Dấu Trầm Trong Nan Tre
Khói sương sớm bốc lên từ mặt nước sông Hoài chưa kịp tan hết thì tiếng gõ cửa dè dặt đã vang lên bên ngoài liếp cửa xưởng đèn Tô gia.
Tiếng gõ chỉ gồm ba nhịp nhẹ, ngập ngừng nhưng dứt khoát, tựa như người đứng bên ngoài đã đắn đo rất lâu, lắng nghe từng biến động của ngõ nhỏ trước khi hạ ngón tay xuống mặt tre già mòn nhẵn. Giữa buổi sớm mai tĩnh mịch của phố Hội, khi tiếng chuông chùa Ông vừa thong thả điểm những hồi đầu tiên tan vào hơi nước bảng lảng, âm thanh khô khốc ấy chạm vào không gian như một sự xáo trộn bất an.
Bên trong xưởng, gian nhà còn chìm trong ánh mờ nhờ nhờ của buổi sớm mai. Khắp nơi giăng đầy mùi hương quen thuộc của một xóm nghề lâu đời: mùi tre ngâm nước bùn rồi vớt lên hun khói ngai ngái, quyện với mùi hồ nếp mới quấy trong nồi đất còn âm ấm nồng nàn, và thứ hương thơm thanh mảnh, ngòn ngọt của giấy bản, lụa điều phơi trên giàn nứa. Dưới lớp rơm khô phủ tạm góc hiên, đống dăm bào và vỏ mây vót mỏng nằm im lìm, còn đọng hơi ẩm lạnh ngắt của một đêm rằm đầy biến cố.
Tô Mộc Lan khẽ buông thanh tre cật đang vót dở xuống sạp gỗ gõ ba chân. Lưỡi dao bài sắc lẻm cắm phập vào mặt gỗ mít một góc nghiêng quen thuộc, không phát ra tiếng động thừa thãi. Hàng mi dài của nàng khẽ chớp, những sợi tơ mây mỏng tang còn vướng bên gò má thanh tú khẽ lay động theo từng nhịp thở thầm lặng. Nàng không nhúc nhích ngay, mà giữ nguyên tư thế ngồi nghiêng, đôi tai thính nhạy lắng nghe ngóng từng chuyển động nhỏ nhất trong căn nhà gỗ ba gian xiêu vẹo.
Từ gian buồng trong ngăn bằng vách ván ghép tạm, người cha già Tô Văn Sâm vừa cất tiếng ho lục khục. Tiếng ho nặng nhọc, kéo dài như muốn xé rách lồng ngực gầy guộc của người cả đời hít phải bụi tre và khói bếp hun nan. Liền sau đó là tiếng thở dài sườn sượt, tiếng lẹp kẹp quen thuộc của đôi guốc mộc cũ mòn gót chậm chạp bước qua bậc cửa ngách, lần ra giếng nước rêu phong sau nhà múc nước thổi cơm sớm. Tiếng gàu sành chạm vào thành giếng đá ong vang lên lách cách, đơn điệu và buồn tẻ như nhịp sống hàng chục năm qua của hai cha con thợ đèn hèn mọn.
Lan đứng dậy, hai bàn tay thoăn thoắt phủi nhẹ những dăm tre mịn bám trên vạt áo chàm đã sờn chỉ ở mép cổ. Đôi mắt nàng trầm tĩnh lạ thường, giấu kín mọi âu lo dưới vẻ mặt phẳng lặng. Nàng nhẹ bước ra phía cửa trước, từng bước chân đặt xuống thềm đất nện êm như nhung, không làm kinh động đến đàn chim sẻ đang ríu rít chuyền cành trên cây khế già bên hông nhà.
Nàng không vội vàng rút then cài mở toang cánh liếp tre đan mắt cáo. Bàn tay búp măng của nàng dừng lại trên then gỗ lim đen bóng vì mồ hôi tay, khẽ đẩy trượt sang bên chỉ một khoảng rộng độ nửa đốt ngón tay, vừa đủ hé một khe nhỏ nhìn xiên ra ngõ lát đá gập ghềnh còn ướt đẫm sương đêm.
Bên ngoài thềm đá xanh mọc rêu ẩm ướt, một bóng người cao ráo đứng nghiêm cẩn trong làn sương xám bạc đang từ mặt sông trôi vào lãng đãng.
Vẫn là chàng thư sinh áo vải đêm qua—người đã tự xưng là Trần Minh khi ngã nhào qua ngưỡng cửa xưởng đèn giữa lúc bến sông dậy sóng bởi tiếng la hét lùng sục của toán tuần phiên.
Chàng khoác chiếc áo dài năm thân bằng vải thô màu lam nhạt, thứ vải sợi bông thô ráp của kẻ hàn vi mà người ta thường thấy ở các xóm trọ sĩ tử nghèo ven đô. Chiếc áo đã giặt nhiều lần đến mức bạc phếch ở viền cổ và nếp gấp nơi khuỷu tay, vạt trước còn vương vài nếp nhăn chưa kịp vuốt phẳng. Thế nhưng, trái ngược hoàn toàn với bộ dạng tả tơi, nhớp nhúa bùn lầy cùng hơi thở dồn dập vì trốn chạy của đêm rằm kinh hoàng, sớm nay chàng đứng đó, lưng thẳng tắp như một rặng trúc xanh giữa gió bấc, hai bàn tay buông xuôi tự nhiên bên hông, toát ra một vẻ chỉnh tề, thanh sạch đến lạ lùng.
Ánh mắt chàng sáng rực, phẳng lặng và sâu thẳm như mặt nước giếng khơi không một gợn sóng, chăm chú nhìn vào khe liếp tre như thể đã biết trước nàng đang đứng sau làn chấn song gỗ ấy.
"Trần công tử?" Lan khẽ cất tiếng, then cài gỗ vẫn cầm hờ nơi lòng bàn tay, ngón tay cái vẫn tì chặt vào gờ chốt phòng bị.
"Tô cô nương." Thành hơi cúi đầu, hai tay đưa lên trước ngực chắp lại làm lễ theo đúng quy củ khiêm cung của kẻ sĩ nơi học bộ chốn phủ đường. Giọng chàng trầm ấm, vang nhẹ trong sương mai, pha lẫn chút áy náy chân thành: "Đường đột gõ cửa lúc sớm mai sương gió chưa tan thế này, thật muôn phần thất lễ. Nhưng đêm qua ơn cứu mạng của cô nương và lão bá quá lớn, nếu sáng nay không sớm đến vấn an tạ từ, Trần mỗ trong lòng bứt rứt, chẳng thể nào an định mà cất bước."
Lan hé mắt nhìn lướt qua vai chàng, quan sát con ngõ nhỏ quanh co chạy dài ra mép nước. Phố Hội giờ này chỉ mới lác đác vài gánh hàng rong buổi sớm của các bà mế gánh rau muống tiến vua, tiếng gọi nhau í ới từ mạn Chợ Củi phía xa xa vọng lại nghe mơ hồ như tiếng thở của dòng sông. Không có bóng dáng lính tuần tra, không có những ánh mắt dò xét lén lút của đám sai nha quen thói nhũng nhiễu. Nàng khẽ thở hắt ra một hơi mỏng, mở rộng cánh liếp tre, nghiêng mình đứng nép sang một bên mép cột:
"Mời công tử vào trong. Ngoài sông gió bấc còn thổi thốc buốt lạnh lắm, đứng mãi nơi ngõ hứng sương cũng không tiện cho người vừa trải qua cơn kinh động."
Thành khẽ gật đầu tạ ý, nhấc vạt áo thô bước qua bậu cửa gỗ mít đã mòn vẹt. Đôi mắt chàng, dẫu cố giữ vẻ điềm đạm, khiêm tốn của một thư sinh nghèo lần đầu bước vào tư gia người khác, vẫn vô thức liếc thật nhanh về phía góc tối sau kệ nan tre dựng cạnh vách ván—chính là nơi đêm qua trong lúc hoảng loạn chàng đã vô tình quờ tay làm đổ chiếc đèn lồng bát giác cũ kỹ phủ đầy bụi bặm.
Chiếc đèn mục nát ấy hiện đã được ai đó nhặt lên, dựng lại ngay ngắn cạnh góc tường ẩm mốc. Lớp bụi xám dính bết qua hàng chục năm dường như vẫn còn nguyên vẹn phủ trên lớp giấy bản rách bươm, che giấu đi mối nối dây mây kỳ dị và mẩu nan tre gãy vụn thoảng mùi trầm hương mà mảnh vỡ của nó lúc này vẫn đang nằm yên trong lớp vải lót ngực áo của Thành.
"Trần mỗ quay lại sớm thế này," Thành cất giọng tự nhiên, phá tan sự im lặng đang bao trùm gian xưởng. Chàng thò tay vào ống tay áo rộng, rút ra một phong giấy hoa tiên màu ngà gấp tư cẩn thận, dùng hai tay đặt nhẹ lên chiếc chõng tre con ở gian tiếp khách, "trước là muốn khấu đầu vấn an phụ thân của cô nương, sau là có một thỉnh cầu mạo muội muốn nhờ cậy xưởng nhà. Ta muốn đặt xưởng Tô gia làm một đôi hoa đăng bát giác đặc biệt. Không cần cầu kỳ trổ hoa dát vàng như lối chơi đèn của các bậc phú thương ngoài phố lớn, chỉ cần kết bằng nan tre già vót thật mỏng, dán lụa trắng mộc mạc, nhưng trên các góc nối... ta muốn thỉnh giáo kỹ thuật đan nan cổ truyền đặc trưng của bổn xưởng."
Lan không đưa tay nhận lấy tờ hoa tiên. Nàng đứng cách chàng đúng ba bước chân, hai tay giấu trong tay áo chàm rộng, lưng tựa hờ vào cây cột cái sẫm màu bóng loáng. Đôi mắt nàng trong veo như ngọc bích phẳng lặng, không gợn một tia dao động, nhìn thẳng vào gương mặt khôi ngô nhưng cương nghị của chàng thư sinh áo vải.
"Công tử muốn đặt đèn để tạ ơn cứu mạng đêm qua, hay là muốn tìm chiếc đèn cũ nát ở góc xưởng kia?"
Thành thoáng sững sờ. Đôi mày rậm như nét kiếm của chàng khẽ nhướng lên trong tích tắc, nhưng nét mặt vẫn giữ được sự bình thản đáng kinh ngạc của một kẻ có bản lĩnh hơn đời. Chàng khẽ mỉm cười, nụ cười thoáng qua nơi khóe môi:
"Cô nương nói vậy là có ý gì? Đèn cũ phủ bụi góc tường rách nát như phế vật, người trần mắt thịt bận tâm chuyện gạo tiền cơm áo như ta, nào có cớ gì phải để mắt tới?"
"Trần công tử, người nghèo khổ ở cái đất thương cảng phố Hội này ta đã gặp nhiều rồi." Giọng Lan nhẹ bẫng, êm đềm như tiếng gió thoảng lướt qua rặng dừa nước bến sông, nhưng từng câu từng chữ nhả ra lại sắc sảo và rành rọt lạ thường. "Thư sinh hàn vi thi hỏng tha hương, bốc vác mướn kiếm vài đồng kẽm ở bến đò để mua ngọn đèn dầu học đêm, ta cũng đã từng tiếp chuyện không ít. Nhưng suốt mười chín năm sống bên bến sông Hoài này, ta chưa từng thấy một hàn sĩ nghèo nào trốn chạy bọn tay sai nha môn mà bước chân lướt trên ván cầu không phát ra một tiếng động nhỏ. Hơi thở dù dồn dập sau quãng đường dài truy đuổi vẫn giữ vững khí tức nơi đan điền, trầm ổn không loạn nhịp. Lại càng chưa từng thấy một kẻ thư sinh đọc sách thánh hiền nào lại nắm rõ tường tận từng phiên đổi gác, từng khẩu lệnh tuần đêm của lính nha thương chánh như công tử đêm qua."
Nàng tiến thêm một bước về phía trước. Mũi hài vải mộc của nàng dừng lại ngay sát thềm đất nện bên mép cửa gỗ. Nàng đưa ngón tay trỏ thon dài, khẽ chỉ xuống lớp đất ẩm:
"Đêm qua trời tối mù mịt, công tử lại vội vã lánh nạn nên không để ý. Nhưng sớm nay khi quét dọn lại xưởng, ta đã thấy thứ này rơi lại trên nền đất."
Dưới ánh sáng ban mai yếu ớt lọt qua khe liếp tre, trên thềm đất ẩm ướt vương vãi vài hạt bột mịn màu nâu sẫm, khô ráp và lấp lánh như bụi hổ phách. Khi một vệt nắng sớm rọi thẳng vào, những hạt bột ấy dường như khẽ bốc lên một làn khói hương u uất, mỏng manh đến mức mắt thường khó lòng nhận biết, nhưng mùi hương của nó thì không thể lẫn vào đâu được.
"Bột gỗ trầm hương." Lan ngước mắt lên, gằn từng tiếng nhỏ nhưng đanh thép. "Không phải thứ trầm non, trầm vườn dán hương nhang của đám tiểu thương ngoài chợ phiên, mà là trầm hương thượng hạng tích tụ trăm năm từ chốn rừng sâu núi thẳm của xứ Đàng Trong. Thứ kỳ hương mà từ triều đình chúa Nguyễn cho tới nha môn thương chánh đều ban nghiêm lệnh cấm ngặt tư nhân buôn bán hay tàng trữ. Chỉ cần trong nhà có giấu một lạng không rõ nguồn gốc xuất xứ, không có triện son của quan coi kho, cũng đủ khép vào đại tội khi quân, chém đầu bêu chợ, tịch thu toàn bộ gia sản ba đời. Đêm qua công tử mang theo bột trầm vương trên gấu quần, chạy thục mạng từ hướng kho hàng Trường Mộc ven sông Hoài sang đây... Công tử thực sự là một thư sinh nghèo họ Trần đi tìm kế sinh nhai sao?"
Thành hoàn toàn im lặng.
Không khí trong xưởng đèn bỗng chốc đông đặc lại như một khối băng dày, lạnh lẽo và căng thẳng đến nghẹt thở. Ngoài hiên, tiếng gió bấc luồn qua kẽ lá rít lên từng hồi u uẩn. Bên trong gian buồng, tiếng nước sôi sùng sục réo rắt bên ấm trà đất nung của ông Tô Văn Sâm càng làm cho sự câm lặng giữa hai người trở nên bức bối lạ thường.
Lan không dừng lại ở đó. Đôi mắt tinh tường của một người thợ thủ công từ nhỏ đã quen quan sát từng thớ tre, từng đường tơ kẽ tóc chậm rãi dời xuống bàn tay phải của Thành—bàn tay đang đặt hờ trên đầu gối:
"Bàn tay của người dùi mài kinh sử, quanh năm cầm bút lông chấm mực tàu chỉ có vết chai mỏng ở đầu ngón trỏ và cạnh ngoài của ngón giữa do tì vào thân trúc nhiều năm. Nhưng bàn tay của công tử... vết chai lại hằn sâu thành một đường chai sần màu nâu nhạt ở kẽ giữa ngón cái và ngón trỏ, chạy dài dọc theo mép dưới lòng bàn tay phải. Đó là dấu vết không thể xóa nhòa của người nắm chuôi kiếm sắt, luyện tập kiếm pháp quan phòng và thuật cưỡi ngựa bắn cung từ thuở ấu thơ. Trần công tử, rốt cuộc huynh là ai? Huynh là một kẻ buôn trầm lậu bị đồng bọn trở mặt truy sát, hay là tai mắt của nha môn đến đây để gieo tai rắc họa xuống mái đầu của hai cha con người thợ đèn hèn mọn này?"
Sự tĩnh lặng rợn người bao trùm khắp gian xưởng. Một cơn gió sớm lùa qua khe vách, làm lay động những dải lụa điều treo lơ lửng trên xà nhà, tạo nên những tiếng sột soạt khô khốc.
Thành nhìn sâu vào đôi mắt quật cường, thông minh và ngập tràn vẻ cảnh giác của Lan. Dưới lớp áo vải thô kệch, trái tim chàng khẽ rung lên một nhịp kinh ngạc lẫn thán phục sâu sắc. Một cô gái sống nơi xóm thợ nghèo nàn ven bến sông, ngày ngày chỉ biết vót tre, chẻ mây, dán hồ lụa kiếm từng đồng bạc vụn, lại sở hữu một nhãn quan tinh tường và óc suy đoán phi phàm đến nhường này. Trước mắt nàng, mọi lớp ngụy trang vụng về của chàng đều bị bóc trần không sót một manh giáp.
Chàng khẽ thở dài một tiếng thật nhẹ. Bờ vai đang hơi thu lại bỗng mở rộng, vẻ khép nép, nhút nhát của một hàn sĩ thi hỏng hoàn toàn biến mất trong chớp mắt. Thay vào đó là một phong thái đĩnh đạc, ung dung và uy nghiêm tự nhiên của một người vốn quen đứng ở vị trí bề trên, quen gánh vác trọng trách và đối diện với hiểm nguy sinh tử.
"Cô nương quả thực thông tuệ hơn người, nhãn lực sắc bén hiếm thấy." Thành cất giọng trầm ấm, âm sắc vang và chắc nịch, không còn chút ấp úng, quanh co nào nữa. "Trần Minh đúng là tên giả của ta để che mắt tai vách mạch rừng. Nhưng ta xin lấy danh dự đời mình thề trước vong linh trời đất, ta tuyệt đối không phải phường buôn lậu gieo rắc tai ương, càng không mang dã tâm đem họa sát thân đến cho cô nương và Tô gia."
Chàng ngập ngừng trong thoáng chốc, ánh mắt khẽ lay động khi phải cẩn thận cân nhắc từng từ ngữ, quyết không để lộ ra thân phận thực sự của mình—con trai trưởng của quan Cai bạ Nguyễn Hữu Chính, người đứng đầu cơ quan quản lý tài chính và thương vụ tối cao của cả xứ Đàng Trong:
"Ta đích thực là người có liên hệ mật thiết với nha thương chánh, phụng mệnh âm thầm lần theo dấu vết của một đường dây buôn lậu trầm hương có quy mô cực lớn đang thao túng bến sông Hoài. Bọn chúng dùng những chiếc thuyền buôn ngụy trang tinh vi, móc ngoặc với tuần phiên để qua mặt trạm kiểm soát Cửa Đại, đưa hàng cấm từ rừng sâu vào phố Hội rồi chuyển tiếp lên các tàu buôn ngoại quốc, trốn thuế hàng vạn quan tiền bạc của triều đình mỗi năm."
"Nếu công tử là người phụng mệnh triều đình, danh chính ngôn thuận điều tra," Lan nheo đôi mắt phượng lại, ánh nhìn sắc như mũi dao bài gọt tre, không dễ dàng bị những lời đường mật thuyết phục, "cớ sao đêm qua lại bị đám tay sai mặt sắt của tên quản sự Võ Bá truy đuổi trối chết như một tên trộm vặt như thế?"
"Bởi vì cái vòi bạch tuộc của đường dây này đã ăn sâu vào tận gốc rễ của cả thương cảng này rồi!" Đôi mắt Thành ánh lên một tia đau xót pha lẫn căm phẫn tột cùng, hai bàn tay chàng vô thức siết chặt lại. "Thế lực đứng sau lưng chúng quá lớn, mạng lưới bao trùm từ đám phú thương ngoại bang cho đến tận những chiếc ghế quyền thế nhất trong nha môn. Ngay trong nội bộ nha thương chánh đã có kẻ ăn tiền thông đồng, thậm chí... có những người thân cận bên cạnh ta đang bị kẻ gian lợi dụng con dấu, mượn danh nghĩa quan phòng để che chắn cho thuyền lậu. Nếu ta công khai đưa nha dịch đi điều tra, chẳng những toàn bộ sổ sách chứng cứ sẽ bị đốt sạch trong chớp mắt, mà kẻ chủ mưu sẽ lập tức đẩy vài tên phu bến ra làm vật tế thần chịu tội thay. Ta chỉ còn cách cởi bỏ quan phục, tự mình lén lút dò la từng manh mối nhỏ nhất từ các bến bãi tăm tối."
Lan khẽ mím môi, im lặng lắng nghe. Lời giải thích của chàng nghe hợp tình hợp lý, lại trùng khớp đến rợn người với những lời đồn đại đầy sợ hãi mà đám phu bến, thợ chèo đò thỉnh thoảng vẫn thậm thụt xì xào bên chén rượu lạt nơi quán nước đầu bến mỗi khi đêm xuống. Người ta vẫn bảo, đằng sau sự sầm uất bạc vàng của bến Hội An là những hố sâu không đáy của quyền lực và tội ác, nơi mạng người chỉ rẻ rúng như chiếc lá rụng trôi sông.
"Vậy việc đó thì có can hệ gì đến cái xưởng đèn rách nát của cha con ta?" Nàng hỏi tiếp, giọng bớt đi vài phần gay gắt nhưng sự hoài nghi vẫn chưa tan hết. "Tại sao đêm qua khi vừa nhìn thấy chiếc đèn bát giác cũ kỹ kia, ánh mắt huynh lại kinh hoàng như nhìn thấy ma quỷ hiện hình?"
Thành không vội đáp. Chàng chậm rãi đứng dậy khỏi chõng tre, từng bước chân đĩnh đạc tiến lại gần chiếc giàn tre cũ nơi góc xưởng. Chàng dừng lại cách chiếc đèn một bước, không đưa tay chạm vào lớp bụi thời gian, mà chỉ dùng ánh mắt chăm chú chỉ vào phần chóp nón—nơi những thanh nan tre già đan chéo vào nhau giữ lấy khung sườn:
"Cô nương hãy nhìn kỹ nút buộc bằng sợi dây mây này. Ba vòng xoắn kép đè khít theo chiều kim đồng hồ, luồn chéo qua kẽ nan thứ tư rồi gập ngược một góc vuông sắc cạnh, tạo thành một chiếc móc khóa hình bán nguyệt ôm chặt lấy khớp nối. Đêm qua, khi ta ẩn nấp dưới bến ván tối tăm sau kho Trường Mộc, ta đã tận mắt thấy hàng chục sạp tre bọc trầm hương lậu được bốc dỡ từ dưới khoang thuyền đáy kép lên bờ. Tất cả các góc sạp tre chịu lực, tất cả các nút niêm phong trên những kiện hàng bằng tre ấy... đều được đan buộc bằng đúng một kỹ thuật kỳ dị này. Không sai một sợi mây, không lệch một góc gập. Một kỹ thuật tinh xảo đến mức chỉ cần nhìn qua một lần là khắc sâu vào tâm trí."
Lan sững người. Toàn thân nàng như bị sét đánh ngang tai, lồng ngực thắt nghẹn lại.
"Không thể nào..." Nàng lẩm bẩm, hơi thở bỗng trở nên run rẩy. Nàng vội vã bước tới bên cạnh Thành, gạt phăng mọi sự e dè thường nhật, cúi sát người xuống nhìn chăm chú vào mối nối dây mây trên chiếc đèn cũ nát.
Những ngón tay thon dài của nàng run run chạm vào lớp mây đã ngả màu nâu xỉn vì khói bếp và thời gian. Từng vòng xoắn, từng góc gập vuông vức hiện ra dưới đầu ngón tay nàng quen thuộc đến đau đớn.
Đó là chiếc đèn do chính tay mẹ nàng—bà Lê Thị Cẩm—đan khung từ hơn mười năm trước, trước cái đêm định mệnh kinh hoàng khi bà mãi mãi không trở về, để lại xác thân lạnh ngắt dạt vào bờ cọc Cửa Đại. Kiểu thắt nút nan tre ba vòng xoắn kép gập góc vuông này là bí quyết độc môn của dòng họ Tô, do chính cha nàng—ông Tô Văn Sâm—sáng tạo ra trong những năm tháng đỉnh cao của nghề để tăng sức chịu lực cho những chiếc đèn lồng hoa đăng khổng lồ thả trôi trên sóng lớn sông Hoài mà không bao giờ bị gió bão vặn gãy khung.
Tại sao một bí thuật đan đèn lồng nghèo nàn của một gia đình thợ thủ công lại có thể xuất hiện trên các kiện hàng trầm hương trị giá vạn lượng bạc của phường buôn lậu?
"Cô nương có nhận ra nút thắt này không?" Giọng Thành hạ thấp xuống, trầm đục và đầy vẻ khẩn thiết bên tai nàng.
"Đây là... kiểu thắt nan tre độc môn của xưởng nhà ta." Lan siết chặt hai bàn tay lại, móng tay cắm sâu vào da thịt đến bật máu mà không hề thấy đau. "Nhưng mười hai năm trước, sau khi mẹ ta qua đời trong một đêm mưa gió, xưởng đèn sa sút, cha ta đổ bệnh nặng và tuyệt đối cấm đoán, chưa từng truyền dạy kỹ thuật này cho bất kỳ phường thợ nào khác ở phố Hội. Ngay cả những chiếc đèn lồng hoa đăng bán ở chợ đêm hay treo trước cửa hiệu của các thương gia bây giờ, cha ta cũng chỉ đan nút hoa mai đơn giản thông thường..."
"Vậy thì mối liên kết giữa kỹ thuật của xưởng đèn này và những kiện hàng trầm lậu ở bến Trường Mộc là hoàn toàn có thật." Thành nhìn thẳng vào đôi mắt đang ngập tràn chấn động của Lan, ánh mắt chàng bùng lên ngọn lửa kiên định. "Cô nương, ta biết cô nương vẫn còn nghi ngờ ta. Nhưng việc này quan hệ đến tính mạng của rất nhiều người, và có thể liên quan mật thiết đến cả quá khứ u uẩn của gia đình cô nương. Đêm nay, khi con nước ròng rút xuống thấp nhất ở chân cầu ván ven bến sông Hoài, đám phu bến của kho Trường Mộc sẽ lại kéo những sạp tre rỗng dùng để cất giấu trầm hương ra bờ sông để phi tang dấu vết trước đợt tuần tra định kỳ của nha môn. Cô nương có dám cùng ta ra đó để tận mắt kiểm chứng hay không?"
Lan ngước nhìn Thành. Trong đôi mắt sâu thẳm của người thanh niên xa lạ ấy, nàng không nhìn thấy sự dối trá hay toan tính hiểm độc, mà chỉ thấy một sự chân thành đến cháy lòng cùng nỗi trăn trở nặng nề của một người đang gánh vác việc lớn. Nhưng trên hết, trong tâm can nàng, ngọn lửa tò mò xen lẫn nỗi đau đớn về cái chết bí ẩn của người mẹ năm xưa bỗng chốc bùng cháy dữ dội.
Mười hai năm qua, cái chết của mẹ bị người đời đàm tiếu, bị đám sai nha quy cho cái tội hèn hạ là trượt chân chết đuối trong lúc lén lút trộm đồ của thuyền buôn ngoại quốc, khiến xưởng đèn Tô gia phải mang tiếng nhơ nhuốc, sống lầm lũi trong sự khinh miệt của xóm giềng. Liệu manh mối kỳ quái về chiếc nút thắt nan tre này có phải là sợi dây duy nhất dẫn tới sự thật bị chôn vùi dưới đáy sông sâu?
"Được." Lan ngẩng cao đầu, ánh mắt nàng sắc lạnh và kiên quyết như ánh thép. "Ta sẽ đi cùng huynh. Nhưng ta chỉ tin vào những gì chính mắt ta trông thấy, chính tay ta chạm vào."
***
Trời vừa chập tối, ngọn gió mùa đông bắc từ phía cửa biển Cửa Đại thổi ngược vào lòng sông Hoài mang theo hơi ẩm mằn mặn và cái lạnh buốt giá thấu xương.
Phố Hội bắt đầu thắp lên những ánh đèn lồng lụa đỏ đầu tiên dọc theo những dãy mái ngói âm dương rêu phong, soi bóng xuống mặt nước lăn tăn gợn sóng những dải màu ấm áp, lung linh như một bức tranh gấm vóc. Tiếng cười nói râm ran của khách buôn, tiếng đàn tỳ bà réo rắt từ những lầu trà của thương nhân người Hoa vọng ra, tạo nên vẻ phồn hoa đô hội thường nhật.
Thế nhưng, trái ngược hoàn toàn với cảnh tượng rực rỡ ấy, ở mạn cuối bến sông—nơi những cây cầu ván cũ kỹ, mục nát chìa ra mép nước đen ngòm cạnh kho hàng Trường Mộc—không gian lại chìm nghỉm trong bóng tối dày đặc, tanh nồng mùi bùn lầy, rác rưởi và cỏ nước thối rữa.
Hai bóng người lướt đi thoăn thoắt, nhẹ như hai chiếc lá rụng qua những rặng dừa nước rậm rạp, nép mình sát vào vách đá ngầm dưới bóng tối đen đặc của chân cầu ván gỗ mục.
Thành mặc một bộ đồ chẽn sẫm màu gọn gàng, tay cầm một thanh đoản kiếm bọc trong lớp vải đen thô ráp để tránh ánh thép phản chiếu ánh trăng. Từng bước chân di chuyển của chàng trên nền đất bùn lầy lội đều nhẹ nhàng, uyển chuyển như loài dã miêu săn mồi trong đêm, không để lại một tiếng bì bõm nào. Lan bám sát ngay phía sau chàng. Hơi thở của nàng dù dồn dập vì căng thẳng nhưng từng bước chân lại vô cùng chuẩn xác, thoăn thoắt né tránh những bãi sình lún nhờ vào sự quen thuộc từng khúc quanh, từng gốc cọc mục của bến sông này từ thuở ấu thơ.
"Nhìn kìa." Thành khẽ nghiêng đầu thì thầm bên tai nàng. Hơi thở ấm nóng của chàng phả nhẹ vào vành tai làm Lan thoáng giật mình lùi lại nửa bước, nhưng rồi nàng lập tức trấn tĩnh, nhìn theo hướng ngón tay chàng chỉ về phía bờ cọc gỗ dưới gầm cầu ván.
Dưới ánh sáng lờ mờ của mảnh trăng đầu tháng bị những dải mây mù xám xịt che khuất quá nửa, những vệt kéo lê nặng nề in sâu hoắm trên nền phù sa ẩm ướt hiện ra rõ mồn một. Đó là dấu vết của những chiếc sạp tre đan dày cộm, có đáy lót ván kép chịu lực cực tốt—loại sạp chuyên dùng để chứa những phiến gỗ trầm hương nguyên khối nặng hàng trăm cân mà không làm thoát một chút mùi hương đặc trưng nào ra ngoài để qua mặt chó săn của lính tuần phiên.
Cách đó vài trượng, lẩn khuất dưới một hốc ván mục nát sát mép nước đen ngòm, còn sót lại một mảnh nẹp tre vỡ cùng những đoạn dây mây bị lưỡi dao sắc cắt vội vã vứt bừa bãi.
Lan không ngần ngại, quỳ thụp một bên gối xuống lớp bùn lầy lạnh ngắt, không màng đến việc vạt áo lụa chàm của mình đang bị vấy bẩn nhớp nhúa. Hai bàn tay nàng run rẩy đưa ra, lần mò trong bóng tối rồi chạm vào mối buộc dây mây còn sót lại nguyên vẹn trên góc một mảnh sạp tre vỡ.
Đầu ngón tay nàng miết chậm rãi qua từng đường lượn: một vòng, hai vòng, rồi ba vòng xoắn kép đè khít lên nhau theo một lực ép chuẩn xác đến từng phân. Đoạn mây cuối cùng được luồn khéo léo chéo qua kẽ nan thứ tư, rồi gập ngược một góc vuông sắc cạnh tạo thành hình một chiếc móc bán nguyệt ôm chặt lấy thanh nan cật. Trên chính giữa mối buộc ấy, một dấu niêm phong bằng sáp đen khô cứng in chìm một hình hoa văn góc vuông bí mật, hoàn toàn trùng khít với khoảng trống mà chiếc móc mây tạo ra.
"Đúng là nó..." Lan thì thào, giọng nàng nghẹn ứ lại trong lồng ngực, hai bờ vai run lên bần bật. "Kỹ thuật thắt góc vuông chịu lực này... chính là cách mẹ ta từng nắm tay chỉ dạy cho ta bên bếp lửa mười hai năm trước. Mẹ từng bảo, thắt như thế này thì dù đèn hoa đăng có thả trôi trên đầu sóng ngọn gió ngoài Cửa Đại, nan tre cũng không bao giờ bị xô lệch làm vỡ khung lụa..."
Trái tim Thành đập thình thịch từng hồi nặng nề. Từng lời thì thầm nghẹn ngào của Lan như những nhát búa giáng thẳng vào tâm can chàng. Kỹ thuật gia truyền độc môn của một dòng họ thợ đèn nghèo nàn lại biến thành công cụ niêm phong, đánh dấu những chuyến hàng cấm nghìn lượng bạc của kho Trường Mộc. Điều đó có ý nghĩa gì? Mẹ của Lan năm xưa đã từng bị cuốn vào vòng xoáy tội ác của mạng lưới này, hay bà chỉ là một nạn nhân vô tội bị kẻ gian lợi dụng rồi nhẫn tâm thủ tiêu?
"Mỗi một kết luận mang tính định tội đều phải có ít nhất hai nguồn chứng cứ độc lập củng cố lẫn nhau." Thành thì thầm, giọng chàng trầm xuống, vô thức nhắc lại lời răn dạy nghiêm cẩn của viên thư lại già Phan Đình Khiêm nơi nha môn thương chánh. "Nút thắt mây độc môn này là chứng cứ thứ nhất. Dấu vết kéo lê sạp tre cùng những hạt bột trầm vương vãi trên đất ẩm là chứng cứ thứ hai. Chúng ta không hề nhìn lầm. Kho hàng Trường Mộc và đám tay chân của Võ Bá đang dùng chính kỹ thuật đan nan của Tô gia để đánh dấu, niêm phong các kiện trầm lậu vượt qua cửa biển."
Lan ngước nhìn Thành. Dưới ánh trăng mờ nhạt hắt lên từ mặt nước sông Hoài lấp loáng, đôi mắt nàng ầng ậc nước nhưng lại bừng lên một ngọn lửa kiên cường, bất khuất đến nao lòng:
"Thành... à không, Trần công tử. Mười hai năm trước, mẹ ta chết trôi dạt vào chính khúc sông lạnh lẽo này. Khi ấy người ta vu oan giá họa cho mẹ ta, nói rằng bà vì lòng tham mà trộm cắp đồ quý của thương gia rồi trượt chân ngã sông chết đuối. Nhưng ta không bao giờ tin! Mẹ ta là người thợ làm đèn thanh bạch, lương thiện nhất trên đời! Chắc chắn... chắc chắn đã có kẻ nhẫn tâm hãm hại mẹ ta để bịt đầu mối về những kiện hàng tre bí mật này!"
Nhìn dáng vẻ đau đớn tột cùng nhưng quật cường không chịu khuất phục của cô gái nhỏ bé trước mặt, trong lòng Thành bỗng dâng lên một nỗi xót xa vô hạn. Một cảm xúc mãnh liệt thôi thúc chàng đưa bàn tay rắn rỏi, ấm áp của mình đặt lên bờ vai gầy đang run rẩy của Lan, siết nhẹ như muốn truyền cho nàng toàn bộ sức mạnh và sự chở che:
"Ta hứa với cô nương, bằng tất cả danh dự và sinh mệnh của ta, dù thế lực đứng sau đường dây buôn lậu này có là ai, dù nó có chạm đến những kẻ quyền quý quyền uy tột đỉnh nào trong triều đình... ta cũng sẽ cùng cô nương bóc trần sự thật đen tối này ra ánh sáng, trả lại sự trong sạch cho mẹ của cô nương."
Lan ngước nhìn chàng. Giữa bóng tối mịt mù, hôi hám của chân cầu mục nát và làn gió sông Hoài buốt giá, ánh mắt kiên định, ấm áp của người thanh niên xa lạ ấy tựa như một ngọn đèn bão vững chãi soi sáng màn đêm tăm tối đang bủa vây lấy cuộc đời nàng. Nàng khẽ gật đầu, một sợi dây liên kết vô hình, thiêng liêng và sâu sắc dường như vừa được thắt chặt giữa hai số phận.
***
Trong khi đó, tại xưởng đèn Tô gia nằm sâu trong con ngõ nhỏ.
Ngọn đèn dầu lạc leo lét đặt trên chiếc bàn gỗ mít tỏa ra một quầng sáng vàng vọt, tù mù. Ông Tô Văn Sâm đang ngồi gập lưng bên chiếc phản gỗ, đôi bàn tay gầy guộc chằng chịt những vết sẹo do tre cứa cặm cụi cầm lưỡi dao bài cạo sạch lớp keo nếp đã khô cứng trên vành một chiếc khung đèn lồng. Đêm đã khuya khoắt, tiếng trống cầm canh từ điếm tuần tra đầu phố đã điểm canh ba mà Lan vẫn chưa thấy trở về, khiến lòng người cha già như có lửa đốt, ruột gan cồn cào không yên.
Bỗng nhiên, cánh liếp tre khép hờ nơi cửa trước khẽ động đậy. Một cơn gió đêm từ mé sông lùa vào mang theo hơi lạnh buốt giá.
Ông Sâm giật mình ngước đôi mắt mờ đục lên nhìn ra phía cửa. Trước đó chừng nửa canh giờ, chàng thư sinh "Trần Minh" có ghé qua xưởng rất nhanh, nói đôi câu tạ từ lễ phép và gửi trả lại chiếc áo khoác bằng vải gai thô mà ông đã có lòng cho mượn từ đêm qua để chống rét. Lúc Thành vội vã lướt qua gian ngoài để ra điểm hẹn bến sông với Lan, vạt áo dài của chàng đã vô tình quẹt nhẹ qua mép chiếc phản gỗ nơi ông Sâm đang ngồi làm việc.
Và ngay chính khoảnh khắc ấy, khứu giác vốn dĩ cực kỳ nhạy bén của một người thợ già cả đời gắn bó với hương liệu và cây cỏ chốn Đàng Trong bỗng bắt được một mùi hương thoang thoảng.
Mùi trầm hương.
Không phải thứ mùi khói trầm tạp nham, khen khét rẻ tiền mà người ta vẫn thắp trên các bàn thờ gia tiên ngoài phố chợ. Đó là mùi hương của loại trầm hương thượng hạng loại một—thứ hương thơm ngọt ngào sâu thẳm, cay the nhè nhẹ nơi sống mũi, tĩnh lặng, uy nghiêm và u uất tựa như hồn phách ngàn năm của núi rừng sâu thẳm tích tụ lại.
Lưỡi dao bài trên tay ông Sâm bỗng khựng lại giữa không trung.
Toàn thân người nghệ nhân già run lên bần bật như người vừa trúng phải một cơn gió độc. Sắc mặt ông từ vàng vọt, hốc hác bỗng chốc chuyển sang trắng bệch như cánh giấy bản, không còn lấy một giọt máu. Đôi mắt kèm nhem, mờ đục mở to hết cỡ, trừng trừng nhìn chằm chằm vào chiếc áo gai thô đang vắt hờ trên góc phản gỗ, rồi run rẩy, kinh hoàng dời ánh nhìn sang chiếc đèn bát giác cũ nát ở góc tường ẩm mốc—chiếc đèn mà hồi chiều nay đã bị ai đó xê dịch, làm lộ ra vết nứt gãy của mẩu nan tre cổ truyền.
"Trầm hương... lại là mùi trầm hương ấy..."
Đôi môi khô nẻ của ông Sâm run rẩy mấp máy, phát ra những âm thanh đứt quãng, nghẹn ứ nơi cổ họng như thể có ai vừa nhét đầy tro tàn nóng rực vào khí quản.
Ký ức kinh hoàng của mười hai năm về trước bỗng dội về như một trận cuồng phong xé toạc tâm can ông. Đêm mưa bão định mệnh ấy, vợ ông—bà Lê Thị Cẩm—cũng trở về nhà trong bộ dạng ướt sũng, toàn thân tỏa ra mùi trầm hương nồng nặc đến nghẹt thở. Gương mặt bà khi ấy hoảng loạn tột cùng, run rẩy nắm lấy tay ông kể về bí mật kinh thiên động địa mà bà vô tình phát hiện được bên trong các sạp tre thắt nút đôi mà bà nhận sửa chữa cho một thương gia lạ mặt họ Trần.
Rồi cũng ngay trong đêm mưa gió bão bùng ấy, tai họa ngút trời đã ập xuống đầu gia đình nhỏ bé của ông. Dòng nước đen ngòm, cuồn cuộn của sông Hoài đã nuốt chửng lấy người vợ hiền thục, để lại cho ông một thân xác lạnh ngắt, một món nợ oan khiên ngút trời cùng lời đe dọa lạnh lùng, tàn nhẫn của những bóng đen bịt mặt xuất hiện trong đêm tang ma:
*Muốn cho con gái ngươi được sống sót trưởng thành thì hãy ngậm chặt miệng lại và quên hết mọi thứ đi!*
"Lan ơi... con đang ở đâu..."
Ông Sâm lảo đảo đứng dậy, hai chân run rẩy không còn chút sức lực khiến chiếc ghế đẩu bằng gỗ mít ngã lăn quay xuống nền đất nện, phát ra một tiếng "cộc" khô khốc. Nước mắt già nua tuôn trào giàn giụa, chảy tràn qua những nếp nhăn nheo khắc khổ trên đôi gò má xám xịt.
"Đừng dính vào... trời ơi, con đừng dính vào thứ hương giết người đoạt mạng đó..."
***
Cùng lúc đó, tại một góc tối cách bến sông Hoài không xa.
Trên chòi quan sát cao ngất của một trạm gác bến cảng phụ thuộc quyền quản lý của kho hàng Trường Mộc, gió đêm gầm rít lồng lộng qua các thanh xà gỗ, làm phần phật vạt áo chẽn màu xám chì của một bóng người lực lưỡng đang đứng bất động như một pho tượng đá.
Võ Bá đứng khoanh tay tựa lưng vào lan can gỗ mun, bàn tay thô ráp, sần sùi với những vết sẹo dài chém ngang mu bàn tay đang nắm chặt lấy chuôi của một thanh đao ngắn giấu kín trong tay áo rộng. Đôi mắt một mí ti hí của hắn lạnh tanh, sắc lẹm và chuẩn xác như ánh mắt của loài chim ưng săn mồi ban đêm, xuyên qua làn sương mù mỏng manh đang giăng mắc trên mặt sông để rà soát từng tấc đất, từng bụi cây ven bờ.
Đúng vào khoảnh khắc ấy, dưới bóng tối đen đặc của chân cầu ván mục nát, hai bóng người vừa trườn ra khỏi gầm cầu lầy lội, nhanh chóng tách ra làm hai ngã rẽ khác nhau để tránh tai mắt của những toán lính tuần phiên đang rảo bước phía xa.
Người thanh niên đi trước, thân thủ vô cùng nhanh nhẹn, thoăn thoắt lướt qua những đống gỗ tạp ven đường. Bước đi của chàng dù rất vội vã nhưng vẫn toát lên vẻ ung dung, đĩnh đạc lạ thường, bóng lưng thẳng tắp và bờ vai rộng mở toát ra một vẻ uy nghiêm, quyền quý khó lòng che giấu dưới lớp áo vải thô hàn vi.
Đôi mắt ti hí của Võ Bá khẽ híp lại thành một đường chỉ sắc lạnh như lưỡi dao cạo. Hắn nghiêng đầu sang một bên, ánh mắt găm chặt vào từng bước chân, từng cử động của vóc dáng cao ráo ấy.
*Dáng dấp này... bộ pháp này...*
Hắn đã lăn lộn, làm mưa làm gió ở chốn thương cảng phố Hội này ngót nghét hai mươi năm trời. Ngày ngày ra vào nha môn thương chánh như cơm bữa, hắn đã từng chạm mặt, cúi đầu trước không biết bao nhiêu hạng quan lại quyền quý, tướng lĩnh quan phòng. Cái vóc dáng đĩnh đạc, bờ vai rộng ngang tàng và phong thái vung tay dứt khoát, trầm ổn kia... sao mà quen thuộc đến rợn người thế này?
Hắn dường như đã nhìn thấy bóng dáng ấy không biết bao nhiêu lần trên những chiếc kiệu lớn lọng xanh lọng vàng của phủ Cai bạ Nguyễn Hữu Chính, hay trong những buổi đại lễ duyệt duyệt lính tuần tra nghiêm cẩn của các bậc quan lớn nơi nha môn.
Một công tử quyền môn xuất thân cao quý tột bậc như thế, cớ sao đêm hôm khuya khoắt lại khoác áo vải thô, lén lút mò mẫm dưới chân cầu ván sình lầy nhớp nhúa của đám phu bến hèn mọn?
Và rồi, ánh mắt sắc như dao của Võ Bá chậm rãi dời sang bóng người thứ hai—một cô gái nhỏ nhắn trong bộ áo lụa chàm sẫm màu, đang thoăn thoắt lướt men theo những rặng dừa nước rậm rạp để tìm đường quay trở về con ngõ nhỏ dẫn tới xưởng đèn Tô gia.
Một nụ cười tàn nhẫn, lạnh lẽo khẽ nhếch lên nơi khóe môi thâm sì vì hút thuốc lào của tên quản sự kho khét tiếng tàn bạo. Hắn lập tức nhận ra cô ả. Con gái của lão thợ đèn Tô Văn Sâm. Đứa con gái của người đàn bà năm xưa đã từng ôm theo bí mật vùi thây dưới đáy sông Hoài lạnh ngắt.
Gió đêm rít qua khe chòi gỗ, buốt giá như lưỡi dao cạo.
Ánh mắt Võ Bá trong bóng tối đã găm chặt vào bóng lưng Lan khi cô quay trở về xưởng đèn.