! Hai đứa im hết đi cho mẹ!”

Một tiếng thét khàn đặc, nghẹn ngào và đau đớn tột cùng vang lên, xé toạc bầu không khí ngột ngạt.

Cả Hà và Khải đều giật mình khựng lại như bị điện giật.

Bà Lan không biết đã gượng đứng dậy từ lúc nào. Chiếc khăn bông chườm đá rơi lăn lóc dưới nền gạch bông ướt sũng, những cục đá vụn văng tung tóe ra sàn. Bà đứng run rẩy, cả thân hình gầy gò xiêu vẹo phải tựa hẳn vào mép chiếc bàn số bảy. Chân phải của bà co rút lại, run lên từng chặp vì cơn đau dữ dội, ngón chân cái chỉ dám chạm hờ xuống đất chứ không thể dồn trọng lượng cơ thể. Đôi mắt già nua, trũng sâu của người mẹ nhòa lệ, hai bờ vai gầy guộc run rẩy bần bật theo từng tiếng nấc nghẹn ngào.

“Mẹ xin hai đứa… Mẹ lạy hai đứa… Đừng có cãi nhau nữa mà…”

Bà Lan ôm lấy ngực, những giọt nước mắt đục ngầu lăn dài trên những rãnh nhăn sâu hoắm nơi khóe mắt và gò má thâm sạm. Bà ngước nhìn đứa con trai cả đang thở hồng hộc vì giận dữ, rồi lại quay sang nhìn đứa con gái út đang khóc nấc lên vì cay đắng. Trong ánh mắt người mẹ lúc này chỉ có sự đau đớn, bất lực và nỗi dằn vặt cùng cực:

“Là tại mẹ… Tất cả là tại cái thân già này vô dụng làm khổ tụi con! Mẹ già rồi, cái chân què quặt dở chứng này báo hại hai đứa! Nếu mẹ còn khỏe mạnh như xưa, mẹ đứng bếp được cả ngày lẫn đêm thì thằng Khải đâu phải đầu tắt mặt tối, lo lắng nợ nần tiền bạc đến phát điên lên như vầy… Con Hà đâu phải cắn răng chịu đựng cực nhục, ấm ức gom góp từng đồng tiền túi thế này… Là tại mẹ nhu nhược, mẹ hèn nhát! Cái gì mẹ cũng ừ, cái gì mẹ cũng bảo ráng được, mẹ sợ mất lòng người này người kia, sợ tụi con buồn lòng… để rồi cuối cùng mẹ trơ mắt nhìn hai anh em ruột thịt quay sang cắn xé, thù ghét lẫn nhau thế này đây…”

Bà Lan nghẹn lại, lồng ngực phập phồng dữ dội vì cơn xúc động quá mạnh khiến bà thiếu oxy. Cơn đau buốt từ khớp gối phải nhói lên dữ dội như có hàng ngàn mũi kim châm thẳng vào tủy xương, làm toàn thân bà lảo đảo, hai gối khuỵu xuống. Bà sắp sửa ngã quỵ xuống nền gạch trơn trượt nếu như Hà không kịp lao tới, choàng hai tay ôm chặt lấy thắt lưng và nâng đỡ lấy một bên cánh tay gầy guộc của mẹ.

“Mẹ! Mẹ ngồi xuống đi, con xin mẹ, đừng đứng nữa!” Hà hoảng hốt kêu lên, giọng cô vỡ òa trong tiếng khóc xót xa. Cô dùng hết sức đỡ mẹ ngồi lại vững vàng trên chiếc ghế nhựa, bàn tay run run kéo chiếc chân đau của mẹ đặt ngay ngắn lại.

Khải đứng chôn chân tại chỗ. Nắm đấm gân guốc của anh từ từ buông lỏng, thõng xuống hai bên hông. Nhìn dáng vẻ run rẩy, hom hem, tàn tạ của người mẹ đã cả đời hy sinh vì mình, nhìn những giọt nước mắt giàn giụa trên khuôn mặt thất thần của đứa em gái ruột thịt, ngọn lửa hung hăng, mù quáng trong người Khải bỗng chốc như bị một gáo nước lạnh tạt thẳng vào, tắt ngấm.

Nó xẹp xuống nhanh chóng, để lại trong lòng anh một khoảng trống rỗng bẽ bàng, nhục nhã và ê chề cay đắng. Khải cúi gằm mặt xuống. Ánh mắt anh chạm vào cuốn sổ bìa đen đang nằm mở toang trên mặt bàn số bảy. Những con số tiền túi bị hụt, những ghi chép về các đợt mua thuốc, những giờ làm thêm dọn dẹp câm lặng của Hà hiện lên như những cái tát vô hình giáng thẳng vào mặt anh. Rồi anh lại nhìn xuống chiếc chân băng nẹp sưng tấy của mẹ.

Khải không nói thêm một lời nào. Anh cũng không thể thốt ra một lời xin lỗi—cái tôi cố hữu vẫn khóa chặt miệng anh lại. Anh lẳng lặng quay lưng, bước những bước chân nặng nề ra phía cửa sắt kéo. Khải cúi thấp người, lách qua khe cửa hẹp đã hạ thấp ngang hông.

Tiếng khóa xe máy lách cách vang lên ngoài mái hiên tôn, tiếp theo đó là tiếng đề xe khọt khẹt rồi tiếng động cơ xe máy gầm rú dữ dội xé toạc màn đêm của con đường Vườn Me. Chiếc xe phóng vụt đi vào bóng tối mịt mùng, để lại sau lưng một sự im lặng nặng nề như chì bao trùm lấy gian quán nhỏ.

***

Đêm đó là một đêm dài vô tận đối với Hà.

Cô nằm trên chiếc đệm mỏng trải tạm trên nền gạch bông trong căn phòng trọ chật chội thuê cách quán mười phút đi bộ. Căn phòng hầm hập hơi nóng sau mưa, chỉ có chiếc quạt máy cũ kỹ quay qua quay lại, phát ra những tiếng cọt kẹt đơn điệu theo từng vòng quay.

Ở chiếc giường sắt bên cạnh, bà Lan liên tục trở mình đầy đau đớn. Cứ cách một chốc, tiếng thở dài sườn sượt cùng tiếng xoa bóp khớp gối lại vang lên trong bóng tối. Mùi dầu gió ngải cứu nồng nặc bốc lên, cay xè nơi khóe mắt. Không ai nói với ai câu nào, nhưng sự im lặng ấy còn nặng nề, ngột ngạt hơn bất kỳ trận cãi vã tóe lửa nào từng xảy ra trong căn nhà này suốt bao năm qua.

Hà trằn trọc nhìn lên trần nhà loang lổ vết ố nước mưa. Cô biết rõ tính Khải. Ở phòng trọ riêng của anh cách đó vài con hẻm, chắc chắn anh trai cô cũng không tài nào chợp mắt được. Khải là người nóng nảy, gia trưởng, cộc cằn và luôn có xu hướng giải quyết mọi thứ bằng sự áp đặt, nhưng sâu thẳm bên trong, anh không phải là một kẻ mất hết nhân tính. Anh chỉ là một người đàn ông thất học, vụng về, đang vùng vẫy trong sự bất lực của chính mình—một kẻ ba mươi hai tuổi mang trên vai gánh nặng mưu sinh nghèo khó nhưng lại hoàn toàn mù tịt về phương pháp quản lý, chỉ biết lấy sức trâu bò và sự liều mạng ra để khỏa lấp nỗi sợ hãi thiếu thốn.

Nằm lắng nghe tiếng mẹ rên khẽ vì nhức buốt, Hà siết chặt hai bàn tay lại. Cô hiểu rằng, gia đình này đã chạm đến lằn ranh đỏ của sự chịu đựng. Nếu sáng mai khi mặt trời mọc, mọi chuyện lại trôi qua trong sự im lặng giả tạo, nếu mẹ lại gượng cười nhịn nhục, Khải lại lầm lũi đi chợ rồi đâu lại vào đấy như hàng trăm lần trước, thì quán Cơm Nhà Bà Lan sẽ thực sự đi đến hồi kết.

Quán sẽ không sụp đổ vì thiếu thực khách, cũng chẳng phải vì giá thịt cá leo thang. Nó sẽ sụp đổ vì chính những con người bên trong nó đã bị vắt kiệt sức lực, và tình thân ruột thịt sẽ bị giết chết dần mòn bởi những ấm ức, hận thù giấu kín sau lớp vỏ bọc “dĩ hòa vi quý”. Phải thay đổi. Bằng mọi giá phải thiết lập lại trật tự, ngay từ ngày mai.

***

Sáu giờ ba mươi sáng hôm sau.

Bầu không khí trên đường Vườn Me còn vương lại chút mát dịu hiếm hoi sau trận mưa đêm. Những giọt sương sớm đọng trên mép mái tôn phía trước quán cơm nhỏ thỉnh thoảng lại nhỏ tí tách xuống mặt đường nhựa đã ráo nước.

Cánh cửa sắt kéo rỉ sét của quán đã được đẩy lên hoàn toàn, để lộ không gian bên trong quán ăn sáng nay sạch sẽ một cách lạ thường. Nền gạch bông đã được quét dọn tươm tất, bàn ghế kê lại ngay ngắn, nhưng sự gượng gạo và căng thẳng vẫn bao trùm lấy từng ngóc ngách, khiến mỗi bước chân đi lại đều trở nên dè dặt.

Bà Lan ngồi ở chiếc ghế cạnh bàn số bảy—chiếc bàn định mệnh của cuộc cãi vã đêm qua. Chân phải của bà đã được đeo chiếc nẹp vải thun màu be có thanh nẹp kim loại cố định hai bên mà Hà đã mua đợt trước. Đôi bàn tay gầy guộc của bà chậm rãi, tỉ mẩn nhặt từng cọng rau muống xanh ngắt, thỉnh thoảng khẽ nhấc chân lên đổi tư thế để đỡ mỏi.

Khải đã chở hàng về từ chợ đầu mối Bình Điền từ lúc hơn năm giờ sáng. Chiếc xe máy chở hai sọt sắt nặng trĩu đỗ gọn gàng trước hiên. Khác hẳn với vẻ hùng hổ, hách dịch mọi ngày, sáng nay Khải hoàn toàn im lặng. Anh không gắt gỏng chửi đổng về giá thịt tăng, cũng chẳng quát tháo giục giã ai. Khải lẳng lặng vác từng bao hàng củ quả, từng tảng thịt heo nặng trịch đặt vào góc bếp sơ chế. Thỉnh thoảng, ánh mắt mệt mỏi với hai quầng thâm sâu hoắm của anh lại liếc nhìn về phía mẹ với vẻ ân hận, lúng túng tột cùng, nhưng khuôn mặt vẫn cố giữ vẻ lầm lì, gai góc quen thuộc.

Từ phía sau quầy thu ngân, Hà bước ra.

Hôm nay cô mặc chiếc áo sơ mi cộc tay màu xám đơn giản, tóc buộc cao gọn gàng phía sau gáy. Trên tay cô không còn là cuốn sổ bí mật bìa đen của đêm qua nữa. Thay vào đó, cô cầm một tấm bìa các-tông cứng màu trắng khổ A3 phẳng phiu và một chiếc bút lông dầu màu đen mực đậm.

Hà không nhìn Khải, cũng không nói một lời xã giao. Cô bước thẳng một mạch tới chiếc cột bê tông vuông vức nằm ngay giữa lối đi chính—vị trí trung tâm nối liền quầy thu ngân với khu vực bàn ăn và lối dẫn vào bếp. Đó là nơi đập vào mắt đầu tiên của bất kỳ ai bước chân vào quán: từ cô Hạnh phụ bếp, Duy chạy bàn, cho đến Khải và bà Lan.

Hà xé từng đoạn băng dính hai mặt bản lớn, dán chặt bốn góc của tấm bìa các-tông lên bề mặt xám nhạt của cây cột bê tông, ngang tầm mắt của người lớn.

Trên tấm bìa trắng tinh ấy, Hà đã dùng bút dạ và thước kẻ sẵn một bảng biểu chia thành nhiều cột, nhiều dòng vô cùng ngay ngắn, mạch lạc. Ở dòng trên cùng, tiêu đề được viết bằng chữ in hoa đậm nét, rõ ràng từng nét một:

**BẢNG THEO DÕI CÔNG VIỆC VÀ THỜI GIAN THỰC TẾ (THỬ NGHIỆM 2 TUẦN)**

Các cột dọc được phân chia rành mạch và chi tiết đến từng khâu: 1. *Ngày / Tháng* 2. *Người thực hiện* 3. *Đầu việc cụ thể (Chợ búa - Vận chuyển / Sơ chế - Đứng bếp / Bán hàng - Quầy / Giao đơn ngoài / Chăm mẹ - Đi viện)* 4. *Giờ bắt đầu - Giờ kết thúc (Tổng số giờ làm việc)* 5. *Chi phí phát sinh / Tự bù tiền túi (Kèm hóa đơn / Biên lai cụ thể)* 6. *Ghi chú / Đổi ca / Đề xuất*

Tiếng miết băng dính sột soạt trên nền tường xi măng vang lên dứt khoát. Khải dừng phắt tay lại khi đang bê thau nhôm đựng thịt heo ra bàn pha lóc. Anh đứng sững lại giữa lối đi, giương mắt nhìn chằm chằm vào tấm bảng biểu trắng toát vừa xuất hiện trên cột. Bà Lan cũng ngừng tay nhặt rau, ngẩng khuôn mặt đầy âu lo lên nhìn con gái.

Hà quay người lại. Cô đứng thẳng lưng, hai tay buông tự nhiên bên hông, ánh mắt bình thản nhưng kiên định nhìn thẳng vào mặt Khải. Giọng nói của cô vang lên giữa gian quán buổi sớm—không hề có một chút run rẩy, không có sự tức giận hay mỉa mai, mà là sự chừng mực, đanh thép của một người đã suy nghĩ thấu đáo suốt cả một đêm dài:

“Chúng ta không thể tiếp tục vận hành cái quán này bằng cách phỏng đoán xem ai cực hơn ai, rồi ai cũng ôm trong lòng một đống ấm ức để rồi bùng nổ, chửi bới và làm tổn thương nhau như tối hôm qua nữa. Gia đình là gia đình, nhưng công việc của quán ăn này phải sòng phẳng. Từ hôm nay, con đề xuất quán mình làm việc dựa trên con số thực tế.”

Hà đưa tay chỉ thẳng lên tấm bảng trên cột:

“Trong vòng hai tuần tới, quán Cơm Nhà Bà Lan sẽ tuyệt đối không mở thêm bất kỳ ca tối nào hết. Chúng ta giữ nguyên khung giờ bán buổi trưa từ mười giờ sáng đến mười bốn giờ chiều như quy định cũ. Tất cả mọi người có mặt trong cái quán này—từ anh Khải, con, cô Hạnh cho tới bạn Duy—đều phải có trách nhiệm ghi trung thực số giờ làm việc thực tế của mình vào đây.”

Cô nhìn xoáy vào mắt Khải, phân tích từng điểm một:

“Anh Khải đi chợ đầu mối từ mấy giờ đến mấy giờ, chở bao nhiêu chuyến hàng, chạy bao nhiêu đơn giao cơm ngoài đường nắng nôi, anh ghi rõ ràng số giờ vào cột của anh. Con đứng quầy mấy tiếng, bưng bê mấy tiếng, ở lại dọn dẹp rửa khay cùng cô Hạnh mấy tiếng, con ghi vào cột của con. Ai đưa mẹ đi tái khám ở bệnh viện, ai canh giờ thuốc men cho mẹ, ghi rõ ràng số giờ ra đó.”

Hà dừng lại một nhịp thở, để từng lời từng chữ ngấm sâu vào không gian:

“Sau hai tuần ghi chép đầy đủ, chúng ta sẽ đem toàn bộ số liệu thực tế này ra đối chiếu. Nếu con số chứng minh rằng quán này thực sự còn dư thừa sức người, mẹ hoàn toàn đủ sức khỏe mà không bị tái phát đau khớp, và việc mở ca tối đem lại lợi nhuận thực tế vượt trội so với chi phí sức lực bỏ ra, lúc đó chúng ta mới ngồi lại bàn tiếp về chuyện bán đêm. Còn nếu số liệu cho thấy sức người đã chạm trần, mẹ không chịu nổi, thì từ nay về sau, không một ai được phép tự ý ép người khác phải gánh thêm việc hay vẽ ra những kế hoạch viển vông nữa!”

Khải mím chặt môi. Cơ hàm anh bạnh ra, hai vành tai đỏ ửng lên dưới ánh nắng sớm rọi qua ô cửa sổ. Anh nhìn chằm chằm vào các dòng kẻ ô ly ngay ngắn, thẳng tắp trên tấm bìa cứng, bàn tay cầm chiếc khăn lau bàn siết chặt lại đến mức các khớp ngón tay trắng bệch.

Sự rành mạch, lý lẽ đanh thép và phong thái đàng hoàng, không một lời mắng nhiếc hay hờn dỗi của Hà khiến Khải hoàn toàn cứng họng. Anh ta không thể tìm ra bất kỳ một cái cớ nào để nổi đóa hay gạt phăng đi như đêm qua. Đó là một đề xuất quá đỗi công bằng, minh bạch và khoa học. Đêm qua anh lớn tiếng bảo mồ hôi của anh ngoài đường đáng giá hơn, thì bây giờ, chính tấm bảng này sẽ là nơi ghi nhận sự đóng góp của anh mà không ai có thể phủ nhận hay xem thường được nữa.

“Còn về chuyện tiền nong,” Hà quay sang nhìn bà Lan, ánh mắt cô dịu lại nhưng thái độ vẫn vô cùng dứt khoát, “những khoản tiền con đã tự bỏ tiền túi cá nhân ra để bù đắp cho đơn cơm bị hỏng của công ty chị Thảo trưa qua, tiền mua thuốc nẹp đầu gối cho mẹ đợt vừa rồi, con yêu cầu được đối trừ công khai và rõ ràng. Đó là chi phí vận hành rủi ro của quán ăn và trách nhiệm chăm sóc sức khỏe của cả gia đình, tuyệt đối không phải là tiền phạt cá nhân mà một mình con phải gánh chịu.”

Bà Lan ngồi bên bàn số bảy, thở phào ra một hơi thật dài như vừa trút được một tảng đá ngàn cân đè nặng lên lồng ngực suốt từ đêm qua đến giờ. Đôi mắt người mẹ già ánh lên vẻ nhẹ nhõm, bà gật đầu lia lịa, giọng nói run run nhưng tràn đầy sự đồng thuận:

“Đúng, đúng rồi… Mẹ đồng ý hoàn toàn với con Hà. Chuyện này là mẹ sai, mẹ già lẩm cẩm, mẹ cứ để lẫn lộn tiền quán với tiền nhà, tiền chung với tiền riêng bấy lâu nay làm con phải khổ…”

Nói đoạn, bà Lan chống tay lên mép bàn, với chiếc túi vải lấy cuốn sổ cái bìa bọc nylon màu xanh da trời—cuốn sổ ghi chép dòng tiền chính thức của quán Cơm Nhà Bà Lan. Bà lật mở trang thu chi của tháng này, đặt ngay ngắn lên mặt bàn số bảy. Trước sự chứng kiến của cả Khải và Hà, bà rút chiếc bút bi cài trên mép áo, nắn nót ghi lại từng con số rõ ràng vào mục chi phí phát sinh của quán:

*“Khoản bồi hoàn 8 suất cơm công ty cô Thảo: 320.000đ.”* *“Bù đơn hàng công ty nội thất: 110.000đ.”* *“Tiền thuốc khám khớp và nẹp chân của mẹ: 1.200.000đ.”*

“Mỗi tuần,” bà Lan ngẩng đầu nhìn Khải rồi nhìn sang Hà, giọng bà lấy lại vẻ nghiêm trang, mực thước của người chủ gia đình, “tiền lời bán cơm trưa sau khi trừ tiền chợ sẽ trích ra một phần cố định để hoàn trả lại đầy đủ tiền túi cho con Hà. Tiền bạc phân minh, công việc rõ ràng thì trong nhà mới yên ấm được. Còn anh Khải, anh thấy sao? Anh có chịu cam kết ghi chép giờ giấc đàng hoàng cùng với em gái anh không?”

Khải đứng lặng thinh giữa gian bếp mất vài giây. Không gian chỉ còn lại tiếng nước chảy róc rách từ chiếc vòi nước góc sân sau. Anh nhìn nét chữ run rẩy nhưng dứt khoát của mẹ trên trang sổ quỹ màu xanh, rồi lại nhìn thẳng vào đôi mắt kiên nghị, không chút sợ hãi của Hà.

Cái nghẹn ngào, xấu hổ của đêm qua một lần nữa dâng lên, nhưng lần này nó không biến thành cơn giận dữ hung hăng nữa. Khải hít một hơi thật sâu, ném chiếc khăn lau bàn vào xô nước cái *bõm*, bọt xà phòng bắn tung tóe. Anh càu nhàu một câu cộc lốc bằng cái giọng khàn khàn quen thuộc, nhưng âm lượng đã chùng xuống rất nhiều:

“Thì ghi! Tưởng tao sợ ghi chắc? Để rồi coi, để xem hai tuần nữa ai là người làm nhiều hơn ai!”

Dứt lời, Khải không quay ngoắt bỏ đi như mọi bận nữa. Anh xắn tay áo lên quá khuỷu, bước thẳng tới khu vực bếp gas công nghiệp. Anh với lấy chiếc giẻ sắt và chai nước rửa chén, bắt đầu cúi rạp người cọ rửa tỉ mỉ từng mảng dầu mỡ cháy đen bám quanh kiềng bếp—công việc nặng nhọc, bẩn thỉu nhất mà suốt bao năm qua, anh luôn mặc định coi là việc của đàn bà con gái và bỏ mặc cho Hà cùng cô Hạnh dọn dẹp sau mỗi giờ đóng cửa.

Hà đứng tựa lưng vào chiếc cột bê tông mát lạnh, ngắm nhìn tấm bảng biểu màu trắng vừa được dán ngay ngắn. Nhìn bóng lưng rộng nhưng hơi còng xuống của anh trai đang cặm cụi cọ bếp, nhìn mẹ đang cẩn thận gấp mép cuốn sổ quỹ cất vào ngăn kéo, một cảm giác nhẹ nhõm kỳ lạ và ấm áp từ từ lan tỏa vào từng thớ thịt rã rời của cô.

Lần đầu tiên sau ngần ấy năm bươn chải ở quán ăn này, cô không phải nói ra một lời “dạ được” giả lả hay gượng gạo nở một nụ cười cam chịu để mua lấy sự yên ổn tạm bợ. Cuộc xung đột dữ dội đêm qua quả thực tàn nhẫn, đau đớn và để lại những vết sẹo bỏng rát, nhưng nó đã làm được một việc tối quan trọng: xé toạc lớp vỏ bọc dĩ hòa vi quý độc hại để phơi bày sự thật trần trụi ra ánh sáng. Chỉ khi dám đối diện với sự thật, người ta mới có thể tìm thấy một con đường sống thực sự.

Hà khẽ thở phào, quay gót bước trở lại phía quầy thu ngân nhôm kính. Cô kéo chiếc ghế con ngồi xuống, vươn tay với lấy chiếc điện thoại thông minh đặt cạnh chiếc máy in hóa đơn nhiệt để chuẩn bị kiểm tra tin nhắn đơn cơm trưa của bên công ty Thảo và các khách hàng thân thiết.

Màn hình điện thoại vừa sáng lên dưới ngón tay chạm của cô thì một thông báo đẩy nổi bật lập tức đập vào mắt.

Đó là biểu tượng một cuộc gọi nhỡ màu đỏ xuất hiện lúc bảy giờ mười lăm phút sáng nay, đi kèm với một dòng tin nhắn ngắn ngủi vừa được gửi đến qua ứng dụng Zalo:

*“Hà ơi, hôm nay có rảnh đi cà phê xíu như đã hẹn không? Hay lại bận quán nữa rồi?”*

Tên người gửi hiển thị rõ ràng trên thanh thông báo: **Võ Ngọc Mai**.

Hà đứng sững lại giữa quầy thu ngân. Ngón tay trỏ của cô dừng bất động trên mặt kính cường lực bóng loáng của chiếc điện thoại.

Một cảm giác tội lỗi buốt nhói bất ngờ ập đến, bóp nghẹt lồng ngực cô. Hà bàng hoàng nhận ra, đây đã là lần thứ ba liên tiếp trong vòng chưa đầy một tháng, cô lỡ hẹn với người bạn thân thiết nhất của mình chỉ vì những mớ bòng bong không hồi kết của quán cơm gia đình.

Chương này thế nào?Đánh giá giúp Readeep đề xuất đúng hơn cho bạn