Công Thức Của Những Nẻo ĐườngC.16 / 20
Chương 16

Những trang cuối ở Vườn Cổ Mộc

Chiếc xuồng ba lá lướt nhẹ dưới bóng râm dày đặc của những rặng bần cổ thụ, rẽ từng vệt sóng lăn tăn đục ngầu sắc đỏ phù sa, đưa Nhiên cập bến cây cầu khỉ dẫn vào Vườn Cổ Mộc ngút ngàn cây trái lạ.

Tiếng mái dầm của Hoàng Phúc khua nước bì bõm phía sau dần chậm lại, từng nhịp chèo nén sâu vào lòng rạch rồi dừng hẳn khi mũi xuồng gối êm ru vào bờ đất dẻo quánh. Phúc chống sào tre cắm phập xuống đáy bùn, dùng sức ghì chặt mạn xuồng để giữ thăng bằng trên dòng nước ròng đang chầm chậm rút ra sông cái. Anh không nói gì, chỉ ngước nhìn Nhiên, khẽ gật đầu như một lời nhắc nhở cẩn trọng trước ngưỡng cửa của một vùng đất còn giữ nguyên nếp sống hoang sơ, tách biệt khỏi những ồn ào dập dồn của phố thị ngoài kia.

Nhiên siết chặt quai chiếc ba lô con cóc đã bạc phếch vì dầm sương dãi nắng. Dưới đáy túi, cuốn sổ nợ bìa da bò nhăn nhúm của mẹ cùng cuốn sổ tay ẩm thực sờn rách gáy nằm im lìm, mang theo sức nặng của một lời hứa danh dự mà cô đang gánh trên vai. Hít một hơi thật sâu để lồng ngực căng tràn thứ không khí ngai ngái mùi rong rêu và bùn bãi, cô nhấc chân bước qua thân tre gập ghềnh của cây cầu khỉ. Cây cầu chỉ gồm một thân tre đực già đanh, nứt nẻ vì mưa nắng, bên trên chằng một nhánh tầm vông mảnh dẻ làm tay vịn. Cảm giác chông chênh, trơn trượt dưới gót giày nhanh chóng tan biến khi bàn chân cô chạm vào nền đất vườn ẩm ướt, nơi một lớp lá mục dày cộm trải dài như một tấm thảm xốp, tỏa ra thứ mùi thơm nồng nàn của mùn cưa mục rữa, đất ẩm sau mưa và nhựa cây hoang dại ủ kín.

Không gian bên trong Vườn Cổ Mộc khác xa hoàn toàn so với những miệt vườn cây ăn trái trĩu quả, thẳng tắp thường thấy ở các cù lao đồng bằng sông Cửu Long. Nơi đây không có những luống sầu riêng múi hạt lép, bưởi da xanh hay vú sữa Lò Rèn được chăm chút tỉa tót bằng các loại phân bón hóa học và thuốc trừ sâu bóng bẩy để chuẩn bị xuất khẩu sang các siêu thị lớn. Khu vườn mở ra trước mắt Nhiên như một góc rừng nguyên sinh thu nhỏ, ken đặc những tầng tán hoang dại đan xen chằng chịt vào nhau. Dây leo rừng, dương xỉ đuôi phụng và rêu phong ẩm ướt bám chặt lấy những thân mộc cổ thụ sần sùi, gân guốc to lớn đến mức hai người ôm không xuể.

Ngay sát lối mòn dẫn vào vườn, những chùm thanh trà rừng trĩu chịt mọc san sát nhau từ thân gỗ chính cho đến các nhánh nhỏ la đà. Từng quả tròn căng mọng màu vàng ươm, bề mặt phủ một lớp phấn mỏng mịn màng nhưng lại phảng phất thứ hương thơm the nồng, rực rỡ và đượm vị hoang dã; chỉ cần khẽ ngắt một nhánh lá giập thử đưa lên mũi ngửi, người ta đã có thể cảm nhận rõ ràng vị chua gắt tự nhiên làm buốt tận chân răng. Phía xa hơn, sát mé con mương xẻ những rãnh nước sâu hoắm dẫn thẳng từ dòng sông lớn vào tưới tiêu, những cội xoài quéo vươn cành khẳng khiu xám xịt mang theo từng chùm quả vỏ loang lổ sẹo mủ khô, xen lẫn những cây me nước gai góc tua tủa với chuỗi vỏ u sần vặn vẹo, mép vỏ nứt toác để lộ phần cơm thịt quả trắng đục pha chút ửng hồng chát ngọt. Từng gốc quất rừng cằn cỗi bám sâu vào gò đất cao, quả tí hon chỉ bằng ngón tay cái nhưng lớp da sần sùi ngập tràn tinh dầu cay nồng đến xộc óc.

Cả một vương quốc của những giống cây mang vị chua bản địa—những thứ hoa trái từng một thời bị guồng quay thương mại hóa của kinh tế thị trường thành thị gạt phăng ra rìa xã hội vì mẫu mã xấu xí, xù xì và vị chua quá đỗi dữ dội, không chiều chuộng vị giác đám đông—đang được âm thầm dung dưỡng, bảo tồn kiên trì dưới bàn tay cần lao của một người làm vườn cô độc.

Dưới gốc một cây thanh trà cổ thụ cao vượt đầu người, tán lá xòe rộng che mát cả một góc mương, một bóng lưng gầy guộc nhưng thẳng thớm như cây sào đượm nắng đang lom khom làm việc. Người đàn ông dùng một chiếc liềm nhỏ đã mòn vẹt lưỡi, thoăn thoắt phạt sạch những bụi cỏ dại và gai mắc cỡ mọc quấn quanh gốc cây.

"Dạ thưa... có phải chú Sáu Lành không ạ?"

Nhiên cất tiếng chào, giọng cô hơi khàn đi vì gió sông rạch và cái mệt mỏi của chuyến đi dài dằng dặc.

Lưỡi liềm sắc bén khựng lại ngay giữa không trung. Không gian tĩnh lặng như đông cứng trong vài giây, chỉ còn lại tiếng lá khô xào xạc theo cơn gió sớm. Người đàn ông từ từ đứng thẳng dậy. Lưng ông kêu lên một tiếng răng rắc khô khốc, rồi ông chầm chậm xoay người lại.

Đó là một người đàn ông trạc ngoài sáu mươi tuổi, vóc người quắt queo nhưng săn chắc như một khúc gỗ lõi ngâm bùn lâu năm. Nước da ông đen cháy màu đồng hun cày ải qua bao mùa lũ lớn, hai gò má hóp sâu với chòm râu ria lởm chởm bạc trắng, nhưng đôi mắt nằm sâu trong hốc mắt lại sáng quắc, sắc lẻm và sắc sảo như một nhát dao cạo. Ông mặc chiếc áo bà ba đen đã bạc màu, vai áo rách một mảng lớn lộ ra làn da rám nắng đầy sẹo, hai ống quần xắn cao quá đầu gối để lộ đôi bắp chân gân guốc chằng chịt những vết cào xước của gai me nước và mâm xôi dại. Ánh mắt ông không mang một nét gì vồ vập hay tò mò, mà lạnh lùng quét từ khuôn mặt Nhiên xuống đôi vai gầy guộc đang đeo chiếc ba lô bạc màu, rồi dừng lại thật lâu ở mười đầu ngón tay cô—nơi những vết trầy xước rỉ máu do bốc vác hàng chục sọt me dốt ở bến Bảy Nhánh vẫn còn đóng vảy sẫm màu.

"Tìm ai?" Giọng ông khàn đặc, cộc lốc và khô khốc như tiếng búa nện vào thớ gỗ khô.

"Dạ, con là An Nhiên... con gái của má Trần Ngọc Hạ," Nhiên bước tới một bước, bàn tay cô khẽ run rẩy kéo khóa ngăn ngoài chiếc ba lô, cẩn thận rút ra cuốn sổ tay nấu ăn sờn rách gáy của mẹ mình rồi đưa ra phía trước bằng cả hai tay. "Má Bùi Mỹ Duyên ở chợ nổi Cái Răng và già H'Linh trên Buôn Mây Đỏ dặn con phải tìm về tận chốn này để thưa chuyện với chú. Má con... má con mất rồi chú Sáu."

Sáu Lành trừng mắt nhìn cuốn sổ tay quen thuộc bọc vải bố hoa văn đã ố vàng vì thời gian. Bàn tay đang cầm chuôi liềm của ông khẽ siết chặt lại, những đường gân xanh nổi cộm ngoằn ngoèo dưới lớp da mỏng manh, nhưng nét mặt ông tuyệt nhiên không hề biến đổi thành một nỗi xót thương bi lụy hay xúc động nghẹn ngào như Nhiên từng hình dung. Ông nhìn chằm chằm vào mép giấy nham nhở nơi những trang cuối cùng bị xé toạc dở dang, khóe môi khẽ nhếch lên một nụ cười mỉa mai, cay độc đến buốt lòng.

"Mất thì đem chôn, đem tro rải biển rải sông cho rảnh nợ trần gian, vác cái thây về tận đây chìa cuốn giấy vụn này ra làm cái giống gì?" Ông gắt gỏng, thanh âm sắc như dao cứa vào màng nhĩ, rồi dứt khoát quay lưng lại, vung liềm chém phăng một bụi gai mắc cỡ ven đường khiến những cành lá nhỏ đổ rạp xuống đất bùn. "Về đi. Chỗ này là chỗ trồng cây, giữ giống của người ta, không phải cái đền thờ miếu mạo để lũ tụi bay tới khóc mướn xin bùa làm ăn."

"Chú Sáu! Con không đến đây để khóc mướn!"

Nhiên bước dồn theo bóng lưng gầy guộc của ông, giọng cô nghẹn ứ nơi cổ họng nhưng từng âm từ thốt ra đều mang theo sự cương quyết sắt đá.

"Con đã đi từ những triền dốc lộng gió của quán Ba Ngọn Đèn, ngược lên buôn làng Mây Đỏ bạt ngàn mắc khén tiêu rừng, rồi lại xuôi dòng về tận bến Bảy Nhánh ngập tràn me dốt và cá khô, chỉ để hiểu vì sao má con lại xé bỏ những trang cuối cùng này. Con muốn tìm lại trọn vẹn triết lý 'Vị Nhà' mà má đã từng gửi gắm nơi chú..."

"Triết lý? Vị Nhà?"

Sáu Lành đột ngột quay phắt lại, mũi liềm sáng loáng chỉ thẳng vào mặt Nhiên, chỉ cách chóp mũi cô chưa đầy một gang tay. Ánh mắt ông bừng lên ngọn lửa giận dữ, thiêu đốt mọi sự nhẫn nại giả tạo.

"Mày cũng mở miệng ra nói hai chữ 'Vị Nhà' trơn tru, ngọt xớt như con mẹ mày hồi đó vậy hả? Tụi bay là dân làm bếp thành thị, sinh ra lớn lên chỉ quen đứng trên sàn gạch men bóng loáng lau không một hạt bụi, xài dao Nhật dao Đức mấy triệu một cây, cân từng gam bột ngọt, đong từng mi-li-lít giấm hóa học trong mấy cái ca nhựa có vạch chia! Tụi bay nghĩ cái gọi là di sản của con Hạ là mấy dòng chữ nguệch ngoạc ghi mấy muỗng đường, mấy chén mắm, mấy củ hành để tụi bay đem về xào nấu rồi đóng khung kiếng, treo biển hiệu xưng danh đầu bếp tài ba, gìn giữ tinh hoa hả? Tao nói cho mày biết, di sản của con Hạ hổng bao giờ dành cho cái loại chỉ biết lăm lăm tìm kiếm công thức để thành danh!"

Từng lời mắng mỏ xối xả như một gáo nước lạnh buốt tạt thẳng vào mặt Nhiên giữa trưa nắng gắt. Cô sững sờ đứng chôn chân tại chỗ, cuốn sổ tay trên hai bàn tay chao đảo, lòng ngực nghẹn đắng vì sự xúc phạm bất ngờ.

"Con không tìm công thức để thành danh! Con chưa từng có ý định mượn danh má để vụ lợi!" Nhiên cất giọng phản kháng, hai mắt đỏ hoe nhưng không để giọt nước mắt nào rơi xuống. "Bếp Hạ ở Minh Cảng đang đứng trước nguy cơ bị các chủ nợ siết nhà, bị phát mãi từng cái bàn cái ghế! Con phải hiểu má con đã sống ra sao, đã nghĩ những gì, đã trải qua những cuộc đấu tranh nào để giữ lại linh hồn của căn bếp ấy..."

"Muốn hiểu hả?"

Sáu Lành cười khẩy một tiếng khô khốc, ánh mắt khinh miệt liếc xéo qua vạt mương xẻ đen ngòm ngập tràn phù sa và rác hữu cơ dưới chân hai người.

"Nói mồm thì đứa nào nói hổng được! Miệng lưỡi dân thị thành tụi bay trơn như mỡ cá tra! Muốn hiểu con Hạ, muốn hiểu cái đất này thì cởi giày ra, xắn quần lên! Bước xuống mương bón bùn cho mười hai gốc quéo đằng kia mau! Đứng đó mà diễn trò hiếu thảo!"

Nhiên chết lặng nhìn con mương sâu hun hút. Mặt nước tù đọng lấp lánh thứ ánh sáng dầu nhờn của lá bần phân hủy, đặc quánh một màu đen xỉn của lớp phù sa tích tụ lâu năm, lởm chởm những rễ mọc ngược của bần và quéo nhọn hoắt như chông găm. Nhưng khi nhìn thẳng vào đôi mắt già nua đang nheo lại đầy vẻ thách thức và coi thường của Sáu Lành, ngọn lửa kiêu hãnh và nỗi tự trọng nghề nghiệp sâu kín trong lòng cô bùng cháy dữ dội.

Không nói thêm một lời phân bua, Nhiên dứt khoát cúi xuống cởi đôi giày vải đã sờn rách, ướt sũng đặt ngay ngắn lên bờ cỏ. Cô xắn ống quần bò lên quá gối, để lộ đôi chân trắng trẻo nhưng chằng chịt vết trầy xước.

Bàn chân trần của cô cắm ngập vào lòng mương.

Bùn non lạnh buốt, nhão nhoét và đặc quánh luồn lách qua các kẽ ngón chân, dâng ngập lên tận bắp chuối. Một cảm giác rợn ngợp chạy dọc sống lưng khi lòng bàn chân chạm phải những cành cây mục và rễ ngầm sắc nhọn. Mùi sình lầy nồng nặc khí lưu huỳnh, mùi chua nồng của thảm thực vật lên men ngột ngạt xộc thẳng vào mũi khiến cô choáng váng, suýt nôn ọe ngay giữa mương.

"Lấy cái gàu sọ dừa đằng kia, múc bùn non dưới đáy rãnh đắp tròn quanh mô gốc quéo, cách gốc đúng một gang tay!" Sáu Lành đứng trên bờ cao khoanh tay quát vọng xuống, giọng sắt đá không chút mảy may mủi lòng. "Cây xoài quéo, cây thanh trà rừng này cái nết nó khó tính hơn lũ người thành phố tụi bay nhiều lắm! Bộ rễ của nó chỉ thở bằng phù sa ngậm lá bần mục, rải một nắm phân hóa học hay xịt một giọt thuốc kích rễ vô là thúi rễ chết đứng liền tức khắc! Làm cho đàng hoàng, đắp cho khéo, sót một gốc hay làm đứt một cọng rễ cái là cuốn gói biến về Minh Cảng ngay lập tức, đừng có trơ tráo ở lại đây làm dơ đất của tao!"

Nhiên cắn chặt môi dưới đến mức bật máu, vị tanh mặn rỉ vào đầu lưỡi. Cô vươn tay chộp lấy chiếc gàu gỗ chắp bằng sọ dừa đã lên rêu mục ải, khom lưng xúc từng gàu bùn nặng trĩu dưới đáy mương.

Bùn dẻo quánh bám chặt lấy gàu, mỗi lần nhấc lên là hai bắp tay cô run rẩy bần bật, cơ lưng căng cứng như muốn đứt lìa. Mười đầu ngón tay vừa mới se miệng vết thương do bốc me dốt ở Bảy Nhánh nay lại cào xước vào đất cát phù sa, xót buốt tột cùng như có hàng ngàn mũi kim châm vào da thịt. Bùn đen bắn tung tóe lên mặt, lên cổ, dính bết vào chiếc áo sơ mi trắng đã lấm lem. Mỗi bước di chuyển dưới lòng mương là một cực hình thực sự; sức hút khủng khiếp của lớp sình lầy níu chặt lấy từng bước chân, khiến cô chao đảo, nhiều lần trượt ngã dúi dụi, hai đầu gối dập mạnh vào những gốc cây ngầm đau điếng.

Phía trên bờ rạch, Hoàng Phúc nãy giờ đứng quan sát, mặt lộ rõ vẻ sốt ruột và xót xa. Anh dợm bước định nhảy xuống mương giằng lấy chiếc gàu sọ dừa để làm thay cô, nhưng Nhiên đã kịp ngẩng đầu lên. Ánh mắt cô đỏ ngầu vì mồ hôi và bùn đất cay xè, nhưng cái lắc đầu của cô dứt khoát đến mức tàn nhẫn. Cô không cho phép ai gánh thay mình thử thách này. Đây là cái giá cô phải trả để bước qua bức tường phòng thủ gai góc của người đàn ông này, là con đường duy nhất để chạm tới phần ký ức chưa từng được kể của mẹ.

Suốt hơn ba tiếng đồng hồ đằng đẵng dưới cái nắng trưa miền Tây hầm hập như một chiếc lò nung khổng lồ, hơi nước từ các con rạch bốc lên oi nồng đến nghẹt thở, Nhiên cặm cụi đắp xong lớp phù sa màu mỡ cho đủ mười hai gốc xoài quéo cổ thụ. Khi đôi bàn tay cô run rẩy trút gàu bùn cuối cùng quanh gốc cây thứ mười hai, toàn thân cô đã kiệt quệ. Cô phải dùng hết chút sức tàn bấu chặt vào bờ cỏ, trườn người bò lên mặt đất. Hai chân cô co giật từng cơn vì chuột rút, bùn non đen đúa phủ kín từ ngực xuống đến bàn chân, hơi thở đứt quãng, gấp gáp như người vừa thoát khỏi một cơn chết đuối.

Sáu Lành vẫn đứng đó, dưới bóng râm của cây thanh trà. Khuôn mặt ông phẳng lặng như mặt nước giếng khơi, không có lấy một lời khen ngợi hay một cử chỉ an ủi. Ông dùng mũi chân trần đá nhẹ vào hai chiếc sọt tre lớn đan thô đặt dưới gốc cây cổ thụ bên bến nước:

"Chưa xong đâu. Lại đây phân loại đống trái rụng này."

Đó là những sọt tre chứa đầy những quả xoài quéo, thanh trà rừng và me nước rụng lả tả trên mặt đất từ sáng sớm tinh sương. Phần lớn quả đều mang thương tích: quả thì bị sâu đục khoét nham nhở ở cuống, quả bị chim cào xước vỏ tứa mủ thâm đen, quả thì nám đen từng mảng lớn vì rám nắng hoặc méo mó dị dạng, vỏ sần sùi như da cóc.

"Mày thấy đó," Sáu Lành ngồi xổm xuống mép bờ cỏ, thọc bàn tay chai sần nhặt lên một trái quéo vỏ sần sùi có vết ong chích loang lổ mủ khô, cất giọng châm biếm sâu cay. "Thương lái dưới chợ nổi ngó qua là lắc đầu quầy quậy, chê ỏng chê eo, trả giá bèo hơn cám cho heo ăn vì cái mã ngoài xấu xí, không chưng bày lộng lẫy trên mấy cái kệ siêu thị kính mát máy lạnh của tụi bay được. Đem lên thành phố bán dạo thì liệu có ai thèm dòm ngó tới không? Giờ tao đố mày: mày tự xưng là đầu bếp trứ danh nối nghiệp Bếp Hạ, mày tìm ra giải pháp tiêu thụ hết mớ trái chua bỏ đi này cho dân làm vườn tụi tao coi? Nhưng tao nói trước cho mày nhớ, cấm tiệt cái trò cắm cờ mở rạp xiếc du lịch, dắt mối cho lũ khách tham quan vô đây chụp hình tự sướng, vặt lá bẻ cành xả rác biến khu vườn này thành cái chỗ mua vui rẻ tiền của đám rảnh rỗi! Mày có làm được không?"

Nhiên quỳ sụp gối bên hai sọt tre, mặc cho bùn non trên người khô lại kéo căng từng thớ thịt. Bản năng nghề nghiệp và sự nhạy cảm thiên bẩm đối với nguyên liệu thực phẩm—thứ đã được trui rèn qua hàng ngàn giờ đứng bếp và những ngày lang bạt khắp các nẻo đường cùng mẹ—bỗng trỗi dậy mạnh mẽ trong tâm trí cô.

Cô nhặt một trái thanh trà rừng bị giập một góc vỏ lên, đưa sát mũi hít một hơi thật sâu. Mùi tinh dầu the cay bùng nổ, gắt gỏng nhưng thanh khiết vô ngần. Cô bấm nhẹ móng tay vào lớp vỏ dày, tách đôi phần thịt quả. Dòng nước cốt vàng óng tứa ra, óng ánh dưới ánh nắng trưa. Nhiên đưa đầu lưỡi nếm thử một giọt. Vị chua xé toạc nhưng ngay sau đó là một tầng hương sâu thẳm, ngậm đầy khoáng chất mặn mòi của dải đất ngập mặn ven biển.

Cô tiếp tục nhặt một quả quéo rám nắng, dùng móng tay cạo nhẹ lớp mủ khô rồi nếm thử phần cùi sát hạt. Vị chua của quéo không thanh như thanh trà mà đượm vị chát nhẹ của nhựa mộc, thịt quả săn chắc và chứa hàm lượng axit hữu cơ vô cùng bền nhiệt.

"Tại sao cứ phải chăm chăm bán quả tươi để cạnh tranh với các loại trái cây biến đổi gen bóng bẩy hay hàng ngoại nhập?"

Nhiên ngẩng đầu lên, ánh mắt cô rực sáng, nét mệt mỏi trên gương mặt biến mất, nhường chỗ cho sự sắc sảo của một đầu bếp am tường cấu trúc thực phẩm.

"Thanh trà rừng có hàm lượng pectin tự nhiên cực kỳ cao, lượng đường thấp nhưng lượng tinh dầu ở vỏ lại đậm đặc gấp ba lần chanh yên hay tắc thông thường. Thay vì bán tháo bán đổ cho thương lái ép giá, ta hoàn toàn có thể ủ thanh trà giập với muối hạt rang khô và ớt hiểm xanh trong lu sành để tạo thành một loại cốt xốt chua mặn cay nồng, dùng làm xốt chấm thịt nướng hoặc gia vị ướp gia cầm béo. Cùi xoài quéo rám nắng tuy xấu mã nhưng thịt quả dai và chịu nhiệt cực tốt; nếu đem thái mỏng sấy lạnh rồi lên men tự nhiên bằng men gạo lúa miệt rẫy, ta sẽ thu được một loại bột gia vị chua đằm, thay thế hoàn toàn cho me vắt công nghiệp trong các món lẩu cá da trơn hay canh chua cá ngát. Còn mớ me nước vỏ sần sùi này, lượng tannin trong vỏ chát sẽ biến mất khi nấu cô đặc với mật mía và gừng gió, tạo thành món mứt chua thanh vị mộc mạc."

Cô đứng thẳng dậy, tự tin nhìn thẳng vào mắt Sáu Lành:

"Con có thể kết nối và đưa toàn bộ nguồn cốt xốt và bột gia vị bản địa này vào thực đơn của các mạng lưới bếp ăn độc lập dọc đường mà con vừa đi qua—từ quán Ba Ngọn Đèn trên đỉnh Dốc Sương mù sương, các bếp cơm công nhân ở vùng kinh tế mới, cho đến những quán ăn bình dân khắp ngõ hẻm Minh Cảng. Nông sản quê mùa có giá trị tự thân nằm ở sự gai góc và hương vị nguyên bản của nó! Việc gì người nông dân phải cúi đầu cầu xin các siêu thị sang trọng đón nhận như một thứ phế phẩm bố thí?"

Sáu Lành đứng sững lại. Đôi mắt sắc lẻm của ông co rút lại trước câu trả lời mạch lạc, sắc bén và đầy tính toán thực tế của cô gái trẻ. Bàn tay cầm liềm của ông khẽ buông thõng. Một thoáng sững sờ lướt qua gò má gầy guộc. Nhưng rồi, sự bất ngờ đó nhanh chóng bị dập tắt bởi một cơn giận dữ mới, dữ dội và u uất hơn gấp bội. Khuôn mặt già nua của ông đanh lại, đôi môi mỏng run rẩy trong một nỗi cay đắng ngút ngàn.

"Đưa vô thực đơn? Lại là thực đơn!"

Ông cười phá lên, tiếng cười chát chúa, the thé vang vọng khắp khu vườn như tiếng cành khô gãy giòn trong gió bão.

"Mày nói nghe êm tai dữ hôn? Nghe mùi mẫn, đạo mạo dữ hôn? Rồi từ mấy cái hũ cốt xốt, mấy cái hộp bột gia vị đó, mày sẽ lại dùng bàn tay khéo léo của mày để phù phép, biến nó thành thứ nước chấm thời thượng, gán cho nó cái nhãn mác sinh thái 'thuận tự nhiên', cào cào chút vỏ cây rêu phong rồi tính tiền triệu một đĩa ăn bé tí tẹo trong mấy cái nhà hàng năm sao cho lũ nhà giàu rửng mỡ ngồi phòng máy lạnh ngắm nghía rồi vỗ tay khen lấy khen để nghệ thuật ẩm thực dân gian! Mày bảo tồn giống cây chua này là để cứu dân nghèo tụi tao, hay là để phục vụ cho cái miệng sành ăn thừa mứa của cái đám thị thành lắm tiền nhiều của hả Nhiên?"

"Chú Sáu! Chú đang áp đặt định kiến một cách vô lý và hẹp hòi!"

Nhiên bật dậy, lồng ngực cô phập phồng dữ dội vì uất ức. Nỗi mệt mỏi thể xác dường như biến mất, nhường chỗ cho cơn phẫn nộ bùng phát.

"Ẩm thực muốn sống sót qua thời gian thì phải có dòng tiền luân chuyển! Người trồng cây muốn giữ được đất đai, muốn giữ được vườn tược của tổ tiên thì bản thân họ và con cái họ phải sống được, phải no ấm bằng chính những sản vật mà họ đổ mồ hôi gầy dựng! Nếu không thương mại hóa một cách văn minh, không tìm ra một đầu ra bền vững và sòng phẳng cho nó, thì những giống cây chua cằn cỗi này sẽ sớm muộn bị người ta đốn hạ sạch trơn để san phẳng trồng sầu riêng ghép, cam sành bóng bẩy xịt đẫm thuốc trừ sâu! Lúc đó sự thuần khiết hoang dã mà chú tôn thờ nằm ở đâu? Nằm dưới lưỡi cưa máy của cánh thợ đốn củi hay nằm trong những bài thơ than khóc dĩ vãng?"

"Mày câm miệng lại!"

Sáu Lành gầm lên một tiếng xé lòng, ngón tay trỏ đen đúa run rẩy chỉ thẳng vào trán Nhiên. Đôi mắt ông long lên sòng sọc, đỏ ngầu những tia máu của một nỗi đau đớn bị dồn nén suốt mấy mươi năm trời.

"Giá trị của giống cây này nằm ở bữa cơm đạm bạc nuôi sống dân gian nghèo khó qua những mùa thất bát, những tháng ngày lũ lụt cơ hàn! Mày có biết một trái quéo chua lè bẻ vội trên cành chấm miếng muối ớt cục đã từng cứu đói cho bao nhiêu người chèo đò lúc lỡ chuyến, cạn túi giữa đồng không mông quạnh không? Mày có biết một nồi canh chua nấu bằng mớ thanh trà rừng dập nát với mấy con tép trấu dưới mương đã giữ ấm bụng cho bao nhiêu đứa trẻ con nhà nghèo trong những đêm nước nổi tràn bờ không? Nó sinh ra từ bùn đất cùng khổ, nó thuộc về người nghèo, thuộc về những phận đời lam lũ bám đất bám rạch! Biến nông sản quê mùa thành thứ xa xỉ phẩm cho giới nhà giàu đô thị gắp một miếng bằng đũa ngà rồi ngồi phán xét triết lý nghệ thuật... đó là sự phản bội! Con mẹ mày năm xưa suýt nữa cũng rơi vào cái hố nhung lụa giả trá đó, và mày bây giờ... mày bây giờ y hệt như bả!"

Hai chữ "con mẹ mày" vang lên giữa khu vườn tĩnh lặng như một phát súng nổ đoàng, phá tan bầu không khí trưa hè.

Nhiên sững người, lồng ngực thắt lại nghẹt thở, họng đắng ngắt không thốt nên nổi một lời đáp trả. Cô đứng trân trân nhìn người đàn ông già nua đang thở dốc vì cơn giận, cảm thấy như có một nhát dao vừa cứa sâu vào góc khuất thiêng liêng nhất trong ký ức của mình. Gió trưa nổi lên xào xạc qua rặng thanh trà cổ thụ, làm rơi lả tả những chiếc lá già úa vàng xuống nền bùn đất đen quánh.

***

Mặt trời đứng bóng rọi những tia nắng chói chang, gay gắt xuyên qua kẽ lá bần dày đặc. Sau cuộc khẩu chiến dữ dội làm rúng động cả khu vườn, không ai nói với ai thêm một câu nào.

Sáu Lành lẳng lặng thu dọn nông cụ, cúi người xách chiếc giỏ tre chứa mớ cá sặc ranh nhỏ xíu ông câu được từ mé rạch sáng sớm, rồi thoăn thoắt bước lên bờ cỏ. Ông đi thẳng về phía gian nhà sàn ba gian bằng gỗ đước dựng nép mình dưới bóng mát râm ran của rặng nhãn cổ thụ ven bờ nước ròng.

Nhiên đứng lặng một hồi lâu bên sọt quả dở dang, rồi cô chầm chậm bước lại chiếc lu nước mưa đặt bên chái bếp sau nhà. Dùng chiếc gáo dừa múc từng gáo nước mưa mát lạnh dội sạch lớp bùn non bám chặt trên da thịt, cô nhìn dòng nước đen ngầu cuốn trôi phù sa xuống rãnh thoát nước, lòng ngổn ngang trăm mối tơ vò. Rửa sạch chân tay, cô ngập ngừng bước lên những bậc thang gỗ mun đã mòn vẹt dấu chân người qua năm tháng.

Gian nhà sàn đơn sơ đến mức quạnh quẽ và khắc khổ. Không hề có những bộ bàn ghế salon đắt tiền hay tủ chè cẩn ốc xà cừ lộng lẫy, giữa gian nhà chỉ kê một bộ ván gõ đỏ bóng loáng màu thời gian và một chiếc bàn làm việc bằng gỗ tràm mộc mạc. Trên bàn chất đầy những lọ thủy tinh đựng mẫu hạt giống khô, những tập tiêu bản lá cây ép cẩn thận trong giấy báo cũ đã ố vàng, cùng hàng chục cuốn sách chuyên khảo về thực vật học miền Nam gáy đã sờn rách, mục nát mép bìa.

Bữa cơm trưa đạm bạc được dọn ra ngay giữa bộ ván gõ đỏ. Mâm cơm chỉ vỏn vẹn một chiếc ơ đất nhỏ kho mớ cá sặc ranh quéo lại, nước kho kẹo quánh màu cánh gián đậm đà; một đĩa đọt choại luộc xanh ngắt còn bốc khói nghi ngút; và một chiếc bát sành đựng muối hột thô giã nhuyễn với ớt hiểm xanh cùng vài lát thanh trà rừng xắt mỏng dính.

"Ngồi xuống ăn đi. Không ăn thì lấy cái giống gì vô bụng mà cãi lộn với tao?"

Sáu Lành buông một câu cộc lốc, không thèm ngước mắt nhìn lên. Ông dùng đôi đũa tre xới một bát cơm nguội hạt to, đầy có ngọn, đẩy mạnh về phía mép ván trước mặt Nhiên.

Nhiên ngồi xếp bằng xuống sàn gỗ mát rượi, đón lấy bát cơm nguội. Lòng cô trĩu nặng một cảm giác bùi ngùi khó tả. Cô cầm đôi đũa tre mộc, gắp một lát thanh trà rừng mỏng dính đã ngấm đẫm hạt muối ớt đưa lên miệng nếm thử cùng một miếng cơm trắng.

Một cơn chấn động vị giác bùng nổ tức thì. Vị chua thanh khiết, sắc lẹm và the nồng của tinh dầu vỏ thanh trà xộc thẳng lên vòm họng, kéo theo vị mặn chát nguyên thủy của muối hạt phơi nắng biển và vị cay xé lưỡi, nóng bừng của ớt hiểm xanh. Nhưng điều kỳ diệu nhất xảy ra ngay khoảnh khắc hạt cơm nguội ngọt bùi hòa tan vào: tất cả sự gay gắt, dữ dội của chua cay mặn chát bỗng chốc dịu lại một cách lạ kỳ. Một hậu vị ngọt thanh mát, sâu lắng và đượm đà vị khoáng chất bãi bồi đọng lại nơi cuống họng, êm ái như một dòng nước mát xua tan đi toàn bộ sự khô khát, nhọc nhằn của buổi trưa đổ lửa.

Đây không phải là một món ăn được tạo ra để trình diễn trên bàn tiệc lộng lẫy; đây chính là hương vị của sự sống sót, hương vị của sự chở che và nương tựa mộc mạc mà con người miệt vườn đã dựa vào để đi qua những năm tháng đói nghèo, giông bão. Và đây cũng chính là hương vị mà mẹ cô đã cất công đi tìm trong suốt những tháng ngày bôn ba trốn chạy.

Sáu Lành nhai chậm rãi từng hạt cơm nguội, đôi mắt đăm đăm nhìn qua khung cửa sổ gỗ không cánh trông ra vạt mương xẻ rợp bóng cây. Bầu không khí im ắng đến mức trong gian nhà nghe rõ mồn một tiếng cá thòi lòi quẫy đuôi lách tách ngoài bãi bùn lúc nước ròng kiệt đáy.

"Mày có đôi mắt mở to và cái tính bướng bỉnh, lì lợm y hệt như con Hạ hồi ba mươi năm trước," ông lão bỗng cất tiếng. Thanh âm ông trầm hẳn xuống, không còn vẻ xẵng giọng, the thé hay gắt gỏng như ban nãy, mà trĩu nặng một nỗi hoài niệm mênh mông, xa xăm như vọng về từ một kiếp sống khác. "Năm đó... bả trốn khỏi đất Minh Cảng, dạt về miệt rạch này với hai bàn tay trắng trơn và một trái tim vụn nát như bình gốm rơi xuống đá."

Nhiên buông đũa, ngước nhìn khuôn mặt nghiêng gầy guộc của người đàn ông già. Cô nín thở, lắng nghe từng nhịp đập gấp gáp trong lồng ngực mình.

"Bả trốn chạy cuộc hôn nhân bế tắc, trốn chạy những món nợ ngập đầu và những định kiến ngột ngạt của phố thị đè nặng lên vai người đàn bà làm bếp," Sáu Lành bùi ngùi kể, ánh mắt ông nhìn trôi dạt ra khoảng không hun hút ngoài vườn. "Bả tá túc ở cái chái bếp mé rạch này gần hai mùa gió chướng. Tao với bả ngày nào cũng như ngày nấy, sớm tinh mơ chèo xuồng lội mương bắt cá, trưa lùng sục khắp các cù lao, các giồng đất hoang gom từng giống cây chua dại đem về đây ươm hạt, gầy giống. Bả là dân bếp thượng thừa, bả chỉ cho tao cách dùng khứu giác để cân bằng vị mặn ngọt, nhận biết thời điểm vàng của một mẻ gia vị lên men. Còn tao, tao chỉ cho bả biết tính nết, thói quen và linh hồn của từng loại cây trái chua hoang dại của đất phương Nam này. Tụi tao... đã từng yêu thương nhau sâu nặng, sâu nặng hơn bất cứ thứ gì tồn tại trên cõi đời này."

Nhiên bàng hoàng, hai bàn tay cô vô thức nắm chặt lấy vạt áo sơ mi lấm lem bùn đất. Dù đã lờ mờ đoán được mối thâm tình sâu kín qua những lời kể lấp lửng của già H'Linh trên Buôn Mây Đỏ và má Duyên dưới chợ nổi Cái Răng, nhưng khi nghe chính miệng người đàn ông khắc khổ này thốt lên lời yêu thương dành cho mẹ mình, trái tim cô vẫn thắt nghẹn lại trong một cơn chấn động tâm can.

"Vậy... tại sao hai người không đến với nhau?" Nhiên run rẩy cất tiếng hỏi, giọng cô nhỏ giọt giữa gian nhà vắng. "Tại sao chú lại ở lại đây một mình suốt ngần ấy năm?"

"Bởi vì lằn ranh đạo đức, và bởi vì trách nhiệm làm mẹ của bả!"

Sáu Lành gõ mạnh đầu đũa tre xuống mép mâm gỗ, hai mắt ông đỏ hoe, ngấn nước.

"Bả là gái có chồng, dù cái cuộc hôn nhân đó đã chết ngạt, đã biến thành nấm mồ chôn vùi tuổi xuân của bả từ lâu. Nhưng quan trọng hơn hết thảy mọi thứ trên đời này: ở Minh Cảng, bả còn có mày, còn có thằng Khang! Tụi bay lúc đó còn quá nhỏ dại. Mỗi đêm nghe tiếng nước ròng rút cạn đáy mương, bả đều ngồi bệt ngoài hiên ôm mặt khóc thầm vì nhớ hai đứa con thơ côi cút. Tụi tao hiểu rõ hơn ai hết: nếu bước qua cái ranh giới tội lỗi đó để mưu cầu hạnh phúc ích kỷ cho riêng bản thân mình, thì sự hèn nhát đó sẽ thiêu rụi toàn bộ linh hồn làm người của cả hai đứa tao. Tụi tao đã chủ động dừng lại, cắn răng chôn chặt mối tình đó sâu xuống đáy lòng, để bả quay trở về Minh Cảng làm tròn bổn phận của một người mẹ."

Ông lão thở dài một hơi thật sâu, tiếng thở dài cay đắng như rút hết sinh khí trong lồng ngực gầy guộc. Bàn tay chai sạn run rẩy với lấy chiếc ấm sành cáu bẩn, rót một chén nước trà quao đắng ngắt đưa lên môi hớp một ngụm lớn:

"Nhưng cái nhát dao chí mạng khiến tao với bả rạn nứt thật sự, cái thứ làm tụi tao xa cách nhau đến tận lúc bả nhắm mắt xuôi tay... không phải là chuyện tình cảm lứa đôi dở dang, mà là chuyện cái tâm làm bếp. Khi bả trở về Minh Cảng gầy dựng Bếp Hạ, đối mặt với áp lực kinh doanh đè nặng từng ngày, đối mặt với những món nợ cũ bủa vây tứ phía và sự cạnh tranh khốc liệt của thương trường, bả đã từng chần chừ, dao động không dám công khai xuất xứ cộng đồng của những kỹ thuật, nguyên liệu bản địa lên thực đơn nhà hàng. Bả sợ các nhà đầu tư chê món ăn quê mùa thất học, bả sợ thực khách sành ăn dè bỉu nguồn gốc bần hàn, bả sợ Bếp Hạ mất đi vị thế độc tôn của một bí truyền ẩm thực cao cấp. Tao với bả đã cãi nhau một trận trời long đất lở ngay tại gian nhà sàn này, đúng ngay chỗ mày đang ngồi!"

Sáu Lành nhắm nghiền mắt lại, như thể ký ức đau đớn của ngày hôm đó đang hiện về mồn một trước mắt:

"Tao nói thẳng vô mặt bả: *'Nếu cô đem mồ hôi nước mắt, đem sản vật cứu đói của dân miệt vườn đi làm đồ trang sức sang trọng cho riêng mình mà giấu nhẹm nguồn gốc của họ, thì cô đừng bao giờ bước chân vô Vườn Cổ Mộc này thêm một lần nào nữa!'* Bả khóc, khóc đến xé ruột xé gan. Rồi bả giật lấy cuốn sổ tay nấu ăn trên bàn, xé toạc phần cuối cùng ném lại trước mặt tao, rồi quay lưng bước đi thẳng ra bến đò, không một lần ngoái đầu nhìn lại."

Sáu Lành chầm chậm đứng dậy. Đôi chân trần gầy guộc bước từng bước nặng nề lại góc bàn làm việc cũ kỹ. Ông với tay, cẩn thận rút ra từ kẹp bìa một cuốn sách thực vật học dày cộp vài tờ giấy ố vàng. Mép giấy rách so le, lởm chởm những vết xé vội vã hoàn toàn trùng khớp với vết rách trên cuốn sổ tay mà Nhiên đang mang bên mình.

"Mấy trang giấy này... bả để lại đây không phải vì giận hờn hay oán trách tao," Sáu Lành khẽ nói, ngón tay thô ráp vuốt ve từng dòng chữ viết tay mềm mại đã phai màu mực theo năm tháng. "Bả để lại như một lời hẹn ước dở dang với mảnh đất này, với chính lương tâm của bả. Bả dặn tao: chừng nào bả đủ dũng khí rũ bỏ mọi danh vọng hão huyền của chốn thị thành, đủ bản lĩnh đứng trước cuộc đời công nhận công lao của những người nghèo lam lũ đã cưu mang mình, bả mới xứng đáng quay lại nhận lấy nó. Tiếc thay... bả đi quá sớm. Cuộc đời bạc bẽo không cho bả thêm thời gian để quay về."

Ngồi giữa gian nhà sàn lộng gió sông, Nhiên cảm thấy một cơn bão cảm xúc dữ dội chưa từng có đang quét qua tâm can mình.

Cảm giác đầu tiên dội lên trong cô là một sự giận dữ xót xa tột cùng. Cô giận vì mẹ đã giấu giếm quá nhiều điều khuất tất, giận vì suốt những năm tháng tuổi thơ ấu thơ dại, cô đã từng oán trách mẹ sao quá lạnh lùng, quá hà khắc, sao luôn bỏ bê gia đình và hai chị em cô để lao vào những chuyến đi vô định mà không hề hay biết rằng người phụ nữ ấy đã phải cắn răng chịu đựng những giằng xé tình cảm đau đớn, xé toạc tâm hồn đến nhường nào. Mẹ cô đã phải một mình chịu đựng nỗi cô đơn cùng cực, gánh trên vai món nợ tiền bạc lẫn món nợ ân tình sâu nặng mà không thể chia sẻ cùng ai.

Nhưng ngay sau cơn giận dữ ngắn ngủi ấy, một nỗi đau thắt ruột và một niềm thấu cảm sâu xa ùa về, choán ngợp toàn bộ tâm trí Nhiên.

Hình tượng người mẹ hoàn hảo, bao dung đến mức thánh thiện nhưng xa cách, lạnh lẽo như một bức tượng đài bằng đá hoa cương trong tâm tưởng Nhiên bấy lâu nay bỗng chốc sụp đổ hoàn toàn. Bức tượng đài ấy vỡ vụn, để lộ ra hình ảnh bà Trần Ngọc Hạ chân thực, sống động và gần gũi hơn bao giờ hết: một người phụ nữ bằng xương bằng thịt, có những phút giây yếu mềm muốn buông xuôi tất cả, có những đam mê cháy bỏng đời thường, có những lỗi lầm thỏa hiệp trước áp lực nghiệt ngã của đồng tiền và danh vọng, nhưng trên hết là một người mẹ đã dằn vặt, đau đớn cả một đời để tìm cách chuộc lại những lỗi lầm ấy.

Mẹ cô không phải một bậc thánh nhân không tì vết; bà là một con người đã dám sống tận cùng, dám sai lầm, và dám chịu đựng mọi nỗi đau đớn, tủi nhục để bảo bọc những người mình yêu thương nhất. Triết lý "Vị Nhà" mà mẹ để lại không phải là một công thức nấu ăn bí truyền bất biến; nó là bài học về sự thức tỉnh, là con đường tìm về cội nguồn sau những lần lầm lạc giữa chốn phù hoa.

Nhiên chậm rãi đứng dậy. Cô bước lại gần, đứng đối diện trước mặt người đàn ông già nua đang ôm những trang giấy cũ. Cô không đưa tay ra để xin lại những trang nhật ký thất lạc.

Thay vào đó, Nhiên cúi đầu thật sâu. Một cái cúi đầu kính cẩn, trang trọng xuất phát tự đáy lòng của một người làm bếp đối với người giữ gìn linh hồn của đất đai, sản vật:

"Con cảm ơn chú Sáu. Con hiểu rồi. Con đã hiểu trọn vẹn những gì má con muốn gửi gắm lại nơi này. Di sản của Bếp Hạ, di sản của má con... không bao giờ là những bí quyết độc quyền để giữ cho riêng Bếp Hạ sống sót hay thành danh, mà là sự can đảm để trả lại sự thật, trả lại tên tuổi và danh dự cho những người lao động nghèo đã làm ra nó."

Sáu Lành sững sờ nhìn cử chỉ cúi đầu của Nhiên. Ông nhìn chăm chú vào ánh mắt kiên định, trong veo không một gợn toan tính của cô gái trẻ. Đôi vai gầy gò của ông khẽ chùng xuống. Những nét nghiêm nghị, cay nghiệt khắc khổ trên khuôn mặt già nua từ từ dãn ra, nhường chỗ cho một thoáng ấm áp hiếm hoi ánh lên nơi khóe mắt đầy những nếp chân chim sâu hoắm. Ông khẽ thở dài một tiếng, nhưng lần này là tiếng thở dài nhẹ nhõm như vừa trút bỏ được một tảng đá đè nặng ngực suốt mấy mươi năm trời.

Bỗng nhiên, từ con đường đất đỏ gồ ghề dẫn vào cổng Vườn Cổ Mộc rộ lên tiếng gầm rú nặng nề, chói tai của động cơ xe hơi cỡ lớn, xé toạc bầu không khí thanh bình tĩnh mịch của miệt vườn cây trái. Tiếng còi xe bấm liên hồi làm bầy chim bần hoảng loạn vỗ cánh bay dáo dác lên nền trời trưa.

Hoàng Phúc từ ngoài mé bờ rạch hớt hải chạy xộc lên các bậc thang nhà sàn, gương mặt anh tái mét, thở không ra hơi:

"Nhiên ơi! Chú Sáu ơi! Có chuyện lớn rồi!"

Nhiên và Sáu Lành cùng giật mình, bước nhanh ra mé hiên nhà sàn nhìn xuống lối cổng rào râm mát.

Bóng đen của chiếc xe hơi sang trọng dừng lại ngoài cổng vườn; Khải Nam đã đi trước cô một bước.

Chương này thế nào?Đánh giá giúp Readeep đề xuất đúng hơn cho bạn