Giang Hồ Hết Cứu: Một Kiếm, Ba Cú LừaC.28 / 30
Chương 28

Người Chết Có Hồ Sơ Đầy Đủ

Ngọn nến sáp trắng cắm trên chiếc đĩa đồng hoen gỉ trong Tĩnh Thi Phòng lặng lẽ tỏa ra một quầng sáng tù mù, vàng vọt, rọi thẳng xuống phiến đá xanh đặt thi thể Trần Hữu Sổ. Xác người đàn ông khốn khổ đã được tắm rửa sạch sẽ bằng nước lá bưởi và rượu gừng, lau khô từng kẽ ngón chân ngón tay, nằm ngay ngắn cạnh xấp hồ sơ khám nghiệm dày từng tấc giấy bản đã ngả màu ố vàng vì gió ẩm sông nước.

Khói nến lượn lờ từng vệt mảnh, hòa cùng mùi dấm thanh đun sôi và ngải cứu khô thoang thoảng bốc lên từ chiếc lò than hồng đặt nép nơi góc phòng, chật vật át đi thứ mùi hôi nồng của bùn rác đáy sông cùng xú khí lạnh lẽo phát ra từ da thịt người chết đã qua xử lý ướp đông. Tiếng tù và rúc từng hồi dài ngoài bến sông xa xa vừa dứt hẳn, để lại phía sau một màn đêm đặc quánh đang dần chuyển sang sắc xám tro của canh năm. Thế nhưng bầu không khí bên trong gian nhà đá bốn bề tường dày ba thước của phủ nha lúc này còn căng như dây đàn kéo căng hết cỡ, ngột ngạt và bức bối hơn cả lúc đao kiếm chạm nhau nảy lửa ngoài bến tàu ban chiều.

Ở góc bàn thẩm vấn bằng gỗ lim lên nước bóng loáng, Kỷ Song đang ngồi co quắp trên chiếc ghế đẩu thấp. Hai cổ tay hắn bị luồn qua hai vòng sắt to bản gắn chặt bằng chốt chì xuống sàn đá hoa cương, khóa lại bằng một chiếc khóa đồng đúc nặng trịch. Toàn thân gã thợ mộc của gánh Thải Vân Lâu bết bát những mạt cưa, bùn đất khô quánh và những vệt máu đen sẫm từ cú rơi chí mạng từ giàn cáp treo trên vòm trần Đài Bách Thắng. Bả vai trái bị trật khớp dù đã được nắn tạm nhưng chiếc xương đòn gãy hở vẫn đội gồ lên dưới lớp áo nâu rách tả tơi từng mảng, khiến mỗi nhịp thở hắt ra của hắn đều rít qua kẽ răng như tiếng một lưỡi cưa cùn đang nghiến vào thớ gỗ mục. Hắn thở dốc, từng giọt mồ hôi lạnh túa ra từ chân tóc bết dính, nhỏ tong tong xuống mặt bàn gỗ lim.

Đứng tựa lưng vào mép bệ cửa sổ đá hẹp là Tạ Vô Danh. Cánh tay phải của chàng vẫn còn bó chặt trong nẹp gỗ sồi, quấn nhiều lớp băng vải gai thô dày dặn, tỏa ra mùi thuốc cao thảo mộc hăng nồng. Bàn tay trái lành lặn đặt hờ lên đốc thanh đoản đao gài nghiêng bên hông, ngón tay cái thỉnh thoảng khẽ miết nhẹ lên đường gờ chạm khắc đã mòn vẹt. Ánh mắt chàng lạnh lùng găm chặt vào đỉnh đầu gã tù phạm, không một tia chớp động. Cạnh đó, trên chiếc bàn con kê sát vách đá hoa cương, Bùi Bát Quái đã trải sẵn ba tờ giấy bản khổ lớn phẳng phiu, mài xong một nghiên mực đen nhánh đặc quánh. Chiếc quản bút lông thỏ nhọn hoắt được gác hờ trên giá sứ hình ngọn núi, chực chờ hạ chữ theo từng lời cung khai.

Đỗ Thanh không nhìn hung thủ ngay khi bước lại gần sập đá. Nàng thong thả kéo đôi găng tay dệt bằng sợi lanh ngâm cồn khử trùng cho vừa khít với từng ngón tay thon dài nhưng rắn rỏi. Chiếc áo choàng vải trắng của nàng phẳng phiu, vạt áo buộc gọn sau lưng theo đúng quy tắc nghiêm cẩn của người làm nghề tra nghiệm tử thi chốn pháp đình. Nàng cúi đầu, hai bàn tay nhẹ nhàng vén mép vải liệm gai thô, để lộ toàn bộ vùng cổ và ngực trên của thi thể Trần Hữu Sổ. Ánh sáng vàng vọt từ ngọn nến sáp rọi rõ từng thớ thịt xám ngoét—nơi mà trước đây vài canh giờ từng bị che lấp bởi lớp bùn rác phù sa bết dính và bọt xà phòng kiểm thi sơ sài của đám sai nha làm tiền dưới trướng Hà Công Bút.

"Vết bầm ở vùng hõm ức và hai bên sụn nhẫn," Đỗ Thanh cất giọng đều đều, thanh âm khô khốc, rành rọt như tiếng dao mổ cạo trên vỏ cây khô giữa đêm đông. "Bên phải cổ nạn nhân có bốn vết tụ máu tròn, đường kính mỗi vết đúng ba phân, xếp thành một hình vòng cung chếch ngược lên phía góc hàm. Bên trái có một vết lõm sâu hình bán nguyệt, đáy vết thương rách da cục bộ, mép da bị bầm dập và trầy xước từ ngoài vào trong, hằn rất rõ vệt móng tay bấm ngược vào tận bao cơ ức đòn chũm."

Nàng ngẩng đầu lên. Ánh mắt nàng xuyên qua làn khói ngải cứu mỏng manh, rơi thẳng xuống khuôn mặt xám xịt của Kỷ Song. Đỗ Thanh với tay lấy chiếc compa sắt đo đạc chuyên dụng và một phiến mica mỏng tang có khắc các vạch chia ly tỉ mỉ bằng mực đen, bước từng bước chậm rãi, đanh gọn tới trước mặt gã thợ mộc.

"Đưa hai bàn tay đặt lên mặt bàn."

Kỷ Song nghiến chặt quai hàm, cơ má co giật liên hồi. Ánh mắt hắn đảo lia lịa, thoạt nhìn sang bóng đen lừng lững của Tạ Vô Danh bên khung cửa sổ rồi lại nhìn trân trân vào chiếc compa sắt sáng loáng với hai đầu kim nhọn hoắt trong tay nàng. Hắn rụt cổ lại, giấu hai bàn tay xuống mép đùi, bất động.

"Ngươi muốn tự mình giơ tay ra để nàng đo đạc, hay để ta dùng sống đao bẻ gãy từng khớp ngón tay ngươi rồi ấn xuống mặt bàn?" Tạ Vô Danh mở miệng. Giọng chàng trầm đục, không mang theo nửa phần giận dữ hay đe dọa rỗng tuếch, nhưng bàn tay trái khẽ nhích nhẹ đốc đoản đao. Một tiếng *cạch* khô khốc, đanh gọn vang lên khi lưỡi thép bật ra khỏi vỏ bao nửa đốt ngón tay.

Âm thanh kim loại chạm vào nhau giữa đêm khuya khiến Kỷ Song run bắn lên một cái như bị điện giật. Hắn run rẩy, khó nhọc nhấc hai bàn tay đầy thương tích, dập nát và dính đầy ghét bẩn đặt lên mặt bàn gỗ lim.

Đỗ Thanh không chần chừ một khắc. Nàng kéo phiến mica lại gần, áp sát vào đầu ngón cái và bốn đầu ngón tay phải của Kỷ Song. Chiếc compa sắt mở ra, hai mũi kim nhẹ nhàng đo từng khoảng cách giữa các đốt xương, rồi nàng dùng một chiếc kẹp gắp bằng thép nhấc nhẹ từng ngón tay hắn lên, soi tỉ mỉ dưới quầng sáng nến:

"Khớp đốt thứ hai của ngón trỏ và ngón giữa bàn tay phải ngươi có một vết xước sâu chạy chéo, vảy máu đã khô cứng lại thành một đường màu nâu sẫm. Rìa lớp vảy ấy vẫn còn kẹt lại ba sợi chỉ gai thô nhuộm màu chàm đậm. Khớp ngón cái bàn tay trái bị trật nhẹ sang một bên, bao khớp sưng nề chưa tan, và móng tay cái bị mẻ một góc hình chữ V lệch về phía mạn ngoài. Chiều rộng của cung bấm ngón tay: đúng hai tấc hai phân. Độ lệch góc bấm khi khép chặt: mười lăm độ."

Đỗ Thanh hạ phiến mica xuống bàn. Tiếng *cạch* vang lên dứt khoát trên mặt gỗ lim phẳng lì, dội lại trong căn phòng đá tĩnh mịch như một tiếng chuông gọi hồn:

"Nạn nhân Trần Hữu Sổ thấp hơn ngươi nửa cái đầu, thể trạng lại gầy gò ốm yếu do quanh năm ngồi bàn giấy chép sổ thuê. Trong khoảnh khắc sinh tử khi bị hai bàn tay ngươi bóp nghẹt đường thở, bản năng sinh tồn khiến ông ấy dùng cả hai tay bấu chặt lấy cổ tay và các ngón tay của ngươi để cố cạy ra, tìm kiếm một ngụm khí trời. Móng tay của ông ấy đã cào rách da khớp đốt ngón tay ngươi. Nhưng ngươi không buông tay, trái lại còn dồn toàn bộ trọng lượng cơ thể to lớn của một gã thợ mộc đè nghiến ông ấy xuống sàn ván. Góc mẻ hình chữ V trên móng tay cái bàn tay trái của ngươi khớp tuyệt đối, không sai một ly nào với vết rách da hình bán nguyệt bên mạn cổ trái nạn nhân. Còn ba sợi chỉ màu chàm kẹt trong vảy máu ở tay phải ngươi? Đó chính là sợi chỉ dệt từ dải thắt lưng vải gai thô mà cô thợ vá buồm Trần Ngọc Nương đã tự tay xe duyên, khâu từng mũi cho anh trai mình trước mùa đông năm ngoái."

Kỷ Song nuốt nước bọt một cái đánh *ực*, cổ họng hắn khô khốc như phải bỏng. Những giọt mồ hôi trên trán hắn túa ra ngày một nhiều, hòa tan lớp phấn sáp Thải Vân Lâu dùng để hóa trang còn sót lại bên thái dương, chảy thành từng vệt vằn vện, nhờ nhờ như mặt nạ của phường chèo ma quỷ. Hắn thở hổn hển, cố gượng ép một nụ cười méo mó:

"Đỗ... Đỗ cô nương! Cô nương chớ có vội ngậm máu phun người! Ta là thợ mộc dựng lôi đài cho gánh hát Thải Vân Lâu, cả ngày leo trèo giàn giáo, khiêng vác gỗ súc, đục đẽo xà lim thì chuyện tay chân xước xát, bật móng, mẻ móng là chuyện cơm bữa thường ngày! Ở cái bến sông Vọng Giang này có cả vạn thợ thuyền bốc vác, thợ xẻ gỗ, thợ đóng thuyền, mười người thì chín người bàn tay nát bấy như thế này! Các người chỉ dựa vào một vết mẻ móng tay với mấy sợi chỉ rách mà dám cả gan gán tội giết người cướp của lên đầu ta sao? Luật pháp triều đình đâu thể hồ đồ như thế!"

"Thợ thuyền bến sông này dù có cả vạn người, nhưng tuyệt nhiên không một ai mang lớp bùn đáy kho lạnh số mười bảy dưới rãnh ủng như ngươi cả," Đỗ Thanh lạnh lùng ngắt lời hắn. Thanh âm của nàng phẳng lặng như mặt nước giếng khơi, nhưng từng chữ thốt ra đều mang sức nặng nghìn cân.

Nàng quay người bước về phía chiếc bàn con bày biện các dụng cụ kiểm nghiệm. Nàng bưng ra hai chiếc đĩa sứ tròn tráng men trắng tinh. Chiếc đĩa bên trái đựng một nhúm bùn xám ngoét, xốp nhẹ và khô giòn, được nàng cẩn thận cạo ra từ khe nứt của sàn gỗ khoang ngầm số mười bảy tại kho lạnh Bến Hạ Thủy cách đây ba ngày. Chiếc đĩa bên phải đựng một lớp bùn dẻo quánh, xám sẫm pha lẫn vụn hữu cơ, vừa được gạt ra từ rãnh đế của đôi ủng da trâu mà Kỷ Song đang đi dưới chân lúc hắn rơi từ trần rạp xuống lưới đay hậu trường.

Đỗ Thanh rút từ hộp gỗ ra một lọ gốm nhỏ bịt nút bấc, mở nút, dùng ống hút bằng thủy tinh nhỏ từng giọt dấm thanh nguyên chất cùng vài giọt cồn thuốc vào hai chiếc đĩa sứ.

Chỉ trong chớp mắt, chất lỏng trong cả hai đĩa đồng loạt sủi bọt trắng xóa li ti. Một mùi hăng nồng xộc thẳng lên cánh mũi, gay gắt như mùi thuốc súng ẩm, kéo theo những tinh thể màu trắng đục bắt đầu kết tủa thành từng mảng lấp lánh như muối hạt bám chặt vào thành đĩa men.

"Đất bùn tự nhiên ở bờ sông bến Vọng Giang là đất phù sa bồi lắng pha cát mịn, chứa nhiều xác vỏ ốc hến vụn vỡ; khi nhỏ dấm thanh vào chỉ tan nhẹ chứ không bao giờ có hiện tượng sủi bọt kết tinh tinh thể thế này," Đỗ Thanh giơ chiếc đĩa sứ lên sát tầm mắt của Kỷ Song, giọng rành rọt giải thích từng hiện tượng, từng phản ứng. "Chỉ duy nhất bùn đất nằm sâu trong khoang ngầm số mười bảy—nơi mà suốt mười năm ròng rã các thương lái dùng để ngâm ướp cá mòi bằng một lượng khổng lồ muối diêm tuyết phiến và xông lưu huỳnh khử mốc—mới có hàm lượng muối nitrat và phèn chua cô đọng cao đến mức độ biến tính như thế này. Rãnh đế ủng của ngươi có ba tầng chất bẩn chồng lên nhau rất rõ ràng: lớp dưới cùng bám chặt vào kẽ da là bùn kho lạnh số mười bảy; lớp thứ hai ở giữa là vôi sống và mỡ cá thối rữa ở lối đi Bến Hạ Thủy; và lớp trên cùng mới bám vào ban chiều là mạt cưa gỗ sồi ở hậu trường Đài Bách Thắng."

Nàng cúi thấp người xuống, ánh mắt sắc lẹm găm thẳng vào đôi đồng tử đang co rút lại vì kinh hãi tột độ của gã thợ mộc:

"Đôi ủng da trâu này được thợ đóng giày gia cố gót bằng sáu chiếc đinh sắt hình quả trám. Đế ủng bị mòn vẹt sâu về phía mạn ngoài do tật đi vát chân phải của ngươi. Dấu chân đinh quả trám mang theo lớp bùn chứa muối diêm này in rành rành từ bậc thềm khoang ngầm số mười bảy, kéo dài thành một vệt ngắt quãng suốt năm mươi bước chân ra tận cọc neo thuyền số ba mươi hai—chính là nơi mà Tạ Vô Danh đã vớt được xác của Trần Hữu Sổ trôi dạt vào bờ. Ngươi còn muốn mở mồm chối cãi rằng mình chưa từng bước chân vào căn hầm ngầm ướp xác ấy nữa hay không?"

Từng chứng cứ vật chất đập thẳng vào mặt gã thợ mộc như những gáo nước lạnh buốt tạt giữa đêm đông giá rét. Không có một phán đoán mơ hồ nào, không có suy diễn võ đoán của giang hồ, cũng không có đòn roi tra tấn ép cung. Trước mặt hắn chỉ có chiếc compa đo đạc, phiến mica chia vạch, vệt da rách hình bán nguyệt, những sợi chỉ chàm thô sơ, phản ứng sủi bọt của muối diêm tuyết phiến và dấu đinh sắt hình quả trám không thể chối cãi.

Kỷ Song run rẩy toàn thân. Hai hàm răng hắn va vào nhau cầm cập phát ra những tiếng kêu lách cách khô khốc. Hắn nhìn trân trân vào hai chiếc đĩa sứ trắng, rồi dời ánh mắt đầy sợ hãi sang thi thể Trần Hữu Sổ đang nằm bất động dưới ánh nến cách đó chỉ vài bước chân. Khuôn mặt người chép sổ thuê tái nhợt, nhưng đôi mắt đã được vuốt khép kín lại dường như đang im lìm lắng nghe, đang đứng sừng sững giữa hư vô làm chứng cho từng lời, từng chữ mà Đỗ Thanh vừa thốt ra.

Cơn đau buốt nhói từ bả vai gãy hở xộc lên tận đỉnh đầu, hòa cùng nỗi tuyệt vọng cùng cực của một con tốt thí bị kẻ chủ mưu Lục Trọng Tín tàn nhẫn vứt bỏ ngay trên võ đài, biến thành giọt nước cuối cùng làm tràn chiếc cốc chịu đựng. Hai bờ vai vạm vỡ của Kỷ Song bỗng sụp xuống, đầu hắn gục hẳn lên mặt bàn gỗ lim lạnh lẽo. Một tiếng nấc nghẹn ngào, khàn đặc như tiếng rên xiết của một con thú hoang mắc bẫy bật ra từ lồng ngực hắn:

"Thôi... Xin các người... Đừng đo nữa... Đừng bới móc nữa... Ta nhận... Mọi chuyện là do ta làm..."

Bên chiếc bàn con, Bùi Bát Quái lập tức chấm ngập ngòi bút lông vào nghiên mực đen, đôi mắt gã sáng quắc lên như cú vọ rình mồi: "Khai cho thật rõ ràng, mạch lạc! Động cơ là gì? Giết người ở đâu? Bằng thủ đoạn nào? Ai là kẻ đứng sau giật dây chỉ đạo?"

Kỷ Song khó nhọc nuốt một ngụm nước bọt đặc quánh, giọng hắn run rẩy, đứt quãng qua từng hơi thở buốt rát:

"Đêm hôm đó... chính là đêm mười ba... vào khoảng canh hai. Lục Chấp sự bí mật cho người dẫn ta lên mật thất tầng ba của Danh Kiếm Lâu. Lão đóng chặt cửa sổ, nét mặt vô cùng hung hiểm. Lão nói gã chép sổ thuê nghèo kiết xác Trần Hữu Sổ trong lúc làm việc cho phòng Công Thưởng nha môn, phụ trách việc sao chép lại các bản lệnh truy nã cũ và đối chiếu sổ sách chi trả tiền thưởng, đã vô tình phát hiện ra một điều cơ mật. Đó là mã lệnh truy nã Đinh-Bính 104 đã bị người của nha môn rút ruột ngân khố đến ba lần trong vòng nửa năm."

Hắn dừng lại một chút, lồng ngực phập phồng dữ dội:

"Tên què đó... cái gã Trần Hữu Sổ cứng đầu đó... không những không chịu nhận hai mươi lượng bạc trắng mà thư lại Hà Công Bút ngầm đưa cho để bịt miệng, mà còn lén lút ghi chép lại toàn bộ các khoản tiền tài trợ khống, các khoản tiền mua bán chiến tích võ đài mờ ám của các môn phái lớn, tất cả các dòng ngân lượng chảy vào tài khoản mang tên Bảo Chứng Giáp Tam tại Hiệu bạc Đồng Tín... Hắn chép toàn bộ vào một cuốn sổ tay nhỏ bìa bọc vải xanh..."

Kỷ Song hít một hơi thật sâu, cơ mặt co giật méo mó vì sợ hãi khi nhắc lại cái tên của kẻ chủ mưu:

"Lục Chấp sự đập bàn quát lớn với ta: 'Đoàn Khâm sai Kinh lộ do Nguyễn Minh Luật đại nhân dẫn đầu chỉ còn ba ngày nữa là cập bến Vọng Giang để thanh tra toàn diện sổ sách nha môn và việc tổ chức Võ hội. Cuốn sổ tay bìa xanh đó tuyệt đối không thể tồn tại trên đời này! Người giữ cuốn sổ đó cũng vĩnh viễn không thể mở miệng!' Lão đưa cho ta một bọc Đoạn Hồn Tán, bảo ta lập tức lần theo dấu vết, tìm đến xưởng vá buồm của em gái hắn hoặc căn chòi hắn thuê ở Bến Hạ Thủy để ép hắn giao cuốn sổ ra. Nếu hắn ngoan cố không chịu nộp... thì xử lý dứt điểm cho sạch nợ."

"Ngươi đã chặn đường ông ấy ở đâu?" Đỗ Thanh lạnh lùng cất tiếng hỏi, ngòi bút của Bùi Bát Quái sột soạt đuổi theo từng âm tiết.

"Ở bờ lạch nước gần kho hàng số tư," Kỷ Song cúi gầm mặt xuống, hai bàn tay đan chặt vào nhau đến mức các khớp ngón trắng bệch ra, gân xanh nổi cuồn cuộn. "Đêm hôm đó trời đổ mưa phùn, gió sông thổi buốt lạnh. Trần Hữu Sổ ôm một bọc vải dầu trước ngực, khập khiễng bước vội vã, định lén tìm thuyền trốn sang bờ bắc bến đò Đông ngay trong đêm. Ta nhảy từ trên mui thuyền mục xuống, chặn đường hắn ngay mép sàn ván gỗ. Ta nói với hắn: 'Giao cuốn sổ ra đây, Lục Chấp sự sẽ cho ngươi một trăm lượng bạc hoa xòe, lại bố trí sẵn một chiếc thuyền buồm lớn đưa hai anh em ngươi rời khỏi Vọng Giang an toàn suốt đời không lo cơm áo'. Nhưng lão khốn nghèo hèn đó ngoan cố không thể tưởng tượng nổi..."

Ánh mắt Kỷ Song lóe lên vẻ hoảng loạn cùng cực của kẻ đang bị những hình ảnh tội ác trong quá khứ bóp nghẹt tâm trí:

"Hắn trừng mắt nhìn ta, chửi thẳng vào mặt ta. Hắn mắng ta là quân chó săn đê hèn, bán rẻ lương tâm cho phường buôn danh vọng. Hắn bảo máu của những võ sĩ bần hàn đổ xuống trên lôi đài, mạng sống của những phu phen bến bãi bị bắt đi làm bia đỡ đạn, làm người thế mạng như Lỗ Thiết Tử... không phải là thứ để lũ người ngồi mát ăn bát vàng, lũ quan lại đục khoét đem ra ngã giá định đoạt bằng mấy đồng bạc bẩn thỉu..."

Hắn nuốt khan, bờ vai run bần bật:

"Hắn ôm chặt cái bọc vải dầu vào lòng, há to mồm định hét lớn kêu cứu đám tuần đinh đang đi tuần cách đó một quãng. Lúc đó ta hoảng quá... Ta sợ tiếng kêu của hắn sẽ đánh động lính tuần bến, chuyện vỡ lở ra thì Lục Trọng Tín sẽ chặt đầu ta trước. Thế là ta lao tới, một tay bịt chặt miệng hắn, một tay xô ngã hắn xuống nền ván. Hắn cắn mạnh vào ngón tay ta, hai tay cào cấu điên cuồng làm rách toạc cả mu bàn tay ta. Ta tức giận mất hết lý trí, quật ngửa hắn ra sàn, trèo lên người hắn rồi dùng cả hai bàn tay bóp chặt lấy cuống họng hắn... Ta thề với trời đất, lúc đầu ta chỉ định bóp cho hắn ngạt thở ngất đi để cướp bọc đồ... Nhưng hắn giãy giụa dữ quá, hai chân đạp loạn xạ..."

Giọng Kỷ Song lạc hẳn đi, trở thành một thứ âm thanh the thé rợn người:

"Cho đến khi... cho đến khi ta nghe thấy một tiếng *rắc* rất nhỏ, giòn rụm vang lên ngay dưới lớp sụn cổ của hắn. Hai mắt hắn trợn trừng lên, đồng tử giãn to ra, rồi hai cánh tay đang cào cấu tay ta bỗng buông thõng xuống mặt ván gỗ... Hắn tắt thở rồi. Ta run rẩy giật lấy bọc vải dầu hắn ôm trước ngực xé toạc ra... nhưng bên trong chỉ có hai bộ quần áo cũ rách tơi tả và mấy tờ giấy tập viết chữ vụn vặt... Cuốn sổ bìa xanh chết tiệt đó không có ở đó! Hắn đã linh cảm thấy nguy hiểm nên đã kịp gửi nó đi nơi khác từ trước rồi!"

Căn phòng Tĩnh Thi Phòng chìm vào một khoảng im lặng chết chóc đến rợn gáy.

Không gian tĩnh mịch đến mức nghe rõ cả tiếng bấc nến nổ lách tách và tiếng ngòi bút lông của Bùi Bát Quái rít sột soạt trên mặt giấy bản dày, ghi lại từng chi tiết rùng rợn, ghê tởm của một vụ mưu sát man rợ không sót lấy một chữ.

Tạ Vô Danh đứng bên bệ cửa sổ khẽ thở dài một tiếng thật khẽ. Bàn tay trái của chàng siết chặt lấy đốc đoản đao đến mức các khớp ngón trắng bệch. Một sinh mạng lương thiện, một người chép sổ thuê cả đời cặm cụi kiếm từng đồng bạc cắc nuôi em gái, đã bị bóp chết tức tưởi giữa đêm mưa lạnh giá chỉ để bảo vệ cho một mạng lưới rửa tiền dơ bẩn hàng chục vạn lượng bạc của đám quyền quý chốn giang hồ và quan nha tha hóa.

"Khai tiếp đi," Đỗ Thanh thúc giục, thanh âm của nàng vẫn giữ nguyên vẻ băng giá, không một chút gợn sóng dao động. "Sau khi siết cổ nạn nhân, ngươi đã làm gì để phi tang và dựng nên màn kịch này?"

"Ta sợ mất mật," Kỷ Song lắp bắp, hai mắt nhìn trừng trừng xuống đất. "Ta bỏ mặc cái xác ở bờ lạch, cắm đầu cắm cổ chạy thục mạng về Danh Kiếm Lâu báo cho Lục Chấp sự. Cứ tưởng lão sẽ nổi lôi đình chém chết ta, nhưng không ngờ lão nghe xong chỉ biến sắc một thoáng, mắng ta là đồ phế vật chưa lấy được sổ đã để con mồi chết mất. Nhưng rồi lão vuốt râu suy tính một hồi, bảo rằng chuyện đã lỡ thì phải tương kế tựu kế, biến cái chết này thành một mũi tên bắn trúng hai đích: một mặt phải làm xáo trộn thời điểm chết thực tế để qua mắt Khâm sai đại thần khi mở cuộc thanh tra; mặt khác phải nhân cơ hội này giăng một cái bẫy hoàn hảo đổ tội giết người lên đầu một kẻ ngoài cuộc để nha môn khép án thật nhanh chóng. Lão lập tức sai người hầu thân tín nửa đêm chạy sang ngõ sau nha môn, bí mật gọi thư lại Hà Công Bút đến mật thất bàn mưu tính kế."

"Quy trình đưa xác vào kho lạnh và cải trang đánh tráo thời gian diễn ra cụ thể thế nào?" Bùi Bát Quái ngẩng phắt đầu lên, gặng hỏi từng chi tiết then chốt.

"Toàn bộ kế hoạch tráo xác đổi giờ đều do một tay Hà Công Bút vạch ra," Kỷ Song thở hắt ra một hơi dài, buông xuôi tất cả. "Hắn nói nếu để xác trôi sông ngay trong đêm mười ba, sáng hôm sau người ta vớt được thì kiểm thi nha môn chỉ cần xem xét độ mềm của cơ bắp và vết hoen tử thi là biết ngay hắn chết vào đêm mười ba, trùng đúng vào thời điểm hắn vừa trốn khỏi nhà, nha môn bắt buộc phải lập án mạng điều tra theo luật định. Bởi vậy, phải ướp xác hắn trong khoang lạnh ven bến tàu để làm ngưng trệ toàn bộ quá trình phân hủy tự nhiên. Khoang ngầm số mười bảy ở bến Bến Hạ Thủy vốn do quản lý trang phục Lục Tiết Khôi của Thải Vân Lâu thuê trọn từ đầu tháng dưới danh nghĩa cất giữ đạo cụ sân khấu và phục trang mùa đông. Ngay trong đêm đó, ta cùng hai tên đệ tử thân tín của Lục Trọng Tín quay lại bờ lạch, bọc xác Trần Hữu Sổ vào bao tải gai, lén vác vào khoang ngầm số mười bảy. Bọn ta vùi kín thi thể hắn dưới đống muối diêm tuyết phiến dày ba thước, đậy chặt nắp hầm bằng gỗ sồi kín bưng để hơi lạnh cực sâu giữ cho cơ thể đông cứng lại, ngăn chặn hoàn toàn quá trình thối rữa sinh học."

Kỷ Song ngước mắt lên, len lén nhìn sang Tạ Vô Danh, trong ánh mắt lộ rõ vẻ hối hận muộn màng xen lẫn kinh sợ:

"Lục Trọng Tín và Hà Công Bút thừa biết Tạ Vô Danh là một đao khách tự do chuyên nhận các lệnh truy nã nguy hiểm, tính tình cô độc, lại có thói quen đi tuần quanh các bến sông vào đầu giờ Thân mỗi ngày để nhặt xác kiếm tiền công do nha môn chi trả. Hà Công Bút đã sắp xếp sẵn mọi nước cờ: trưa ngày mười bốn, nhân lúc nha môn đổi ca trực, trước khi chiếc mộc triện kiểm duyệt của ca sáng chuẩn bị cất vào tráp sắt có khóa, Hà Công Bút đã lén lấy con dấu có chấm tròn khuyết góc đóng khống sẵn lên một tờ biên nhận hoa tiên trị giá ba mươi lượng bạc mang tên người thụ hưởng là Trần Hữu Sổ, với lý do chi trả tiền công phát hiện và chỉ điểm sào huyệt toán cướp sông."

Gã thợ mộc nuốt một ngụm nước bọt, tiếp tục khai rành rẽ:

"Đến đầu giờ Thân chiều hôm đó, khi mây đen vần vũ báo hiệu dông bão sắp ập tới bến sông, ta khoác lên mình bộ áo rách, dùng một bộ nẹp cật tre độn vào vai trái và bên hông để giả vóc dáng đi khập khiễng, gù gù giống hệt bóng lưng của Tạ Vô Danh, lượn lờ hai vòng quanh bờ lạch gần xưởng vá buồm nhằm đánh lạc hướng và tạo nhân chứng giả là cô em gái Trần Ngọc Nương. Sau đó, ta lẻn vào khoang ngầm số mười bảy, lôi xác Trần Hữu Sổ ra khỏi đống muối diêm, vác ra đầu cầu tàu và thả xuống chân cọc neo số ba mươi hai. Dòng nước xoáy ở chân cọc neo sẽ từ từ cuốn cái xác trôi dạt về phía bến phủ nha đúng vào thời điểm Tạ Vô Danh đi tuần bến sông."

"Còn việc cải trang đến Quầy Công Thưởng thì sao?" Đỗ Thanh cất giọng sắc lạnh.

"Ngay sau khi đẩy cái xác xuống nước," Kỷ Song rùng mình nhớ lại, "ta lập tức chui tọt vào phòng thay đồ ngầm của gánh hát Thải Vân Lâu nằm ngay sát mép nước bến tàu. Tại đó, Lục Tiết Khôi đã chuẩn bị sẵn mọi thứ. Ta dùng một bộ râu giả bện bằng lông đuôi ngựa dán chặt vào cằm bằng keo da trâu; dùng một miếng da heo luộc chín cán mỏng dán đè lên nửa khuôn mặt để tạo nếp nhăn và vết sẹo giả, rồi trát một lớp phấn sáp Thải Vân Lâu dày cộp lên mặt. Ta khoác chiếc áo tơi lá cọ rách tả tơi, kéo sụp nón mê trùm kín mặt và quấn khăn gai che kín vùng cổ họng. Đúng giờ Thân một khắc, ta khập khiễng bước thẳng vào Quầy Công Thưởng của nha môn."

Hắn nhắm nghiền mắt lại, như muốn xua đi ký ức hãi hùng:

"Trời lúc đó sấm chớp đùng đùng, mưa giông bắt đầu đổ xuống ràn rạt, ánh sáng trong sảnh nha môn nhá nhem, tối tăm. Người phụ trách xuất ngân khố lúc ấy là Mã Hữu Lộc tuổi già mắt kém, không nhìn rõ mặt khách. Lại thêm Hà Công Bút đứng sừng sững ngay bên cạnh, niềm nở bước ra vỗ vai ta rồi nói to cho cả sảnh cùng nghe: 'Đúng là anh Sổ chép sổ thuê ở Bến Hạ Thủy đây rồi, người quen cả!'. Nghe thư lại trưởng xác nhận như đinh đóng cột, Mã Hữu Lộc không mảy may nghi ngờ, lập tức mở hòm xuất ba mươi lượng bạc trắng nguyên bảo đưa cho ta. Ta cầm bút ký nguệch ngoạc tên Trần Hữu Sổ, ấn ngón tay cái dính chu sa đỏ chót lên tờ biên nhận hoa tiên còn ướt mực, rồi ôm bọc bạc luồn nhanh qua cánh cửa ngách phía sau biến mất vào màn mưa dông bến sông..."

"Thật là một kế hoạch tráo xác đổi giờ tinh vi và tàn độc đến tột cùng!" Bùi Bát Quái không kìm được cơn giận, đập mạnh bàn tay xuống nghiên mực cái *chát*, chiếc bút lông run lên bần bật. Gã cười khẩy một tiếng đầy châm biếm, ghé sát mặt vào Kỷ Song: "Một mặt, các người biến một người đã chết từ đêm hôm trước thành một kẻ còn sống nhăn răng tự tay ký nhận bạc tại công đường để hợp thức hóa khoản tiền ba mươi lượng rút ruột từ ngân khố; mặt khác, nếu Tạ Vô Danh vớt được xác mang đến nha môn nộp, các người sẽ lập tức dựa vào thời điểm ký nhận tiền giờ Thân một khắc để khép tội Tạ Vô Danh giết người cướp bạc lĩnh thưởng ngay giữa ban ngày! Một công đôi việc, vừa bịt được đầu mối tham nhũng, vừa triệt hạ được một tay đao khách gai mắt của giang hồ! Nếu Đỗ cô nương không tinh thông y lý pháp y, không nhìn thấu hiện tượng đông cứng giả mạo do ngâm muối diêm tuyết phiến và vết cặn muối trên cổ áo nạn nhân, thì Tạ huynh đài giờ này chắc chắn đã bị các người tống vào tử ngục, chết không có chỗ chôn thây rồi!"

Trước những lời vạch trần đanh thép của Bùi Bát Quái, Kỷ Song chỉ biết câm lặng cúi gục đầu sát mặt bàn, không dám thốt lên nửa lời phản kháng.

Đỗ Thanh quay sang nhìn Tạ Vô Danh, khẽ gật đầu: "Đã có đủ chứng cứ và khẩu cung chi tiết. Đưa hắn sang phòng giam phụ bên cạnh, xích chung một chỗ với Hà Công Bút. Cắt cử hai tiêu sư đáng tin cậy nhất của Hoàng Tự Lập bến tiêu cục đến canh giữ cẩn mật ngày đêm. Tuyệt đối không cho phép bất kỳ ai—kể cả quan lại dưới trướng Tri phủ—được phép tiếp cận hai tên này nửa bước trước khi phiên công đường của đoàn Khâm sai Kinh lộ chính thức khai mạc."

Tạ Vô Danh khẽ gật đầu đáp lễ. Chàng bước tới, vươn cánh tay trái rắn rỏi nhấc bổng sợi xích sắt to bản dưới sàn lên, giật mạnh một cái khiến Kỷ Song loạng choạng đứng dậy. Tiếng xích sắt nặng nề lách cách lê dài trên nền đá hoa cương hoa văn cổ, âm thanh ma sát khô khốc xa dần rồi dứt hẳn sau khi cánh cửa sắt dày ba tấc của phòng giam phụ đóng sầm lại.

Gian Tĩnh Thi Phòng lại chìm vào khoảng không gian tĩnh mịch, trầm mặc quen thuộc. Chỉ còn lại Đỗ Thanh, Bùi Bát Quái và thi thể lạnh ngắt của người chép sổ thuê Trần Hữu Sổ.

Bùi Bát Quái cẩn thận nâng tập khẩu cung dày cộm đã có đầy đủ chữ ký và dấu điểm chỉ chu sa đỏ chói của Kỷ Song lên, nhẹ nhàng thổi cho lớp mực đen mau khô. Gã thở phào một hơi dài như vừa trút được một tảng đá nghìn cân đè nặng trên ngực suốt mấy ngày qua:

"Xong xuôi cả rồi chứ, Đỗ cô nương? Khẩu cung hung thủ rành rọt từng chữ, vật chứng muối diêm kho lạnh không thể chối cãi, lại có cả lệnh ngầm bằng văn bản của Lục Trọng Tín... Chừng này tài liệu thép gom lại, thừa sức để quật ngã toàn bộ chân rết của Danh Kiếm Lâu cùng bè lũ quan lại biến chất ngay trước mặt Khâm sai đại thần vào sáng mai."

"Với chốn công đường quan nha thì đã xong," Đỗ Thanh khẽ đáp, giọng nàng chùng xuống, ánh mắt dừng lại thật lâu trên khuôn mặt gầy guộc, tái nhợt của người đàn ông nằm trên sập đá. "Nhưng với người đang nằm đây, phận sự của một kiểm thi viên như ta mới chỉ thực sự bắt đầu."

Nàng tháo đôi găng tay vải lanh dính đầy bụi than và cồn thuốc bỏ vào chiếc chậu đồng, rồi bước chậm rãi về phía chiếc bàn làm việc bằng gỗ dâu kê sát vách đá phía đông. Nơi đó, tờ biên bản khám nghiệm tử thi ban đầu do nha môn phủ Vọng Giang lập ba ngày trước vẫn nằm trơ trọi dưới ánh sáng leo lét của ngọn nến sáp.

Dưới ngòi bút quanh co, dối trá của đám quan lại sai nha ăn tiền ngập họng, trên trang giấy bản màu vàng ố ấy vẫn còn nguyên những dòng chữ son nhục nhã, cay độc do chính tay thư lại Hà Công Bút phê duyệt:

*'Trần Hữu Sổ, ba mươi hai tuổi, làm nghề chép sổ tự do tại Bến Hạ Thủy. Do uống rượu say sưa mất tự chủ, trượt chân ngã xuống sông đuối nước vô ý. Thân thể không có dấu vết ngoại lực tác động, khí quản tích nước phù thũng tự nhiên. Vụ việc khép lại là tai nạn thông thường. Thân nhân không được hưởng tiền tuất, tự lo liệu việc chôn cất.'*

Một chữ "uống rượu say", một chữ "trượt chân vô ý", chỉ bằng vài nét mực quanh co của phường gian lại, đã tàn nhẫn bôi nhọ và xóa sạch phẩm giá của một con người bần hàn nhưng sống trong sạch. Chúng biến một người chép sổ thà chịu nghèo khổ, thà chết chứ không chịu cúi đầu đồng lõa với lũ sâu mọt ngân khố thành một kẻ bét nhè say xỉn, chết bờ chết bụi không ai đoái hoài, để lại nỗi nhục nhã ê chề cho người em gái côi cút nơi xóm bến.

Đỗ Thanh mài lại thỏi mực tàu đen nhánh hảo hạng trên nghiên đá Đoan Khê. Nàng rút ra một tờ giấy bản trắng tinh loại thượng hạng của Tĩnh Thi Phòng—thứ giấy làm từ vỏ cây dâu tằm dẻo dai, trăm năm không mục nát—trải phẳng phiu ngay ngắn trên mặt bàn. Nàng cầm ngọn bút lông sói nhọn hoắt, nhúng ngập ngọn vào đĩa mực đen, bắt đầu nắn nót viết từng dòng chữ chân phương, chuẩn xác theo đúng quy chuẩn nghiêm ngẩn nhất của pháp y triều đình:

*BẢN KẾT LUẬN GIÁM ĐỊNH TỬ THI CHÍNH THỨC* *Phủ Vọng Giang — Tĩnh Thi Phòng* *Kiểm thi viên phụ trách: Đỗ Thanh.*

*Nạn nhân: Trần Hữu Sổ, ba mươi hai tuổi, cư ngụ tại xóm thợ thuyền Bến Hạ Thủy.* *Thời điểm tử vong sinh học: Canh ba đêm ngày mười ba tháng này (chênh lệch thực tế từ sáu đến tám canh giờ so với giờ ghi nhận gian dối tại Quầy Công Thưởng nha môn).* *Hiện tượng bảo quản ngụy tạo: Thi thể bị giấu kín và ướp lạnh bằng muối diêm tuyết phiến tại khoang ngầm số mười bảy Bến Hạ Thủy nhằm làm chậm quá trình phân hủy tự nhiên và ngụy tạo hiện tượng co cứng giả mạo của cơ bắp.* *Dấu vết thương tích thực tế: Rạn nứt sụn nhẫn khí quản do lực ép cơ học trực diện, cực mạnh từ hai bàn tay tác động từ bên ngoài. Rách da cục bộ dưới hàm trái khớp hoàn toàn với dấu móng tay ngón cái bàn tay trái của hung thủ Kỷ Song. Khí quản khô ráo, màng phổi không có nước sông bến Vọng Giang, hoàn toàn không có hiện tượng ứ nước hay dịch bọt phù thũng.* *Nguyên nhân tử vong trực tiếp: Ngạt cơ học do bị bóp nghẹt đường thở dẫn đến ngưng tim, ngưng thở đột ngột. Hoàn toàn không có hiện tượng đuối nước hay ngạt nước tự nhiên.*

Đỗ Thanh dừng ngòi bút lông sói lại một nhịp. Nàng hít một hơi thật sâu, lồng ngực khẽ phập phồng dưới lớp áo vải trắng. Nàng đặt cây bút mực đen sang một bên, cầm cây bút lông nhỏ khác chấm ngập vào nghiên mực đỏ chu sa tươi rói.

Nàng cầm tờ biên bản khám nghiệm cũ rích, nhơ bẩn của Hà Công Bút lên, giơ ngòi bút chu sa, vung tay gạch hai đường chéo dứt khoát, sắc lẹm, đè nát dòng chữ *'chết đuối vô ý do say rượu'*. Ngay phía dưới vết mực son gạch chéo, nàng nắn nót viết đè lên bằng những nét chữ son đanh thép, ngạo nghễ:

*BÁC BỎ HOÀN TOÀN KẾT LUẬN CHẾT ĐUỐI VÔ Ý.* *KẾT LUẬN CHUNG THẨM: ÁN MẠNG CÓ CHỦ ĐÍCH.* *Nạn nhân Trần Hữu Sổ bị sát hại tàn nhẫn trong lúc kiên quyết bảo vệ sổ sách công vụ và vạch trần sai phạm tham ô ngân khố triều đình.*

Viết xong dòng chữ cuối cùng, Đỗ Thanh rút từ bao gấm bên thắt lưng ra con dấu bằng đồng đen vuông vức của Tĩnh Thi Phòng. Nàng ấn mạnh mặt dấu dính mực son tươi lên góc dưới tờ văn bản mới và đè ngang mép vết gạch chéo trên tờ văn bản cũ.

Lớp mực chu sa đỏ rực thấm sâu vào từng thớ giấy vỏ dâu, vuông vức, trang nghiêm và vĩnh viễn không có bất kỳ thứ quyền lực hay tiền tài nào có thể bôi xóa, lay chuyển được nữa.

Tiếng then cài bằng gỗ lim bên ngoài cửa Tĩnh Thi Phòng khẽ kêu lên lách cách, rồi cánh cửa nặng nề từ từ hé mở.

Một luồng gió sớm lành lạnh từ phía dòng sông Vọng Giang ùa vào căn phòng đá, cuốn đi phần lớn mùi dấm thanh cay nồng và khói ngải cứu ẩm ướt, mang theo hơi thở tinh khiết, mát rượi của đất trời lúc hừng đông. Tạ Vô Danh đứng nghiêng người bên bậu cửa đá, cánh tay phải bó nẹp khẽ nép sang một bên để nhường lối. Phía sau chàng, một bóng người mảnh khảnh, bước đi chậm rãi bước vào.

Đó là Trần Ngọc Nương. Nàng vẫn mặc nguyên bộ áo vải thô nhuộm màu chàm quen thuộc của người thợ vá buồm nghèo xóm bến, gấu áo còn vương mấy vệt bùn sông khô cứng. Đôi mắt nàng trũng sâu, thâm quầng sau những đêm dài thức trắng trong âu lo, sợ hãi và nước mắt. Thế nhưng trong ánh mắt của người con gái ấy lúc này, vẻ hoảng loạn, sợ sệt và cảnh giác tột cùng của ngày đầu tiên gặp mặt đã hoàn toàn biến mất, thay vào đó là một sự trầm tĩnh đến lạ kỳ.

Ngọc Nương bước từng bước chầm chậm qua ngưỡng cửa đá, tiến thẳng về phía sập đá xanh nơi anh trai nàng đang an nghỉ.

Nhìn thấy thi thể người anh duy nhất trên đời đã được Đỗ Thanh tắm rửa sạch sẽ đến từng kẽ móng tay, mái tóc bù xù bết cát phù sa đã được chải chuốt gọn gàng, tấm vải liệm trắng tinh phủ ngay ngắn ngang ngực phẳng phiu như thể ông chỉ vừa mới thiếp đi sau một đêm dài miệt mài chép sổ thuê, bước chân của Ngọc Nương bỗng khựng lại. Nàng đứng chết lặng giữa phòng, hai bàn tay gầy guộc siết chặt lấy vạt áo chàm.

Đỗ Thanh đứng dậy khỏi chiếc bàn làm việc bằng gỗ dâu. Nàng bước tới chiếc bàn con, nâng hai tay bưng một chiếc khay bằng gỗ thị phủ một tấm khăn điều màu đỏ thắm, thong thả tiến lại gần người con gái vá buồm.

"Trần cô nương," Đỗ Thanh cất tiếng. Giọng nói của nàng lúc này không còn sự lạnh lùng, sắc nhọn của một người làm nghề mổ xẻ xác chết trên bàn đá, mà trầm lắng, dịu dàng, mang theo sự thấu hiểu và tôn trọng sâu sắc giữa hai người phụ nữ đã cùng nhau vượt qua những cạm bẫy đen tối nhất của giông bão cuộc đời. "Mọi thủ tục kiểm nghiệm pháp y theo luật định triều đình đã chính thức hoàn tất. Kẻ thủ ác đã cúi đầu nhận tội, đồng mưu đã bị tống giam. Ta xin bàn giao lại toàn bộ di vật của anh trai cô."

Đỗ Thanh nhẹ nhàng vén mép khăn điều màu đỏ sang một bên.

Trên mặt khay gỗ, từng món đồ mộc mạc, cũ kỹ gắn liền với cuộc đời thanh bần của người chép sổ thuê hiện ra rõ mồn một dưới ánh nến:

Đó là chiếc hộp đựng mực bằng sừng trâu đen nhánh, nắp hộp bị mẻ mất một góc nhỏ do va chạm—vật bất ly thân mà Trần Hữu Sổ luôn đeo bên hông mỗi khi khập khiễng xách tráp đi chép sổ thuê khắp các ngõ ngách bến tàu; đó là xâu mười hai đồng tiền kẽm cũ mòn xâu bằng một sợi dây gai đã sờn rách mép, tiền công chép bài của ngày cuối cùng ông chưa kịp tiêu; đó là chiếc lược bí bằng gỗ thị đã gãy mất ba chiếc răng mà mỗi sớm mai ông vẫn dùng để chải tóc cho em gái trước khi nàng ra xưởng buồm; và dải thắt lưng dệt bằng sợi gai thô nhuộm màu chàm đậm đã bạc phếch màu sương gió, vật mà chính tay nàng đã thức trắng ba đêm mùa đông năm ngoái để may tặng anh mình.

Và đặt trang trọng ngay phía trên chiếc khay, bên cạnh những di vật đơn sơ ấy, là bản kết luận kiểm thi mới tinh có đóng triện đồng đỏ chói, cùng tờ Giấy chứng tử danh dự do Tĩnh Thi Phòng phủ Vọng Giang cấp phát.

Ngọc Nương run rẩy đưa hai bàn tay thô ráp, nứt nẻ và chai sần vì những mũi kim khâu vải buồm cứng đón lấy chiếc khay gỗ. Khi những đầu ngón tay lạnh ngắt của nàng chạm vào chiếc hộp mực sừng trâu còn vương vất mùi mực tàu quen thuộc của người anh trai, rồi ánh mắt nàng hạ xuống, dừng lại trân trân nơi dòng chữ son sắc sảo, đanh thép: *'Nạn nhân Trần Hữu Sổ bị sát hại tàn nhẫn trong lúc kiên quyết bảo vệ sổ sách công vụ và vạch trần sai phạm tham ô ngân khố'*, một giọt nước mắt nóng hổi bất ngờ trào ra khỏi bờ mi, rơi xuống làm nhòe đi một góc nhỏ của tờ giấy bản.

Rồi giọt thứ hai, giọt thứ ba lã chã rơi xuống không sao ngăn lại được.

Trần Ngọc Nương từ từ quỳ sụp xuống bên cạnh sập đá hoa cương, hai tay ôm chặt chiếc khay đựng di vật của anh trai vào lòng ngực gầy guộc mà bật khóc nức nở. Tiếng khóc nghẹn ngào, xé lòng nhưng không còn là tiếng khóc uất ức, bất lực trước những lời dọa dẫm, sỉ nhục của đám sai nha làm tiền; không còn là nỗi cô độc cùng cực của một phận gái nghèo hèn nơi xóm bến nước trôi bị phường giang hồ xâu xé, chèn ép. Đó là tiếng khóc vỡ òa của sự giải thoát, tiếng khóc của nỗi đau tột cùng hòa lẫn trong sự trang nghiêm tuyệt đối khi danh dự và phẩm giá của một con người đã được công lý trả lại đúng vị trí thiêng liêng vốn có của nó.

Bùi Bát Quái đứng nép mình bên cạnh chiếc tủ hồ sơ bằng gỗ lim, khẽ quay mặt nhìn sang một góc tường đá tối tăm. Gã hắng giọng một tiếng thật khô khan để che giấu sự xúc động, rồi kín đáo đưa tay áo thụng lau nhanh khóe mắt cay xè.

Tạ Vô Danh vẫn đứng lặng yên như một pho tượng đá nơi ngưỡng cửa Tĩnh Thi Phòng. Ánh mắt chàng đăm đăm nhìn ra khoảng trời xám xịt ngoài bến sông đang dần dần rạng sáng, bàn tay trái bất giác buông lỏng khỏi đốc đoản đao.

Đỗ Thanh bước lại gần, nhẹ nhàng đặt bàn tay ấm áp của mình lên bờ vai đang run rẩy của Ngọc Nương. Nàng không nói những lời an ủi sáo rỗng hay thương hại thừa thãi, bởi trong suốt những năm tháng làm nghề kiểm thi đối diện với cái chết, nàng hiểu rõ hơn ai hết: trên cõi đời này, không có lời an ủi nào có giá trị xoa dịu nỗi đau của người ở lại bằng một sự thật trần trụi, công bằng được phơi bày bằng mực đen dấu đỏ trước bàn thờ công lý.

"Anh trai cô không phải là kẻ say rượu ngã sông chết đuối," Đỗ Thanh khẽ cất lời, thanh âm trầm ấm vang vọng trong gian phòng đá. "Ông ấy cũng không phải là một con ma vô danh đi ký tên nhận những đồng tiền nhơ bẩn của lũ cướp ngày. Tên của ông ấy—Trần Hữu Sổ—từ ngày hôm nay trở đi, sẽ được ghi khắc trang trọng trên công đường của Khâm sai Kinh lộ như một người chép sổ can trường, khí phách và kiên định nhất của cả vùng đất Vọng Giang này."

Trần Ngọc Nương nghẹn ngào gật đầu trong làn nước mắt đầm đìa. Nàng quỳ rạp người xuống, áp vầng trán nóng hổi của mình vào bàn tay lạnh ngắt, bất động của người anh trai trên sập đá, thì thầm những lời tiễn biệt sau cuối giữa buổi hừng đông.

Ngoài kia, ánh bình minh đầu tiên của ngày mới đã xé toạc màn sương mù dày đặc bao phủ trên mặt sông Vọng Giang, rải những tia nắng vàng rực rỡ đầu tiên xuống những mái ngói rêu phong của phủ nha và các bến thuyền. Dưới bến tàu chính, tiếng chiêng đồng mở đường trầm hùng, dõng dạc của đoàn thuyền Khâm sai Kinh lộ bắt đầu gióng lên từng hồi vang dội khắp xóm bến. Những người lính cấm quân áo đỏ bưng biển thiết triều lâm thời rầm rập tiến bước dọc theo con đường đá hoa cương lớn, chuẩn bị cho một phiên đại công đường định đoạt số phận của cả chốn quan trường và giang hồ Vọng Giang đầy sóng gió.

Cuối cùng, sau bao nhiêu oan khuất và bùn nhơ, người chép sổ khốn khổ đã có thể thanh thản nhắm mắt xuôi tay, với một bản hồ sơ trọn vẹn không còn một chữ nào bị người đời viết sai nữa.

Chương này thế nào?Đánh giá giúp Readeep đề xuất đúng hơn cho bạn