Phần việc không chỉ nằm trên bảng
Khải dựng chân chống xe máy cái rầm trước cửa quán, thứ âm thanh kim loại va quệt chát chúa xuống gờ xi măng còn loang lổ vết nước rửa chén chưa kịp khô ráo. Cú va chạm đột ngột xé toạc bầu không khí yên ả hiếm hoi của quán Cơm Nhà Bà Lan vào đầu giờ chiều. Con mèo tam thể gầy gò đang nằm cuộn tròn thảnh thơi dưới bóng râm của chậu húng quế ngoài góc sân giật thót mình, bốn chân bung ra khỏi mặt đất, phóng tót một mạch lên gờ tường gạch rêu phong rồi nấp sau giàn mướp cằn, trố mắt nhìn ra bằng đôi con ngươi vàng đục đầy cảnh giác.
Gió xế trưa hắt vào mặt tiền quán một vạt nắng xiên khoai gay gắt, rát bỏng như dội lửa. Cái oi nồng đặc quánh của con đường Vườn Me sau những giờ cao điểm ngột ngạt dường như chưa hề vơi bớt, nó cuộn theo bụi đường, hơi xăng xe máy và cả cái vị tanh nồng nhàn nhạt bốc lên từ lòng con kênh phía xa xa. Nhưng bên trong cánh cửa cuốn chỉ hé mở lưng chừng của quán, không khí vừa mới kịp chùng xuống sau khi tốp khách ăn trưa muộn màng cuối cùng đứng dậy rời đi.
Duy đã dắt chiếc xe số cà tàng rời khỏi quán đúng mười bốn giờ mười lăm phút. Tiếng động cơ xe của anh nổ lụp bụp xa dần ở ngã ba hẻm, mang theo sự gấp gáp của một người vừa cởi bỏ chiếc tạp dề phục vụ để kịp chạy đua với thời gian sang quận bên cho lớp học kỹ thuật điện ca chiều. Trong gian quán nhỏ, mùi nước lau sàn sả chanh the mát đang dần dà chiếm lĩnh không gian, đè bẹp mùi mỡ hành, mùi nước mắm chua ngọt và khói bếp cay xè đã bám riết lấy từng kẽ tường suốt từ sáng sớm. Những chiếc bàn inox hình chữ nhật được lau miết kỹ lưỡng, mặt bàn sáng bóng phản chiếu ánh sáng mờ mờ từ bóng đèn tuýp trên trần, ghế nhựa đỏ được xếp chồng gọn ghẽ, úp hờ mép bàn một cách ngay ngắn, trật tự.
Hà đang đứng sau quầy thu ngân bằng nhôm kính. Mái tóc cô được búi gọn gàng sau gáy, để lộ chiếc gáy thanh mảnh ướt đẫm vài sợi tóc mai vì mồ hôi. Cô cẩn thận kẹp từng xấp phiếu in nhiệt đã hoàn tất trong ca trưa vào chiếc khay nhựa màu xanh lá cây đã sờn mép. Những con số ghi lại từng đĩa cơm sườn, từng tô canh khổ qua, từng phần chả chưng được cô rà soát lần cuối bằng đầu bút bi xanh. Đúng lúc ấy, bóng dáng to lớn, thô kệch của Khải đổ ập xuống mặt quầy kính, chắn ngang luồng sáng yếu ớt rọi từ khung cửa sổ.
Chiếc mũ bảo hiểm nửa đầu bạc phếch vì dãi nắng dầm mưa vẫn còn cài nguyên quai dưới cằm, sợi dây dù bết dính mồ hôi siết chặt vào hai bên má đỏ gay, ướt sũng của anh. Chiếc áo sơ mi màu xanh công nhân bạc phếch hai bên vai dán chặt vào lưng thành từng mảng sẫm màu, ngực Khải phập phồng dữ dội như một người vừa dốc toàn bộ sức tàn để đua tốc độ qua mấy ngã tư kẹt xe đặc nghẹt khói bụi.
“Hà! Đổi ca cho anh chiều nay đi!”
Khải đập mạnh tập hóa đơn nhăn nhúm, nhớp nhúa mồ hôi ngón tay xuống mặt kính nghe một tiếng *chát*, giọng anh khàn đặc, đứt quãng vì thiếu dưỡng khí.
“Anh vừa nhận thêm chuyến giao hai mươi hộp cơm văn phòng đột xuất sang bên khu chế xuất quận lân cận. Bên đó họ tổ chức họp tăng ca muộn, chịu trả thêm phụ phí giao hàng gấp với tiền công tươi rói, tính ra chuyến này kiếm gọn ba trăm rưỡi nghìn tiền mặt trao tay. Mối thơm thế này không chộp là người ta gọi bên quán cơm tấm đối diện ngay lập tức. Chiều nay em lấy xe máy chở mẹ sang bệnh viện quận tái khám khớp gối giùm anh!”
Hà dừng tay. Đầu ngón tay trỏ của cô vẫn chạm vào mép giấy in nhiệt ram ráp, lạnh tanh. Tiếng quạt trần quay lạch cạch trên đỉnh đầu dường như chậm lại một nhịp. Cô từ tốn ngước mắt nhìn anh trai mình. Không có sự hoảng hốt, không có vẻ bối rối, cũng không có cái phản xạ vô điều kiện là vội vã lục lọi túi xách tìm chìa khóa xe hay cuống cuồng tìm cách xoay xở thời gian biểu như những tháng ngày trước đây. Ánh mắt Hà nhìn Khải phẳng lặng, trong trẻo và bình thản đến lạ lùng.
“Em không đổi được đâu anh Khải,” Hà nói, giọng cô trầm, gọn gàng và rõ từng âm tiết.
Khải chớp chớp mắt, hàng lông mày rậm rạp nhíu chặt lại thành một búi gút sâu hoắm giữa trán. Dường như bộ não đang hừng hực quán tính của những guồng quay mưu sinh ngoài đường phố chưa thể tiêu hóa nổi lời từ chối dứt khoát và ngắn gọn ấy. Anh vung mu bàn tay quệt ngang một đường mồ hôi đang chảy ròng ròng từ thái dương xuống cằm, bật ra một tiếng cười khẩy nghẹn ứ:
“Mày nói cái gì? Có mỗi việc chở mẹ qua phòng khám ngồi chờ bác sĩ kiểm tra cái khớp gối rồi lấy bọc thuốc về thôi mà? Chiều nay quán đóng cửa nghỉ rồi, mày ở nhà chứ có vướng bận việc gì nặng nhọc đâu? Ba trăm rưỡi nghìn này anh chạy vèo một cái chưa đầy tiếng rưỡi là xong, cầm tiền tươi về đắp vào tiền mặt bằng tháng tới cho chú Tín, mày không thấy à?”
“Chiều nay em có việc của em,” Hà đáp, tay cô vẫn bình thản tiếp tục vuốt phẳng mép của xấp hóa đơn cuối cùng, đặt nó ngay ngắn vào ngăn khay màu xanh, kéo ngăn kéo lại nghe một tiếng *cạch* dứt khoát. “Đúng ba giờ mười lăm em phải đi hiệu sách ở đường trung tâm để lấy mấy cuốn sách chuyên ngành đã đặt cọc tuần trước, sau đó hẹn uống trà với Mai lúc bốn giờ. Lời hẹn này em và Mai đã lên lịch trước cả tuần lễ rồi.”
“Đi... uống trà với mua sách?” Khải trố tròn hai mắt, giọng anh bỗng cao vút lên, the the như vừa nghe thấy một điều gì đó vô lý và quái đản nhất trần đời. Anh chống cả hai bàn tay thô ráp, gân guốc lên mép quầy nhôm kính, chồm toàn bộ thân người đẫm mùi nắng về phía trước: “Mày đùa đấy à Hà? Việc nhà, việc quán đang ngập đầu ngập cổ, nợ nần người ta đòi ráo riết từng ngày, mẹ thì đau chân cần đi viện kiểm tra mà mày bảo bận đi uống trà với bạn? Mày hẹn lại đứa bạn mày bữa khác không được à? Bạn bè gặp nhau lúc nào chẳng được, thiếu gì ngày rảnh rỗi mà phải chọn đúng cái giờ này?”
“Không được,” Hà nhìn thẳng vào đôi mắt vằn đỏ những tia máu vì mệt mỏi của Khải. Ánh mắt cô không trốn tránh sang những chiếc bàn trống, không nhìn xuống nền gạch bông loang lổ, và cũng tuyệt nhiên không hề có sự gay gắt thù địch. “Lần trước em đã hủy hẹn với Mai sát giờ chỉ vì quán đột ngột thiếu người sơ chế ba chục ký bắp cải. Lần trước nữa em cũng thất hẹn vì phải chạy đi mua thêm mấy cây đá lạnh bổ sung cho ca trưa. Ba lần trong vòng chưa đầy một tháng em để Mai ngồi chờ một mình ngoài quán nước rồi đấy anh. Tình bạn không phải là thứ để em cứ tùy tiện mang ra gạt qua một bên mỗi khi có ai đó trong nhà hứng lên đổi kế hoạch vào phút chót.”
Cơn bực dọc tích tụ từ những vòng bánh xe hối hả dưới cái nắng chang chang ngoài quốc lộ bùng lên như một ngọn lửa gặp gió trên gương mặt Khải. Anh giật mạnh quai mũ bảo hiểm, tháo phăng nó ra khỏi đầu rồi ném cộp một cái thật mạnh lên mặt bàn gỗ số một gần nhất. Chiếc mũ nhựa xoay tít mấy vòng trên mặt bàn rồi dừng lại chỏng chơ.
“Mày bắt đầu biết tính toán, so đo từng tí một với người trong nhà rồi đấy nhỉ? Mày giỏi rồi đấy!” Khải gằn giọng, lồng ngực phập phồng dữ dội. “Mày nhìn lại xem anh đang chạy hộc bơ ngoài nắng là vì cái gì? Vì ai? Chẳng phải vì muốn kiếm thêm tiền phụ mẹ trả nốt nợ nần, bù vào cái khoản hụt doanh thu do bỏ ca tối hay sao? Anh lao tâm khổ tứ, bán mặt cho đất bán lưng cho trời để kiếm từng đồng cắc về cho cái quán này, còn mày thì chỉ nghĩ đến ba cái chuyện trà nước, sách vở phù phiếm vô bổ!”
Từng lời, từng chữ buộc tội ấy rơi xuống không gian tĩnh mịch của quán cơm. Chúng quen thuộc đến mức Hà có thể thuộc lòng từng ngữ điệu, từng cái nhăn mặt, từng cái chỉ tay của anh trai. Trong suốt bao nhiêu năm ròng rã, chính cái điệp khúc hy sinh ấy đã giam cầm cô trong một cảm giác tội lỗi triền miên đến nghẹn thở.
Từng có thời, chỉ cần Khải gắt lên một câu như thế, chỉ cần anh viện vào chữ “vì gia đình”, cô sẽ lập tức cúi gằm mặt xuống, nhận hết mọi phần sai trái về mình. Cô sẽ vội vã rút chiếc điện thoại ra, ngón tay run rẩy gõ từng dòng tin nhắn xin lỗi Mai bằng một tràng giải thích vụng về, đầy dằn vặt, rồi lủi thủi dắt xe máy ra thềm, chở mẹ đi bệnh viện trong sự ấm ức nghẹn ngào chôn chặt dưới đáy lòng, chỉ để đổi lấy một sự êm ấm giả tạo, tạm bợ cho căn nhà này.
Nhưng hôm nay, bên dưới lớp áo sơ mi giản dị, lồng ngực Hà phẳng lặng như mặt hồ không một gợn sóng. Sự trưởng thành không đến từ những lời tuyên ngôn to tát, nó đến từ khoảnh khắc một con người nhìn rõ ranh giới giữa trách nhiệm thực sự và sự tiện tay đùn đẩy của người khác.
Hà từ tốn bước ra khỏi quầy thu ngân. Đôi dép xốp của cô gõ nhẹ trên nền gạch bông sạch bóng. Cô dừng lại trước mặt Khải, giữ một khoảng cách chừng nửa mét — một khoảng cách vừa đủ để tôn trọng, nhưng cũng vừa đủ để tạo nên một ranh giới không thể xâm phạm.
“Anh Khải, anh nghe cho rõ này,” Hà nói, giọng cô không hề lên gân, không một chút run rẩy, từng lời rành rẽ và đanh chắc như gõ phím đàn. “Việc nhận thêm hai mươi hộp cơm chiều nay là quyết định riêng của anh, không hề nằm trong kế hoạch bán trưa của quán mà chúng ta đã thống nhất từ đầu tuần. Tiền công đó anh muốn kiếm thêm để phụ quán hay để chi tiêu cá nhân thì đó là việc anh tự ý nhận lấy dựa trên sự tham công tiếc việc của anh. Còn lịch đưa mẹ đi tái khám khớp gối vào thứ Ba tuần chẵn là trách nhiệm anh đã ký nhận trên bảng phân công dán ở cửa tủ lạnh từ hai tuần trước.”
“Thì anh mới bảo là đổi ca!” Khải gắt to hơn, hai bàn tay nắm chặt lại thành nắm đấm, gân xanh nổi ngoằn ngoèo trên cẳng tay đen sạm. “Tuần sau tuần lẻ đến lượt mày, anh sẽ đi thay cho mày! Anh có quỵt việc của mày đâu? Đổi qua đổi lại giữa anh em ruột thịt thì mất đi đâu miếng thịt nào mà mày phải làm mình làm mẩy?”
“Không đổi được, vì nguyên tắc đổi ca là phải được báo trước ít nhất một ngày để người khác sắp xếp đời sống cá nhân của họ, chứ không phải sát sạt giờ hẹn anh mới nhảy vào giục giã, ép người ta phải gật đầu theo ý mình,” Hà kiên định nhìn thẳng vào mắt Khải. “Thời gian của em cũng có giá trị như thời gian của anh. Lời hứa của em với Mai cũng quan trọng y như lời hứa của anh với khách hàng ngoài kia. Em không thể tiếp tục hủy hoại các mối quan hệ xã hội của mình, không thể biến cuộc sống của mình thành một mớ hỗn độn chỉ để đi chữa cháy cho những quyết định bộc phát ngoài đường của anh.”
“Mày...” Khải nghẹn ứ nơi cổ họng, gương mặt đỏ bừng vì bị dồn vào thế đuối lý. Anh giơ một ngón tay run run chỉ thẳng vào ngực mình rồi chỉ sang mặt Hà: “Mày cứng đầu vừa thôi Hà! Mày học đòi ở đâu cái thói ích kỷ, máu lạnh ấy hả? Giờ tao không đi chở mẹ được, đơn hàng bên xưởng người ta gọi giục liên tục, mày định bỏ mặc mẹ ở nhà chịu đau khớp gối một mình à?”
Đòn tâm lý cuối cùng ấy — cái đòn bẩy tình cảm muôn thuở nhằm khơi dậy nỗi bất hiếu và sự cắn rứt lương tâm — đã không còn tác dụng.
“Em không bỏ mặc mẹ,” Hà trả lời dứt khoát, ánh mắt cô không hề chớp. “Mẹ là mẹ chung của hai anh em, không phải là trách nhiệm riêng của mình em để anh mang ra mặc cả. Em đã đưa mẹ đi đúng lịch ở các tuần lẻ, em đã mua sẵn nẹp gối y tế mới, đã chuẩn bị sổ khám bệnh và thẻ bảo hiểm y tế của mẹ để ngay ngắn trên nóc tủ thuốc gia đình ngoài phòng khách từ sáng nay. Phần việc chiều nay là của anh. Nếu anh thấy chuyến giao cơm kiếm ba trăm rưỡi nghìn kia quan trọng hơn sức khỏe của mẹ, anh tự tìm cách thu xếp. Còn em, đúng ba giờ em sẽ thay đồ và rời khỏi nhà.”
Nói xong, Hà không nán lại để đôi co thêm một lời nào nữa. Cô xoay người bước lại gần quầy, với lấy chiếc túi xách vải treo sau cánh cửa gỗ, kiểm tra ví tiền và điện thoại, rồi bước thẳng vào gian buồng trong để chào mẹ một tiếng trước khi chuẩn bị rời đi.
Căn buồng nhỏ phía sau gian bếp mát mẻ hơn nhờ bóng cây khế ngoài vườn che phủ. Bà Lan đang ngồi trên chiếc ghế mây có tựa lưng êm ái, chân phải duỗi thẳng trên chiếc đôn nhỏ bọc vải hoa đã phai màu. Gương mặt người mẹ già hằn sâu những nếp nhăn lo âu khi từng câu đối đáp gay gắt ngoài gian quán vừa rồi đều lọt trọn vào tai bà. Thấy bóng Hà bước vào, bà Lan ngập ngừng chống hai tay xuống thành ghế, toan gượng người ngồi dậy:
“Hà à... Hay là... nếu thằng Khải nó kẹt đơn hàng quá thì để mẹ tự đón xe ôm công nghệ qua bệnh viện cũng được con ạ. Con đừng cãi nhau với anh làm gì cho sứt mẻ tình cảm...”
Hà nhẹ nhàng bước nhanh tới bên cạnh mẹ. Cô cúi xuống, đặt hai bàn tay mềm mại nhưng ấm áp lên vai bà Lan, khẽ khàng ấn bà ngồi yên trở lại trên nệm ghế:
“Mẹ ngồi yên đấy mẹ. Bác sĩ đã dặn dò rất kỹ rồi, chân mẹ đang trong giai đoạn hồi phục màng hoạt dịch, tuyệt đối cấm leo trèo xe máy cao hay tự ý đi lại một mình ngoài đường sá đông đúc. Không ai trong nhà này để mẹ phải đi xe ôm công nghệ cả. Anh Khải sẽ có cách thu xếp đưa mẹ đi đúng giờ. Con đã có hẹn với Mai từ tuần trước rồi, bây giờ con phải đi đây mẹ.”
Bà Lan ngước nhìn con gái. Trong đôi mắt kèm nhem của người mẹ cả đời nhẫn nhục, chịu đựng, luôn chọn cách dĩ hòa vi quý để giữ cho gia đình một sự bình yên mong manh, bà nhìn thấy một ánh sáng rất khác nơi Hà. Đó không phải là sự bướng bỉnh ngang ngạnh của một đứa trẻ giận dỗi, mà là sự chững chạc, bình thản của một người phụ nữ đã thấu suốt giá trị của bản thân.
Bà Lan khẽ thở dài một tiếng thật nhẹ, lồng ngực bà chùng xuống, rồi bà bất giác gật đầu:
“Ừ... Con đi đi. Nhớ đi đứng cẩn thận nghe con.”
“Dạ, con chào mẹ.”
Hà mỉm cười, chỉnh lại mép gối kê dưới bắp chân cho mẹ rồi quay người bước ra ngoài.
Khi cô đi ngang qua gian quán, Khải vẫn đứng chôn chân bên cạnh chiếc bàn số bảy. Lưng anh quay về phía cô, hai bờ vai gồng cứng dưới lớp áo sơ mi sẫm màu mồ hôi. Anh không quay đầu lại, cũng không thốt ra thêm một lời nào khi nghe tiếng bước chân dứt khoát của Hà lướt qua, tiếng cánh cửa sắt kéo rít lên một vệt dài rồi tiếng chiếc xe máy nhỏ của cô nổ máy lăn bánh qua bậu cửa, hòa vào dòng xe cộ ngoài đường Vườn Me.
Cánh cửa quán khép hờ.
Không gian bên trong bỗng chốc rơi vào một sự tĩnh lặng đến rợn ngợp. Chỉ còn tiếng quạt tường con cóc cũ kỹ quay ù ù, phả từng luồng gió hanh hao vào vách ván ép. Khải đứng đó, hai bàn tay buông thõng bên hông, ngón tay run nhẹ vì cơn ức nghẹn chưa kịp tiêu tán. Anh nhìn chằm chằm vào chiếc mũ bảo hiểm nằm trơ trọi trên bàn gỗ, rồi nhìn sang cuốn sổ trực phân công công việc gia đình dán ngay ngắn trên cánh tủ lạnh gần bếp.
Sự im lặng này hoàn toàn khác biệt so với tất cả những lần cãi vã trong quá khứ. Trước đây, mỗi khi anh nổi đóa, mẹ sẽ lập tức lập cập bước ra làm người hòa giải, nhận hết lỗi lầm về mình, hoặc Hà sẽ lẳng lặng rơi vài giọt nước mắt rồi nhận lấy chùm chìa khóa xe trong sự cam chịu. Nhưng lần này, không có một giọt nước mắt nào rơi. Không có ai bước ra để nhận thay phần gánh nặng mà anh vừa cố tình quẳng sang.
Khoảng trống mênh mông của buổi trưa buộc Khải phải đối diện trực diện với chính mớ bòng bong do sự tham lam và tùy tiện của bản thân tạo ra.
Bất thình lình, chiếc điện thoại thông minh cũ mèm nhét trong túi quần bò của Khải rung lên bần bật, kèm theo hồi chuông réo rắt liên hồi. Màn hình sáng lên dòng chữ hiển thị tên người gọi: *Anh Thuận - Xưởng May 2*.
Khải nghiến chặt quai hàm, tim anh đập thình thịch trong lồng ngực. Ngón tay anh run rẩy chạm vào màn hình. Trong một thoáng chốc tuyệt vọng, anh toan bấm nghe để nói dối rằng em gái anh đang trên đường mang cơm tới. Nhưng rồi anh chợt khựng lại. Hà đã đi rồi. Thực tế nghiệt ngã ấy giáng một đòn tỉnh người vào tâm trí anh: không còn bất kỳ ai ở phía sau để anh sai phái, để anh dựa dẫm hay đùn đẩy trách nhiệm nữa. Nếu anh muốn giữ mối làm ăn này, chính anh phải là người đối mặt và xử lý nó.
Khải nhắm mắt lại, hít một hơi thật sâu để nén sự hỗn loạn trong lồng ngực xuống, rồi ngón tay anh gạt nút nhận cuộc gọi:
“Alo, anh Thuận hả? Dạ... Khải đây anh...” Giọng Khải khàn đi, anh cố giữ cho ngữ điệu của mình thật bình tĩnh. “Dạ, cái đơn hai mươi hộp cơm sườn bì cho ca ba chiều nay... Dạ, em gọi cho anh là để xin phép thương lượng lại giờ giao một chút xíu anh ơi. Nhà em chiều nay có việc đột xuất, con em gái bận lịch học không có nhà, em phải đích thân đưa mẹ em sang bệnh viện quận tiêm cữ thuốc khớp gối định kỳ lúc ba giờ chiều. Bác sĩ chuyên khoa hẹn đúng khung giờ đó, không dời sang ngày khác được anh à...”
Đầu dây bên kia im lặng một vài giây khiến Khải nín thở, mồ hôi lạnh toát ra sau gáy. Giọng người quản lý xưởng may vang lên có phần gắt gỏng:
“Ủa chú Khải? Đã hẹn ba giờ rưỡi giao qua cổng để công nhân người ta ăn lót dạ trước giờ tăng ca mà giờ chú nói vậy sao được? Cơm nước trễ tràng rồi người ta làm việc làm sao?”
Khải nuốt khan, sự tự tôn bộc phát ban nãy giờ đây nhường chỗ cho sự mềm mỏng, nhún nhường của một người làm ăn chuyên nghiệp:
“Dạ, em biết, em biết bên anh cần cơm đúng bữa, em đội ơn các anh đã tin tưởng gọi quán em. Nhưng ngặt nỗi việc đưa mẹ đi viện em không bỏ được. Nếu em giao lúc bốn giờ mười lăm thì có kịp giờ nghỉ giải lao giữa ca của công nhân không anh? Để tạ lỗi với anh và xưởng vì trễ ba mươi phút, chuyến này em xin phép bớt thẳng cho bên mình ba mươi nghìn tiền phí giao hàng xem như em chịu phạt. Cơm canh thì em cam đoan vẫn ủ thùng xốp nóng hôi hổi, chuyển qua tận bàn cho anh em... Dạ, anh linh động giúp em chuyến này với anh Thuận!”
Bên kia đầu dây có tiếng xì xào trao đổi với ai đó, rồi tiếng thở dài của người quản lý xưởng may:
“Thôi được rồi! Vì nể chỗ quen biết lâu năm với lại nghe chú nói có hiếu lo cho mẹ đi viện, tôi dời giờ ăn nhẹ của anh em xuống bốn giờ hai mươi. Nhớ đấy nhé, bốn giờ mười lăm phải có mặt ngay cổng bảo vệ, trễ một phút là tôi trả hàng đấy!”
“Dạ, dạ, em cảm ơn anh Thuận nhiều lắm! Đội ơn anh! Đúng bốn giờ mười lăm em có mặt ngay cổng bảo vệ!”
Khải cúp máy, buông thõng cánh tay cầm điện thoại xuống. Anh thở hắt ra một hơi dài rũ rượi, tựa hẳn lưng vào cạnh bàn inox mát lạnh.
Hóa ra, trời không hề sập xuống như anh tưởng tượng. Người ta không hề hủy đơn, không mắng chửi thậm tệ hay cắt đứt mối quan hệ làm ăn như cái nỗi sợ hãi mơ hồ từng khiến anh phát hoảng đến mức trút giận lên em gái. Người ta chỉ cần một lý do chính đáng, một lời giải thích minh bạch và một sự đền bù sòng phẳng.
Ba mươi phút dời lại ấy quý giá như vàng. Nó đủ để anh dắt xe máy chở mẹ sang bệnh viện quận cách đó hai cây số, lấy số thứ tự ưu tiên cho người già, ngồi bên cạnh mẹ chờ bác sĩ thăm khám và tiêm thuốc xong xuôi. Sau đó, anh có thể gửi mẹ ngồi nghỉ ngơi thoải mái ở sảnh chờ có máy lạnh của bệnh viện, tạt xe sang khu chế xuất giao cơm lấy tiền mặt, rồi quay lại đón bà về nhà trước khi trời sập tối.
Một sự nhẹ nhõm kỳ lạ len lỏi vào tâm trí Khải, gột rửa đi cái cảm giác ngột ngạt, bế tắc ban nãy. Anh nhận ra rằng, từ trước đến nay, chính thói quen ỷ lại vào sự nhẫn nhịn của Hà đã biến anh thành một kẻ lười biếng trong việc sắp xếp cuộc đời mình.
Khải cất điện thoại vào túi, chỉnh lại vạt áo sơ mi rồi rảo bước nhanh vào buồng trong. Giọng anh trầm xuống, không còn một chút bẳn gắt nào của người đàn ông hung hăng lúc nãy:
“Mẹ ơi, mẹ đeo cái nẹp gối vào đi mẹ. Con đỡ mẹ ra xe, con chở mẹ sang bệnh viện cho kịp giờ hẹn của bác sĩ.”
Bà Lan ngẩng đầu nhìn con trai, ánh mắt bà thoáng chút ngỡ ngàng, rồi nhanh chóng chuyển thành một nụ cười hiền hậu, an lòng:
“Ừ, con đỡ mẹ dậy với.”
***
Cùng thời điểm đó, tại một quán trà nhỏ nằm nép mình yên tĩnh sau tán cây ngọc lan râm mát cách đường Vườn Me chừng ba cây số, Hà đang ngồi đối diện với Võ Ngọc Mai.
Không gian nơi đây hoàn toàn tách biệt khỏi cái ồn ào, bụi bặm và ngột ngạt của những buổi trưa thành phố. Tiếng nước chảy róc rách từ chiếc cối đá nhỏ đặt ngoài góc sân rêu phong hòa cùng tiếng nhạc không lời êm dịu, tạo nên một bầu không khí thanh thoát, nhẹ bẫng. Trên chiếc bàn gỗ mộc mạc đặt hai ly trà sen ủ lạnh thơm ngan ngát, vài cánh hoa cúc khô trôi bồng bềnh trên lớp đá tinh khiết, và một chiếc đĩa gốm nhỏ đựng những chiếc bánh quy hạnh nhân giòn rụm màu vàng nâu.
Bên cạnh chỗ ngồi của Hà là chiếc túi vải thô đựng hai cuốn sách tranh minh họa bìa cứng mà cô vừa chọn được ở hiệu sách trung tâm. Mùi giấy mới ngai ngái, thơm tho phảng phất quanh chỗ cô ngồi.
Đã lâu lắm rồi — có lẽ phải tính bằng năm — Hà mới có lại cảm giác trọn vẹn của một buổi chiều thảnh thơi thực sự. Một buổi chiều không bị băm nát bởi những tiếng chuông thông báo đơn hàng của các ứng dụng giao thức ăn, không phải vừa nhấp ngụm nước vừa nơm nớp lo sợ trong đầu rằng nồi nước lèo ở quán có bị cạn hay không, và quan trọng nhất là không phải vừa nhìn vào mắt bạn bè vừa thấp thỏm liếc màn hình điện thoại xem gia đình có xảy ra biến cố gì đột xuất hay không.
Chiếc điện thoại của Hà được cô úp mặt xuống mặt bàn gỗ, cài chế độ im lặng hoàn toàn.
Mai chống cằm, nghiêng đầu nhìn Hà. Khóe môi cô bạn thân khẽ nhếch lên thành một nụ cười rạng rỡ, ánh mắt lấp lánh sự tinh nghịch pha lẫn ngạc nhiên:
“Hôm nay trông bà khác hẳn đấy nhé Hà. Thần thái tươi tắn hẳn ra, mắt không còn quầng thâm như gấu trúc nữa. Mà cái quan trọng nhất là tôi ngồi với bà suốt nửa tiếng đồng hồ rồi mà chưa thấy bà giật mình thảng thốt hay run rẩy mở ứng dụng Zalo của quán cơm ra kiểm tra lần nào!”
Hà bật cười, tiếng cười thanh thản bật ra từ lồng ngực. Cô nâng ly trà sen lên, áp mặt kính mát lạnh vào lòng bàn tay rồi nhấp một ngụm nhỏ. Vị chát nhẹ, thanh tao lan tỏa nơi đầu lưỡi, rồi nhanh chóng đọng lại thành một hậu vị ngọt sâu, êm ái nơi cuống họng:
“Tôi đang tập học lại những điều cơ bản nhất, Mai à. Học cách tôn trọng lịch trình của chính bản thân mình, và học cách tôn trọng trọn vẹn người đang ngồi đối diện với mình.”
“Biết nghĩ thế là tốt rồi đấy cô nương!” Mai cười lớn, đẩy đĩa bánh quy hạnh nhân về phía bạn mình. “Tuần sau nhóm đi bộ bờ kè công viên của bọn tôi bắt đầu khởi động lại vào sáng Chủ nhật đấy. Tôi đã tự tiện điền tên bà vào danh sách tham gia rồi, cấm tiệt cái trò viện cớ bận việc đột xuất để trốn nữa đấy nhé!”
“Nhất trí luôn,” Hà mỉm cười, đôi mắt ánh lên niềm vui sướng hồn nhiên đã bị vùi lấp bấy lâu. “Chủ nhật tuần sau ca bán trưa của quán mười giờ mới bắt đầu nhóm bếp. Tôi tham gia đi bộ từ sáu giờ đến bảy giờ rưỡi sáng là quá dư dả thời gian, không ai có thể lấy cớ đó để phàn nàn được cả.”
Hai người bạn cứ thế ngồi trò chuyện rôm rả, chia sẻ về những dự định cá nhân, về những cuốn sách nghệ thuật mới xuất bản, về những ước mơ nhỏ nhoi từng bị gác lại sau cánh cửa quán cơm gia đình. Khi hai người đứng dậy chào nhau để ra về thì đồng hồ đã điểm mười bảy giờ ba mươi phút.
Mặt trời chiều đã ngả sang màu cam sẫm, dát một lớp ánh sáng ấm áp, rực rỡ lên những rặng xà cừ cổ thụ ven bờ kênh. Lòng Hà bình yên như một dòng sông phẳng lặng chảy xuôi dòng. Cô nhận ra một chân lý giản dị mà sâu sắc: việc học cách nói “không” với những yêu cầu vô lý không hề phá vỡ trật tự của gia đình, cũng không hề biến cô thành một đứa con bất hiếu hay một người em ích kỷ. Nó chỉ đơn giản là đặt mọi thứ về đúng vị trí và giới hạn lành mạnh vốn có của nó. Khi cô ngừng làm chiếc phao cứu sinh cho những sự cẩu thả của người khác, người khác mới buộc phải học cách tự bơi.
***
Mười chín giờ ba mươi phút tối.
Bên trong quán Cơm Nhà Bà Lan, ánh đèn tuýp vàng ấm áp tỏa sáng đều đặn trên nền gạch bông sạch bong kin kít.
Khác hẳn với khung cảnh hỗn loạn, mù mịt khói mỡ và nồng nặc mùi bia rượu của những tháng ngày trước đây — cái thời kỳ mà quán còn cố sống cố chết mở thêm ca tối để bán mồi nhậu bình dân, thu hút những đám khách ồn ào, say xỉn cho đến tận đêm muộn — giờ đây không gian yên tĩnh và thanh bình đến lạ thường. Van bình gas công nghiệp đã được khóa chốt an toàn cẩn thận. Mặt bếp nấu bằng inox được cọ rửa sạch sẽ bằng nước cốt chanh và xà phòng, khô ráo, không còn đọng lại một vệt dầu mỡ nào. Tấm biển gỗ thông báo chỉ phục vụ ca trưa được treo ngay ngắn, trang trọng ngoài hiên nhà, như một tấm lá chắn vững chắc che chở cho quán một khoảng lặng quý giá giữa lòng thành phố náo nhiệt.
Tại chiếc bàn số bảy — chiếc bàn quen thuộc nằm sát khung cửa sổ nhìn ra mảng sân nhỏ có chậu húng quế xanh mướt — bốn chiếc chân bàn đứng vững chãi, thăng bằng tuyệt đối trên mặt đất, không còn một chút bập bênh nào nhờ miếng đệm cao su giảm chấn mà Duy đã tỉ mỉ chêm vào từ tuần trước.
Ba mẹ con vừa kết thúc bữa cơm tối giản dị nhưng ấm cúng với một tô canh bí đỏ nấu thịt bằm ngọt lịm và đĩa đậu hũ sốt cà chua thanh đạm.
Bà Lan ngồi ở đầu bàn, chân phải được gác cẩn thận lên chiếc ghế đôn bọc vải hoa. Gương mặt người mẹ già đã giãn ra, vẻ mặt thư thái, hồng hào trở lại sau khi uống cữ thuốc giảm đau êm dịu mà bác sĩ kê đơn. Khải ngồi ở phía đối diện với Hà. Đôi bàn tay thô ráp, chai sần vì nhiều năm cầm ghi-đông xe máy và bưng bê hàng nặng của anh đang lúng túng vân vê mép chiếc ly thủy tinh đựng nước trà đá.
Bầu không khí giữa hai anh em im ắng một hồi lâu. Tiếng ve sầu rả rích cất lên từ những bụi cây sau vườn càng làm cho gian nhà thêm phần tĩnh mịch, trang nghiêm.
Khải hắng giọng một tiếng thật khẽ, mắt anh dán chặt vào những giọt nước ngưng tụ đang chầm chậm lăn tăn chảy xuống chân ly trà đá, rồi ngập ngừng ngước lên nhìn thẳng vào em gái mình:
“Hà này.”
Hà đặt chiếc khăn lau tay bằng vải xô xuống mặt bàn, bình thản ngước mắt lên lắng nghe:
“Dạ, em nghe đây anh.”
“Chiều nay... anh đưa mẹ đi khám đúng giờ hẹn rồi,” Khải nói, giọng anh trầm xuống, ngập ngừng, từng lời thốt ra chậm rãi nhưng không còn sót lại một chút gắt gỏng hay hằn học nào của buổi ban trưa. “Bác sĩ bảo dịch ở khớp gối đã tiêu gần hết rồi, thuốc đáp ứng rất tốt. Bác sĩ dặn chỉ cần duy trì nẹp bảo vệ khi đi lại nhiều và uống nốt đợt thuốc hai tuần này là chân mẹ sẽ ổn định hẳn. Anh cũng... giao xong hai mươi hộp cơm cho bên xưởng may rồi. Trừ ba mươi nghìn bớt cho người ta vì trễ nửa tiếng, anh vẫn thu về được ba trăm hai mươi nghìn tiền tươi trao tay.”
Hà khẽ gật đầu, một nụ cười nhẹ thoáng qua trên môi:
“Em mừng vì chân mẹ tiến triển tốt, và mừng vì anh đã giao xong đơn hàng trọn vẹn.”
Khải im lặng một nhịp. Hai ngón tay cái của anh miết chặt vào nhau đến mức trắng bệch ra. Anh hít một hơi sâu, lồng ngực phập phồng, rồi ngẩng hẳn đầu lên nhìn thẳng vào mắt Hà, từng lời nói ra tuy có phần ngượng ngùng nhưng vô cùng chân thành:
“Chiều nay anh sai rồi. Anh xin lỗi mày, Hà.”
Hà hơi bất ngờ. Đôi mắt cô khẽ chớp chớp nhìn anh trai. Đây là lần đầu tiên sau biết bao nhiêu năm cùng nhau bươn chải qua đủ mọi sóng gió gia đình, Khải chủ động mở lời nhận lỗi với cô một cách đường hoàng và thẳng thắn như thế này.
“Anh quen cái thói... cứ nghĩ mày ở quán, chạy quanh quẩn mấy việc lặt vặt bàn ghế, sổ sách thì lúc nào mày cũng rảnh rỗi,” Khải nói, giọng anh chùng hẳn xuống, đượm vẻ tự kiểm điểm sâu sắc. “Anh cứ mặc định trong đầu là thời gian của mày là miễn phí, hễ anh bận việc kiếm tiền ngoài đường là anh tự cho mình cái quyền đẩy việc chăm mẹ, việc nhà cửa sang cho mày gánh hết. Chiều nay lúc mày kiên quyết xách túi bước ra khỏi cửa, anh đứng trơ trọi trong quán một mình mới thấy hoảng thực sự. Nhưng đến lúc anh tự cầm điện thoại lên gọi cho khách để thương lượng dời giờ giao hàng, anh mới nhận ra người ta hoàn toàn thông cảm được, và bản thân anh hoàn toàn có thể tự xoay xở được mọi chuyện mà không cần phải dẫm đạp lên kế hoạch riêng của mày. Lâu nay anh vô tâm quá, cứ nghĩ kiếm ra tiền mặt là to nhất nhà.”
Nghe những lời ruột gan, mộc mạc ấy của Khải, bao nhiêu uất ức, tủi hờn từng tích tụ như những tảng đá đè nặng trong lòng Hà suốt những năm tháng thanh xuân bỗng chốc tan biến đi như sương sớm gặp ánh mặt trời. Cô nhìn đôi bàn tay đen nhẻm vì nắng bụi của anh trai, nhìn những vết sẹo nhỏ li ti trên mu bàn tay anh — dấu vết của những lần va quệt xe cộ, những lần bưng thùng hàng kim loại sắc nhọn để kiếm từng đồng cắc nuôi gia đình — lòng cô chùng xuống trong sự thấu cảm sâu sắc.
“Em cũng xin lỗi anh Khải,” Hà nhẹ nhàng đáp, ánh mắt cô chan chứa sự dịu dàng. “Trước đây nhiều lúc bực bội, em chỉ nhìn thấy sự tùy tiện, áp đặt của anh mà xem nhẹ những vất vả, hiểm nguy mà anh phải đối mặt ngoài đường sá. Chạy xe giữa trưa nắng chang chang của Sài Gòn, hít bụi bặm, chen lấn kẹt xe, lại nơm nớp lo chuyện tiền nong cho quán... em biết anh phải chịu rất nhiều áp lực nặng nề. Em không hề ghét bỏ hay trốn tránh việc chăm sóc mẹ. Em chỉ muốn anh em mình cùng chia sẻ trách nhiệm một cách công bằng, minh bạch, và ai trong chúng ta cũng có quyền có một khoảng trời riêng, một cuộc sống riêng để thở.”
Bà Lan ngồi ở đầu bàn, lặng lẽ lắng nghe từng lời đối thoại của hai đứa con. Đôi mắt già nua của người mẹ hoe đỏ, những giọt nước mắt xúc động ngân ngấn nơi khóe mi, nhưng trên khuôn miệng móm mém của bà lại nở một nụ cười ấm áp, mãn nguyện vô cùng.
Suốt bao nhiêu năm mở cái quán cơm này, bà luôn sống trong nỗi sợ hãi tột cùng: sợ cảnh nợ nần bủa vây, sợ các con vì đồng tiền bát gạo mà tị nạnh, chia rẽ rồi sinh ra thù hằn, tan đàn xẻ nghé. Giờ đây, ngồi bên chiếc bàn số bảy vững chãi này, bà nhìn thấy hai đứa con của mình đã thực sự trưởng thành. Chúng không còn cần bà phải đứng ra làm bia đỡ đạn, không cần bà phải van xin hay khóc lóc để níu kéo hòa khí giả tạo. Chúng đã biết tự ngồi lại với nhau, dùng sự tôn trọng và thấu hiểu để đối thoại, tự nhận lỗi và tự thiết lập ranh giới cho nhau như những người trưởng thành thực thụ.
“Được rồi,” bà Lan lên tiếng, giọng bà run run vì nghẹn ngào nhưng đượm vẻ vui mừng khôn xiết. “Hai đứa hiểu được cho nhau như thế là mẹ mừng nhất trần đời rồi. Mẹ không mong gì hơn thế nữa. Bây giờ, mang sổ sách ra đây mẹ xem nào.”
Hà mỉm cười gật đầu. Cô đứng dậy, với tay lấy cuốn sổ quỹ bìa bọc da màu xanh lá cây đặt ngay ngắn trên chiếc kệ gỗ nhỏ cạnh bàn số bảy. Cô lật từng trang giấy kẻ ô li thẳng thớm, nơi những con số thu chi của ca bán trưa trong suốt một tháng vừa qua được cô ghi chép rành mạch bằng hai màu mực đỏ và đen.
“Thưa mẹ, thưa anh Khải,” Hà vừa đưa ngón tay trỏ lướt nhẹ trên từng dòng số liệu vừa cặn kẽ trình bày. “Tháng vừa qua, kể từ khi quán mình chuyển hẳn sang mô hình chỉ bán duy nhất ca trưa từ mười giờ sáng đến mười lăm giờ chiều, tình hình tài chính đã có sự chuyển biến rất rõ rệt. Đúng như dự đoán ban đầu, tuần đầu tiên doanh thu tổng có sụt giảm khoảng hai mươi phần trăm do chúng ta cắt bỏ hoàn toàn lượng khách ăn nhậu ca tối. Nhưng bắt đầu sang tuần thứ hai và tuần thứ ba, lượng khách văn phòng đặt cơm nhóm của chị Thảo bên tòa nhà tài chính và lượng khách quen lâu năm như chú Bình đã dần ổn định và tăng trưởng đều đặn trở lại.”
Hà lật sang trang tổng hợp chi phí, giọng cô đầy tự tin:
“Điều quan trọng nhất là các khoản chi phí ẩn đã giảm xuống một cách đáng kinh ngạc. Tiền gas nấu nướng giảm gần một nửa do không phải duy trì ngọn lửa liu riu suốt đêm; tiền điện thắp sáng và tủ đông giảm mạnh; và lượng thức ăn thừa hư hỏng cuối ngày gần như bằng không nhờ khâu chuẩn bị nguyên liệu bám sát số lượng đặt trước. Sau khi đã trừ toàn bộ các khoản chi phí cố định: tiền lương sáu triệu rưỡi của cô Hạnh, tiền công trả đầy đủ theo giờ cho Duy, tiền rau củ quả và thịt cá thanh toán sòng phẳng dứt điểm cho cô Vân ngoài chợ, và tiền thuê mặt bằng trả đúng hạn cho chú Tín, sổ quỹ ca trưa tháng này của quán chúng ta đã dôi ra được một khoản thặng dư ròng rất tích cực.”
Khải nhoài cả nửa thân người về phía trước, chăm chú dán mắt vào dòng mực đỏ tổng kết nằm ở cuối trang giấy. Đôi mắt anh mở to, ánh lên niềm vui sướng và kinh ngạc tột độ:
“Có lãi ròng thật này mẹ! Trời đất ơi, có lãi ròng thật sự này! Không phải chịu trận cảnh lỗ ngầm, làm quần quật cả ngày lẫn đêm mà cuối tháng không thấy tiền đâu như hồi còn ráng ôm cái ca tối dở hơi kia!”
“Đúng vậy,” Hà mỉm cười rạng rỡ, ánh mắt cô lấp lánh niềm tự hào chính đáng. “Và theo đúng thỏa thuận tài chính đã được ba mẹ con cùng thống nhất ghi trong biên bản cuộc họp gia đình lần trước: hôm nay, chúng ta sẽ trích hai triệu đồng từ khoản tiền lãi ca trưa tháng vừa qua để tiến hành hoàn trả đợt đầu tiên cho các khoản tiền túi cá nhân mà hai anh em đã phải tự bỏ ra ứng trước đây.”
Hà mở chiếc hộp sắt nhỏ đựng tiền quỹ dự phòng đặt bên cạnh. Tiếng lẫy sắt bật mở nghe thật giòn giã. Cô cẩn thận đếm ra từng tờ tiền polymer mệnh giá năm trăm nghìn đồng mới tinh, phẳng phiu và thơm mùi mực in.
Hà chia số tiền đó thành hai phần bằng nhau, đặt ngay ngắn trên mặt bàn inox sáng loáng của bàn số bảy:
“Một triệu đồng này được hoàn trả lại cho anh Khải, cấn trừ vào khoản tiền túi anh từng phải tự ứng ra để bù lỗ tiền thịt cá trong đợt bão giá đợt trước. Còn một triệu đồng này được hoàn trả lại cho em, bù vào đợt tiền thuốc men điều trị ban đầu của mẹ và những đơn hàng giao bị lỗi mà em từng phải tự bỏ tiền túi ra đền cho khách.”
Khải nhìn xấp tiền hai tờ polymer xanh biếc nằm phẳng phiu trước mặt mình, rồi anh ngước lên nhìn em gái. Không còn cái vẻ vồ vập, vội vã nhét vội vào túi quần như thói quen chụp giật trước kia, Khải chậm rãi đặt bàn tay thô ráp của mình lên xấp tiền. Anh vuốt nhẹ mép tiền, rồi gật đầu thật mạnh một cái, giọng anh nghẹn lại vì xúc động:
“Được! Rất sòng phẳng! Có con số rõ ràng, minh bạch thế này anh thấy an tâm tuyệt đối trong lòng. Ngày mai anh sẽ cầm khoản này sang thanh toán dứt điểm tiền nợ phòng trọ còn thiếu cho bà Tám, không để người ta phải nhắc nhở nữa.”
Hà cũng mỉm cười thanh thản, cô cất phần tiền của mình vào chiếc ngăn nhỏ trong ví cá nhân. Mọi món nợ ngầm âm ỉ, mọi sự hy sinh vô danh, thầm lặng từng gặm nhấm niềm tin và tình cảm giữa các thành viên trong gia đình suốt bao năm qua giờ đây đang được gỡ bỏ từng nút thắt một. Tất cả đều minh bạch, rành rọt trên từng trang sổ sách, và ấm áp, trọn vẹn trong từng ánh mắt yêu thương nhìn nhau.
Bà Lan xoa xoa hai bàn tay xương xẩu vào nhau, ánh mắt bà ngập tràn niềm hy vọng và sự tin tưởng tuyệt đối vào các con:
“Vậy là thử nghiệm của quán mình đi đúng hướng rồi phải không các con?”
“Dạ, đúng hướng rồi mẹ,” Hà tự tin đáp, tay cô khẽ vuốt phẳng mép trang sổ cái đang mở rộng dưới ánh đèn.
Bên ngoài cửa sổ, làn gió đêm từ bờ kênh thổi vào mát rượi, xua tan hoàn toàn cái oi nồng của một ngày dài nhiều biến động. Bảng tổng kết tài chính tám tuần thử nghiệm đã sẵn sàng cho ngày kiểm toán cuối cùng.