Hẹn Nhau Ở Bàn Số BảyC.23 / 26
Chương 23

Một số người không quay lại

Kim đồng hồ treo trên vách tường loang lổ vệt ẩm nhích dần qua mười hai giờ trưa, nhưng hai chiếc bàn inox kê sát mép hiên vẫn trơ trọi dưới bóng râm của mái tôn. Không một bóng người ghé lại. Chiếc quạt đảo gió trên trần nhà quay những vòng tròn chậm chạp, đều đặn phát ra tiếng ro ro buồn ngủ giữa khoảng không gian vắng lặng hơn lệ thường của con hẻm Vườn Me.

Hà đứng yên sau quầy thu ngân bằng gỗ ép, hai đầu ngón tay miết nhẹ lên mép tờ giấy in nhiệt vừa xé ra khỏi máy. Lớp giấy mỏng dính rờn rợn dưới da, mực in còn chưa ráo hẳn hơi ấm của đầu kim điện tử. Mọi hôm, vào đúng khoảnh khắc này, tiếng muỗng nĩa kim loại va loảng xoảng vào lòng đĩa sứ, tiếng gọi với thêm chén canh nóng, thêm ca trà đá, cùng tiếng bước chân qua lại hối hả sẽ lèn kín lối đi hẹp chỉ rộng chưa đầy tám mươi phân phân cách hai dãy bàn. Mùi mỡ hành phi giòn, mùi nước mắm kho quẹt và hơi nồng của cơm gạo nở thường quấn lấy nhau, đặc quánh đến mức ngột ngạt. Thế mà trưa nay, đứng ở góc quầy này, Hà có thể nghe thấy rành rọt từng tiếng đá tan lách tách trong chiếc xô nhựa màu đỏ đặt nép dưới chân kệ gỗ, đều đặn và cô quạnh như tiếng đồng hồ quả lắc đếm nhịp thời gian trôi qua vô ích.

Cuốn sổ cái bọc giấy báo cũ—loại giấy báo đen trắng đã ố vàng mép vì hơi ẩm và vệt dầu mỡ tích tụ qua năm tháng—nằm mở rộng trên mặt kính quầy. Dưới ánh sáng vàng nhạt hắt ra từ bóng đèn ống hai mươi oát, từng dòng ghi chép bằng nét bút bi xanh thẳng tắp, nắn nót của Hà hiện lên rõ rệt. Đó là toàn bộ số liệu thu chi của sáu ngày vừa qua, tính từ cái buổi sáng thứ Hai quán chính thức dỡ bỏ ca tối, chỉ còn mở cửa đón khách từ mười giờ sáng đến đúng ba giờ chiều. Con số tổng kết tuần đầu tiên nằm lẻ loi ở góc dưới bên phải trang giấy, được khoanh lại bằng một vòng mực tròn run rẩy: doanh thu giảm đúng hai mươi phần trăm so với mức trung bình của tháng trước.

Đó không phải là một con số bất ngờ ập đến ngoài dự liệu. Từ buổi họp gia đình tuần trước, khi cả nhà ngồi lại quanh bàn số bảy để đặt bút ký vào bản thỏa thuận thử nghiệm kéo dài tám tuần, Hà đã lường trước được rằng việc cắt bỏ bốn tiếng bán hàng buổi tối chắc chắn sẽ để lại một khoảng trống hoác trên bảng cân đối thu chi. Nhưng việc biết trước một vết thương sắp rạch xuống da thịt hoàn toàn khác với cảm giác phải trực tiếp nhìn thấy máu rỉ ra trên trang giấy trắng. Nhìn con số sụt giảm ấy trơ trọi phơi mình trước mắt, lồng ngực Hà vẫn không ngăn nổi một nhịp chùng xuống, nặng trĩu một nỗi hoang mang vô hình.

Sự sụt giảm ấy không chỉ là những chữ số khô khốc hay phép trừ đơn giản giữa các cột tiền. Nó có gương mặt, có thói quen, và có hình hài cụ thể của từng con người bằng xương bằng thịt gắn bó với cái quán nhỏ này.

Đó là chú Thắng thợ tiện ở xưởng cơ khí cuối hẻm, người đàn ông gầy gò luôn mang theo mùi dầu luyn nồng nặc trên chiếc áo bảo hộ lao động xanh công nhân. Chú Thắng vốn có thói quen ghé quán vào đúng sáu giờ ba mươi tối mỗi ngày, gọi một đĩa cơm sườn nhiều mỡ hành, dầm thêm thật nhiều ớt băm vào chén nước mắm kẹo rồi ngồi uống cạn một cốc trà đá đậm đặc để xua đi vị đắng ngắt của khói hàn sắt thép. Hôm thứ Tư vừa rồi, vào khoảng chập choạng tối, Hà đứng nép sau khe cửa sổ trên gác nhìn xuống đã thấy bóng chú Thắng chạy chiếc xe máy cà tàng tới, tần ngần đứng chống chân trước cánh cửa cuốn kéo kín mít rồi ngơ ngác quay đầu xe, lầm lũi băng qua ngã tư để bước vào tiệm phở bò của bà Nga đối diện.

Đó còn là nhóm bốn thanh niên làm ca kíp ở xưởng in bao bì phía sau chợ. Họ là những người mà giờ tan việc luôn rơi vào lúc trời nhá nhem tối, tay chân dính đầy mực in đen đúa, chỉ thèm một chỗ ngồi lại dưới ánh đèn néon để ăn đĩa cơm tấm đầy ắp thức ăn rẻ tiền và uống cạn ca nước sâm mát lạnh giải nhiệt. Giờ đây, khi quán đóng cửa sớm, họ đã chuyển hẳn sang ngồi ở quán cơm tấm đêm góc đường lớn, nơi bàn ghế kê tràn ra vỉa hè đầy bụi bặm. Khách ca tối không thể và cũng không bao giờ có lý do để dời bữa ăn của họ lên buổi trưa chỉ vì quán Cơm Nhà Bà Lan quyết định thay đổi giờ phục vụ. Họ đi tìm một nơi khác đáp ứng đúng nhu cầu sinh học và giờ giấc lao động của họ, một sự dịch chuyển tự nhiên, tàn nhẫn và nhanh chóng như dòng nước chảy tìm chỗ trũng.

Một ý nghĩ bất chợt len lỏi vào tâm trí Hà, âm ỉ, dai dẳng và chứa đầy sự cám dỗ ngọt ngào: *Hay là mình mở lại hai buổi tối cuối tuần?*

Chỉ cần tối thứ Bảy và tối Chủ Nhật thôi, cô tự nhủ thầm trong đầu. Cuối tuần người ta đi chơi đông, nhu cầu ăn uống ngoài đường tăng vọt, các quán xá chung quanh đều sáng đèn rực rỡ đến tận khuya. Cô có thể vào bếp phụ xào nấu những món đơn giản, Khải phụ trách bưng bê chạy bàn và dắt xe cho khách, còn mẹ chỉ cần ngồi trên chiếc ghế nhựa cao kê sát góc tường, thong thả trông chừng nồi nước lèo mà không phải bước chân đi lại nhiều. Hai buổi tối ấy, nếu tính toán khéo léo, hoàn toàn có thể bù đắp lại được ít nhất một nửa số tiền hụt của cả tuần làm việc.

Nỗi sợ thiếu hụt tài chính—thứ cảm giác ghê gớm, lạnh buốt đã bám chặt lấy tâm trí Hà suốt ba năm qua kể từ cái ngày đầu gối của mẹ bắt đầu sưng to mọng nước, phát ra những tiếng lục cục đau đớn sau mỗi bước đi—lại cựa quậy trỗi dậy. Nó như một phản xạ có điều kiện ăn sâu vào tủy não, xui khiến cô quay trở về với lối mòn quen thuộc nhất của những gia đình nghèo: cắn răng làm thêm một chút, bòn rút thêm chút sức lực và thời gian nghỉ ngơi để đổi lấy sự yên tâm ngắn hạn trước mắt.

“Đang tính đường lùi à?”

Giọng nói trầm thấp, hơi khàn của Khải vang lên ngay cạnh bàn số bảy cắt ngang dòng suy nghĩ miên man đang cuốn Hà đi. Khải vừa bê chiếc xô đá sạch từ ngoài hiên vào, đặt chiếc khăn lau tay ẩm ướt lên mặt bàn gỗ rồi kéo ghế ngồi xuống. Bàn số bảy nằm sát khung cửa sổ nhìn ra khoảnh khắc trưa hè oi ả ngoài con hẻm nhỏ. Chân bàn phía trong vốn dĩ cập kênh suốt mấy tháng trời, hôm qua đã được Khải cẩn thận chêm thêm một miếng cao su cắt từ lốp xe cũ phẳng lì, giờ đây tì tay lên không còn phát ra một tiếng động nhỏ nào.

Hà gấp nhẹ mép cuốn sổ cái, bước ra khỏi quầy thu ngân rồi đi lại phía anh trai. Kéo chiếc ghế nhựa ngồi xuống đối diện Khải, cô không giấu giấu giếm giếm mà đẩy thẳng trang sổ ghi chép về phía anh:

“Em nhìn con số tuần này thấy sốt ruột quá anh Khải. Giảm đúng hai mươi phần trăm. Đầu tháng sau là đến hạn đóng năm triệu rưỡi tiền thuê nhà cho chú Tín rồi, chưa kể khoản nợ ba triệu tiền phòng trọ cũ của anh bên bà Tám chia ra trả mỗi tuần bảy trăm rưỡi nghìn nữa. Cứ đà hụt tiền này, em sợ nhà mình không đủ sức trụ nổi qua tháng thứ hai đâu.”

Cô dừng lại một nhịp, ngập ngừng nhìn vào những vết chai sần trên mu bàn tay Khải:

“Hay là cuối tuần mình bán thêm ca tối đi anh? Chỉ hai tối thứ Bảy với Chủ Nhật thôi. Kiếm thêm được đồng nào hay đồng nấy, dằn túi cho chắc dạ chứ nhìn quán vắng thế này em run tay quá.”

Khải không gạt phắt đi ngay như tính khí nóng nảy, bốc đồng trước đây của anh, cũng không vội mừng rỡ vì thấy em gái chủ động muốn kiếm thêm tiền. Anh chỉ vào chiếc ghế đối diện, đợi cho Hà ngồi thật ngay ngắn rồi mới vươn tay kéo cuốn sổ thu chi về phía mình. Ngón tay trỏ thô ráp, nứt nẻ vì nhiều năm cầm tay ga xe máy đường dài của Khải lướt chầm chậm qua từng cột số liệu chi tiết mà Hà đã kẻ cẩn thận bằng mực thước kẻ.

“Hà, em quên cái biên bản cả nhà ký ở đúng cái bàn này tuần trước rồi sao?” Khải ngẩng lên nhìn thẳng vào mắt em gái, giọng điềm tĩnh đến mức khiến Hà phải ngạc nhiên. “Thỏa thuận thử nghiệm tám tuần. Mình mới đi được có đúng một tuần đầu tiên mà em đã đòi sửa luật, đòi quay lại máng lợn cũ rồi à?”

“Nhưng con số tiền hụt là thật mà anh! Nó nằm rành rành ra đó chứ em có tự bịa ra để làm khó anh đâu.” Hà phân trần, giọng hơi nghẹn lại.

“Thế còn thức ăn thừa thì sao?” Khải lật giở sang trang sau, nơi ghi chép chi tiết lượng nguyên liệu nhập về mỗi sớm mai từ sạp cô Vân ngoài chợ và lượng thức ăn tồn đọng phải xử lý vào cuối ngày. “Em nhìn lại mấy trang của tháng trước xem. Hồi còn mở ca tối tới chín mười giờ đêm, mỗi một đêm cái quán này phải đổ bao nhiêu bát cơm thiu vào thùng nước gạo của ông Tư nuôi heo? Bao nhiêu miếng cá kho mặn quéo khô quắt lại vì hâm đi hâm lại không ai ăn phải cạo bỏ vào thùng rác? Tuần này cô Hạnh nấu đúng bốn món chính: sườn ram, cá hú, thịt kho tàu với canh cải. Món mềm cho người già có thêm một đĩa trứng hấp thịt. Ngày nào bán hết sạch ngày đó. Thức ăn thừa cuối ca trưa gom lại chưa đầy nửa tô canh. Em tính thử xem mình bớt được bao nhiêu tiền nguyên liệu vứt qua cửa sổ?”

Khải rút cây bút bi kẹp ở mép áo của Hà, vạch hai đường thẳng song song dứt khoát dưới dòng chi phí vận hành:

“Tiền bình gas tuần này giảm đứt một phần ba. Tiền điện máy lạnh với quạt hút giảm hẳn vì mình không phải bật dàn đèn néon suốt từ năm giờ chiều tới chín giờ đêm cho mấy bàn nhậu lai rai. Nhưng cái đó vẫn chưa phải là thứ lớn nhất. Quan trọng nhất là mẹ. Em có thấy tuần này mẹ ngủ được một giấc sâu từ hai giờ chiều không? Cái đầu gối của mẹ đỡ hẳn sưng đỏ, mẹ không phải vừa đứng bấu tay vào thành bếp canh nồi nước lèo vừa lén nuốt hai viên thuốc giảm đau sủi bọt nữa. Giờ em muốn mở lại ca tối cuối tuần, rồi ai sẽ là người đứng bếp? Mẹ lại phải lết cái chân cà nhắc ra đứng xào nấu à? Hay em định bắt cô Hạnh phải cày mười hai tiếng một ngày từ sáng tới đêm?”

Những câu hỏi dồn dập, gãy gọn của Khải găm thẳng vào thực tế trần trụi mà Hà đang cố tình lờ đi vì nỗi sợ tiền bạc. Hà cúi đầu nhìn vào những con số Khải vừa khoanh tròn trên trang giấy. Anh nói đúng, đúng đến mức cô không thể tìm ra một lý lẽ nào để phản bác. Cô đang quá chăm chú nhìn vào tổng doanh thu bị sụt giảm mà quên mất rằng toàn bộ chi phí vận hành ngầm của cái quán này cũng đã co lại tương ứng theo một tỷ lệ rất lớn. Lợi nhuận ròng của tuần đầu tiên này tuy có giảm sút, nhưng mức thâm hụt thực tế chỉ nằm ở khoảng sáu trăm nghìn đồng so với bảng dự toán ban đầu—một con số vẫn nằm sâu dưới mức trần rủi ro mười triệu đồng mà cả nhà đã thống nhất trích ra từ quỹ dự phòng cho suốt tám tuần thử nghiệm mô hình mới.

Hà khẽ thở dài một hơi dài, bờ vai đang gồng cứng dần thả lỏng xuống. Gánh nặng vô hình đè nặng trên ngực cô từ sáng tới giờ dường như nhẹ bớt đi vài phần:

“Em biết rồi. Tại em mang cái thói quen cũ, cứ hễ thấy bàn trống, thấy vắng khách là tim đập chân run, cuống cuồng cả lên.”

“Bình tĩnh lại đi,” Khải gập cuốn sổ cái lại cái cộp nhẹ, đẩy ngược về phía mép bàn của cô. “Nhà mình đã chịu ngồi lại với nhau, tính từng nghìn tiền rau muống, tiền mỡ lợn thì phải cho cái quy trình này thời gian chạy cho đủ chu kỳ của nó. Vắng vài người khách ăn nhậu buổi tối không làm cho cái quán Cơm Nhà Bà Lan này chết đói được đâu, nhưng nếu mẹ mà sụm gối lần nữa, phải vào bệnh viện mổ khớp thay xương hết bảy mươi triệu thì nhà mình cầm chắc đường chết.”

Đúng lúc đó, chiếc chuông gió bằng đồng treo lủng lẳng ở góc cửa kính phía trước reo lên một tiếng *keng* lanh lảnh, phá vỡ bầu không khí tĩnh mịch của buổi trưa hè.

Hà ngẩng đầu nhìn ra cửa. Bước vào quán là Đặng Thanh Thảo. Cô mặc một bộ âu phục công sở màu xanh than phẳng phiu, tay xách chiếc túi da màu be gọn gàng, mái tóc cắt ngắn ngang vai được chải sấy vào nếp cẩn thận, toát lên vẻ sắc sảo, chỉn chu của một phụ nữ làm việc văn phòng lâu năm. Thảo dừng lại ở ngưỡng cửa, đảo mắt nhìn quanh không gian quán một lượt, khẽ gật đầu chào Duy đang đứng ở góc xa lau từng chiếc khay đựng thìa đũa, rồi bước những bước dứt khoát về phía bàn số năm sát vách tường.

“Chào em Hà,” Thảo mỉm cười nhẹ nhàng, kéo chiếc ghế gỗ ra ngồi xuống một cách từ tốn. “Cho chị một phần cơm sườn ram mặn, thêm chén canh cải xanh nhé.”

“Dạ, chị Thảo đợi em hai phút thôi, cơm nóng có ngay ạ,” Hà vội vàng đứng dậy, trong lòng không giấu nổi một thoáng ngỡ ngàng xen lẫn hồi hộp.

Kể từ cái sự cố vỡ trận đơn hàng bốn mươi suất cơm trưa khiến cơm bị sượng khê còn cá kho thì cháy khét đáy nồi xảy ra hồi hai tuần trước—sự cố tai hại đã khiến quán phải cúi đầu bồi hoàn hai mươi phần trăm tổng tiền đơn và Thảo thẳng thừng tuyên bố tạm dừng toàn bộ việc đặt cơm trưa cho công ty—đây là lần đầu tiên Hà nhìn thấy Thảo quay trở lại quán một mình vào đúng khung giờ ăn trưa.

Duy ở phía sau thao tác thoăn thoắt. Chỉ chưa đầy hai phút sau, anh đã cẩn thận bưng ra một chiếc khay inox sáng loáng đặt trước mặt Thảo. Trên khay là một bát cơm trắng đầy đặn còn bốc khói nghi ngút, đĩa sườn ram óng ả màu cánh gián được chặt vuông vức theo đúng kích thước định lượng mà cô Hạnh đã thống nhất trong sổ tay nấu nướng, kèm theo một bát canh cải xanh mướt điểm vài lát gừng tươi thái sợi mỏng. Không gian chung quanh quán yên ắng, ngăn nắp và sạch sẽ đến mức lạ lùng. Không còn mùi dầu mỡ cháy khét lẹt bốc lên từ gian bếp, không còn tiếng thúc giục quát tháo chan chát giữa người chạy bàn và thợ nấu như những ngày quá tải hỗn loạn trước đây.

Thảo ăn rất từ tốn. Cô dùng thìa xắn một miếng thịt sườn nhỏ, nhai chậm rãi như đang thẩm định hương vị, ánh mắt thỉnh thoảng lại lướt nhìn lên tấm bảng gỗ nhỏ treo ngay ngắn trên vách tường đối diện, nơi khắc rõ dòng chữ sơn trắng: *Giờ phục vụ: 10h00 – 15h00*. Mười lăm phút trôi qua trong trật tự. Thảo đặt đôi đũa tre ngay ngắn lên mép đĩa sứ, dùng khăn giấy lau miệng cẩn thận rồi đứng dậy bước về phía quầy thu ngân, nơi Hà đang đứng chờ với nụ cười chừng mực.

“Cơm trưa hôm nay ngon lắm em,” Thảo mở chiếc túi xách da, rút ra chiếc ví nhỏ. “Thịt sườn mềm, ngấm đều gia vị mà không bị mặn gắt cổ họng như cái đợt giao cho công ty chị lần trước.”

“Dạ, em cảm ơn chị Thảo nhiều ạ. Món này cô Hạnh nấu theo đúng định lượng gia vị đã ghi sẵn trong sổ tay công thức, không nêm nếm theo cảm tính lúc vội nữa nên vị rất đều ạ,” Hà thành thật bộc bạch, hai bàn tay đan vào nhau trên mặt kính.

Thảo đặt một tờ tiền mệnh giá năm mươi nghìn đồng phẳng phiu lên quầy, nhưng cô chưa vội cất ví để rời đi ngay. Cô chống một tay lên gờ quầy thu ngân, nhìn thẳng vào mắt Hà, giọng nói mang theo ngữ điệu dứt khoát, rành mạch quen thuộc của một người phụ trách hành chính lâu năm:

“Chị ghé ăn hôm nay là để tự mình kiểm tra xem cái quán của các em dạo này vận hành ra sao sau khi treo cái bảng đổi giờ phục vụ mới. Chị thấy không gian gọn gàng, ngăn nắp và có trật tự hơn hẳn ngày xưa. Hôm qua phòng chị có họp nội bộ lại rồi, mọi người bàn đi tính lại thì vẫn thích cái vị cơm nấu gia đình bên em hơn là mấy chỗ cơm văn phòng công nghiệp đóng hộp xốp mua trên mấy ứng dụng giao hàng.”

Trái tim Hà bất giác đập nhanh hơn một nhịp, một cảm giác mong chờ len lỏi trong lồng ngực:

“Dạ, vậy bên công ty mình...”

“Công ty chị quyết định sẽ đặt cơm trưa lại chỗ em,” Thảo cắt ngang lời Hà một cách dứt khoát, không vòng vo. “Mười tám suất cố định mỗi ngày, tính từ thứ Ba đến thứ Sáu hằng tuần. Bắt đầu ngay từ trưa ngày mai.”

Con số mười tám suất vang lên giữa gian phòng tĩnh mịch như một luồng gió mát lành thổi qua buổi trưa hè oi ả. Mười tám suất! Con số ấy nằm hoàn toàn trong giới hạn trần khống chế hai mươi tư suất mà quán đã thống nhất đặt ra cho các đơn nhóm công ty. Nó vừa vặn đến hoàn hảo với sức chứa của chiếc nồi cơm điện công nghiệp mười lít, vừa vặn với khả năng chia phần, đóng hộp chuẩn xác của Duy mà tuyệt đối không làm xáo trộn hay ảnh hưởng đến những người khách lẻ đang ngồi ăn tại các bàn bên ngoài.

“Dạ được chị Thảo ơi, mười tám suất thì bên em bảo đảm giao đúng mười một giờ ba mươi trưa như lịch cũ, cơm canh luôn nóng hổi ạ,” Hà nhanh chóng rút cuốn sổ nhỏ chuyên ghi nhận đơn nhóm từ dưới hộc bàn lên.

“Khoan đã, chưa hết đâu em,” Thảo giơ một ngón tay lên, nét mặt trở nên nghiêm túc hơn bao giờ hết. “Lần này bên chị cũng có nguyên tắc làm việc nội bộ mới, không thể bừa bãi như trước được. Chị đã quán triệt rất rõ ràng với toàn bộ nhân viên trong công ty: đúng chín giờ ba mươi sáng mỗi ngày, chị sẽ khóa danh sách đặt cơm. Bất kỳ ai không chịu báo món trước giờ đó thì trưa hôm đó tự túc ra ngoài đường mà ăn. Chị tuyệt đối sẽ không nhận thêm người vào phút chót, không có cái chuyện mười giờ kém mười lăm gọi điện thoại ép bên em nhét thêm ba suất hay đòi đổi từ cá kho sang sườn ram nữa. Chị sẽ tổng hợp và gửi danh sách chuẩn xác qua tin nhắn Zalo cho em đúng chín giờ ba mươi lăm phút. Em nhắn xác nhận một câu là chốt xong.”

Nói đoạn, Thảo khẽ mỉm cười, một nụ cười hiếm hoi không còn vương lại chút căng thẳng, gay gắt nào của buổi trưa cãi vã hai tuần trước:

“Cái bài học vỡ trận lần trước làm cho chính bản thân chị cũng mệt mỏi, phát ốm lên được. Chị nhận ra rằng nếu chị cứ dễ dãi, cứ cả nể nhận lời mấy đứa đồng nghiệp trễ nải rồi quay sang ép quán các em phải cuống cuồng xoay xở theo, thì người phải gánh chịu hậu quả cuối cùng chính là bữa ăn của cả tập thể. Mình cứ làm việc sòng phẳng, có nguyên tắc rõ ràng với nhau ngay từ đầu thì đôi bên đều dễ thở, đúng không?”

Hà nhìn người phụ nữ làm việc văn phòng đứng trước mặt mình, trong lòng dâng lên một sự cảm kích sâu sắc và chân thành. Đó hoàn toàn không phải là sự mang ơn đối với một khách hàng lớn ban phát mối làm ăn, mà là một cảm giác nhẹ nhõm khi tìm thấy sự tôn trọng lẫn nhau giữa hai phía đối tác—thứ tôn trọng chỉ có thể được gây dựng nên từ chính những vấp váp, đổ vỡ và những ranh giới kỷ luật rõ ràng.

“Em cảm ơn chị Thảo nhiều lắm ạ,” Hà nói, từng lời phát ra từ miệng cô đều chắc nịch và rành rọt. “Phía bên em cũng xin giữ đúng cam kết với chị: đúng mười tám suất không hơn không kém, đúng hai món mặn mà chị đã chọn trước, và đúng mười một giờ ba mươi phút xe của anh Khải sẽ có mặt dưới sảnh tòa nhà của chị.”

“Thống nhất như vậy nhé. Mai gặp lại.” Thảo gật đầu chào Hà một cái rồi quay lưng bước nhanh ra cửa kính, dáng người thanh mảnh, dứt khoát nhanh chóng hòa vào dòng xe cộ xuôi ngược trên đường Vườn Me.

Hà cẩn thận mở trang đầu tiên của cuốn sổ theo dõi đơn hàng giao tận nơi, dùng chiếc thước kẻ gỗ gạch một đường thẳng thớm rồi nắn nót viết từng chữ: *Công ty chị Thảo — 18 suất (T3 - T6) — Chốt danh sách 9h30*.

Mười tám suất cơm cố định đều đặn bốn ngày trong một tuần! Khoản doanh thu ổn định này đồng nghĩa với việc lấp đầy gần một nửa khoảng trống tài chính mà quyết định cắt bỏ ca tối đã để lại. Không cần phải mở cửa thâu đêm suốt sáng đến mịt mù, không cần phải bắt mẹ già phải lê lết cái đầu gối sưng đau bên cạnh bếp lửa hừng hực, chỉ cần toàn bộ cái quán này giữ vững được sự ngăn nắp, kỷ luật và chất lượng món ăn ổn định như ngày hôm nay.

Vừa lúc Hà đặt cây bút bi xuống mặt bàn, chiếc điện thoại di động vỏ nhựa màu đen dùng làm đường dây nóng của quán đặt trên góc quầy bỗng rung lên bần bật. Tiếng chuông báo tin nhắn SMS ngắn ngủi reo lên hai hồi liên tiếp.

Hà với tay cầm chiếc điện thoại lên. Màn hình phát ra ánh sáng xanh le lói, hiển thị dòng tin nhắn mới gửi đến từ một số điện thoại không lưu tên trong danh bạ. Nhưng từng con số trong dãy số ấy cô đã thuộc nằm lòng từ suốt tuần trước: số máy của Hoàng Quốc Hùng.

Đó là tin nhắn nối tiếp nội dung mà anh ta đã gửi vào đầu giờ chiều ngày hôm qua. Màn hình hiện lên một đoạn văn bản khá dài, từng câu từng chữ hiện ra rành rọt:

*“Chào cô bé thu ngân và quán Cơm Nhà Bà Lan. Hôm qua tôi có nhắn tin xin lỗi cô về chuyện nóng nảy hôm trước. Hôm nay tôi nhắn lại để hỏi xem trưa nay hoặc trưa mai tôi có thể ghé quán ăn cơm lại như bình thường được không? Dạo này tôi chuyển về làm việc ở chi nhánh gần đường Vườn Me nên muốn tìm chỗ ăn trưa quen thuộc. Nếu quán đồng ý, tôi mong quán vẫn phục vụ tôi chu đáo như khách quen trước đây, bỏ qua chuyện cũ giúp tôi nhé.”*

Ngón tay cái của Hà khựng lại giữa không trung, lơ lửng ngay phía trên màn hình cảm ứng.

Hình ảnh của cái buổi trưa kinh hoàng hôm ấy bất chợt ùa về trong tâm trí cô sống động như vừa mới xảy ra vài giờ trước: tiếng bàn tay đập chát chúa xuống mặt bàn gỗ, chiếc hộp cơm xốp bị hất văng qua khoảng không rồi rơi bộp xuống nền xi măng, những hạt cơm trắng cùng mỡ hành nhờn nhợt văng tung tóe bám đầy vào ống quần vải của cô, và cả những lời lăng mạ cay nghiệt, thô bạo nhắm thẳng vào danh dự của cô trước ánh mắt tò mò của bao nhiêu người khách đang ngồi ăn trưa. Cảm giác nghẹn đắng, tủi nhục đến ứ nghẹn ở cổ họng ngày hôm đó dường như vẫn còn để lại một vết gợn buốt nhói nơi đáy lòng cô.

Hùng đã nhắn tin xin lỗi. Anh ta giải thích dài dòng về việc mình bị cấp trên trừ lương, bị áp lực doanh số đè nặng nên mất kiểm soát cảm xúc. Và giờ đây, anh ta muốn quay trở lại quán, nhưng lại đi kèm với một điều kiện ngầm ẩn giấu kín đáo dưới lớp vỏ bọc nhũn nhặn: *hãy phục vụ tôi chu đáo như một người khách quen trước đây, hãy bỏ qua mọi chuyện cũ*.

Nếu là Hà của hai tháng trước đây, cô chắc chắn sẽ ngay lập tức cảm thấy bối rối, sợ hãi và đầy áy náy. Cô sẽ vội vã gõ một dòng tin nhắn ngọt ngào để xoa dịu khách: *“Dạ không có sao đâu anh Hùng ơi, chuyện cũ qua rồi quán tụi em không để bụng đâu ạ, trưa mai mời anh ghé quán ăn cơm, em sẽ dặn dò nhà bếp ưu tiên chọn miếng sườn ngon nhất cho anh nhé.”* Suốt một thời gian dài, cô đã sống và làm việc với cái niềm tin mù quáng rằng việc hạ mình xuống, việc giả vờ như chưa từng có bất kỳ tổn thương hay sự súc phạm nào xảy ra là cách thức duy nhất để giữ chân khách hàng, để chứng minh mình là một người bán hàng rộng lượng, biết điều và khôn khéo.

Thế nhưng cuốn sổ ghi chép chi phí chi li đang nằm ngay cạnh tay cô lúc này, chiếc nẹp cố định đầu gối màu xám của mẹ đang treo trên vách buồng ngủ phía sau, và bản quy trình xử lý khiếu nại ba bước được đóng khung dán ngay ngắn trên vách tường đã dạy cho cô một bài học hoàn toàn khác biệt.

Tổn thương đã xảy ra là một sự thật có thật. Sự thô bạo, hành vi xúc phạm nhân phẩm người khác không thể nào bị xóa sạch như chưa từng tồn tại chỉ bằng một vài dòng tin nhắn thanh minh hoàn cảnh khó khăn. Cái quán cơm này không có nghĩa vụ và cũng không bao giờ được phép xoa dịu cảm xúc bất ổn của khách hàng bằng cách chà đạp lên lòng tự trọng của chính nhân viên mình. Và lời xin lỗi của Hùng—cho dù có chân thành đến đâu đi chăng nữa—cũng không thể tự động biến anh ta trở lại thành một người khách được đón tiếp bằng sự niềm nở, săn đón giả tạo.

Hà hít một hơi thật sâu vào lồng ngực. Không khí trong quán thoang thoảng mùi cơm mới chín và vị cay nồng ấm áp của hạt tiêu sọ xay mịn từ gian bếp phía sau đưa lại. Cô thở ra thật chậm, đặt các đầu ngón tay lên bàn phím ảo của chiếc điện thoại.

Không có sự vội vã, không có sự giận dữ hay mỉa mai, và tuyệt nhiên không có một lời hứa hẹn dư thừa nào. Cô cẩn thận gõ từng chữ một cách chuẩn mực, khách quan:

*“Chào anh Hùng. Quán Cơm Nhà Bà Lan ghi nhận lời xin lỗi của anh về sự việc lần trước. Quán luôn mở cửa chào đón mọi khách hàng đến dùng bữa và tuân thủ quy tắc ứng xử chung, tôn trọng nhân viên phục vụ. Quán phục vụ theo đúng thứ tự gọi món và thực đơn niêm yết hằng ngày, không có chế độ ưu tiên riêng. Chúc anh một ngày làm việc thuận lợi.”*

Hà dừng lại, đọc đi đọc lại đoạn tin nhắn ấy hai lần. Từng câu chữ đều giữ một khoảng cách lịch sự cần thiết, xác lập một ranh giới vô cùng rõ ràng: quán không xua đuổi một khách hàng biết nhận sai, nhưng quán kiên quyết từ chối diễn một màn kịch thân tình hay trao cho anh ta bất kỳ một đặc quyền phục vụ nào. Nếu anh bước chân vào quán để ăn một bữa cơm, anh là một khách hàng bình đẳng như bao nhiêu người lao động khác và bắt buộc phải tôn trọng những người đang bưng bê phục vụ anh; còn nếu anh tái phạm sự hung hãn, cánh cửa quán sẽ vĩnh viễn khép lại trước mặt anh.

Cô ngón tay nhấn vào nút gửi. Màn hình nhấp nháy rồi hiện lên dòng chữ nhỏ: *Đã gửi*.

Hà đặt chiếc điện thoại úp mặt xuống mặt kính quầy thu ngân. Một cảm giác nhẹ nhõm, thanh thản kỳ lạ lan tỏa khắp cơ thể cô, như thể vừa tháo bỏ được một tảng đá vô hình đè nặng trên ngực suốt nhiều ngày qua. Không còn cảm giác bị đè nén, không còn nỗi sợ hãi mơ hồ bị người khác đánh giá là hẹp hòi hay kiêu ngạo. Lần đầu tiên trong đời, Hà cảm thấy mình hoàn toàn làm chủ được lời nói, làm chủ được thái độ và vị thế của bản thân phía sau quầy thu ngân nhỏ bé này.

Đồng hồ điểm một giờ ba mươi phút chiều.

Người khách ăn trưa cuối cùng—một bác bảo vệ lớn tuổi làm việc ở ngân hàng đầu ngả tư—đã rời khỏi quán sau khi gửi lại một lời khen ngợi chân tình về món cá hú kho béo ngậy, đậm đà đưa cơm.

Gian bếp phía sau đã tắt hoàn toàn những ngọn lửa gas xanh lét. Tiếng lách cách của xoong nồi nguội dần nhường chỗ cho tiếng nước chảy róc rách đều đặn ở bồn rửa dọn.

Cô Hạnh từ tốn cởi chiếc tạp dề bằng vải thô màu xanh đậm đã bám vài vệt dầu mỡ, gấp lại phẳng phiu rồi treo lên chiếc móc sắt gắn cạnh tủ mát. Đúng một giờ bốn mươi lăm phút, cô bước ra phía trước, trên tay đã cầm sẵn chiếc nón lá cũ và cái túi xách nhỏ bằng vải dù:

“Cô cọ rửa sạch sẽ hai cái bếp gas lớn với lau khô sàn gạch rồi nghen Hà. Nồi cá kho với nồi thịt kho còn dư một ít cô đã trút hết vào hai cái âu sứ lớn, bọc màng thực phẩm kín mít rồi cất gọn gàng vào ngăn mát tủ lạnh rồi đó. Ngày mai mấy đứa chỉ việc nấu mẻ mới tinh tươm, không phải lo cảnh chắp vá đồ cũ nữa.”

“Dạ, cháu cảm ơn cô Hạnh nhiều lắm ạ,” Hà nở nụ cười tươi tắn, bước nhanh ra mép hiên tiễn cô. “Giờ này cô đi bộ ra đầu hẻm có kịp chuyến xe buýt hai giờ kém mười lăm không cô?”

“Kịp chứ sao không, đi bộ túc tắc ra tới trạm đầu đường mất có năm phút hà,” cô Hạnh cười, những nếp nhăn nơi khóe mắt giãn ra thư thái. Nét mặt cô hôm nay hoàn toàn không còn vẻ cau có, hối hả, kiệt sức vì bị kéo dài giờ làm việc đến tận chiều muộn như những tuần trước nữa. “Về sớm đặng còn tắm rửa cho mát mẻ rồi đút cháo cho ông già ở nhà. Mai gặp lại tụi bay nghen, cứ nấu đúng lượng như hôm nay là đẹp trời lắm đó.”

Bóng dáng lưng còng nhỏ nhắn của cô Hạnh khuất dần sau khúc quanh râm mát của những tán cây me bên vệ đường.

Bên trong quán, Duy đang dùng một chiếc khăn vải ẩm lau sạch mặt bàn inox số sáu. Anh làm việc với một nhịp điệu vô cùng đều đặn, tỉ mỉ và kiên nhẫn. Bàn tay anh đưa khăn theo từng đường xoắn ốc uyển chuyển từ phía mép trong ra đến gờ ngoài của mặt bàn, thu gom toàn bộ những vụn giấy ăn hay vết nước thừa vào chiếc khay nhựa màu xanh lá cây đang cầm ở tay kia.

Hà kéo chiếc hộp nhựa đựng các cuống phiếu in nhiệt lại gần quầy, bắt đầu ngồi phân loại các cuống phiếu thu ca trưa theo từng nhóm cụ thể: khách ngồi ăn tại chỗ, khách mua hộp mang về, và các đơn giao cố định. Duy lau xong chiếc bàn cuối cùng, bước lại gần quầy thu ngân, đặt chiếc khay nhựa đã được rửa sạch và lau khô lên mặt kính.

“Hôm nay mình dọn dẹp xong xuôi sớm hơn hôm qua đúng mười phút,” Duy nói, giọng nói trầm ấm và bình thản thường ngày. “Khay phiếu trưa nay chỉ có hai mươi tám lượt in thôi, ít hơn tuần trước gần mười lăm lượt đó em.”

“Dạ,” Hà vừa xếp các cùi vé thẳng hàng vừa khẽ thở dài một tiếng thật khẽ. “Doanh thu tuần đầu tiên sụt mất hai mươi phần trăm rồi anh. Lượng khách vãng lai ca tối rụng gần như sạch trơn.”

Duy kéo một chiếc ghế đẩu bằng gỗ ngồi xuống đối diện với quầy, ánh mắt nhìn những cuống vé được xếp ngay ngắn thành từng xấp nhỏ:

“Hồi sáng anh đứng trong bếp nhìn ra thấy em ngồi bấm máy tính, mặt mày căng thẳng như sắp có biến lớn. Em vẫn còn đang tiếc cái lượng khách nhậu với khách ca tối đó đúng không?”

Hà dừng tay lại một thoáng, ánh mắt lơ đãng nhìn ra khoảng sân ngập tràn ánh nắng chói chang phía trước con hẻm:

“Lúc mới mở sổ ra coi thì có tiếc thật anh ạ. Nhìn hai cái bàn trống trơn ngoài hiên vào đúng cái giờ cao điểm mười hai giờ trưa, trong đầu em cứ lởn vởn cái ý nghĩ hay là mình tính toán sai rồi. Hay là cái kiếp làm quán cơm bình dân thì bắt buộc phải mở cửa từ sáng sớm tinh mơ cho tới tận khuya mòn mỏi mới mong sống sót nổi qua ngày. Nhìn chú Thắng với mấy người khách quen lắc đầu quay xe sang quán phở của bà Nga, em thấy lòng mình cứ chạnh chạnh sao á.”

Cô ngước lên nhìn Duy, khẽ mỉm cười giải tỏa:

“Nhưng mà hồi nãy anh Khải lôi sổ ra ngồi tính chi li từng đồng với em. Rồi chị Thảo bên công ty văn phòng ghé lại, tự nguyện đặt lại mười tám suất cơm mỗi ngày, còn tự đề ra cái giờ chốt chín giờ ba mươi sáng để không làm khó quán mình nữa. Rồi trưa nay em còn nhận được cả tin nhắn của anh Hùng nữa chứ.”

Duy hơi nhướng mày lên, tỏ vẻ ngạc nhiên:

“Hùng nhắn lại à? Anh ta nói cái gì?”

“Dạ, nhắn tin xin lỗi chuyện đập bàn ném hộp cơm hôm bữa, rồi ngỏ ý muốn quay lại ăn trưa như khách quen bình thường, bảo em bỏ qua chuyện cũ,” Hà kể lại ngắn gọn nội dung tin nhắn và cả những câu chữ cô vừa gửi đi.

Duy chăm chú lắng nghe từng lời, trong ánh mắt anh thoáng hiện lên một nét tán đồng rất kín đáo. Anh với tay lấy chiếc dập ghim nhỏ đặt trên bàn, thuần thục giúp Hà bấm cố định từng tập phiếu mười tờ một thành những xấp vuông vức:

“Em trả lời dứt khoát như vậy là chuẩn xác rồi đó Hà. Trong nghề buôn bán này, mình không bao giờ cần phải cố gắng gập mình lại để làm vừa lòng những người vốn dĩ ngay từ đầu đã không có sự tôn trọng tối thiểu dành cho mình. Quán ăn hay bất cứ công việc kinh doanh nào ở ngoài đời cũng vậy thôi, nếu mình cứ nhắm mắt cố giữ lấy một người khách hung hãn, thô lỗ thì cái giá phải trả là mình sẽ làm tổn thương và đánh mất đi mười người khách đàng hoàng khác.”

Anh ấn mạnh chiếc dập ghim, phát ra một tiếng *tách* dứt khoát, gọn lỏn xuống mép tập giấy:

“Cái con số mất đi hai mươi phần trăm doanh thu trong tuần đầu tiên nghe qua thì xót ruột thật, nhưng thực chất đó là cái chi phí bắt buộc phải trả để đổi lấy sự ngăn nắp, trật tự mà em đang thấy ngay lúc này. Em nhìn quanh xem: gian bếp sạch bóng dầu mỡ lúc một giờ ba mươi chiều, cô Hạnh được thong thả đón xe buýt về đúng giờ chăm sóc gia đình, mẹ em không phải vào viện cấp cứu vì cái đầu gối tràn dịch khớp, và chính bản thân em cũng không phải ngồi thụp sau quầy khóc nức nở vì bị khách mắng oan uổng. Một số người rời đi không quay lại không phải là thất bại của quán cơm này đâu. Đó chỉ là một quá trình sàng lọc hết sức tự nhiên thôi. Cái quán nhỏ của gia đình mình chỉ có thể phục vụ tốt nhất những người khách có nhịp sống và sự tôn trọng phù hợp với nhịp sống của chính mình.”

Những lời Duy nói không hề mang vẻ hoa mỹ hay triết lý xa xôi, nhưng nó rành mạch, chắc chắn và thực tế như chính cái cách anh lau từng chiếc bàn inox mỗi ngày. Hà nhìn những tập phiếu in nhiệt màu trắng đã được bấm ghim phẳng phiu, xếp ngay ngắn thành từng hàng lối chỉnh tề bên trong chiếc khay nhựa màu xanh lá. Quả thật, sự ngăn nắp và bình yên này không phải tự nhiên từ trên trời rơi xuống. Nó đã được cả gia đình cô đánh đổi bằng việc dũng cảm học cách nói “không” với những ca làm việc vắt kiệt sức lực, nói “không” với những đòi hỏi vô lý của những kẻ trịch thượng, và chấp nhận chịu đựng sự vắng vẻ tạm thời để xây dựng một nền tảng vận hành bền vững hơn cho tương lai.

“Duy nói đúng,” Hà nhẹ nhàng thở ra một hơi dài, khẽ gật đầu. “Em thông suốt rồi, không còn tiếc nuối vẩn vơ nữa đâu.”

Hai giờ mười lăm phút chiều.

Không gian bên trong quán cơm chìm vào một sự tĩnh lặng hoàn toàn, chỉ còn tiếng tích tắc khe khẽ của chiếc đồng hồ trên vách. Duy tháo chiếc tạp dề đồng phục màu xám, cẩn thận gấp lại bỏ vào ba lô, chuẩn bị dắt chiếc xe máy số ra về để kịp giờ đến lớp học kỹ thuật điện dân dụng buổi chiều lúc ba giờ. Hà kéo chiếc ngăn kéo gỗ, cất cuốn sổ cái thu chi cùng chiếc hộp đựng phiếu vào bên trong rồi tra chìa khóa cẩn thận. Cô dự tính sau khi Duy rời khỏi quán, cô sẽ khép hờ cửa cuốn lại rồi đi vào buồng trong để kiểm tra xem mẹ đã uống cữ thuốc giảm đau và cao dán khớp gối buổi trưa hay chưa.

Bỗng nhiên, từ đầu con hẻm Vườn Me vọng lại tiếng pô xe máy rú ga ầm ĩ, xé toạc bầu không khí yên bình của buổi xế trưa.

Chiếc xe máy Wave màu đỏ cũ kỹ, yếm xe vỡ một mảng lớn của Khải lao vút tới với tốc độ kinh hoàng. Bánh xe sau trượt một vệt dài kêu *ken két* trên nền xi măng ẩm trước hiên quán rồi dừng khựng lại bằng một cú phanh gấp bốc mùi khét lẹt. Khải vội vã chống chân chống nghiêng của xe xuống đất, chiếc mũ bảo hiểm nửa đầu còn chưa kịp cởi ra khỏi trán, mồ hôi nhễ nhại túa ra ướt đẫm cả vạt áo sơ mi bạc màu dính đầy bụi đường.

Gương mặt Khải lộ rõ vẻ hớt hải, hoảng hốt đến tột độ. Anh hấp tấp lao xộc qua cánh cửa kính, chân vấp suýt ngã vào ngưỡng cửa, thở không ra hơi. Hai bàn tay thô ráp của anh đập mạnh một tiếng *rầm* xuống mặt kính quầy thu ngân, làm chiếc máy in hóa đơn nảy nhẹ lên:

“Hà! Đổi ca... đổi ca cho anh ngay chiều nay! Mau lên em!”

Hà giật thót mình lùi lại phía sau một bước, đôi mắt mở to sững sờ nhìn anh trai mình:

“Đổi ca gì cơ anh Khải? Chiều nay là thứ Ba tuần chẵn mà! Theo lịch phân công rõ ràng là ca của anh phải đưa mẹ sang bệnh viện quận để tái khám cái khớp gối với bác sĩ chuyên khoa mà? Tờ lịch trực em đã viết hoa nắn nót dán ngay trên cánh cửa tủ lạnh từ tuần trước rồi cơ mà!”

“Anh biết rồi! Anh nhớ cái lịch đó chứ!” Khải đưa bàn tay dính đầy bụi bẩn lên gạt vội dòng mồ hôi đang chảy ròng ròng trên trán, giọng anh lạc hẳn đi vì cuống cuồng và phấn khích. “Nhưng mà kẹt cứng rồi em ơi! Bên tiệm sửa xe của thằng Dũng nó vừa mới gọi điện cho anh xong, có một cái lô phụ tùng xe tay ga nhập lậu đang cần thanh lý gấp rút bên Bình Tân kìa! Thằng Dũng nó tin tưởng nên mới giao mối cho anh chạy chở ba chuyến hàng qua quận Mười Một. Nó trả công tươi rói một triệu rưỡi tiền mặt trao tay ngay trong chiều nay luôn! Cái mối hời này mà mình bỏ qua là mất trắng ngay lập tức, thằng khác nó nhảy vào húp trọn liền! Em... em dắt xe máy chở mẹ đi khám giùm anh chuyến này đi, anh ráng chạy xong ba chuyến này rồi tối về anh đưa trọn số tiền đó cho em dằn túi trả nợ!”

Chương này thế nào?Đánh giá giúp Readeep đề xuất đúng hơn cho bạn