Ghe Bếp Đi Theo Con NướcC.12 / 12
Chương 12

Theo Nước Ra Sông Cả

Mặt trời chưa ló dạng trên sông Cái Mít, ghe bếp đã lướt êm qua Bến Chợ Nổi để gom mớ tép bạc tươi rói thay cho mẻ cá lóc bị thiếu hàng, chuẩn bị cho đơn cơm bế mạc vụ thu hoạch của tổ thợ Vàm Dừa.

Lớp sương mù xám đùng đục còn là là trên mặt nước, quấn quanh những cây cọc cắm tiêu mé rạch và những lùm dừa nước đứng co cụm trong bóng tối tàn. Gió sớm từ cửa sông thổi thốc vào mang theo mùi bùn non ngai ngái xen lẫn hương lục bình trôi dạt. Chiếc ghe chín mét của Duyên xé nhẹ làn sương bảng lảng, tiếng máy đuôi tôm tám ngựa rù rì đều đặn, nhịp nổ trầm và giòn, không còn cái giọng khục khặc gắt gỏng của chuỗi ngày gồng mình chịu tải trước kia. Dưới sàn máy, từng con ốc chân máy hôm qua được chính tay Duyên dùng cây cờ lê mười bảy siết chặt cứng, giờ đây nằm im lìm trong lớp mỡ bò vàng óng, ghì chặt khối gang đúc nặng trịch vào hai thanh lườn bằng gỗ kiền kiền già dặn. Tiếng láp xoay đều dưới lòng lườn, bọt nước sau đuôi ghe cuộn lên thành hai vệt trắng xóa rồi tan biến vào lòng sông mênh mông còn ngái ngủ.

Ở mũi ghe, Thanh Bình ngồi trên chiếc đòn kê thấp bằng gỗ mù u, hai tay thoăn thoắt nhặt từng ngọn bông điên điển vàng rực vừa cân từ chiếc xuồng ba lá của bà Bảy chèo ngang hồi chập tối le lói ngoài vàm. Bông điên điển cuối mùa trôi dạt từ miệt trên về, những cánh hoa mỏng manh như cánh bướm, vàng mơ như màu nắng sớm còn đẫm sương đêm, được ngón tay anh ngắt cuống tỉ mỉ rồi thả nhẹ vào chiếc rổ nan tre đan khít. Kế bên anh, chiếc thau nhôm cỡ đại lấp xấp nước ngọt đang rộn rã tiếng quẫy tanh tách của mớ tép bạc đất. Tép không quá to, chỉ bằng ngón tay út người lớn, nhưng con nào con nấy vỏ mỏng tang, trong vắt đến mức nhìn rõ cả đường gân chỉ đen chạy dọc sống lưng và bọc gạch đỏ au nơi chóp đầu. Từng chiếc râu dài ngoe nguẩy quẹt vào thành thau nghe lạo xạo, minh chứng cho độ tươi rói của mẻ cào vừa vớt lên khỏi những bãi chà ven rạch rậm rạp.

Chiều hôm trước, khi chiếc ghe hàng quen ngoài vàm báo tin bè cá lóc bên cồn bị thương lái cất sạch nguyên hầm đưa lên thành phố, Nam — người phụ trách đội làm vườn — đã hơi khựng lại trong điện thoại. Cá lóc bông ngoài chợ dạt chỉ còn loại ươn phơi bụng hoặc mấy con cá còi đắt đỏ, mua vào chắc chắn sẽ đội chi phí lên quá nửa, chưa kể chất thịt bở rệp của cá ươn sẽ làm hỏng bét nồi cá kho tộ vốn dĩ là linh hồn của mâm cơm bế mạc. Nhưng thay vì cuống cuồng bấm bụng mua bừa hàng dạt để giữ nguyên món ghi trên giấy như những ngày đầu khởi sự đầy vụng về, Bình đã chủ động nhắc Duyên giở cuốn sổ tay ra, bấm máy tính từng ký tép bạc đang mùa nổi rộ mé bờ sông. Phương án thay thế được đưa ra rõ ràng: đổi cá lóc kho tộ và canh chua bắp chuối sang tép bạc xào bông điên điển giòn ngọt, kèm nồi canh cải bẹ xanh nấu gừng non dằn thêm chút thịt bằm ngọt nước. Ngân sách bốn mươi lăm ngàn một suất — đã tính đủ chi phí đá bi giữ lạnh, nước sạch bơm từ bến và công làm — được giữ nguyên vẹn đến từng đồng, không hụt một lạng đạm mà phẩm chất bữa ăn lại tươi rói vị đồng bưng. Nam nghe Bình giải trình rành mạch lượng calo chắc bụng cho thợ rọc lá tỉa cành thì gật đầu cái rụp qua điện thoại, không một lời kèo nài hay nửa câu gặng hỏi.

— Tép tươi kiểu này, trút vô chảo mỡ hành phi chỉ cần đảo nhanh tay ba phút là vỏ đỏ au, ngấm đều nước mắm nhĩ với chút đường thốt nốt, — Bình vừa búng bớt nước trên rổ tép vừa cất giọng đều đặn, ánh mắt chăm chú nhìn ngọn lửa xanh lét từ chiếc bếp gas công nghiệp đặt vững chãi trên bệ inox khoang giữa. — Bông điên điển tao không xào chung ngay từ đầu đâu Duyên. Canh lửa cho tép chín tới, rút bớt nước sền sệt rồi mới trút bông vô đảo lẹ trong mười giây là nhắc chảo xuống liền. Để lâu quá trên bếp là điên điển nát nhừ, chảy nước, mất hết cái vị nhẫn đắng ngọt hậu đặc trưng của nó. Ăn với thợ dầm mưa dãi nắng, cái giòn ngọt đó nó đưa cơm dữ lắm, lùa một hơi là cạn đáy tô chớ hổng chơi.

Duyên ngồi sau tay lái, khẽ mỉm cười gật đầu, một tay giữ nhẹ cần ga, một tay vịn lấy mép bạt che gió:

— Mầy tính sao cho thợ ăn thấy ngon mà miệng lưỡi nhẹ nhõm là được. Hôm nay ngày chót của vụ tỉa cành Vàm Dừa, người ta dọn vườn xong là nghỉ xả hơi, mâm cơm tiễn mùa phải cho đàng hoàng, sạch nước cản. Nước ngọt tao bơm đầy can ba mươi lít từ bến bà Hảo rồi, trả tám mươi ngàn dứt điểm cho con Mai từ sáng sớm. Chút nữa cập bến là cứ việc rửa rau thoải mái, hổng phải tiện tặn từng gáo như cái đợt kẹt ở Bưng Sen nữa đâu. Nồi niêu, thau chậu tao cũng tráng phèn sạch bong từ tối qua, mầy cứ thong thả mà trổ tài.

Chiếc ghe lách qua doi đất rợp bóng dừa nước xơ xác sau những trận gió chướng, êm ả lượn vào con rạch Vàm Dừa quen thuộc. Mặt rạch phẳng lặng như gương, chỉ xao động lăn tăn bởi những chùm rễ bần chìa ra bờ nước đón triều lên. Dọc hai bên bờ, những hàng dừa xiêm trĩu quả nghiêng mình soi bóng xuống dòng phù sa đục ngầu phù sa non. Tiếng chim bìm bịp kêu chiều hôm qua đã nhường chỗ cho tiếng chim chìa vôi ríu rít chuyền cành trong nắng sớm vừa chớm rọi qua kẽ lá. Duyên giảm ga, lùi số tống nhẹ một nhịp để mũi ghe tấp sát vào bờ kè đất nện của vườn dừa nhà ông Ba Cương. Cô nhanh nhẹn nhảy lên bờ đất, quăng đầu dây thừng bện bằng xơ dừa vòng qua gốc dừa xiêm cổ thụ, siết chặt nút số tám rồi cắm sâu cây sào tre có ngạnh sắt xuống lòng bùn giữ cho lườn ghe không bị dập dềnh theo sóng mạn ngoài do mấy chiếc xuồng máy chạy ngang tạo ra.

Mặt trời bắt đầu đứng bóng, xuyên qua những tán tàu dừa rậm rạp, rọi những vệt sáng chói chang xuống mặt đất nứt nẻ mùi phù sa khô. Đúng mười một giờ trưa, gian bếp dưới mui bắt đầu bốc lên mùi thơm ngào ngạt lan tỏa khắp khúc rạch vắng. Chảo tép bạc phi mỡ tỏi lách tách nổ giòn, mùi thơm béo ngậy của gạch tép hòa quyện cùng mùi thơm hăng the của hành hoa và tiêu sọ đập dập nghe nức mũi. Dầu màu điều hòa với gạch tép tươm ra làm cho mẻ xào có một sắc đỏ cam óng ả, bóng loáng bám chặt vào từng ngọn bông điên điển vàng rực vừa được trút vào đảo nhanh tay. Nồi nước dùng nấu canh cải xanh sôi lục bục bên cạnh, Bình thả vào đó vài lát gừng non xắt sợi mảnh như tơ, khói trắng mang vị cay ấm xua tan cái ẩm ướt còn sót lại của miệt vườn trưa muộn. Bình xếp sẵn hai mươi chiếc dĩa sâu lòng bằng sứ trắng tinh tươm — loại dĩa mới sắm thay cho mấy cái đĩa mượn chắp vá bằng nhựa phai màu ngày trước — mỗi dĩa đều được cân đối đều chằn chặn một góc tép xào rực rỡ sắc vàng của bông điên điển, một góc rau muống vườn luộc xanh ngắt còn bốc khói nghi ngút.

Thế nhưng, mười một giờ hai mươi lăm phút trôi qua, con đường đất nhỏ dẫn từ sâu trong líp dừa ra bến sông vẫn vắng ngắt. Không một bóng người, chỉ có tiếng gió xào xạc qua những tàu dừa khô rủ xuống mương nước. Bình đứng tựa vào cột buồm giả, tay cầm chiếc vá múc canh bằng inox ngập ngừng nhìn con đường mòn phủ đầy lá khô, đôi mày hơi nhíu lại. Hơi nóng từ mấy miệng nồi bốc lên phả vào mặt anh một lớp mồ hôi rịn nhẹ. Nếu là ngày xưa, chắc chắn anh đã sốt ruột múc sẵn canh ra tô, múc sẵn cơm ra dĩa để rồi mười lăm phút sau mỡ canh đóng váng nguội ngắt, hạt cơm se cứng lại, hoặc Duyên sẽ bắt đầu bồn chồn đứng ngồi không yên, cằn nhằn chuyện thợ làm trễ nải giờ giấc khiến đồ ăn mất đi vị ngon ngọt ban đầu.

Nhưng lần này, Duyên chỉ bình thản vặn nhỏ lửa bếp gas về mức liu riu, giữ ấm đáy nồi canh bằng hơi nước cách thủy trên chiếc chảo gang lớn:

— Đừng múc vội Bình. Nam dặn bữa nay có mấy cây dừa lão ngã chắn ngang rạch nội đồng, chắc tụi nó kẹt cưa dọn đường mương. Cứ để nguyên đó, chừng nào nghe tiếng ủng lội sình ngoài ngõ mới trút canh ra tô. Quy ước mình ghi rồi, đồ ăn dọn ra phải nóng sốt, nhưng giờ ăn xê dịch trong vòng nửa tiếng thì hai bên cùng linh động chờ nhau, hổng việc gì phải cuống. Trễ một chút mà cơm canh bưng ra còn sôi tim bốc khói thì thợ người ta mới thấm thía cái công người nấu, bụng dạ người ta mới êm.

Bình gật đầu, đặt chiếc vá xuống khay nhôm, lấy chiếc nắp vung đậy kín nồi canh lại để giữ trọn vẹn hương gừng nồng ấm. Anh với lấy chiếc khăn rằn vắt ngang vai lau mồ hôi trán, đứng tựa mạn ghe ngắm nhìn dòng nước đang lững lờ trôi.

Quả nhiên, mười lăm phút sau, tiếng bước chân bì bõm cùng tiếng cười nói ồn ã vang lên từ rặng chuối sau vườn dừa. Một đoàn thợ cắt tỉa hơn chục người, lưng áo bà ba ướt đẫm mồ hôi dính sát vào da thịt, quần xắn quá gối lem luốc bùn non lũ lượt kéo nhau ra bến. Đi cùng tốp thợ cắt tỉa là hai người đàn ông lạ mặt vác theo leng và giái nạo mương, vai vác bó dây bẹ chuối thắt gút, mặt mày lấm lem những vệt bùn đen nhánh từ đáy rạch vừa vét lên. Ai nấy đều thở dốc nhưng ánh mắt rạng rỡ vẻ nhẹ nhõm sau một buổi sáng quần quật với những thân dừa nặng hàng tấn.

Võ Thành Nam đi đầu đoàn thợ, chiếc nón lá rách vành kẹp bên nách, hai bàn tay thô ráp còn dính đầy xơ dừa và mủ cây. Vừa nhìn thấy chiếc ghe bếp neo ngay ngắn dưới bến với làn khói thơm nghi ngút tỏa ra từ ô cửa mui sau, anh liền chạy vội xuống cầu ván bắc tạm. Chưa đợi Duyên hay Bình mở lời về chuyện trễ giờ, Nam đã móc từ túi áo bà ba ra một cuốn sổ tay nhỏ bọc bìa da màu nâu đã sờn mép cùng cây bút bi cài sẵn trên mép túi.

— Duyên ơi, Bình ơi! Cho tụi tui xin lỗi nghen, — Nam lau vội mồ hôi trên trán bằng mu bàn tay, giọng chân thành nhưng dứt khoát và rành rọt. — Khúc mương sau vườn ông Ba Cương bị sụp bờ bao, hai anh em thợ mương bên xóm ngoài phải nhảy vô phụ vần công xúc bùn cứu cây tới tận giờ này mới dứt điểm. Tui dẫn hai ảnh qua đây ăn cơm luôn với anh em cho tiện việc, chớ giờ này thả cho họ lội bộ ra chợ thì đói lả dọc đường tội nghiệp lắm. Bữa nay phát sinh thêm đúng hai suất ăn nữa là hai mươi hai suất. Hai suất phát sinh này tính phụ phí mười phần trăm theo đúng giao kèo bữa trước mình bàn há Duyên?

Duyên đứng trên be ghe, nhìn cuốn sổ nhỏ mở sẵn trên tay Nam. Không còn cảnh gãi đầu gãi tai xin xỏ chia bớt phần cơm của người khác, cũng không còn cảnh hứa hẹn chung chung "chút nữa tính sau" hay "để cuối vụ gom lại coi sao" như cái hồi chật vật ở mé Bưng Sen. Nam lật trang giấy trắng tinh, nắn nót đặt bút ghi rõ ràng từng khoản mục: *Ngày 18 tháng Giêng — Tổ thợ Vàm Dừa: 20 suất tiêu chuẩn x 45.000đ = 900.000đ; Phát sinh: 02 suất x 49.500đ = 99.000đ. Tổng cộng: 999.000đ*.

Từng nét chữ, con số hiện lên ngay ngắn trên trang giấy có kẻ ô li. Ghi xong, Nam chìa cuốn sổ ra trước mặt Duyên, ký một chữ ký tròn trịa rồi xé rời tờ giấy biên nhận đưa cho cô:

— Duyên cầm cái này đối chiếu giùm tui. Lát nữa tui chạy vô chòi lấy tiền mặt của ông Ba Cương giao đủ cho ghe một lượt, hổng thiếu một cắc. Thợ mệt lả rồi, nhờ anh Bình ra tay tiếp sức giùm cho anh em lấy lại sức lực chiều nay dọn nốt mớ tàu dừa khô nghen!

Bình đứng bên bếp, nghe những lời rành rẽ và sòng phẳng ấy thì nét mặt dãn ra thành một nụ cười ấm áp. Anh không còn cảm giác bị ép vào thế kẹt, không phải làm việc nghĩa vụ không công, cũng chẳng phải bóp bớt khẩu phần cơm canh của những người thợ khác để bù vào khoảng trống phát sinh đột ngột. Sự tôn trọng lẫn nhau được đặt trên trang giấy trắng mực đen đã xua tan mọi nỗi bực dọc của buổi trưa oi ả.

— Có ngay đây anh Nam! Tép với canh tui giữ nóng trên bếp nãy giờ, năm phút nữa là lên mâm đủ hai mươi hai phần đầy đặn, bao ăn no tới chiều! Tép bạc đất ngọt lịm, có thêm hai suất dự phòng rau củ tươi rói, anh em cứ rửa tay chân rồi lại bạt ngồi cho mát!

Tiếng lửa bùng lên giòn giã dưới đáy chảo gang. Dưới bàn tay thoăn thoắt của Bình, hai phần cơm phát sinh được xúc vun ngọn từ chiếc thùng giữ nhiệt lớn sang hai chiếc đĩa sứ sạch sẽ. Mớ tép bạc xào bông điên điển bóng bẩy, thơm lừng mỡ tỏi rải đều tăm tắp lên mặt cơm, điểm xuyết thêm vài cọng ngò rí và ớt sừng xắt chỉ đỏ tươi. Tô canh cải xanh nghi ngút khói, từng cọng cải còn giữ nguyên màu xanh mướt mát mắt, nổi bồng bềnh cùng những viên thịt bằm tròn trịa được ướp chút tiêu xay cay nồng và lát gừng thái chỉ óng ánh nước dùng trong vắt.

Đám thợ vườn kéo nhau xuống mé rạch rửa ráy bùn đất rồi ngồi bệt trên những tấm bạt trải dưới bóng râm rười rượi của rặng dừa xiêm cổ thụ, đón lấy từng phần cơm nóng sốt từ tay Duyên chuyền lên bờ. Tiếng đũa muỗng va chạm lách cách vào đĩa sứ, tiếng húp canh rột rẹt xen lẫn những lời trầm trồ tấm tắc làm rộn rã cả một góc bờ kênh tĩnh lặng:

— Chu cha, tép bạc mùa này thịt ngọt lịm há! Bông điên điển giòn rụm, nhai nghe sần sật đã cái miệng ghê nhen anh Bình! Vị nhẫn nhẫn của bông quyện với gạch tép béo ngậy ăn bắt cơm ghê gớm!

— Canh cải dằn gừng ăn vô nghe ấm cái bụng liền, lội sình ngâm nước cả buổi sáng hổng thấy lạnh lưng chút nào! Bữa cơm cuối mùa vầy là quá xá đã, ăn xong làm một giấc dưới gốc dừa là chiều quất láng mười líp dừa còn lại cái một!

Một người thợ trẻ tuổi đưa cái đĩa sạch trơn lên khoe, cười tươi rói để lộ hàm răng trắng bóng trên khuôn mặt sạm nắng:

— Chị Duyên ơi, mốt có đi ghe bếp theo đội nào qua cồn nhớ hú anh em một tiếng nghen, tụi tui khoái cơm ghe này hơn cơm tiệm ngoài lộ nhiều lắm, ăn chắc bụng mà hổng có cảm giác ngấy mỡ!

Duyên đứng trên mạn ghe nhìn mọi người ăn ngon lành, trong lòng dâng lên một niềm vui nhẹ nhõm khôn tả. Đang lúc cô bê chiếc khay nhôm thu dọn mấy chiếc âu đựng cơm không về lại khoang sau thì chiếc điện thoại cài bên hông rung lên bần bật. Tiếng chuông reo dồn dập, gắt gỏng át cả tiếng sóng vỗ mạn thuyền kiền kiền. Duyên quẹt tay vào chiếc tạp dề vải thô màu xám, rút chiếc điện thoại cũ ra nhìn màn hình. Tên hiển thị là một cai thầu bên nhánh đê bao Bưng Sen — người quen cũ của bên đội sà lan nạo vét ngày trước.

Vừa bấm nút nghe, đầu dây bên kia đã xối xả tiếng gầm rú đinh tai nhức óc của máy bơm bùn công suất lớn cùng giọng người đàn ông khàn đặc, thở không ra hơi giữa tiếng ồn công trường:

— Duyên ghe bếp đó phải hôn? Nghe đây, tụi tui bên nhánh rạch Bưng Sen con đang chạy tiến độ đổ bê tông đáy cống, đói lả hết trơn rồi! Nhận liền giùm tui ba mươi suất cơm xế giao hỏa tốc trước hai giờ rưỡi chiều nay! Giá cả bao nhiêu tui trả bấy nhiêu, năm mươi, sáu mươi ngàn một suất tui cũng chồng tiền tươi liền tay, miễn sao chạy ghe đâm thẳng vô chân công trình cho tụi tui là được! Nhận lẹ giùm cái, thợ đang đình công vì đói, gấp dữ lắm rồi Duyên ơi!

Tiếng hối thúc như bão táp qua ống nghe khiến khoang ghe bỗng chốc lặng ngắt. Tiếng máy bơm bùn rền rĩ qua loa điện thoại như muốn xé toạc không gian thanh bình của bến rạch. Bình đang cúi người múc nước tráng chảo gang cũng khựng tay lại, ngẩng đầu lên nhìn Duyên, ánh mắt thoáng chốc lộ vẻ căng thẳng và đắn đo. Ba mươi suất xế với giá sáu mươi ngàn là một món tiền quá lớn — gần một triệu tám đến hai triệu bạc doanh thu chỉ trong vỏn vẹn một buổi chiều muộn. Đó là con số từng khiến cả Duyên và Bình hoa mắt trong những ngày đầu chật vật trả nợ, sẵn sàng dốc cạn chút sức lực tàn tạ hay liều mạng lao ghe vào bất cứ con rạch cạn nào bất chấp rủi ro rình rập dưới đáy bùn.

Thế nhưng, Duyên không hề vội vã trả lời. Cô kẹp chiếc điện thoại vào hõm vai, tay với lấy cuốn sổ tay bìa bọc ni-lông đặt ngay cạnh tay lái, lật nhanh tới trang kẹp bảng lịch triều sông Cái Mít trong tháng Giêng mà cô đã cẩn thận ghi chép từng con nước lớn ròng từ đầu tháng. Đôi mắt sắc sảo của người thợ máy rà nhanh qua từng dòng mực tím ghi chép độ cao con nước: *Ngày mười tám, nước ròng sát đáy lúc mười bốn giờ ba mươi phút; độ sâu luồng lạch nhánh Bưng Sen con chỉ còn dưới sáu tấc.*

Duyên nhìn ra dòng rạch trước mặt. Ngấn bùn đỏ quạch trên mấy cây cọc tiêu mé nước đang từ từ lộ ra từng tấc một theo dòng nước rút. Triều đang rút ròng rã, nước chảy xiết cuồn cuộn ra sông lớn Cái Mít. Một chiếc xuồng ba lá chở dừa khô nhẹ tải vừa trườn qua vàm rạch cách đó không xa đã phải gầm rú ga inh ỏi, đuôi tôm ngoáy tung bọt bùn đỏ lòm vì chân vịt chém phải bãi bùn lún mé cồn.

Ký ức về lần chết máy gãy láp ở Bưng Sen mấy tháng trước dội về như một nhát dao cứa vào tâm can. Tiếng cốt máy rên rỉ khô khốc khi bị kẹt cứng trong bùn sâu, tiếng chân vịt gãy ngọt va vào đá ngầm, và cảnh hai đứa bì bõm lội sình ngập ngang bắp đùi giữa trưa nắng gắt để đẩy chiếc ghe chở đầy cơm nguội lạnh tanh... tất cả hiện về mồn một. Chiếc cốt máy bãi tám ngựa dưới sàn ghe kia vừa được thay bằng mồ hôi, nước mắt và những đêm thức trắng chắt chiu từng đồng bạc lẻ, không thể nào bị đem ra đánh cược cho một đơn hàng vội vã đầy may rủi.

Quy ước ghe bếp điều số một và số bốn đã được hai đứa nắn nót ghi bằng mực đỏ nơi trang đầu cuốn sổ: *Không bao giờ nấu và giao hàng ở nơi thiếu an toàn cho phương tiện; mọi quyết định vận hành phải đặt sự an toàn của lườn ghe và máy móc lên trên hết.*

Duyên hít một hơi thật sâu, đón lấy luồng gió sông mặn mòi, giọng nói qua điện thoại bình thản, dứt khoát đến lạ lùng, không một chút run rẩy hay tiếc nuối:

— Cảm ơn anh đã nhớ tới ghe bếp, nhưng tụi tui không nhận chuyến này được đâu anh.

Đầu dây bên kia sững lại một giây như không tin vào tai mình, rồi tiếng gắt gỏng bực bội vang lên át cả tiếng sóng vỗ:

— Sao hổng nhận? Chê tiền hả Duyên? Chê ít tui trả thêm tiền dầu máy năm chục ngàn nữa, chạy từ Vàm Dừa qua có nửa tiếng chớ mấy mà làm eo làm sách dữ vậy mầy?

— Hổng phải chuyện chê tiền hay làm eo đâu anh, — Duyên ôn tồn nhưng từng lời thốt ra đều chắc như đinh đóng cột vào thân gỗ kiền kiền. — Anh làm công trình đê bao anh rành con nước hơn tui nhiều. Bây giờ là mười hai giờ trưa rồi, tới hai giờ rưỡi chiều nay là con nước ròng sát đáy, cạn trơ xương. Nhánh Bưng Sen con của anh bùn non cạn trơ đáy, luồng lạch sâu chưa tới sáu tấc, mà chân vịt ghe tui ăn sâu bảy tấc nước. Chạy ráng đâm vô là chắc chắn cào đáy gãy láp hoặc mắc cạn chết dí giữa bãi sình lầy. Tụi tui giao cơm mà để lật ghe bể nồi dọc đường thì anh em thợ của anh cũng hổng có miếng cơm nào dằn bụng, mà chiếc ghe kiếm cơm của tụi tui cũng nát bét cái máy. Anh gọi mối xe ôm quen ngoài đầu cầu sắt chạy đường bờ chở bánh mì hay cơm hộp ngoài lộ lớn vô cho anh em đỡ dạ đi, ghe tui thiệt tình hổng vô được đâu. Tui xin lỗi nghen!

Duyên cúp máy cái rụp, ngón tay ấn mạnh vào phím tắt dứt khoát, không để cho đầu dây bên kia kịp buông thêm một lời chèo kéo hay than vãn nào nữa.

Cô đặt chiếc điện thoại nằm ngay ngắn xuống tấm ván gỗ mạn thuyền, quay lại nhìn Bình. Bình thở hắt ra một hơi dài nhẹ nhõm, nụ cười bừng sáng trên khuôn mặt hãy còn vương chút nhọ nồi và vết dầu mỡ nơi gò má:

— Mầy từ chối nghe ngọt xớt mà dứt khoát ghê há Duyên. Hồi đó mà nghe sáu chục ngàn một suất kèm tiền dầu kiểu này, chắc mầy xách giỏ nhảy dựng lên giục tao nổi lửa nấu cơm xối xả rồi, bất chấp ghe có lội sình cào đáy tới đâu.

— Xách giỏ lên rồi lội sình bưng cơm gãy lưng, rồi lại tốn bạc triệu kéo đà vô xưởng chú Tư thay láp nữa hả? — Duyên bật cười giòn tan, bước tới vỗ mạnh vào bắp tay bạn. — Khôn ra rồi chớ bộ! Ăn miếng nào chắc miếng đó, tham bát bỏ mâm có ngày chết chìm trên sông nước hổng ai cứu kịp. Cứ lo dọn dẹp cho xong bữa này của tổ anh Nam cái đã, việc gì tới nó tới, hổng có gì phải vội vàng mà làm bậy.

Bữa cơm của tổ thợ vườn khép lại trong tiếng cười đùa rôm rả dưới bóng dừa mát rượi. Ăn xong xuôi, đám thợ tự giác đem từng chiếc đĩa sứ sạch trơn xuống mé cầu ván xếp gọn gàng vào chiếc giỏ nhựa lớn cho ghe bếp, không để vương vãi một cọng rác hay hạt cơm nào xuống mé nước bờ kênh. Nam quay lại bến, trên tay cầm cọc tiền mặt phẳng phiu đã được đếm kỹ càng đưa tận tay Duyên. Đúng chín trăm chín mươi chín ngàn đồng, từng tờ tiền polymer thẳng thớm không thiếu một đồng tiền lẻ. Nam còn vui vẻ dúi thêm một túi cóc chín cây hái vội ngoài líp dừa làm quà tráng miệng cho hai đứa:

— Cảm ơn hai đứa nhiều nghen! Bữa cơm cuối mùa này ngon miệng mà ấm lòng anh em dữ lắm. Ai nấy đều khen tép ngọt, cơm dẻo, canh ấm bụng. Chừng nửa tháng nữa vô vụ thu hoạch sầu riêng bên Cù Lao, tui nhất định gọi ghe bếp qua phục vụ tiếp cho tổ thợ tụi tui! Lúc đó nhớ ưu tiên xếp lịch nghen Duyên!

— Dạ, chừng đó anh cứ hú trước hai ngày để tụi tui lên thực đơn với coi con nước cho đàng hoàng nghen anh Nam! — Duyên cười tươi rạng rỡ, bắt tay Nam thật chặt trước khi anh quay trở lại vườn.

Khi chiếc xuồng của tổ thợ cắt tỉa khuất dần sau rặng dừa nước rậm rạp, không gian bến rạch trở lại vẻ tĩnh mịch quen thuộc của buổi trưa sông nước miền Tây. Nắng vàng xiên qua những kẽ lá dừa đung đưa trong gió nhẹ, rải từng đốm sáng lấp lánh như dát vàng trên sàn gỗ ghe bếp.

Duyên và Bình bắt tay ngay vào công việc dọn dẹp sau bữa ăn. Mọi việc diễn ra nhịp nhàng, thuần thục như một cỗ máy đã được tra dầu mỡ cẩn thận và vận hành qua bao ngày tháng trơn tru. Không ai cần phải nhắc ai một lời. Duyên dùng gáo dừa múc nước ngọt từ chiếc can ba mươi lít tráng sơ lớp dầu mỡ và thức ăn thừa trên từng chiếc đĩa sứ. Bình đứng bên chiếc thau nhôm thứ hai dùng miếng xơ mướp khô và nước rửa chén sinh học nấu từ bồ hòn cọ sạch bóng từng chiếc đĩa, chiếc muỗng, rồi tráng lại lần cuối ở thau nước ngọt trong vắt thứ ba. Chén dĩa khô ráo được xếp gọn gàng vào từng ngăn tủ gỗ có then cài chắc chắn dọc thân ghe; xoong chảo gang dày được treo ngay ngắn trên những chiếc móc sắt quanh vách mui ghe; rác hữu cơ từ vỏ tép, cuống bông điên điển và rác nilon phế liệu được phân loại rành rẽ vào hai bao bố riêng biệt, cột chặt miệng để chút nữa đem lên điểm tập kết rác dân sinh ở bờ lộ lớn mé chợ.

Khoang bếp rộng vỏn vẹn bốn mét vuông chẳng mấy chốc đã sạch bong kin kít. Sàn ván gỗ kiền kiền được Duyên dùng giẻ lau vắt ráo lau sạch từng ngóc ngách, thoang thoảng mùi sả chanh dịu nhẹ át đi hoàn toàn mùi khói bếp và mùi tanh tao của tôm cá.

Hai người ngồi bệt xuống giữa sàn ghe sạch bóng, dựa lưng vào be thuyền kiền kiền vững chãi để đón ngọn gió sông mát rượi từ vàm Cái Mít thổi lồng lộng vào rạch. Duyên kéo chiếc hộp sắt tây đựng tiền nhỏ ra, đặt cuốn sổ chung bìa bọc ni-lông lên mặt sàn gỗ phẳng phiu. Chiếc bút bi mực tím được cô cầm chắc trong tay, nắn nót ghi từng con số rõ ràng của buổi trưa hôm nay:

*Ngày 18 tháng Giêng — Bế mạc vụ Vàm Dừa:* *Tổng thu: 999.000 đồng (20 suất x 45k + 2 suất phát sinh x 49.5k).* *Chi phí nguyên liệu chợ nổi: 320.000 đồng (tép bạc 180k, bông điên điển 50k, rau cải + gừng non 40k, gia vị + hành ớt 50k).* *Chi phí vận hành: 80.000 đồng (nước ngọt và đá bi trả Mai) + 30.000 đồng (dầu máy diezen).* *Tổng chi: 430.000 đồng.* *Lợi nhuận ròng: 569.000 đồng.*

Duyên ngẩng đầu lên nhìn Bình, đôi mắt ánh lên niềm vui sướng rạng ngời:

— Tiền công nhật hôm nay của tụi mình, theo đúng quy ước chia đôi sòng phẳng ghi trong sổ, mỗi đứa được đúng hai trăm ngàn đồng! — Duyên rút bốn tờ năm mươi ngàn và hai tờ một trăm ngàn phẳng phiu chia làm hai phần bằng nhau, đẩy một phần sang ngay ngắn trước mặt Bình. — Còn dư lại một trăm sáu mươi chín ngàn đồng tiền lãi dôi ra. Bỏ vô hũ sắt quỹ bảo dưỡng ghe sáu mươi chín ngàn để dành thay nhớt với mua phốt láp. Còn tròn một trăm ngàn này, cộng với tiền quỹ tích lũy mấy bữa trước...

Duyên dừng lại một nhịp, với tay mở chiếc ngăn kéo nhỏ bí mật khoét dưới sàn máy ngay cạnh bánh lái. Cô lấy ra một chiếc phong bì bằng giấy xi măng đã cũ, mép giấy hơi sờn vì bao lần mở ra đếm lại. Bên trong là số tiền một trăm ngàn đồng đã được gom góp, chắt chiu từ đợt phục vụ cơm đội đắp đập mấy hôm trước. Duyên gộp chung tờ một trăm ngàn vừa trích được vào đó, miết nhẹ các mép giấy cho thật phẳng phiu.

Đúng hai trăm ngàn đồng tiền mặt tròn trĩnh nằm gọn trong phong bì.

— Khoản nợ cuối cùng hai trăm ngàn tiền phụ tùng cốt máy bãi của Chú Tư Máy! — Duyên thở phào một cái thật sâu, lồng ngực cô căng tràn dưỡng khí như vừa trút bỏ được cả một tảng đá ngàn cân đè nặng trĩu suốt mấy tháng ròng rã kể từ ngày chiếc ghe bị hỏng nặng bên cồn. — Chiều nay mình dứt nợ hoàn toàn, hổng còn thiếu chú Tư một cắc bạc nào nữa hết trơn! Hổng còn ai có thể kêu mình là ghe nợ nần hay chạy chực nữa!

Bình run run cầm lấy phần tiền công hai trăm ngàn của mình, đôi bàn tay gầy gò thô ráp đầy những vết chai sần vì cầm dao, cầm chảo mân mê mép tiền giấy mát rượi. Anh ngước nhìn sang Duyên, trong khóe mắt dâng lên một niềm xúc động nghẹn ngào khó tả thành lời:

— Dứt nợ chú Tư rồi... Chiếc ghe này thiệt sự là của hai đứa mình rồi há Duyên? Không còn nợ vỏ, không còn nợ máy, không còn nợ một con bù-loong nào nữa...

— Ừ! Của hai đứa mình trọn vẹn một trăm phần trăm! Trả bằng từng con ốc, từng đĩa cơm, từng giọt mồ hôi sòng phẳng chắt chiu mỗi ngày! Thôi, nổ máy! Mình ghé xưởng Chú Tư liền cho kịp giờ con nước đứng lớn, để chú Tư khỏi phải trông ngóng!

Duyên đứng phắt dậy, bước nhanh về phía đuôi ghe. Cô mở khóa van dầu, kéo nhẹ le gió rồi giật dứt khoát sợi dây cáp khởi động. Tiếng máy đuôi tôm bùng lên giòn giã, nhả ra một làn khói mỏng màu xám nhạt rồi rù rì êm ái. Chiếc ghe nhẹ nhàng rẽ sóng rạch Vàm Dừa, mũi ghe kiền kiền hướng thẳng ra dòng sông Cái Mít mênh mông lộng gió. Nước sông đang bắt đầu con nước đứng lớn, mặt nước phẳng lặng như gương nâng nhẹ lườn ghe lướt băng băng qua những doi đất phù sa đỏ quạch màu mỡ.

Khoảng ba giờ chiều, bóng mát của hàng cây gáo nước ven sông ngả dài trên mặt nước, chiếc ghe bếp cập êm ái vào triền đà quen thuộc của Xưởng Chú Tư Máy. Mùi sắt thép bị cắt gọt khét nồng, mùi dầu luyn thải hắc hắc và tiếng búa tạ gõ chan chát trên đe sắt lách cách quen thuộc ùa vào khoang mũi như một lời chào của đất liền.

Chú Tư đang ngồi xổm bên mép xưởng sát mép nước, chiếc kính lão trễ xuống tận chóp mũi, hai bàn tay đen đúa dầu mỡ đang chăm chú dùng cây dũa sắt mịn mài lại từng mép ba-via của một chiếc cánh quạt đồng ba cánh sáng loáng. Nghe tiếng máy tám ngựa hạ ga quen thuộc lùi êm vào bến đà mà không hề có tiếng rít láp hay va đập thành cầu tàu, ông ngẩng đầu lên, đưa bàn tay dính mỡ bò kéo nhẹ gọng kính xuống, đôi mắt sắc sảo nheo lại quan sát chiếc ghe từ mũi tới lái.

— Tới rồi đó hả hai đứa? — Chú Tư cất giọng trầm đục, đặt chiếc dũa sắt xuống tấm giẻ lau rách bên cạnh.

Duyên nhanh nhẹn nhảy thoăn thoắt lên bờ đà trơn trượt bùn non, hai tay cầm chiếc phong bì giấy xi măng tiến lại gần chú Tư, đôi mắt sáng rực vẻ tự hào:

— Dạ, con chào chú Tư! Ghe con vừa xong chuyến cơm bế mạc vụ tỉa cành ở Vàm Dừa trưa nay, con ghé giao nốt hai trăm ngàn tiền phụ tùng cốt máy còn lại cho chú đúng hẹn đây nè chú!

Chú Tư đón lấy chiếc phong bì giấy xi măng từ tay cô thợ máy trẻ. Ông mở nắp phong bì, rút ra hai tờ tiền một trăm ngàn phẳng phiu, đưa lên ngang tầm mắt đếm nhanh một lượt bằng ngón tay cái sần sùi. Ông không vội cất tiền vào túi áo mà nhìn Duyên thật lâu, đôi mắt già nua ánh lên vẻ nghiêm nghị thường thấy, nhưng nơi khóe miệng râu ria lởm chởm khẽ giật giật thành một nụ cười hiếm hoi mà Duyên chưa từng thấy suốt mấy tháng qua.

— Tốt. Đúng hẹn, rạch ròi, không thiếu một cắc, không trễ một giờ. Làm ăn trên sông nước mà giữ được cái chữ tín với máy móc và con người như vậy là coi như qua được cái ải khó nhất rồi đó con nhỏ. Rất nhiều đứa sắm ghe ra làm ăn, kiếm được chút tiền là lo sắm sửa ăn xài, nợ phụ tùng thì lần lữa trốn tránh, cuối cùng máy móc rệu rã rồi chìm ghe lúc nào hổng hay.

Nói rồi, chú Tư chống hai tay lên đầu gối đứng dậy, bước chầm chậm xuống mé cầu tàu bằng gỗ mù u, nghiêng đầu lắng tai nghe buồng máy ghe đang nổ cầm chừng thì thào dưới sàn:

— Tắt máy coi!

Duyên với tay gạt nhẹ cần ga về nấc số không. Động cơ ngừng bặt êm ru, cốt máy xoay thêm đúng nửa vòng quán tính rồi dừng hẳn tại điểm chết trên, không hề có một tiếng dằn sóc, tiếng khục khặc hay rung lắc thừa thãi nào trên sàn lườn. Chú Tư bước hẳn xuống khoang máy, đôi chân trần bước nhẹ trên mặt ván gỗ khô ráo. Ông cúi người xuống, dùng ngón tay cái chai sần sờ nắn thật kỹ từng chiếc ốc chân máy mà Duyên đã dùng cờ lê mười bảy siết chặt hôm qua, rồi miết ngón tay dọc theo đường láp truyền lực từ hộp số ra tới ống bao đuôi tôm. Đầu ngón tay ông rút lên chỉ dính một lớp mỡ bò vàng óng mỏng tang, không hề có một hạt mạt sắt li ti hay giọt nhớt đen nào rò rỉ ra ngoài.

— Máy chạy tròn trĩnh, láp ngay tâm, chân máy ghì chắc chắn không bị vênh. Bạc đạn đuôi tôm êm ru hổng kêu một tiếng rào. Tay nghề tiện ốc với siết máy của mầy coi bộ chưa lụt nghề thợ máy bãi, có tiến bộ dữ dằn nghen Duyên. Chiếc ghe này giờ đi sông lớn vô tư, sóng cấp ba cấp bốn cũng hổng sợ rung rinh chân máy nữa.

Chú Tư gật gù hài lòng rồi trèo ngược lên bờ xưởng, đi thẳng vào góc kho tối tăm để đồ nghề cơ khí cũ kỹ bên trong. Tiếng kim loại va chạm lách cách vang lên trong kho chứa. Một lát sau, ông quay trở ra, trên tay xách một chiếc giỏ may bằng vải bạt quân đội đã bạc màu thời gian nhưng quai xách còn chắc nịch. Bên trong giỏ đựng một bộ cờ lê vòng miệng đầy đủ từ số mười tới số hai mươi hai sáng bóng màu thép tôi, kèm theo một chiếc mỏ lết mười hai inch bằng thép đúc màu xám chì của Liên Xô cũ — loại đồ nghề bãi vang bóng một thời, nước thép lì lợm và các ngàm ốc còn khít rịt, bén ngót không hề rơ rão một ly.

Ông đặt chiếc giỏ bạt nặng trịch xuống nắp khoang mũi ghe của Duyên, cất giọng tưng tửng, nửa đùa nửa thật:

— Bộ đồ nghề này hồi xưa tao xách đi sửa máy dọc sông Tiền sông Hậu mấy chục năm trời, giờ già cả rồi, mắt mờ tay run để xó xưởng bụi bặm bám đầy cũng uổng. Bán lại cho mầy đó. Giá tượng trưng: năm chục ngàn bạc thôi, bữa nào đi ngang có tiền lẻ dôi ra thì đưa, hổng có thì ghé qua đãi tao ấm trà sen là huề cả làng. Cầm lấy mà phòng thân trên đường làm ăn, đi ghe bếp trên sông nước mà trong tay hổng có đồ nghề bén thì có ngày lại đứng khóc ròng giữa bãi cạn nước ròng.

Duyên sững sờ, hai mắt mở to nhìn bộ cờ lê chuyên dụng cùng chiếc mỏ lết Liên Xô mà cô từng đứng ngắm nghía thèm thuồng suốt bao ngày qua mỗi lần ghé xưởng tiện phụ tùng. Đó không đơn thuần chỉ là một bộ đồ nghề cơ khí quý giá đối với bất kỳ người thợ máy giang hồ nào dọc các tuyến sông miền Tây, mà đó là sự thừa nhận trọn vẹn, sâu sắc nhất của người thầy nghiêm khắc, khó tính nhất dành cho sự chững chạc, trưởng thành và cái tâm làm nghề của cô gái trẻ.

Duyên cúi đầu thật thấp, hai bàn tay run run trân trọng ôm lấy chiếc giỏ bạt nặng trịch vào lòng, giọng cô nghẹn lại nơi cuống họng, sống mũi cay xè:

— Con... con cảm ơn chú Tư nhiều lắm! Con sẽ giữ gìn kỹ như mạng sống của mình, con hổng làm chú thất vọng đâu chú!

— Thôi, dẹp cái giọng sụt sùi con nít đó đi! — Chú Tư xua xua bàn tay đen đúa dầu mỡ, quay lưng đi thẳng về phía đống sắt vụn bên hiên xưởng, nhưng bờ vai gầy guộc của ông khẽ rung rung vẻ hài lòng khó giấu. — Nước lớn đang tràn bờ rạch ngoài kia rồi đó. Chạy ghe ra sông lớn mà hứng gió mát, ở đó bu bám xưởng tao hoài đặng hít khói sắt hay sao!

Ghe bếp rời khỏi triền đà Xưởng Chú Tư Máy trong tiếng máy nổ êm ru như tiếng thở của dòng sông. Chiếc ghe chín mét lướt nhẹ ra giữa lòng sông Cái Mít mênh mông, bỏ lại sau lưng mùi dầu luyn khét nồng và tiếng đe búa lách cách của xưởng thợ. Trời ngả dần về chiều muộn, mặt sông bao la nhuộm một màu vàng cam rực rỡ và lộng lẫy của ráng hoàng hôn miệt vườn. Từng con sóng lớn từ những chiếc tàu hàng chạy ngược dòng dập dềnh vỗ vào mạn thuyền kiền kiền, tạo nên những âm thanh bập bùng, khoan thai và trầm ấm như một khúc ca quen thuộc của đời sông nước bôn ba.

Duyên neo ghe nhẹ bên một nhánh bần vươn dài che mát mé sông Cái Mít, chỉ nổ máy cầm chừng ở nấc ga nhỏ nhất để sạc chiếc bình ắc quy đồng nai cho buổi tối. Cô ngồi bệt trên sàn gỗ kiền kiền mát rượi, cẩn thận lấy từng chiếc cờ lê vòng miệng trong chiếc giỏ bạt của chú Tư ra, dùng giẻ tẩm chút dầu diezen lau bóng loáng rồi xếp ngay ngắn vào ngăn đồ nghề chuyên dụng dưới tay lái. Đặt chiếc mỏ lết mười hai inch nặng trịch vào vị trí trung tâm, trong lòng Duyên dâng lên một cảm giác nhẹ bẫng, thanh thản và vững chãi lạ thường. Mọi nợ nần đã xóa sạch, mọi lỗi lầm của chuỗi ngày non nớt đã được bồi đắp bằng sự chăm chỉ và kỷ luật khắt khe.

Bỗng nhiên, chiếc điện thoại đặt trên mặt bàn bếp khoang giữa rung lên một hồi chuông báo tin nhắn dồn dập.

Duyên với tay cầm lên xem. Màn hình sáng lên hiển thị tin nhắn từ một số máy lạ, người gửi tự giới thiệu là tổ trưởng tổ hợp tác trồng bưởi Năm Roi bên cồn Bình Minh — cù lao lớn nằm giữa ngã ba sông:

*"Nghe anh Nam Vàm Dừa khen ghe bếp của cô Duyên với chú Bình nấu ăn ngon miệng, tính toán chi phí sòng phẳng, sạch sẽ và đúng giờ giấc dữ lắm. Tổ tui chuẩn bị vô đợt bao trái bưởi kéo dài nửa tháng ròng, mỗi ngày cần hai mươi lăm suất cơm trưa và mười lăm suất cơm xế ăn lót dạ. Không biết ghe cô Duyên có nhận nấu dài hạn trọn gói vụ này được hông, xin cho biết giá cả từng suất và cách thức đặt cọc trước ra sao để tui bàn với ban quản lý tổ hợp tác."*

Một hợp đồng dài hạn nửa tháng ròng rã! Mỗi ngày bốn mươi suất ăn cả trưa lẫn xế! Một cơ hội làm ăn lớn chưa từng có, mở ra ngay khi mâm cơm cuối vụ của tổ thợ Vàm Dừa vừa mới khép lại trưa nay.

Duyên nhìn chằm chằm vào dòng tin nhắn, trái tim khẽ đập rộn lên một nhịp phấn khích. Thế nhưng, cô không hề vội vã bấm bàn phím nhận lời ngay tắp lự như những ngày đầu nông nổi, không còn cái thói vồ vập nhận bừa rồi mới cuống cuồng tính toán xem ghe có chở nổi hay sức người có kham nổi hay không.

Cô ngồi thẳng lưng, hít một hơi thở thật sâu đầy lồng ngực mùi gió sông mát rượi mang theo hương phù sa ngai ngái. Đôi tay thon thả của người thợ máy thoăn thoắt gõ từng dòng tin nhắn hồi đáp cặn kẽ, khúc chiết và rõ ràng từng chi tiết:

*"Dạ chào anh. Ghe bếp tụi em nhận tối đa ba mươi suất mỗi lượt phục vụ để đảm bảo chất lượng nóng sốt và an toàn vệ sinh. Anh cho em hỏi thăm kỹ thêm vài việc: tổ mình nghỉ trưa cố định lúc mấy giờ? Giờ ăn xế cụ thể là mấy giờ chiều? Và mé bến vườn bưởi bên cồn của anh, lúc con nước ròng sát đáy thì độ sâu luồng lạch được bao nhiêu mét để ghe em tính toán luồng chạy ra vô cho an toàn, tránh mắc cạn cào đáy? Nếu điều kiện luồng lạch và giờ giấc thuận lợi cho ghe cập bến, tụi em sẽ gửi ngay thực đơn mẫu từng ngày và mức giá chi tiết kèm phương án đặt cọc hợp đồng rõ ràng để anh duyệt ạ."*

Gõ xong những dòng tin nhắn cẩn trọng ấy, Duyên chưa vội ấn phím gửi đi. Cô ngẩng đầu lên, nhìn sang người bạn đồng hành thân thiết đang đứng bên mạn thuyền.

Bình đang dựa người vào cây cột mui ghe, đón ngọn gió hoàng hôn thổi lồng lộng làm bay bay mái tóc đã dài chấm gáy. Trên tay anh, chiếc khăn vải thô sạch sẽ đang chậm rãi lau khô từng giọt nước còn đọng lại trên lưỡi dao bếp bằng thép nhíp sắc lẹm. Nghe tiếng Duyên dừng tay trên bàn phím, Bình quay đầu lại.

Ánh mắt của hai người chạm nhau trong không gian rực rỡ của ráng chiều vàng óng ả đang nhuộm đỏ cả mặt sông Cái Mít. Không cần phải nói thêm một lời thừa thãi nào nữa, Bình khẽ mỉm cười. Một cái gật đầu nhẹ nhàng, trầm tĩnh nhưng chứa đựng tất cả sự tin cậy tuyệt đối, sự thấu hiểu sâu sắc và đồng thuận bền chặt sau biết bao ghềnh thác, sóng gió và những lần vấp ngã ê chề mà hai đứa đã cùng nhau nếm trải suốt những tháng ngày lênh đênh mặt nước.

Duyên mỉm cười đáp lại bạn mình, ngón tay cái dứt khoát ấn nút gửi tin nhắn đi.

Duyên gập cuốn sổ đã ngay ngắn từng dòng thu chi, tắt máy ghe nghe tiếng sóng Cái Mít dập dềnh: con nước lớn bắt đầu tràn bờ rạch.

Chương này thế nào?Đánh giá giúp Readeep đề xuất đúng hơn cho bạn