Đèn Lồng Phố HộiC.3 / 3
Chương 3

Câu Đối Thứ Nhất

Mùi hồ nếp mới quấy còn bốc khói nghi ngút từ chiếc niêu đất nứt vành quyện chặt với mùi tre già hun khói, tạo nên một thứ phong vị ngai ngái, nồng đượm đặc trưng quen thuộc của gian chái bếp Tô gia. Bên ngoài khung cửa liếp khép hờ, từng đợt gió chướng từ phía hạ lưu sông Hoài thổi thốc vào mang theo vị mặn mòi ẩm ướt của sóng biển Cửa Đại và cái lạnh se sắt của những đêm tàn đông chớm xuân nơi phố Hội. Đêm đã khuya lơ khuya lắc. Tiếng nước vỗ bì bõm vào những mảng rêu phong bám chặt chân cọc gỗ nơi mố cầu ván vỗ đều từng nhịp buồn bã, chốc chốc lại bị xé toạc bởi tiếng mõ gõ dồn dập ba hồi một chập từ toán lính tuần đêm của nha môn Thương Chánh Ty rảo qua ngõ gạch.

Trong góc chái hẹp chỉ vỏn vẹn chừng dăm sải tay, những chồng giấy bản mỏng tang phơi khô, từng cuộn lụa vụn ngũ sắc và hàng chục lóng tre mai bánh tẻ ngâm nước vôi trong lâu ngày chất đống sát vách đất trát rơm. Ánh sáng vàng đục từ ngọn nến sáp ong chập chờn theo từng cơn gió luồn qua khe ván, soi rọi đôi bóng người đổ dài lên bức vách loang lổ ẩm mốc.

Tô Mộc Lan ngồi xếp bằng ngay ngắn trên mép chiếc chiếu cói đã sờn rách bung cả sợi đay. Tấm áo cánh màu lam bạc phếch ôm lấy thân hình mảnh khảnh dẻo dai của người con gái sớm hôm tần tảo bên khuôn đèn, bến nước. Đôi mắt nàng chăm chú nhìn sang người thanh niên ngồi đối diện bên chiếc tràng kỷ thấp bằng gỗ mít rui mục.

Nguyễn Hữu Thành vẫn khoác trên mình manh áo vải thô màu nâu sồng đượm mùi bùn đất và mồ hôi của kẻ hàn vi mang danh phận thư sinh nghèo Trần Minh. Tay chàng nắm chặt cán chiếc dao bài bằng thép già tôi nước mặn, lưỡi dao sắc lẹm miết dứt khoát trên từng thớ nan cật tre. Âm thanh “xoèn xoẹt… xoèn xoẹt” vang lên nhịp nhàng, thớ tre tước ra mỏng tanh cuộn tròn rơi lả tả xuống nền đất nện.

Lan không vội lên tiếng. Nàng khẽ nghiêng đầu ngắm nhìn sườn mặt góc cạnh của chàng dưới ánh nến lay lắt. Chiếc mũi cao thẳng thớm, đôi mày kiếm rậm hơi chau lại đầy vẻ suy tư, và vầng trán rộng cương nghị toát lên khí chất của bậc trượng phu quen chốn quan nha thư các. Dù chàng đã cố tình khom lưng, hạ thấp vai để bắt chước cái dáng dấp rụt rè, khúm núm của một kẻ áo vải nương nhờ cửa thợ, nhưng cốt cách bên trong thì không lớp vải nâu nào che giấu nổi. Nhất là bàn tay kia. Bàn tay cầm dao của chàng không hề lóng ngóng như kẻ chỉ quen chấm mực mài nghiên; từng đường lia dao dứt khoát, lực phát ra từ cổ tay chìm và tĩnh, gân cốt rắn rỏi của một người luyện kiếm từ thuở thiếu thời. Nơi kẽ ngón tay cái và gò bàn tay chàng tì xuống sống dao có một vệt chai sần dày cộp — vết tích không thể chối cãi của chuôi kiếm sắt hay đốc đao nặng.

Nàng đã nhận ra những điều ấy từ nhiều ngày trước, nhưng nàng chọn sự im lặng. Giữa một Hội An phồn hoa đô hội ngập ngụa vàng son mà cũng đầy rẫy mưu mô phản trắc này, ai mà chẳng có một tấm bình phong để che chắn cho thân phận mình. Điều duy nhất nàng tin tưởng không phải là cái tên Trần Minh hay lai lịch mập mờ mà chàng tự vẽ ra, mà chính là sự ấm áp, chân thành xen lẫn nỗi dằn vặt sâu kín trong đáy mắt mỗi khi chàng nhìn nàng.

“Chàng gọt thanh nan này quá mỏng rồi.”

Tiếng nói của Lan cất lên êm ái, kéo Thành ra khỏi những luồng suy nghĩ miên man. Nàng khẽ vươn ngón tay thon thả, đầu ngón tay hơi ram ráp vì tước mây dán giấy, chạm nhẹ vào đầu ngón tay chàng để đỡ lấy thanh tre vừa gọt.

Chạm phải làn da mịn màng man mát của nàng, ngón tay Thành khẽ giật lùi lại nửa tấc theo bản năng cảnh giác. Nhưng rồi một luồng hơi ấm dịu ngọt, mơ hồ tựa như tơ vương lập tức truyền qua da thịt, thấm sâu vào huyết quản khiến trái tim chàng lỡ mất một nhịp. Thành thoáng bối rối, vội vàng buông lơi cán dao, ngẩng lên nở một nụ cười gượng gạo để xua đi sự bàng hoàng vừa thoáng qua trong lồng ngực:

“Ta sơ suất quá chăng? Ta cứ nghĩ nan càng chuốt mỏng thì chiếc đèn khi dựng lên sẽ càng nhẹ nhõm, thanh thoát.”

Lan khẽ lắc đầu, khóe môi khẽ cong lên thành một nụ cười phảng phất vẻ dịu dàng của bậc thầy truyền nghề:

“Khung đèn bát giác vốn dĩ không giống đèn củ tỏi, đèn quả trám hay đèn kéo quân của lũ trẻ chơi hội Trung thu. Bát giác là tượng trưng cho tám phương trời, tám hướng gió chướng gió nồm ngoài cửa biển. Tám thanh nan cái này chính là tám cột trụ chống trời của chiếc đèn, đòi hỏi phải chịu được sức căng dữ dội khi gió sông Hoài từ mặt nước thốc ngược lên. Nếu chàng chuốt quá mỏng ở phần thắt lưng eo, khi ta căng lụa tơ sống phết lớp hồ nếp nóng hổi lên, hơi ẩm và lực co rút của sợi tơ sẽ kéo vặn cả cái khung sang một bên. Đến khi đốt nến bên trong, ngọn lửa bị lệch tâm thì lụa ắt sẽ bén lửa bốc cháy ngay tức khắc. Làm đèn lồng, sai một ly là thành đống tro tàn.”

Thành chăm chú lắng nghe, ánh mắt dừng lại nơi bàn tay nhỏ nhắn của nàng đang nắn vuốt thanh nan một cách thành thục. Chàng khẽ gật đầu, buông một câu cảm thán từ đáy lòng:

“Nàng dạy chí phải. Ta quen thói dùng lực thô bạo, chỉ nghĩ đến cái mã bên ngoài mà quên mất cái cốt lõi bên trong. Xem ra cái đạo làm lồng đèn của Tô gia các người cũng uyên thâm, chặt chẽ chẳng kém gì cái đạo trị quốc yên dân của các bậc tiền hiền: cốt lõi phải cương trực, cứng cáp; biểu hiện phải mềm mại, khéo léo. Cương quá thì gãy, nhu quá thì hỏng việc.”

Lan đưa mắt nhìn chàng, ánh nến lung linh soi rõ tia nhìn sâu thẳm vừa tò mò vừa e ấp:

“Trần huynh lại nói lời của bậc quyền quý đọc vạn cuốn sách thánh hiền rồi. Cha con ta chỉ là hạng thảo dân nơi xóm thợ nghèo nàn, sớm tối quanh quẩn bên gốc tre, nồi hồ, chỉ mong uốn cho tròn cái vành, dán cho phẳng tấm lụa để đổi lấy vài bát gạo lức, mớ cá vụn đắp đổi qua ngày, nào dám mơ tưởng đến chuyện đạo lý trị quốc cao xa.”

Nói đoạn, Lan với tay sang chiếc mẹt tre đặt bên cạnh, nhấc lên một cuộn dây mây rừng dẻo quánh đã được ngâm kỹ trong nước vôi trong suốt ba ngày ba đêm để trừ mối mọt. Nàng rút ra một sợi mây chuốt mỏng manh như sợi chỉ, đặt hai đầu thanh nan bắt chéo vào nhau theo một góc chuẩn mực.

“Nhìn cho kỹ đây, Trần huynh.” Giọng nàng hạ thấp xuống, nghiêm cẩn và trang trọng đến lạ lùng. “Đây là nút thắt tam hoa móc trăng khuyết, ngón nghề độc môn của Tô gia do chính cha ta — ông Tô Văn Sâm — dày công sáng tạo, thuở sinh thời mẹ ta là bà Lê Thị Cẩm đã nắm rõ rồi truyền dạy lại cặn kẽ cho ta trước khi qua đời. Nhìn bề ngoài, nó chẳng khác gì mối buộc chữ thập đơn sơ mà phường thợ dán đèn nào ở phố Hội An này cũng làm được. Nhưng bí quyết nằm ở ba vòng siết lực.”

Nàng vừa nói, những ngón tay mềm mại thoăn thoắt lượn quanh mấu nối:

“Vòng thứ nhất quấn xuôi theo chiều kim đồng hồ, ấy là để định hình nan cái, ghì chặt hai thớ tre không cho xê dịch nửa phân. Vòng thứ hai siết ngược trở lại nửa vòng, luồn xuống dưới bụng nan tre để tạo thế khóa lực ngầm. Nhưng then chốt nhất là vòng thứ ba: phải bẻ gập mũi dây mây thành một góc vuông sắc lẹm, ấn giấu sâu vào trong rãnh xẻ bí mật của thanh cật tre đã hun khói, rồi mới miết hồ dán kín lại. Khi hoàn thành, kẻ ngoài nghề dù có lột lụa ra soi cũng chỉ thấy một vết hồ phẳng lì. Nhưng người trong nghề Tô gia, chỉ cần luồn ngón tay vào đáy lồng, lần theo sống tre là biết ngay chiếc đèn này do bàn tay ai dựng khung, cốt cách thuộc về dòng dõi nào.”

Thành nín thở theo dõi từng động tác của Lan. Lồng ngực chàng như có một tảng đá ngàn cân đè nặng, từng thớ thịt căng cứng. Nút thắt tam hoa móc trăng khuyết… Đúng là kết cấu này rồi!

Ký ức đêm hôm qua lập tức ùa về, rõ mồn một như vừa mới diễn ra. Dưới gầm cầu ván ẩm thấp, nhớp nhúa bùn lầy và rêu tanh của kho Trường Mộc, khi chàng liều mình lặn xuống dòng nước lạnh buốt để moi móc những manh mối đầu tiên về đường dây buôn lậu, chàng đã sờ thấy một thanh sạp tre gãy dạt vào chân cọc. Mảnh tre ấy dùng để bọc ngoài những kiện hàng trầm hương cấm, và nơi góc khung chịu lực của nó cũng mang đúng ba vòng dây mây xoắn siết, bẻ gập góc vuông ẩn vào rãnh tre hun khói y hệt như thế này! Một ngón nghề gia truyền của Tô gia, vốn tưởng đã chìm sâu vào quên lãng suốt mười hai năm sau cái chết oan khuất dưới đáy sông của bà thợ đèn Lê Thị Cẩm, nay lại tái hiện sờ sờ ngay trước mắt chàng.

Sợi dây mây nhỏ bé ấy không chỉ nối hai thanh tre mục, mà đang nối thẳng từ quá khứ đẫm máu mười hai năm trước đến vụ án buôn lậu kinh thiên động địa ngày hôm nay.

“Mỗi nút buộc nan tre không chỉ để giữ cho chiếc lồng đèn đứng vững trước phong ba bão táp,” tiếng Lan lại vang lên, đều đặn và êm đềm, kéo chàng trở về thực tại. Nàng ngẩng mặt lên nhìn chàng, đôi mắt long lanh phản chiếu đốm lửa bập bùng. “Nó còn là thứ tiếng nói câm lặng để người ta gửi gắm những điều không thể cất thành lời. Nếu chàng muốn dùng lồng đèn làm công cụ truyền tin qua mắt lũ lính tuần, thì nan tre chính là xương cốt của mật lệnh, còn màu lụa và nét mực bên ngoài chỉ là tấm áo che mắt thế gian.”

Thành thu lại vẻ bàng hoàng, chàng nuốt khan một ngụm nước bọt để lấy lại sự trấn tĩnh. Đặt con dao bài sang một bên, chàng dịch người lại gần nàng hơn, hạ giọng thì thầm, hơi thở ấm nóng phả nhẹ vào lọn tóc mai buông lơi của nàng:

“Nàng liệu tính rất sâu sắc. Mạng lưới buôn lậu của bọn chúng không chỉ là vài ba phường buôn lặt vặt ven sông, mà tai mắt của chúng giăng khắp từ cửa biển Cửa Đại, ngược dòng Thu Bồn lên tận các thương quán lớn nhỏ, thậm chí cắm sâu vào nội bộ Thương Chánh Ty. Bất kỳ một lá mật thư nào bằng giấy mực thông thường, hay bất kỳ một bóng người nào lén lút qua lại bến sông đêm hôm đều có thể bị lính tuần của họ Trần tóm gọn, chuốc lấy họa sát thân. Chiếc lồng đèn treo trước hiên nhà, trên mui thuyền hay trước cửa hiệu buôn chính là thứ bình phong hoàn hảo nhất. Ngay cả khi rơi vào tay viên quan kiểm dịch khắt khe nhất, chúng cũng chỉ nghĩ đó là vật phẩm ngoạn cảnh thanh tao của khách tài tử giai nhân.”

Hai người chụm đầu lại trên chiếc bàn gỗ mít nhỏ thó. Ánh sáng vàng cam ấm áp bao bọc lấy hai gương mặt trẻ tuổi, in hai chiếc bóng quấn quýt lên vách đất. Giữa đêm khuya thanh vắng chỉ có tiếng gió rít qua rặng dừa nước xa xa, một hệ thống mật mã tinh vi bắt đầu được vạch ra qua từng chi tiết của nghề làm đèn cổ truyền:

“Trước hết là màu sắc của lụa dán ngoài khung đèn,” Lan chấm đầu ngón tay trỏ vào bát nước trà xanh đã nguội ngắt trên bàn, cẩn thận vẽ từng vòng tròn tượng trưng lên mặt gỗ láng bóng. “Thương cảng Hội An này là nơi tụ hội của trăm tàu nghìn thuyền, buôn bán đủ thứ gấm vóc lụa là từ khắp bốn phương trời. Ta sẽ dùng chính những sắc lụa quen thuộc của các phường buôn để phân định nguồn gốc tàu hàng lậu.”

Nàng chỉ vào vệt nước đầu tiên:

“Lụa màu cánh gián, bóng bẩy và sẫm tối, đó là ám hiệu của các thuyền buôn đến từ các hải bang Phúc Kiến, Triều Châu; lụa màu vàng mỡ gà óng ả chỉ thuyền ghe bầu chở hàng thổ sản từ Đàng Ngoài vượt hải trình cập bến lén lút; lụa màu lam khói mỏng manh tựa sương mai chỉ những chiếc thuyền buồm đáy nhọn của thương nhân Tây dương đang buông neo ngoài khơi Cửa Đại chờ thuyền nhỏ ra sang hàng; còn nếu là lụa màu đỏ thắm rực rỡ dệt hoa chìm… đó là thuyền riêng của tầng lớp quyền quý Đàng Trong, chở hàng lậu dưới danh nghĩa công vụ triều đình mà không quan binh nào dám khám xét.”

Thành gật đầu lia lịa, ánh mắt sắc sảo của một viên quan coi việc hình án lóe lên những toan tính chuẩn xác:

“Rất chặt chẽ. Kẻ buôn vải nhìn vào chỉ thấy màu sắc hàng hóa, kẻ ngoạn cảnh chỉ thấy sự phong phú của phố phường, tuyệt nhiên không ai nghi ngờ. Nhưng còn thời điểm xuất bến và con nước triều lên xuống thì sao? Hàng lậu muốn cập kho Trường Mộc buộc phải nương theo con nước cường để thuyền áp sát mép ván sàn ngầm, nàng định biểu thị bằng cách nào?”

Lan mỉm cười, nụ cười ẩn chứa nét kiêu hãnh của một người thợ nắm giữ mọi bí mật của nan tre:

“Dựa vào số lượng nan tre phụ trợ cắm ở đáy lồng đèn. Khung đèn bát giác luôn có tám nan chính cố định, tượng trưng cho tám góc chịu lực. Nhưng khoảng cách giữa các nan chính, người thợ có thể chêm thêm các thanh nan phụ nhỏ mảnh bằng nửa cọng tăm để căng phẳng mặt giấy bản lót lụa. Số lượng nan tre phụ cắm ngầm vào vòng đáy lồng sẽ chính là ngày con nước. Ba nan phụ là ngày mồng ba nước ròng; mười lăm nan phụ là đêm trăng rằm nước cường cuồn cuộn; hai mươi nan phụ là ngày con nước chết, thuyền bè khó bề di chuyển. Chỉ cần cầm chiếc đèn lên xoay nhẹ đáy, đếm số nan tre phụ là biết đích xác ngày giờ hàng lậu vào bến.”

“Thế còn vị trí bốc dỡ?” Thành cau mày, ngón tay vô thức gõ nhẹ lên mặt bàn gỗ theo nhịp thở. “Sông Hoài từ bến đá Hội quán Triều Châu xuôi về đến cồn cát Cẩm Phô dài hàng mấy dặm, có đến hàng trăm cây cầu ván, ngách lạch và kho bãi ngầm của các bang hội. Làm sao để chỉ điểm đích xác nơi lũ gian thương dỡ trầm hương mà không cần dùng đến bản đồ hay bút tích rõ ràng?”

Lan đưa mắt nhìn thẳng vào Thành, trong đôi mắt phượng trong veo ấy ánh lên vẻ thông tuệ hiếm có:

“Dùng các câu đối và thơ cổ phong viết trên mặt lụa. Khách chơi đèn ở phố Hội đêm rằm vốn chuộng những chiếc đèn bát giác đề thơ vịnh cảnh. Họ thích treo trước hiên nhà những vần thơ tao nhã để khoe nét chữ của thầy đồ hay tài thưởng ngoạn thi phú. Ta sẽ viết những bài thơ tứ tuyệt hoặc những câu đối thất ngôn tưởng như chỉ là ca ngợi trăng nước sông Hoài, gió mát đầm sen. Nhưng ta sẽ dùng thể thơ ẩn đầu giấu đuôi — chữ đầu tiên của mỗi câu thơ, hoặc chữ cuối cùng gieo vần, khi ghép lại theo thứ tự từ góc đông sang góc tây của tám mặt đèn, sẽ tạo thành tên của địa danh bốc dỡ.”

Nàng khẽ ngâm nga, ngón tay mềm lướt trên mặt bàn:

“Ví như chữ ‘Đình’ ghép với chữ ‘Mộc’ sẽ chỉ đích danh bến kho Trường Mộc; chữ ‘Cầu’ đi liền với chữ ‘Thạch’ là nhắm vào mố đá chân Chùa Cầu; chữ ‘Hải’ đi với ‘Phố’ là bến cảng thuyền buôn ngoại quốc. Kẻ dung tục hay đám lính tuần tra học đòi chữ nghĩa nhìn vào chỉ thấy những dòng thơ xướng họa mượt mà, nhưng người nắm được chìa khóa quy ước sẽ đọc ra ngay vị trí tử huyệt của đường dây buôn lậu.”

Thành lặng người đi, nhìn chăm chú vào gương mặt thanh tú của Lan dưới ánh nến chập chờn. Từng đường nét trên khuôn mặt nàng — từ bờ môi mềm mại, sống mũi thon thả cho đến ánh mắt cương nghị — đều toát lên một vẻ đẹp trí tuệ và can trường phi thường. Nàng không giống những tiểu thư khuê các chốn dinh thự mà chàng từng gặp, những người chỉ biết nép mình sau rèm the, suốt ngày lo âu chuyện son phấn, thêu thùa và cúi đầu vâng dạ trước mọi sự sắp đặt của phụ mẫu. Lan như một nhành phong lan rừng bám chặt vào vách đá cheo leo giữa ngọn sóng gió sông Hoài, dẫu bão dập sóng vùi vẫn vươn mình tỏa hương thơm ngát và kiêu hãnh.

Một thoáng rung động mãnh liệt tựa như sóng triều dâng lên cuộn trào trong lồng ngực Thành. Chàng muốn vươn tay ra, ôm lấy bờ vai gầy guộc kia vào lòng để chở che cho bao nỗi nhọc nhằn, cay đắng mà nàng đã phải gánh chịu suốt mười hai năm mồ côi mẹ. Chàng muốn trút bỏ toàn bộ gánh nặng dối trá trên vai, nói hết cho nàng nghe rằng chàng không phải là gã thư sinh hàn vi Trần Minh nào cả, mà chính là Nguyễn Hữu Thành — công tử của dinh Cai bạ, phán quan trẻ tuổi của nha môn Thương Chánh Ty. Chàng muốn nói cho nàng nghe nỗi dằn vặt xé nát tâm can chàng khi lần mò theo dấu vết vụ án buôn lậu mà lại chạm phải chính những vết tích của người cha tôn kính.

Nhưng rồi, hiện thực lạnh lẽo như một nhát dao tàn nhẫn chém đứt dòng cảm xúc vừa chớm nở. Hôn ước chính trị được định đoạt từ thuở ấu thơ giữa chàng và Trần Ngọc Khuê — ái nữ của dòng họ Trần quyền thế đang thao túng cả phố Hội; màng lưới quyền lực nhơ bẩn đang bủa vây quanh chiếc ghế Cai bạ của phụ thân chàng; và trên hết, mối thù máu mười hai năm trước của mẹ Lan… Nếu nàng biết chàng chính là con trai ruột của Nguyễn Hữu Chính — vị quan cai quản nha thương chánh từng ký vào văn bản kết án mẹ nàng tội danh ‘trộm cắp rồi ngã nước chết trôi’ — liệu đôi mắt trong veo chan chứa niềm tin cậy này có biến thành ngọn lửa hận thù thiêu đốt cả hai người?

Thành siết chặt hai bàn tay giấu dưới vạt áo nâu, móng tay găm sâu vào da thịt đau điếng để kéo mình về với sự tỉnh táo tàn nhẫn. Chàng nén một tiếng thở dài thảng thốt vào tận đáy lòng, ngước nhìn nàng, giọng khàn đặc:

“Được… Mọi quy ước coi như đã định. Sáng sớm mai, ta sẽ ra bến sông một chuyến để dò la thêm tin tức về các toán thuyền sắp cập bến.”

***

Tờ mờ sáng hôm sau, cả phố Hội chìm trong một màn sương mù dày đặc và ẩm ướt như chậu sữa vơi ngập tràn từ lòng sông Hoài bốc lên. Màn sương phủ kín những mái ngói âm dương rêu phong xám xịt, quấn lấy những ngọn cây mù u cổ thụ và làm mờ mịt cả những cột cờ hiệu trên nóc các thương quán. Tiếng tù và bằng sừng trâu từ trạm tuần tra cửa sông rúc lên từng hồi khô khốc, đùng đục, vọng qua mặt nước phẳng lặng như tờ, báo hiệu một ngày mới của chốn thương trường đầy toan tính.

Thành khoác trên mình chiếc áo tơi lá cọ dập nát, đầu đội chiếc nón lá rách bươm sụp xuống che khuất nửa khuôn mặt. Chàng lê từng bước chân nặng nề, lẹp xẹp lội qua lớp bùn lầy nhão nhoét của triền đê đất dẫn ra bến khuân vác kho Trường Mộc.

Nơi đây, cảnh tượng sinh nhai đã bắt đầu nhộn nhịp từ khi gà chưa gáy rộ. Hàng trăm phu bến mình trần trùng trục, nước da đen nhánh bóng nhẫy vì dầm mưa dãi nắng và mồ hôi muối, đang oằn mình cõng những bao đường cát Quảng Nam nặng trĩu, những kiện hồ tiêu cay nồng và hàng dãy chum vại gốm sứ Thanh Hà từ khoang những chiếc ghe bầu đáy lớn lên bờ. Tiếng thở dốc phì phò như kéo bễ, tiếng đòn gánh kẽo kẹt nghiến trên những bờ vai trơ xương, tiếng chửi thề tục tằn của đám cai đội và tiếng roi mây vun vút quất vào không khí tạo nên một bức tranh sinh hoạt nhọc nhằn, khốc liệt của tầng lớp cùng đinh.

Thành dừng chân bên cạnh một gốc mù u già gân guốc mọc sát mép nước, nơi có những chiếc cọc gỗ buộc thuyền cắm sâu vào lòng bùn đen. Đôi mắt sắc bén dưới vành nón lá đảo qua dòng người đang hối hả qua lại, rồi nhanh chóng dừng lại ở một bóng dáng gầy gò, một bên chân hơi khập khiễng đang lầm lũi vác một thanh gỗ thông dài quá khổ.

Đó là Bảy Đờn. Một phu bến già cỗi đã gắn trọn đời mình với từng tấc đất, ngọn sóng nơi bến sông này. Năm ngoái, đứa con trai độc nhất của ông lão đi làm thuê bị đám sai nha vu cho tội trộm một cây lụa quý trong kho của họ Trần, bị tống giam vào ngục tối chờ ngày chịu cực hình khảo đả. Chính Thành, khi ấy bí mật tiếp cận hồ sơ ở nha môn, đã phát hiện ra sự giả mạo trong biên bản lời khai của viên lại dịch biến chất, âm thầm ép hắn phải thả đứa trẻ ra mà không để lộ danh tính thực của mình. Ơn cứu mạng đứa con nối dõi ấy, Bảy Đờn khắc cốt ghi tâm, từng dập đầu thề thốt trước mặt chàng rằng dù có phải nhảy vào vạc dầu sôi hay gãy xương nát thịt cũng sẵn lòng đền đáp.

Chờ cho người phu bến già đặt thanh gỗ xuống bờ đất, ngồi bệt xuống một tảng đá rêu nghỉ chân lau mồ hôi trán, Thành lẳng lặng tiến lại gần. Chàng vờ cúi xuống nhặt một đoạn dây chão đay đứt vương vãi dưới chân ông lão, cất giọng trầm thấp nhưng rõ ràng:

“Bác Bảy, mẻ chè xanh sáng nay ở quán đầu cầu đắng hay ngọt?”

Bảy Đờn giật thót mình, cả người run lên như bị điện giật. Ông lão theo phản xạ quay phắt đầu lại. Dưới vành nón lá rách rưới, dù Thành đã cẩn thận bôi một lớp tro bếp trộn bùn mỏng làm sạm đi nước da trắng trẻo của bậc công tử phong lưu, nhưng đôi mắt sáng ngời như sao đêm và khí độ thanh tú phi thường của chàng thì không lớp tro nào che giấu nổi.

“Đại… Đại công tử…” Bảy Đờn lắp bắp, đôi môi thâm sì run rẩy, hai đầu gối nhũn ra toan sụp lạy xuống đất.

Bàn tay Thành nhanh như cắt thò ra khỏi vạt áo tơi, nắm chặt lấy khuỷu tay ông lão với một lực đạo rắn như kềm sắt, kéo giật ông đứng thẳng dậy:

“Đừng để lộ hành tung! Cứ tự nhiên như đang phụ ta sửa lại dây buộc hàng.”

Bảy Đờn nuốt nước bọt đánh ực một cái, tròng mắt láo liên liếc nhìn quanh quất. Cách đó chừng hai chục bước chân, ba tên giám thị kho bãi của họ Trần, tay cầm gậy bọc đồng, hông đeo đao ngắn, đang đứng chống nạnh quát tháo đám phu thuyền. Ông lão ghé sát tai Thành, thì thầm qua kẽ răng run rẩy:

“Trời phật ơi, công tử… người làm cái gì ở cái chốn bùn lầy hôi tanh, toàn quân đao búa này thế này? Nguy hiểm lắm! Đám tay chân của quản sự Võ Bá đang lùng sục rát mặt ngoài bến mấy hôm nay. Chúng nó đánh hơi thấy có kẻ rình rập quanh kho Trường Mộc đêm rằm đấy!”

“Ta đến đây vì chuyện đó,” giọng Thành đanh lại, lạnh lùng và dứt khoát. “Đêm rằm vừa qua, khi sương xuống dày nhất lúc nửa đêm… các kiện hàng dỡ vào kho Trường Mộc, bác có tham gia bốc dỡ không?”

Sắc mặt Bảy Đờn lập tức biến đổi, cắt không còn giọt máu. Đôi bàn tay nứt nẻ, cáu bẩn vì bụi than và bùn đất của ông lão bấu chặt vào mép chiếc áo tơi mục, run lên bần bật:

“Công tử… người… xin người đừng hỏi đến chuyện đó nữa! Đụng vào mối hàng đó là rụng đầu như chơi đấy ạ! Đám phu bốc dỡ đêm ấy đều bị quản sự Võ Bá bắt uống máu ăn thề, đứa nào hé răng nửa lời là cả nhà bị dìm xuống đáy sông Hoài làm mồi cho cá ngay lập tức!”

“Bác biết rõ ta là ai, và ta dấn thân vào chốn hiểm nguy này là vì lẽ gì,” Thành gằn từng tiếng, ánh mắt rực lên uy lực bức người của một bậc quan án khiến người đối diện không thể dối lừa. “Có phải toàn bộ các kiện hàng trầm hương cấm dỡ xuống đêm đó đều được chuyển thẳng qua sàn kép, giấu vào gian hầm ngầm sát mép nước mà lính tuần tra thương chánh tuyệt nhiên không hề chạm tới?”

Bảy Đờn nhìn sâu vào ánh mắt kiên định không hề lay chuyển của Thành, lồng ngực phập phồng nghẹn ứ. Cuối cùng, ông lão buông một tiếng thở dài cay đắng, khẽ gật đầu, giọng run run:

“Phải… Đêm rằm đó, chính tay con và thằng Lượn vác hai kiện trầm bọc kín trong sạp tre hun khói. Toàn là gỗ mục ngâm dầu đen nhánh, thơm nhức cả mũi, ngửi một lúc là say lử đò. Chúng nó chuyển thẳng xuống hầm ngầm dưới sàn ván gõ… Nhưng công tử ơi, bọn chúng lộng hành như thế không phải vì trốn tránh được lính tuần đâu!”

Thành cau mày, siết chặt cánh tay ông lão:

“Ý bác là sao?”

Bảy Đờn ghé sát vào tai chàng hơn nữa, giọng thì thào chỉ đủ cho hai người nghe thấy giữa tiếng sóng vỗ ì ầm:

“Bọn chúng không hề sợ lính tuần! Đêm đó, toán lính tuần tra đường thủy của Mai đội trưởng chèo thuyền áp sát cầu ván, giáo mác sáng loáng toan xông lên khám xét. Nhưng viên quản sự Võ Bá chỉ đứng trên bờ cười khẩy. Hắn chẳng thèm hối lộ một đồng kẽm nào, chỉ giơ ra một tấm thẻ gỗ thị sơn đỏ au, dán ngay trên miệng kiện hàng. Trên tấm thẻ ấy đóng con dấu đỏ chót của Thương Chánh Ty Triện, lại có cả mấy dòng thủ bút bằng mực son tươi rói của chính… của chính Cai bạ đại nhân!”

Một cơn đau buốt nhói buốt chạy dọc sống lưng Thành, khiến chàng sững sờ như bị sét đánh ngang tai. Bàn tay đang giữ khuỷu tay Bảy Đờn vô thức buông lỏng ra.

Tấm thẻ niêm phong bằng gỗ thị đỏ… Dấu triện của Thương Chánh Ty… Và thủ bút bằng mực son của chính cha chàng — quan Cai bạ Nguyễn Hữu Chính!

Lời xác nhận mộc mạc nhưng chắc như đinh đóng cột của người phu bến nghèo khổ như một nhát búa tạ giáng thẳng vào tòa thành trì niềm tin mà Thành đã dày công gìn giữ suốt bao năm qua. Phụ thân chàng — người luôn ngồi uy nghiêm trên công đường giảng giải cho chàng về đức thanh liêm, về phép nước vô tư, về sự trong sạch của dòng dõi Nguyễn tộc — rốt cuộc là ai trong tấn bi kịch này? Ông là kẻ chủ mưu đứng sau giật dây toàn bộ đường dây buôn lậu trầm hương xuyên quốc gia này để vinh thân phì gia, hay chính bàn tay và con dấu của ông đã bị quyền lực họ Trần thao túng, biến thành tấm bình phong che chắn cho tội ác?

Thành nghiến chặt răng, cố nén cơn chấn động đang gào thét trong lồng ngực, lạnh lùng hỏi tiếp:

“Sau khi dỡ hàng xong, tấm thẻ niêm phong đỏ ấy đi đâu? Bác có nhìn thấy chúng cất giữ ở đâu không?”

Bảy Đờn lắc đầu quầy quậy:

“Dỡ xong kiện nào, quản sự Võ Bá đích thân dùng kìm nhổ đinh sắt, thu lại từng tấm thẻ gỗ đỏ ấy, đếm đi đếm lại đủ mười hai tấm rồi cất kỹ vào một chiếc hộp sắt có khóa đồng mang theo bên mình. Con có nghe lỏm được hắn nói nhỏ với tên phó quản sự rằng, số thẻ này sáng sớm hôm sau phải chuyển gấp ngược về nha môn theo ngõ sau, để các quan chấp sự làm thủ tục khống vào sổ sách lưu kho…”

“Ta hiểu rồi.” Thành thở hắt ra một hơi dài lạnh buốt. Chàng thò tay vào trong vạt áo tơi, rút ra một thỏi bạc vụn nhét nhanh vào túi áo rách của Bảy Đờn. “Bác cầm lấy số bạc này, đưa gia quyến lánh tạm về vùng quê Đại Lộc vài hôm. Tuyệt đối ngậm miệng, không được để lộ với bất kỳ ai rằng bác đã gặp ta sáng nay.”

Không đợi Bảy Đờn kịp tạ ơn, Thành đã kéo sụp vành nón lá, quay ngoắt người bước nhanh thoăn thoắt về phía con đường đất đỏ, hòa lẫn vào dòng người buôn bán tấp nập, để lại sau lưng mùi bùn tanh nồng và tiếng sóng sông Hoài vỗ bờ cuộn xiết.

***

Đến trưa, mặt trời đã lên cao quá đỉnh đầu nhưng không gian phố Hội vẫn mờ mịt một sắc vàng đùng đục vì lớp sương muối chưa tan hết. Những ngôi nhà rêu phong mái ngói cong vút đứng trầm mặc dọc hai bên bờ kênh nhỏ, soi bóng xuống dòng nước đen thẫm lững lờ trôi.

Chùa Cầu sừng sững bắc ngang qua con lạch nối liền khu phố của người Hoa và khu định cư của người Việt, Nhật. Dưới mái ngòm bằng gỗ lim đen bóng chạm khắc hình rồng cuộn mây lượn, không khí u tịch và tĩnh mịch đến lạnh người. Mùi khói hương trầm ngào ngạt bốc lên từ gian thờ Bắc Đế Trấn Vũ quyện chặt với mùi gỗ mục và ẩm mốc của dòng kênh bên dưới.

Thành cởi bỏ chiếc áo tơi lá cọ, giấu nón rách, chỉ mặc bộ áo dài vải thô đơn sơ, đứng tựa lưng vào bao lơn gỗ mun râm mát ở gian giữa cầu. Chàng đưa mắt lơ đãng nhìn xuống dòng nước đen bên dưới, nơi vài chiếc thuyền nan chở rau củ đang chậm chạp luồn qua vòm cầu đá.

Tiếng bước chân gõ nhẹ nhàng, đều đặn trên mặt sàn ván gỗ lim vang lên từ phía đầu cầu Cẩm Phô. Một bóng người gầy guộc, mặc áo dài the đen may đúng quy củ của giới lại dịch công đường, tay cầm một xấp công văn bọc vải điều và chiếc quạt giấy phe phẩy chậm rãi tiến lại gần.

Đó là Phan Đình Khiêm — viên thư lại kỳ cựu đã phụng sự tại Thương Chánh Ty trải qua ba đời quan Cai bạ. Cả cái đất Hội An này, từ quan trên cho đến đám lái buôn lọc lõi, ai cũng biết tiếng họ Phan là kẻ gàn dở, cứng nhắc như thanh sắt nguội, cả đời chỉ biết tin vào giấy trắng mực đen và những điều lệ ghi trong luật thư triều đình, tuyệt đối không màng bổng lộc hay luồn cúi trước bất kỳ thế lực nào.

Không cần quay đầu lại, Thành cất giọng trầm thấp, lẫn vào tiếng chuông gió treo dưới mái Chùa Cầu:

“Phan tiên sinh, dấu niêm phong đỏ trên các kiện trầm lậu ở kho Trường Mộc đêm rằm quả thực mang đúng khuôn dấu Thương Chánh Ty Triện và thủ bút mực son của phụ thân ta.”

Phan Đình Khiêm dừng bước bên cạnh Thành, cũng đặt hai tay lên bao lơn gỗ mun, mắt nhìn xa xăm ra khoảng trời mờ sương nơi ngã ba sông:

“Hữu Thành, cậu là người thông minh đĩnh ngộ, nhưng trong chuyện này, cậu quá nóng vội rồi.”

Giọng vị thư lại già khô khốc, chậm rãi tựa như tiếng bánh xe bò nghiến trên đường sỏi:

“Chốn quan trường nơi cửa khẩu thương cảng này là cái vũng lầy sâu không đáy. Mắt thấy chưa chắc đã là thực, tai nghe càng chưa thể vội tin. Một tấm thẻ gỗ thị, một vệt son đỏ chót, thậm chí một nét chữ ký mang hình rồng phượng… ở cái đất này, chỉ cần mười lạng bạc và một tay thợ khéo léo nơi phố khách là có thể làm giả giống đến mười phần, không sai một nét mác nét phẩy.”

Thành quay phắt người lại, ánh mắt sắc lẹm nhìn thẳng vào gương mặt già nua đầy những nếp nhăn hằn sâu của Phan Đình Khiêm:

“Ý tiên sinh là có kẻ đã cả gan khắc giả ấn triện của nha môn, giả mạo thủ bút của phụ thân ta để thông đồng với họ Trần buôn hàng cấm?”

“Ta không khẳng định bất cứ điều gì khi trong tay chưa nắm chắc chứng cứ vật chất,” Phan Đình Khiêm khẽ cụp chiếc quạt giấy lại, gõ nhẹ đầu quạt lên mặt gỗ bao lơn theo từng nhịp dứt khoát. “Hữu Thành, cậu là kẻ học hình án, cậu phải nhớ lấy nguyên tắc sắt đá này của chốn công đường: Muốn vạch trần một đường dây thao túng cả thương cảng, muốn lật đổ một thế gia vọng tộc hay phế truất một vị quan cai quản đương triều, cậu tuyệt đối không thể dựa vào một tấm thẻ gỗ trôi nổi nhặt được dưới bến sông, hay vài lời khai run rẩy của đám phu phen thấp cổ bé họng.”

Vị thư lại già xoay hẳn người sang, đôi mắt sâu hoắm lóe lên tia nhìn sắc lẹm như lưỡi dao trổ:

“Cậu cần hai điều kiện không thể lay chuyển: Thứ nhất, bằng chứng văn tự gốc rút ra từ chính cuốn sổ thuế mật lưu trữ trong mật khố của nha môn — nơi ghi nhận đối chiếu giữa số lượng hàng hóa thực tế cập bến với số thuế thực thu nộp về quốc khố. Thứ hai, lời khai chứng thực từ hai nguồn hoàn toàn độc lập, không hề quen biết nhau và không có cùng một mối lợi ích. Thiếu một trong hai điều đó, mọi hành động của cậu lúc này chỉ là trò ấu trĩ của kẻ múa rìu qua mắt thợ, không những không rửa sạch được oan khuất mà còn rước lấy thảm họa diệt môn cho cả Nguyễn tộc!”

Thành siết chặt nắm đấm, các khớp ngón tay kêu lên răng rắc:

“Sổ thuế gốc… Nhưng mật khố của nha môn canh phòng cẩn mật cấm cẩn, hai tầng khóa sắt, chìa khóa do chính phụ thân ta đeo bên mình, còn chìa phụ do viên chấp sự trưởng của họ Trần nắm giữ. Đến một con muỗi bay qua còn phải có giấy thông hành, làm sao ta có thể lọt vào đó mà đối chiếu sổ sách?”

Phan Đình Khiêm khẽ thở dài một tiếng, ánh mắt chùng xuống, lộ rõ vẻ mệt mỏi và cay đắng của một kẻ đã chứng kiến quá nhiều điều nhơ bẩn suốt nửa đời người:

“Khó… nhưng không phải là không có kẽ hở. Mười hai năm trước…”

Vị thư lại già ngập ngừng, hạ thấp giọng xuống mức tối đa, chỉ đủ để hai người nghe thấy giữa tiếng nước róc rách dưới vòm cầu đá:

“Mười hai năm trước, hồ sơ thuế về những chuyến thuyền buôn chở trầm hương thượng hạng xuất bến Cửa Đại đi Quảng Đông cũng từng bị kẻ nào đó lẻn vào mật khố, xé mất ba trang giấy bản định mệnh. Sau đó, chúng phết hồ dán thay thế vào đó ba trang giấy mới toanh, ghi chép số liệu khống bằng mực tàu giả mạo. Cùng vào đúng cái đêm ba trang sổ thuế ấy bị xé đi, một người đàn bà thợ làm đèn tài hoa bậc nhất của Tô gia đã bị dồn lên chiếc thuyền bị bẻ gãy chốt lái, đẩy thẳng vào dòng nước xiết cuộn xoáy nơi cửa sông, rồi toàn bộ vụ việc được dàn dựng khép lại bằng kết luận ‘trộm cắp tang vật rồi sơ sẩy ngã nước chết trôi’. Cậu có hiểu những lời ta đang nói nghĩa là gì không, Hữu Thành?”

Trái tim Thành đập thình thịch như trống trận dồn dập trong lồng ngực. Máu trong người chàng như sôi lên sùng sục. Mười hai năm trước… Ba trang sổ thuế bị xé… Và cái chết bi thảm của mẹ Lan!

Mối liên hệ kinh hoàng ấy bấy lâu nay chỉ là những mảnh ghép rời rạc, mờ ảo trong tâm trí chàng, nay qua lời vạch trần của Phan Đình Khiêm bỗng chốc hiện rõ mồn một như một bức tranh đẫm máu. Hóa ra, bánh xe tội ác của đường dây này đã nghiền nát Tô gia từ hơn một thập kỷ trước. Và cha chàng — quan Cai bạ Nguyễn Hữu Chính — người tiếp quản chiếc ghế cai quản nha môn ngay sau thời điểm vụ án ấy xảy ra, đã đóng vai trò gì? Ông là nạn nhân bị che mắt, hay chính ông là kẻ đã chấp nhận nhắm mắt làm ngơ, ký vào bản án khép lại cái chết của người đàn bà vô tội ấy để đổi lấy sự ủng hộ của thế lực họ Trần cho chiếc ghế quyền lực của mình?

“Phan tiên sinh!” Thành nắm chặt lấy tay áo thụng của vị thư lại già, hơi thở dồn dập. “Người biết rõ ai là kẻ đã ra lệnh xé ba trang sổ năm xưa đúng không? Kẻ đó… có phải là…”

Phan Đình Khiêm gạt tay Thành ra, đôi mắt cụp xuống, khôi phục lại vẻ lạnh lùng, vô cảm thường ngày:

“Ta chỉ là một viên thư lại mọn coi sóc giấy tờ cũ kỹ. Ta không nói bừa khi chưa có đủ chứng cứ trong tay. Nếu cậu muốn tìm lại công lý cho kẻ khác, và muốn cứu lấy chút thanh danh còn lại của phụ thân cậu, hãy hành động bằng cái đầu lạnh của một vị phán quan am hiểu luật pháp. Đừng để sự bốc đồng và men say của thói si tình làm mờ mắt. Bước sai một bước, vạn kiếp bất phục!”

Nói dứt lời, vị thư lại già chắp tay sau lưng, cầm chiếc quạt giấy phe phẩy, thong thả cất bước đi về phía đầu cầu bên kia, để lại Thành đứng chôn chân giữa bóng tối u tịch của Chùa Cầu, tâm can cuộn trào ngàn đợt sóng dữ.

***

Hoàng hôn buông xuống, nhuộm đỏ ối cả một khúc sông Hoài êm ả. Ánh tà dương rực rỡ như rải một lớp vàng ròng lấp lánh lên mặt nước gợn sóng, xuyên qua những khe liếp đan bằng tre của xưởng đèn Tô gia, hắt lên nền đất nện những vệt sáng dài màu hổ phách ấm áp.

Bên trong gian xưởng vắng lặng, chỉ còn lại tiếng vo ve của vài chú ong mật bay lạc và tiếng kéo bấm lách cách đều đặn.

Lan đang cẩn thận dùng chiếc kéo con bằng sắt uốn tỉa tót những sợi chỉ thừa cuối cùng trên viền khung chiếc lồng đèn bát giác. Sau một đêm thức trắng cùng trọn một ngày ròng miệt mài gọt nan, ngâm mây, căng lụa và phết hồ, chiếc đèn đầu tiên do chính tay nàng và Thành cùng nhau chế tác đã chính thức hoàn thành.

Đó là một tuyệt phẩm của sự tài hoa và tinh tế. Tám mặt đèn được bọc bằng thứ lụa tơ tằm dệt tay màu vàng trăng non mịn màng, thanh khiết như ánh trăng rằm đầu thu. Khung tre hun khói màu nâu bóng bẩy, tám nan cái đứng thẳng tắp, vững chãi chịu lực mà vẫn toát lên vẻ thanh thoát, nhẹ nhàng lạ kỳ.

Bên trên bốn mặt chính của chiếc đèn lồng, Lan đã dùng ngọn bút lông thỏ hảo hạng chấm mực tàu đen láy, nắn nót viết lên một bài thơ tứ tuyệt cổ phong bằng nét chữ chân phương, mềm mại nhưng ẩn chứa cốt cách thanh cao:

*“Hoài giang dạ tĩnh nguyệt trầm thanh,* *Đình thụ phong xuy lãng bất bình.* *Mộc ảnh u u tiêu sắt xứ,* *Hương phiêu vạn lý đáo phù kinh.”*

*(Sông Hoài đêm vắng trăng lặn tiếng,* *Cây đình gió thổi sóng chẳng bình.* *Bóng gỗ mịt mù nơi hiu hắt,* *Mùi hương bay vạn dặm đến phù kinh.)*

Bốn chữ đầu tiên của bốn câu thơ — “Hoài”, “Đình”, “Mộc”, “Hương” — khi đọc xuôi theo quy ước giấu đầu hở đuôi mà hai người đã định ra đêm qua, chính là ám chỉ kho Trường Mộc bên dòng sông Hoài, nơi bóng tối đang che đậy những kiện trầm hương ngút ngàn tội lỗi. Kẻ ngoài nhìn vào chỉ thấy một khúc vịnh cảnh sông nước u uất của khách tha hương, nhưng với những người trong cuộc, đó là một mũi tên chỉ thẳng vào tim lũ buôn lậu.

Nghe tiếng bước chân quen thuộc dừng lại nơi bậu cửa gỗ, Lan ngẩng đầu lên. Nhìn thấy bóng dáng dong dỏng cao của Thành đang đứng lặng nơi ngưỡng cửa dưới ánh hoàng hôn nhập nhoạng, đôi mắt nàng bỗng sáng bừng lên. Nụ cười rạng rỡ nở trên môi nàng, tươi tắn như đóa hoa quỳnh nở muộn giữa đêm sương:

“Trần huynh, chàng đã về rồi.”

Thành đứng lặng đi nơi bậu cửa, nhìn ngắm nụ cười thuần khiết không một gợn bụi trần của nàng mà trái tim chàng như bị một bàn tay vô hình bóp nghẹt. Nàng đón chàng bằng tất cả sự tin cậy, ngọt ngào và hy vọng của một người con gái trao trọn tấm lòng. Nàng hoàn toàn không biết rằng chàng chính là con trai của kẻ có thể đã bức tử mẹ nàng, là người mang trên mình dòng máu của gia tộc đang bị bóng đen tội lỗi bủa vây. Tình cảm ấm áp, thiêng liêng đang nảy nở giữa hai người liệu có chịu nổi sức nặng của sự thật tàn khốc khi mọi bức màn bí mật bị xé toạc?

“Lan muội… chiếc đèn… đã làm xong rồi sao?” Thành bước chầm chậm lại gần chiếc bàn gỗ, cố ép giọng mình giữ được vẻ bình thản thường ngày.

“Xong rồi.” Lan nâng chiếc đèn lồng bát giác lên bằng cả hai tay, trân trọng đưa về phía chàng. Ánh hoàng hôn vàng óng xuyên qua lớp lụa tơ tằm mỏng manh, hắt lên gương mặt ửng hồng e ấp của nàng một quầng sáng lung linh huyền ảo. “Đây là chiếc đèn đầu tiên ta tự tay chuốt nan, căng lụa và đề thơ tặng riêng cho chàng. Hãy giữ lấy nó bên mình.”

Thành run rẩy đưa hai tay đón lấy chiếc đèn lồng. Chiếc đèn nhẹ bẫng tựa như một cánh hoa, nhưng khi đặt vào lòng bàn tay chàng, nó nặng tựa như ngàn vạn cân sắt đá.

Ngón tay Thành lướt nhẹ trên chóp đỉnh của chiếc đèn, nơi các múi mây rừng được đan cài khéo léo để tạo thành chiếc quai treo. Bất chợt, các đầu ngón tay đầy vết chai của chàng khựng lại.

Dưới đáy của nút buộc tam hoa hình trăng khuyết quen thuộc, ngón tay chàng chạm phải một đường rãnh xẻ vô cùng kỳ lạ, được giấu kín kẽ bên trong thớ tre hun khói dưới lớp hồ nếp khô cong. Đó là một mật mã thắt nút hoàn toàn khác biệt — không phải quy ước báo tin về tàu buôn hay con nước mà chàng và nàng đã bàn bạc đêm qua.

Bằng sự nhạy cảm phi thường của đôi bàn tay quen cầm đao kiếm, Thành nhận ra nút thắt này có bốn vòng cuốn ngược chiều kim đồng hồ, tạo thành một góc chệch ba mươi độ hướng thẳng về phía tây nam.

Nhìn thấy ánh mắt kinh ngạc xen lẫn nghi hoặc của Thành, Lan khẽ bước lại gần hơn, ngước nhìn chàng, hạ giọng thì thầm với âm lượng chỉ đủ cho hai người nghe thấy:

“Chàng đã nhận ra rồi phải không? Nút thắt trên đỉnh đèn này không chỉ là dấu hiệu gia truyền của Tô gia… Nó là chiếc chìa khóa chỉ đường.”

Thành nín thở, đôi mắt mở to:

“Chìa khóa chỉ đường?”

Lan khẽ gật đầu, ánh mắt nàng trở nên u uẩn, đượm buồn nhưng kiên định khôn cùng:

“Khi chàng xoay nhẹ múi mây ngược chiều gió, điểm gờ của thanh nan cái trên chiếc đèn này sẽ chỉ thẳng vào góc chái bếp phía tây nam của gian xưởng này. Dưới chân cột gỗ mục ngập sâu ba tấc đất nện, có một chiếc hộp sắt tây đựng đồ nghề cũ kỹ của mẹ ta chôn giấu từ mười hai năm trước. Trong chiếc hộp đó… có một mảnh lụa cháy dở mang nửa con dấu hiệu Trường Mộc và cuốn nhật ký ghi chép về con nước đêm mẹ ta gặp nạn.”

Nàng đặt bàn tay nhỏ bé, ấm áp của mình lên mu bàn tay đang run rẩy của Thành, giọng nói nghẹn ngào nhưng chan chứa một niềm tin tuyệt đối:

“Mười hai năm qua, cha ta vì quá sợ hãi quyền uy của quan trên và đám người họ Trần nên đã chôn chặt bí mật này dưới lòng đất, cấm ta không bao giờ được chạm tới. Nhưng ta biết, chàng không phải là một kẻ thư sinh tầm thường chỉ biết đọc sách. Ta nhìn thấy ngọn lửa công lý trong mắt chàng. Ta giao chiếc đèn này, và trao cả bí mật sinh tử của mẹ ta cho chàng… Ta tin chàng, Trần huynh.”

Thành chết lặng. Từng lời nói của nàng như những giọt nước mắt nóng hổi nhỏ xuống vết thương đang rỉ máu trong tâm can chàng. Nàng trao cho chàng tất cả — mối thù máu của mẹ, bí mật của dòng tộc, và cả sinh mạng của chính nàng — với một lòng tin trọn vẹn, không một chút hoài nghi, không một tia phòng bị. Trong khi đó, chàng vẫn đang mang một cái tên giả, một thân phận giả, và một nỗi sợ hãi hèn nhát không dám đối diện với sự thật về người cha ruột của mình.

“Lan… ta… thực ra ta…”

Cổ họng Thành nghẹn ứ, từng thớ cơ trên mặt chàng giật giật vì xúc động tột cùng. Đôi môi chàng mấp máy, toan thốt ra toàn bộ sự thật về thân phận Nguyễn Hữu Thành của mình, toan gánh lấy mọi tội lỗi và dằn vặt để đổi lấy sự thanh thản trước mắt nàng.

Chiếc lồng đèn bát giác trên tay chàng khẽ chao nghiêng theo nhịp thở dồn dập.

Đúng lúc ấy, khi ranh giới mỏng manh giữa sự thật và dối trá sắp sửa bị phá vỡ trong khoảnh khắc rung động định mệnh, một âm thanh sắc nhọn xé toạc không gian.

“Phập!”

Một tiếng động khô khốc, rợn người vang lên. Từ khe cửa gỗ khép hờ của gian xưởng đèn, một mũi phi tiêu sắt ba cạnh bén ngót xé gió lao vụt vào, cắm ngập sâu nửa tấc vào thân cột gỗ lim ngay sát cạnh đầu Thành.

Lực cắm mạnh đến nỗi chiếc cột rung lên bần bật, bụi gỗ bay mù mịt.

Dưới mũi phi tiêu sắt đen ngòm, một phong bì bằng giấy bản thô màu xám tro bị găm chặt vào thớ gỗ, mép giấy rách tơi tả run rẩy theo từng ngọn gió chiều tà thổi thốc vào xưởng.

Lan hoảng hốt thét lên một tiếng nhỏ, lùi lại nửa bước. Thành lập tức xoay người, một tay giấu Lan ra sau lưng theo bản năng, tay kia rút phắt con dao bài trên bàn gỗ, ánh mắt sắc như dao găm quét thẳng ra ngoài khung cửa liếp tối om.

Nhưng ngoài sân xưởng vắng tanh, chỉ có bóng tối của màn đêm đang nhanh chóng nuốt chửng những vệt nắng cuối cùng trên sông Hoài.

Và ngay khoảnh khắc ấy, từ phía trung tâm phố Hội, tiếng mõ giới nghiêm đầu tiên rền rĩ, dồn dập cất lên từ phía dinh quan Cai bạ, vang vọng khắp các ngõ ngách, xé toạc sự tĩnh lặng của một đêm giông bão sắp bắt đầu.

Chương này thế nào?Đánh giá giúp Readeep đề xuất đúng hơn cho bạn