Cẩm Nam có đáng tiền không
Gió từ mặt sông Thu Bồn thốc qua mố cầu Cẩm Nam mang theo cái nồng ngái quen thuộc của bùn bãi và phù sa phơi nắng, nhưng ngọn gió chiều ấy tuyệt nhiên chẳng làm dịu bớt được không khí ngột ngạt đang bốc lên hầm hập bên trong gian ki-ốt tạm bợ ở mé bờ nam.
Mái tôn xi măng hấp thụ trọn vẹn cái nắng chói chang suốt từ trưa đến non nửa buổi chiều, giờ đây như một tấm vỉ nướng khổng lồ phả hơi nóng hôi hổi xuống không gian vỏn vẹn chừng mười lăm mét vuông. Căn nhà cấp bốn này trước đây vốn là kho chứa ngư cụ của một hộ dân làm nghề chài lưới vừa giải nghệ. Mùi sợi cước mục, mùi vảy cá khô bám vào kẽ chân tường lâu năm quyện với mùi ẩm mốc của những lớp vôi vữa bong tróc, tạo nên một thứ bầu không khí đặc quánh, lợm giọng.
Để có được hai tuần thử nghiệm đặt trạm gom hàng tại đây, ban điều hành Chợ Nhà Mình đã phải cắn răng trích một khoản tiền không nhỏ từ nguồn quỹ vận hành vốn dĩ đã vô cùng eo hẹp để đặt cọc và thanh toán trước cho chủ nhà. Ý tưởng ban đầu khi Lộc đưa ra nghe chừng vô cùng xuôi tai và đầy sức thuyết phục: biến gian ki-ốt này thành một trạm trung chuyển vệ tinh tập trung cho toàn bộ các đơn hàng chuẩn bị tỏa đi những vùng ngoại vi nằm ngoài bán kính lõi phố cổ. Nó được kỳ vọng sẽ giải quyết dứt điểm cơn ác mộng mà đội ngũ giao hàng bằng xe máy phải đối mặt hằng ngày: lệnh cấm xe cơ giới theo khung giờ, những hàng rào chắn phố đi bộ ken đặc, và những ngõ hẻm quanh co đến nghẹt thở mỗi độ xế chiều.
Trên tấm bảng foocmica trắng treo lệch trên bức tường loang lổ, Lộc đang dùng cây bút lông dầu màu xanh vạch những đường mũi tên đậm nét, chỉ thẳng từ các phân khu ngõ sâu của phường Cẩm Phô chạy túm tụm về phía chân cầu Cẩm Nam.
Lộc quẹt mạnh mu bàn tay lên cằm, gạt phăng vệt mồ hôi đang chảy ròng ròng xuống cổ áo thun sờn rách. Anh quay phắt lại, giọng nói sang sảng pha lẫn vẻ hào sảng, phấn chấn không giấu giếm:
“Đó, cô Hân với chú An coi kỹ giùm tui! Mấy bữa rày có cái chái nhà này, đội xe thồ của tui khỏe re, nhẹ người hẳn ra. Tụi nhỏ gom bánh mì từ sạp cô Tư, vớt mắm với lấy nếp dẻo từ quầy cô Lành xong xuôi là cứ thong thả đạp xe thồ qua cầu, thảy hết vô góc này. Ở đây phân tuyến rành mạch, đâu ra đó: một thằng xách ba đơn xuôi Cửa Đại, một thằng ôm bốn đơn chạy tuốt vô ngã ba Nam Phước, tuyệt đối không còn cảnh kẹt cứng ngắc ở đoạn Chùa Cầu hay đứng chôn chân chờ dân phòng gỡ barie phố đi bộ. Giao nhanh hơn hẳn nửa tiếng đồng hồ chớ ít ỏi chi!”
Hân đứng nép bên góc chiếc bàn gỗ ghép mấp mô, lặng lẽ phóng tầm mắt quan sát những kiện hàng bọc bìa carton và mấy chiếc giỏ mây tre đang được xếp thành từng cụm ngay ngắn trên sàn gạch tàu phủ đầy bụi xám. Đúng là nếu chỉ nhìn thuần túy dưới lăng kính vận hành thực địa, trạm Cẩm Nam đang mang lại một cảm giác ngăn nắp, bài bản, chẳng khác nào một trạm bưu cục thu nhỏ của mấy hãng chuyển phát công nghệ lớn. Lộc thậm chí còn cẩn thận đến mức tự ý đứng ra thuê thằng Út Nhỏ – con trai bà Ba xóm Chài – ngồi túc trực cố định từ sáng tới tối để giữ kho, dán nhãn phân loại đơn và đón các tài xế chạy tuyến dài ghé lấy hàng.
Thế nhưng, trái ngược hoàn toàn với vẻ mặt rạng rỡ đầy hãnh diện của Lộc, Lâm Đức An nãy giờ không hề hé răng lấy một lời. Anh ngồi bất động bên chiếc bàn xếp duy nhất kê sát khung cửa sổ con con nhìn ra bãi đất trống đầy cỏ dại. Trước mặt An là cuốn sổ tay kế toán kẻ ca-rô mở rộng, bên cạnh là chiếc máy tính bỏ túi vỏ nhựa màu xám đã tróc sơn ở các phím số.
Tiếng lách cách bấm phím của An vang lên đều đặn, khô khốc và sắc lẹm, chốc chốc lại ngắt quãng bởi tiếng ngòi bút bi gõ nhịp xuống mặt giấy. Giữa gian phòng ngột ngạt hơi nóng, từng tiếng gõ ấy như những hạt sỏi rơi xuống mặt kính, lạnh lùng và xa cách.
“Chúng ta ra quán cà phê Bờ Hiên ngồi đi,” An đột ngột gập cuốn sổ lại cái cạch, ngẩng đầu lên nói. Giọng anh bình thản, đều đều nhưng hàm chứa một sự dứt khoát không chấp nhận thương lượng. “Ở đây ngột quá, không đủ thoáng để nhìn thấy toàn bộ bức tranh.”
***
Quán cà phê Bờ Hiên nằm nép mình bên mép nước bờ bắc sông Hoài, nép dưới giàn hoa giấy tím rực rỡ đang rụng những cánh hoa khô xác xơ xuống nền gạch tàu. Gió từ lòng sông lồng lộng thổi qua những chấn song gỗ, cuốn đi phần nào cái oi bức của buổi xế chiều.
Phan Văn Phúc đặt mạnh ba ly cà phê đá xuống mặt bàn gỗ mun bóng loáng, đưa mắt liếc nhìn xấp giấy tờ dày cộp kẹp bằng ghim kim loại đang nằm chỉnh tề trước mặt An, rồi tặc lưỡi cười khì khì:
“Mấy cô cậu dạo này làm ăn coi bộ rầm rộ dữ he. Bên Cẩm Nam nghe đồn thuê hẳn ki-ốt mặt tiền đường gom hàng cơ đấy, oai vệ chẳng kém chi mấy công ty giao hàng trên Đà Nẵng. Cơ mà tui nói trước nghe, cà phê quán tui là phải tính tiền tươi thóc thật từng ly, không có chuyện cấn trừ nợ nần vô tiền gửi xe của Chợ Nhà Mình đâu đó!”
“Anh Phúc cứ yên tâm, hóa đơn cà phê của nhóm tôi luôn đối soát sòng phẳng từng hào, không thiếu một cắc,” An đáp cộc lốc, vẻ mặt không hề gợn chút tiếu lâm. Tay anh thoăn thoắt rút từ trong chiếc cặp da sờn mép ra một tập biên lai chi phí được sắp xếp theo trình tự thời gian vô cùng tỉ mỉ.
Hân kéo ghế ngồi xuống đối diện An, hai bàn tay vô thức đan chặt vào nhau đặt trên đùi. Trong lồng ngực cô bắt đầu dấy lên một dự cảm bất an quen thuộc. Kể từ ngày trao cho An quyền Kiểm soát Ngân sách Độc lập với chiếc phanh sắt có quyền phủ quyết tuyệt đối về mặt tài chính, cô hiểu quá rõ phong thái này của anh. Mỗi khi An lôi tập biên lai được phân loại chi tiết đến từng biên nhận mua cây chổi, cuộn băng keo với nét mặt đanh lại như đá tảng, điều đó đồng nghĩa với việc dòng tiền của dự án đang gặp phải một vết rò rỉ chết người.
An lật giở từng tờ hóa đơn giấy bãi bằng mỏng tang, ngón tay trỏ gõ nhẹ lên từng dòng số liệu được ghi nắn nót bằng mực đen:
“Hai tuần thử nghiệm trạm Cẩm Nam vừa qua, đây là toàn bộ chi phí thực tế đã phát sinh và buộc phải chi trả bằng tiền mặt. Thứ nhất: tiền thuê mặt bằng gian ki-ốt trong mười bốn ngày, theo hợp đồng miệng anh Lộc đã ký với chủ nhà, là hai triệu một trăm ngàn đồng. Thứ hai: tiền điện chạy quạt công nghiệp cho đỡ nóng và thắp sáng bóng đèn né-on, cộng với tiền nước sinh hoạt bơm từ giếng khoan, tròn trèm bốn trăm hai mươi ngàn. Thứ ba: tiền công trả cho thằng Út Nhỏ ngồi trực kho phụ dán nhãn, mỗi ngày một trăm hai mươi ngàn, mười bốn ngày là một triệu sáu trăm tám mươi ngàn. Tổng cộng chi phí cố định phát sinh tại trạm Cẩm Nam trong hai tuần qua là bốn triệu hai trăm ngàn đồng chẵn.”
An dừng lại một nhịp, đẩy chiếc máy tính bỏ túi sang chính giữa bàn, hướng thẳng về phía Hân và Lộc.
“Trong đúng hai tuần đó, tổng số đơn hàng giao ra khu vực ngoại vi cần trung chuyển qua Cẩm Nam là một nghìn không trăm năm mươi đơn. Lấy bốn triệu hai trăm ngàn đồng chia cho một nghìn không trăm năm mươi, con số ra bao nhiêu?”
Hân nhìn chằm chằm vào màn hình tinh thể lỏng của chiếc máy tính: con số hiển thị sắc nét, trơ trọi một cách tàn nhẫn: 4.000.
“Mỗi một đơn hàng ngoại vi đang phải gánh thêm đúng bốn ngàn đồng chi phí vận hành cố định,” giọng An chùng xuống nhưng từng âm tiết rành rọt như búa gõ vào đe. “Trong khi đó, cơ chế tài chính hiện tại của Chợ Nhà Mình vận hành thế nào? Chúng ta chỉ thu đúng ba phần trăm trên tổng giá trị đơn hàng của tiểu thương để nộp vào Quỹ vận hành và dự phòng rủi ro. Một đơn hàng trung bình một trăm ngàn, quỹ chợ thu về vỏn vẹn ba ngàn đồng. Đơn nào lớn, một trăm năm mươi ngàn thì thu được bốn ngàn rưỡi. Vậy mà riêng cái trạm trung chuyển Cẩm Nam này đã nuốt trọn bốn ngàn đồng của mỗi lượt đi! Dự án của chúng ta đang tiếp tục thâm hụt dòng tiền nghiêm trọng. Tài khoản vừa mới ngóc đầu lên thở được một chút sau đợt dồn lực trả góp tiền sắt vụn cho chị Diệp, thì nay lại bắt đầu âm ngược vào vốn lưu động.”
Lộc nghe đến đó thì mặt đỏ gay gắt từ mang tai xuống tận cổ. Anh không nén nổi cơn bực dọc, đập mạnh bàn tay thô ráp xuống mặt bàn gỗ làm ba chiếc ly thủy tinh nảy lên, đá vụn va vào thành ly lách cách:
“Ủa chú An nói năng ngộ nghĩnh ghê nơi! Chú cứ ngồi riết trong phòng máy lạnh bấm máy tính thì chú thấy số nó âm, chứ chú có xách cái xe máy rách ra ngoài đường lúc bốn, năm giờ chiều như tụi tui không? Chú có nếm mùi nắng rát mặt với khói xe tọng vô họng không? Không có cái trạm Cẩm Nam đó đỡ đòn, đội xe của tui xoay xở mần răng? Mấy tuyến đường quanh Chùa Cầu, Trần Phú, Bạch Đằng, hễ cứ tới năm giờ chiều là dân phòng giăng dây đỏ chót, cấm tiệt xe hai bánh. Tài xế muốn lấy hàng phải vứt xe ngoài bãi đỗ cách cả cây số, lội bộ vô sạp bưng từng thùng hàng nặng trịch, rồi luồn lách qua hàng ngàn khúc hẻm quanh co như cái mê cung. Mất mẹ nó gấp đôi thời gian!”
Lộc chồm hẳn người qua mép bàn, ngón tay trỏ đen sạm vì dầu mỡ chỉ thẳng vào bảng phân tích chi phí của An:
“Bánh mì cô Tư mới ra lò cần giòn rụm trong ba mươi phút đầu, đĩa bánh bèo thím Sáu cần nóng hổi để chan nước mắm ớt cay xè. Nếu để tài xế kẹt cứng ngắc trong lòng phố cổ một tiếng đồng hồ thì tới tay khách hàng bên Cửa Đại, Nam Phước nó thành cái đống cám heo nguội ngắt hết! Khách chê ỏng chê eo, khách bùng đơn, rồi lên mạng quăng cho một sao đánh giá, thì ba phần trăm quỹ chợ của chú có cứu nổi cái uy tín gầy dựng bấy lâu nay hông? Cái trạm Cẩm Nam giúp giảm đứt một nửa thời gian kẹt xe, giải phóng cho mười hai đứa tài xế chạy thêm được ít nhất hai vòng đơn mỗi buổi tối. Tiền đó là tiền mua thời gian, tiền mua sự hài lòng của bà con chòm xóm, sao chú lại nỡ lòng bảo là vô ích?”
“Tôi chưa bao giờ nói nó vô ích, tôi nói mô hình này hoàn toàn không bền vững!” An nhìn thẳng vào mắt Lộc, ánh mắt sau tròng kính cận không hề có lấy một tia dao động. “Thời gian của anh có giá trị, sự vất vả của anh em tài xế là có thật, nhưng túi tiền của dự án có giới hạn thực tế của nó. Chúng ta vừa mới thoát khỏi lưỡi hái tử thần vì cái thói quen bù lỗ mù quáng, các anh lại muốn dắt díu nhau quay về vết xe đổ cũ bằng một cái tên mỹ miều hơn là ‘chi phí trải nghiệm khách hàng’ hay sao? Quỹ dự phòng rủi ro hiện tại chỉ còn vỏn vẹn hơn một triệu đồng tiền mặt. Nếu tiếp tục cắn răng duy trì cái trạm Cẩm Nam này bước sang tuần thứ ba, chúng ta sẽ không có đủ tiền thanh toán hóa đơn máy chủ lưu trữ dữ liệu vào ngày ba mươi tới. Khi hệ thống sập nguồn, không còn ứng dụng để nhận đơn, không còn dữ liệu để theo dõi hàng hóa, thì các anh lấy cái gì mà giao cho nhanh, lấy cái gì mà giữ uy tín?”
“Nhưng nếu đóng cửa trạm thì tài xế họ đình công hết!” Lộc gắt lên, giọng khản đặc vì bức xúc. “Tụi nhỏ chạy xe thồ lấy công làm lời, tiền ship mười hai ngàn, mười tám ngàn một cuốc không bõ bèn chi công sức chui vô hẻm hóc kẹt cứng. Đóng trạm Cẩm Nam thì tụi nó thà dẹp tiệm, kéo nhau qua đầu quân cho tụi Vạn Mua mặc áo vàng ăn lương cứng tám triệu một tháng còn sướng cái thân hơn!”
“Đóng trạm để bảo toàn vốn ròng là một mệnh lệnh sinh tồn,” An đứng phắt dậy, giọng đanh thép không chút nhân nhượng. “Với tư cách là người nắm giữ quyền Kiểm soát Ngân sách Độc lập đã được ký kết văn bản, tôi chính thức dùng quyền phủ quyết: bắt đầu từ thứ Hai tới, cắt hợp đồng thuê mặt bằng ki-ốt Cẩm Nam, thanh lý hợp đồng lao động và cho thằng Út Nhỏ nghỉ việc!”
Hai người đàn ông, một người đại diện cho hơi thở nóng bỏng của thực địa, cho những vòng bánh xe đang lăn lộn trên mặt đường đầy sỏi đá, một người đại diện cho kỷ luật sắt đá và sự tàn nhẫn của những con số kế toán, trừng mắt nhìn nhau qua mặt bàn gỗ hẹp. Không khí căng thẳng đến mức ngột ngạt, ngay cả Phan Văn Phúc đang đứng lau ly ở quầy pha chế cũng phải khựng tay lại, e dè đưa mắt ngó chừng.
Mọi ánh nhìn cuối cùng đều đổ dồn về phía Hân.
Cô gái trẻ ngồi bất động giữa hai luồng xung lực ấy, hai bàn tay vẫn siết chặt lấy thành ly cà phê đã tan hết đá, chỉ còn lại một màu nâu lạt lõng. Trong tâm trí Hân, những ký ức cay đắng của những ngày khởi nghiệp ngoài Hà Nội bỗng chốc ùa về như một cơn ác mộng chưa xa. Đó là những ngày cô đã vắt kiệt từng giọt sức lực cuối cùng, tự cho mình cái quyền phán quyết mọi thứ bằng cảm tính, để rồi dẫn đến sự đổ vỡ tan tành của toàn bộ guồng máy. Cô nhớ lại cuộc họp nảy lửa ở gian kho chung ven sông Hoài cách đây không lâu, khi cô quyết định trao quyền độc lập cho từng người để thoát khỏi căn bệnh vi mô độc hại.
Nếu là Hân của hai tháng trước, đứng trước tình thế này, cô sẽ chọn cách chiều theo Lộc để giữ hòa khí nội bộ, rồi lén lút móc tiền túi của bản thân ra bù đắp vào khoản thâm hụt bốn ngàn đồng ấy. Hoặc tệ hơn, cô sẽ máy móc đứng về phía An, dùng vị thế người sáng lập để áp đặt một mệnh lệnh kỹ thuật khô khốc lên đầu những người tài xế đang đổ mồ hôi sôi nước mắt ngoài đường.
Nhưng bây giờ, Hân biết mình không thể hành xử như vậy nữa. Trưởng thành từ những vết sẹo đồng nghĩa với việc cô không được phép trốn chạy vào những giải pháp thỏa hiệp nửa vời.
Hân chậm rãi ngẩng đầu lên. Ánh mắt cô phẳng lặng như mặt nước sông Hoài lúc đứng gió, nhưng sâu thẳm bên trong là một sự kiên định không gì lay chuyển nổi. Cô nhìn sang An, rồi lại nhìn sang Lộc:
“Em không đồng ý với lệnh đóng cửa trạm ngay lập tức của chú An, nhưng em cũng dứt khoát không cho phép duy trì khoản thâm hụt bốn ngàn đồng trên mỗi đơn hàng như cách anh Lộc đang làm.”
Lộc chau mày, mặt lộ rõ vẻ thất vọng lẫn bối rối: “Ủa, rứa rốt cuộc cô tính xử sao? Nước đôi rứa thì mần ăn chi được?”
Hân đứng dậy, rút sợi dây thun trên cổ tay buộc gọn lại mái tóc dài ra sau gáy. Cô bước tới góc cột quán, nhấc chiếc nón bảo hiểm nửa đầu máng trên ghi-đông chiếc xe máy:
“Bây giờ là bốn giờ rưỡi chiều. Năm giờ là bắt đầu ca cao điểm cấm xe và giao đồ ăn tối của phố cổ. Anh Lộc lấy xe máy chở em đi một ca giao hàng thực tế ngay bây giờ. Chú An cứ ngồi lại đây uống cà phê đợi bọn em hai tiếng đồng hồ. Chúng ta không cãi nhau bằng mồm, cũng không ngồi phán xét số phận của dự án trên những trang giấy khô cứng. Em muốn tự mình đo đạc từng phút chờ đèn đỏ, từng mét đường kẹt xe, để xem thử bốn ngàn đồng kia nó thực sự đang nằm ở đâu trong lòng thành phố này.”
***
Năm giờ mười lăm phút chiều, con đường Bạch Đằng chạy dọc bờ sông Hoài bắt đầu chuyển mình sang một trạng thái khác hẳn. Gió sông vẫn thổi ràn rạt qua những tán dừa nước, nhưng không tài nào xua tan nổi làn khói xăng mờ đục và cái hầm hập toát ra từ hàng ngàn bước chân của dòng du khách đang nườm nượp đổ về khu vực chợ đêm.
Hân ngồi ép sát phía sau chiếc Wave Alpha đời cũ của Lộc, hai đầu gối kẹp chặt lấy thân xe rung bần bật mỗi khi máy chuyển số. Trên tay trái cô là chiếc đồng hồ bấm giây trên điện thoại đang nhấp nháy, tay phải cầm cuốn sổ tay ghi chép nhỏ có cài sẵn cây bút chì. Phía sau baga xe, Lộc chằng cẩn thận một chiếc giỏ mây lót xốp chống sốc dày dặn, bên trong chứa sáu đơn hàng vừa được lấy ra từ kho chung ven sông Hoài: ba phần chè bắp còn nóng hổi của thím Sáu đựng trong âu giấy tráng sáp, hai ổ bánh mì chả lụa pate thơm lừng của cô Tư bọc trong giấy báo cũ, và một gói hạt sen sấy khô của quầy An Lành gửi đi giao tận phường Cẩm Châu.
“Bám cho chắc nghen cô Hân! Đằng trước bắt đầu giăng dây cấm xe rồi đó!” Lộc hét to qua vai, át cả tiếng còi xe inh ỏi đang thi nhau gầm rú phía sau lưng.
Đúng năm giờ hai mươi phút, thanh rào chắn barie sơn sọc trắng đỏ tại ngã ba Lê Lợi – Trần Phú được hai chiến sĩ dân phòng phối hợp với đội trật tự đô thị kéo xoạch ra giữa lòng đường. Chiếc biển báo “Khu vực cấm xe cơ giới – Giờ đi bộ” đứng sừng sững như một bức tường vô hình ngăn cách thế giới hiện đại với không gian cổ kính.
Lộc không còn đường nào khác ngoài việc bẻ ngoặt tay lái, lách xe vào một con ngõ hẹp hun hút nằm kẹp giữa hai dãy nhà cổ tường vàng rêu phong. Lối đi lát đá mấp mô chỉ vừa khít cho một chiếc xe máy lọt qua, hai bên bờ tường rêu ẩm ướt áp sát sàn sạt vào mép tay lái bằng kim loại. Chiếc xe chỉ có thể nhích từng tấc một ở cấp số một, tiếng máy gầm gừ từng chập giận dữ, phả hơi nóng rát bỏng vào bắp chân Hân. Phía trước, tiếng chuông xe đạp của du khách nước ngoài reo lách cách từng hồi vô vọng giữa dòng người tản bộ lững thững. Chốc chốc, một nhóm khách dừng lại chụp ảnh chiếc đèn lồng treo trên mái hiên là toàn bộ hàng xe máy phía sau lại phải phanh dúi dụi, Lộc liên tục phải hạ cả hai chân xuống mặt đường lởm chởm để giữ thăng bằng cho thùng hàng phía sau không bị chao đảo.
Hân đưa mắt nhìn màn hình điện thoại: chỉ riêng việc nhích từng mét để thoát ra khỏi cái lõi cấm xe dài chưa đầy bốn trăm mét này đã ngốn trọn vẹn hai mươi hai phút đồng hồ. Dưới sức nóng phả ra từ động cơ xe và hơi ẩm bốc lên từ lòng ngõ hẻm, lớp giấy báo bọc ngoài ổ bánh mì cô Tư bắt đầu mềm èo đi, mất dần độ giòn rụm vốn có.
“Cô thấy chưa cô Hân!” Lộc vừa thở dốc vừa hét lớn khi chiếc xe cuối cùng cũng trồi được ra khỏi con hẻm, bánh xe lăn qua những gờ sắt của mố cầu Cẩm Nam đón lấy ngọn gió sông lồng lộng. “Nếu không có cái trạm bên Cẩm Nam gom sẵn hàng từ đầu giờ chiều, ngày mô tụi nhỏ cũng phải chịu một trận tra tấn như rứa đó! Qua được cái cầu ni là đường sá thênh thang, tha hồ vít ga sáu mươi cây số một giờ!”
Hân không trả lời, ánh mắt cô dán chặt vào những con số đang nhảy múa trên đồng hồ bấm giờ, đồng thời chăm chú quan sát nhịp sống và luồng giao thông đang cuộn chảy quanh khu vực chân cầu.
Khi chiếc xe máy phanh kít lại trước cửa gian ki-ốt lợp tôn xi măng ở bờ nam Cẩm Nam, Hân lập tức bấm nút dừng đồng hồ: đúng hai mươi bảy phút cho chặng di chuyển từ kho chung ra tới điểm trung chuyển.
Bên trong ki-ốt, thằng Út Nhỏ đang nằm ngửa cổ trên chiếc ghế bố xếp bằng dây dù, tay cầm chiếc quạt nan phe phẩy một cách uể oải, mắt dán chặt vào màn hình chiếc điện thoại thông minh đang phát một đoạn video ngắn ồn ào. Thấy tiếng xe máy của Lộc tấp vào, nó lười biếng ngồi dậy, dụi dụi mắt, đón lấy xấp phiếu giao hàng từ tay Lộc rồi bắt đầu bốc từng gói hàng sang chiếc kệ gỗ tạp kê sát tường.
Hân bước lùi lại một bước, đứng tựa lưng vào mép cửa sắt gỉ sét, lặng lẽ quan sát toàn bộ thao tác của thằng bé:
Để phân loại sáu gói hàng này cho hai tài xế chạy tuyến Cửa Đại và Nam Phước đang chờ sẵn, thằng Út Nhỏ mất đúng bốn phút đồng hồ. Sau khi hai người tài xế buộc giỏ hàng lên xe rồi phóng vút đi, không gian gian ki-ốt lại lập tức chìm vào sự im lìm tuyệt đối. Thằng Út Nhỏ lại thả mình xuống chiếc ghế bố, tiếp tục cắm mặt vào chiếc điện thoại.
Hân bước lại gần chiếc bàn gỗ ghép, cầm cuốn sổ ghi chép nhật trình xuất nhập kho của ki-ốt lên lật giở từng trang. Các con số hiện ra rõ ràng dưới ánh sáng nhờ nhờ của bóng đèn tuýp:
Cả buổi sáng, từ tám giờ đến mười hai giờ trưa: chỉ có vỏn vẹn đúng tám đơn hàng ghé qua trạm. Buổi chiều, từ mười hai giờ trưa đến bốn giờ chiều: mười hai đơn hàng lác đác.
Toàn bộ lượng đơn hàng ngoại vi khổng lồ – hơn một nghìn đơn trong suốt hai tuần qua – thực chất chỉ dồn ứ cục bộ vào đúng một khung giờ duy nhất trong ngày: từ năm giờ chiều đến bảy giờ tối. Đó là thời điểm người dân phố cổ tan tầm, khách du lịch bắt đầu gọi đồ ăn tối, và toàn bộ vùng lõi phố cổ chính thức sập rào cấm xe cơ giới.
Suốt hai mươi hai tiếng đồng hồ còn lại trong ngày, gian ki-ốt rộng mười lăm mét vuông này hoàn toàn trống rỗng! Chiếc quạt công nghiệp vẫn quay vù vù thổi gió nóng vào bốn bức tường vô tri, bóng đèn né-on vẫn sáng lờ đờ tiêu tốn từng số điện, và thằng Út Nhỏ được trả một trăm hai mươi ngàn một ngày chỉ để thực sự chạm tay vào các gói hàng trong vỏn vẹn một trăm hai mươi phút.
Một tia sáng lóe lên trong tâm trí Hân, xua tan đi toàn bộ sự bế tắc nãy giờ.
Vấn đề cốt lõi ở đây hoàn toàn không phải là mô hình trạm trung chuyển Cẩm Nam đúng hay sai về mặt chiến lược. Nhu cầu tập kết hàng hóa bên ngoài vành đai cấm xe để tăng tốc độ giao vận là một nhu cầu có thật, sống còn và hoàn toàn chính đáng của đội ngũ tài xế. Nhưng sai lầm chết người của họ nằm ở chỗ: áp dụng tư duy sở hữu bất động sản cố định của thời kỳ cũ vào một bài toán mang tính chu kỳ ngắn hạn!
Chợ Nhà Mình không hề cần một "nhà kho" kiên cố để lưu trữ hay tích trữ hàng hóa qua đêm. Thứ duy nhất họ cần để giải quyết nút thắt giao thông chỉ là một "điểm tiếp ứng linh hoạt" có khả năng vận hành trơn tru trong đúng hai tiếng đồng hồ cao điểm mỗi buổi chiều.
Hân bước ra khỏi bậc thềm ki-ốt, đứng đón ngọn gió sông đang thổi thốc lên bờ dốc. Ánh mắt cô quét qua bên kia đường, dừng lại ở khu đất ngã ba nằm ngay dưới chân cầu Cẩm Nam, cách gian ki-ốt chừng năm mươi mét.
Ở đó, nép dưới bóng của một cây bàng cổ thụ xòe tán rộng che mát rượi cả một góc đường, là quán nước mía vỉa hè của bà Chín. Quán có một khoảng hiên rộng rãi lát xi măng phẳng phiu, sạch bong tì vết, kê dăm ba chiếc ghế nhựa thấp màu xanh đỏ và một chiếc xe ép nước mía bằng inox sáng loáng. Giờ này, quán khá vắng khách, bà Chín đang cặm cụi dùng con dao bài sắc lẹm gọt từng lớp vỏ của những khúc mía tím giòn ngọt.
Hân quay ngoắt lại nhìn Lộc, trên môi nở một nụ cười rạng rỡ:
“Anh Lộc, đi theo em qua quán nước mía bà Chín một lát.”
***
Bà Chín ngẩng mái đầu bạc phơ lên khỏi bó mía tím, nheo đôi mắt kèm nhèm nhìn ra đường. Nhận ra bóng dáng quen thuộc của Hân, gương mặt nhăn nheo của bà lập tức giãn ra thành một nụ cười đon đả, xởi lởi:
“Ủa, con Hân đó hả con! Mấy bữa rày tao nghe mẹ Lành ngoài chợ khen mày dữ lắm nghen, bảo con nhỏ về quê làm ăn chi mà rầm rộ, máy tính máy móc bấm lia lịa. Uống nước mía hông con gái, bữa nay có đợt mía Điện Bàn ngọt lịm như đường phèn nè!”
“Dạ, bà ép giùm con hai ly nhiều đá nghen bà Chín,” Hân cười tươi tắn, kéo chiếc ghế nhựa thấp ngồi thụp xuống bên cạnh chậu nước rửa mía của người phụ nữ luống tuổi.
Lộc lẽo đẽo bước theo sau, vẻ mặt vẫn còn đôi phần hậm hực chưa nguôi, nhưng trong mắt đã ánh lên sự tò mò không hiểu cô gái trẻ này đang tính giở chiêu trò gì giữa quán nước mía ven sông.
Hân đón lấy ly nước mía mát lạnh từ tay bà Chín, uống một ngụm lớn để vị ngọt thanh tao và cái lạnh buốt thấm sâu vào cổ họng, rồi mới thong thả cất lời:
“Bà Chín nè, con để ý thấy quán của bà có cái khoảng sân hiên tráng xi măng này rộng rãi ghê, lại nằm ngay góc ngã ba chân cầu Cẩm Nam, xe cộ từ phố cổ chạy qua hay từ mạn Cửa Đại chạy vô đều tấp vô quay đầu cái rụp, tiện ghê luôn á bà.”
“Ờ, thì hồi xưa ông nhà tao còn sống, ổng tráng cái nền xi măng này tính cất thêm cái chái kê mấy bàn bán ốc luộc buổi tối,” bà Chín thở dài, tay vẫn thoăn thoắt chẻ đôi khúc mía. “Nhưng sau này ổng mất, tao già cả rồi buôn bán chi nổi, chỉ túc tắc bán nước mía giải khát cho người qua đường ban ngày thôi con. Tầm năm, sáu giờ chiều là tao dọn dẹp bàn ghế vô nhà bật ti-vi coi phim bộ rồi, bỏ không cái sân này cả buổi tối, cũng thấy phí phạm cái bóng mát cây bàng.”
Hân đưa mắt liếc nhìn Lộc, rồi quay lại nhìn thẳng vào đôi mắt đục mờ nhưng đôn hậu của bà Chín, giọng cô trở nên ấm áp, chân thành và rành rọt từng từ:
“Bà Chín ơi, con muốn bàn với bà một chuyện buôn bán nhỏ nhỏ này, xem thử có tiện cho bà hông nghen. Đội xe thồ Chợ Đèn Lồng của anh Lộc bên con mỗi buổi chiều, đúng từ năm giờ tới bảy giờ, cần một chỗ sạch sẽ, thoáng đãng dưới bóng cây bàng này để tài xế tấp xe vô chuyền mấy giỏ đồ ăn cho nhau. Tụi con tuyệt đối không cất giữ hàng hóa qua đêm, không chất đồ bừa bãi làm dơ sân, chỉ cần mượn một góc hiên quán của bà trong đúng hai tiếng đồng hồ cao điểm đó thôi. Hàng từ phố cổ đem qua là có xe ngoài này bốc đi liền trong vòng vài phút.”
Bà Chín chớp chớp mắt, vẻ mặt ngơ ngác đầy ngạc nhiên: “Ủa, chỉ có hai tiếng đồng hồ ngắn ngủi rứa thôi hả con?”
“Dạ đúng rồi bà, đúng hai tiếng thôi!” Hân gật đầu khẳng định. “Mỗi buổi chiều mượn hiên như vậy, tụi con xin phép gửi bà hai mươi lăm ngàn đồng tiền mặt. Một tháng ba mươi ngày là bà có thêm bảy trăm rưỡi ngàn đồng tiền túi cố định. Thêm nữa, mười hai đứa tài xế của anh Lộc chiều nào ghé qua đây đổi hàng, người ngợm đứa nào cũng khát khô cổ họng, tụi nó sẽ ủng hộ nước mía của bà. Mỗi đứa một ly mười ngàn là mỗi chiều bà bán thêm được mười mấy ly nước mía ngọt ngào nữa. Đổi lại, bà chỉ cần cho tụi con để nhờ một chiếc bàn xếp với hai cái sọt nhựa ở góc hiên, và bật giùm tụi con một cái bóng đèn chữ U nếu bữa nào trời sụp tối sớm. Bà thấy tính như rứa có tiện cho bà hông?”
Đôi mắt nhăn nheo của bà Chín bỗng chốc sáng bừng lên. Ở cái tuổi này, sống dựa vào mấy đồng bạc lẻ bán nước mía qua ngày, tự dưng mỗi tháng có thêm bảy trăm rưỡi ngàn tiền mặt trao tận tay mà không phải bỏ ra thêm một giọt mồ hôi hay đồng vốn nào, lại có thêm một mối khách quen mua nước mía đều đặn mười mấy ly mỗi buổi chiều tà, thì đối với bà chẳng khác nào một món lộc trời cho!
“Trời đất quỷ thần ơi, cái chuyện nhỏ như con thỏ rứa mà có chi không tiện con!” Bà Chín buông con dao bài xuống bàn, vỗ đùi đánh đét một cái cười khà khà. “Cái sân rộng thênh thang bỏ không, tụi mày cứ dọn vô mà đứng cho mát mẻ, bữa nào mưa gió thì cứ kéo nhau vô ngồi thụp trong mái hiên tôn này tao che cho. Mà tao nói nghe nè, tao còn dư một chiếc bàn gỗ thông chắc nịch trong chái bếp hổng có xài tới, để lát nữa tao kêu thằng cháu ngoại khiêng ra kê sẵn ở góc sân cho tụi mày để đồ luôn, khỏi cần vác bàn xếp chi cho lỉnh kỉnh mệt thân!”
Lộc đứng chết trân bên cạnh chiếc bàn ép mía, điếu thuốc lá kẹp hờ trên môi suýt chút nữa rơi thẳng xuống đất. Anh mở to mắt nhìn Hân, rồi lại đảo mắt nhìn quanh khoảng sân xi măng rộng rãi, sạch sẽ nằm dưới bóng mát rười rượi của tán bàng cổ thụ.
Vị trí này quả thực đắc địa đến mức không thể chê vào đâu được! Nó nằm ngay góc cua ngã ba đường, mặt đường rộng gấp đôi con hẻm dẫn vào gian ki-ốt ẩm mốc cũ. Xe thồ từ dốc cầu Cẩm Nam lao xuống chỉ cần rà nhẹ phanh, quẹo phải một nhịp là tấp ngay vào sát mép sân, không hề gây cản trở giao thông cho bất kỳ ai. Xe chở hàng đi tuyến Cửa Đại hay Nam Phước có thể quay đầu xe trong vòng ba giây mà không vướng phải một bức tường hay bờ rào nào, tầm quan sát lại vô cùng thoáng đãng.
Hân quay sang nhìn Lộc, ánh mắt lấp lánh nụ cười tự tin:
“Anh Lộc thấy cái trạm dã chiến này thế nào? Chúng ta không cần chìa khóa kho, không cần trả tiền điện nước sinh hoạt cả ngày, càng không cần thuê một người ngồi trực kho vô tích sự hai mươi bốn trên hai mươi bốn. Đúng năm giờ chiều, anh phân công một bạn tài xế chạy ca sớm tới đây, mở chiếc bàn gỗ thông của bà Chín ra, đón hàng từ các bạn chạy xe đạp thồ trong phố cổ đưa sang, chia tuyến cho các bạn xe máy chạy đường dài. Đúng bảy giờ tối, quét dọn sạch sẽ hiên quán cho bà Chín, kê bàn ghế gọn gàng vào góc chái bếp là xong nhiệm vụ. Chúng ta biến một ‘nhà kho cố định tốn kém’ thành một ‘điểm hẹn giao nhận linh hoạt theo khung giờ’.”
Lộc đưa bàn tay thô ráp lên gãi mạnh vào quả đầu đinh cua, miệng lẩm bẩm như người mất hồn:
“Hay... hay thiệt chớ! Vừa rộng rãi, vừa thoáng mát, lại tiện quay đầu xe hơn cái ổ chuột ẩm mốc kia gấp vạn lần... Nhưng... nhưng mà còn con số... chú An có chịu không?”
“Đi thôi anh,” Hân đứng dậy, rút tờ tiền hai mươi ngàn đặt lên bàn nước mía. “Chúng ta quay lại quán Bờ Hiên, chú An đang ngồi chờ nghiệm thu con số đó.”
***
Không khí tại chiếc bàn dài ở quán cà phê Bờ Hiên vẫn còn nguyên vẻ ngột ngạt và căng thẳng lúc Hân và Lộc quay trở về. Lâm Đức An vẫn ngồi thẳng lưng như một pho tượng đá, tách cà phê trước mặt đã nguội ngắt từ lâu, cây bút bi vẫn kẹp sẵn giữa hai ngón tay trỏ và giữa, sẵn sàng ghi lại bất kỳ một con số nào có thể phát sinh.
Hân kéo ghế ngồi xuống đối diện An, không nói một lời rào đón. Cô lật sang một trang giấy trắng tinh trong cuốn sổ tay kẻ ca-rô của mình, dùng chiếc thước kẻ nhôm vạch một đường thẳng đứng chia đôi trang giấy thành hai cột rõ rệt.
Cô cầm bút, bắt đầu viết thoăn thoắt từng dòng số liệu chi tiết:
Cột bên trái: *Mô hình kho cố định Cẩm Nam (chu kỳ 14 ngày thực tế)* - Tiền thuê mặt bằng ki-ốt: 2.100.000 đồng - Tiền điện, nước sinh hoạt: 420.000 đồng - Lương nhân viên trực kho (Út Nhỏ): 1.680.000 đồng -> Tổng chi phí cố định: 4.200.000 đồng / 14 ngày (tương đương 300.000 đồng/ngày). -> Chi phí gánh trên mỗi đơn hàng ngoại vi: 4.200.000 / 1.050 đơn = 4.000 đồng/đơn.
Cột bên phải: *Mô hình Điểm hẹn linh hoạt Quán nước mía Bà Chín (dự toán 14 ngày)* - Tiền mượn hiên 2 tiếng cao điểm (5h - 7h chiều): 25.000đ x 14 ngày = 350.000 đồng. - Tiền điện chiếu sáng: Bà Chín bao trọn gói trong tiền mượn hiên = 0 đồng. - Nhân sự điều phối trạm: Trích phụ cấp 5.000 đồng/giờ (10.000 đồng/ngày) cho chính tài xế ca sớm kiêm nhiệm việc phân loại đơn trong 2 tiếng = 140.000 đồng. - Hỗ trợ nước giải khát cho đội ngũ tài xế: Trích Quỹ dự phòng hỗ trợ 5.000 đồng/ly nước mía cho anh em giải nhiệt = 70.000 đồng. -> Tổng chi phí linh hoạt: 560.000 đồng / 14 ngày (tương đương 40.000 đồng/ngày).
Hân gõ nhẹ đầu ngòi bút bi xuống con số tổng kết cuối cùng, ngẩng đầu nhìn thẳng vào mắt An:
“Lấy năm trăm sáu mươi ngàn đồng chia cho một nghìn không trăm năm mươi đơn hàng ngoại vi, con số gánh thêm trên mỗi đơn hàng là bao nhiêu hở chú An?”
An không cần chạm tay vào chiếc máy tính bỏ túi, đôi môi mỏng của anh khẽ mấp máy, ánh mắt lóe lên một tia dao động mãnh liệt:
“Năm trăm ba mươi ba đồng... làm tròn là năm trăm ba mươi đồng một đơn.”
“Chính xác!” Hân nhấn mạnh từng âm tiết. “Bằng cách chuyển đổi từ việc thuê một nhà kho cố định sang việc mượn hiên theo khung giờ cao điểm, chúng ta cắt giảm được chính xác tám mươi sáu phẩy bảy phần trăm chi phí vận hành phát sinh tại trạm trung chuyển! Từ mức bốn ngàn đồng một đơn – mức chi phí nuốt chửng toàn bộ biên lợi nhuận của chợ – nay chỉ còn lại đúng năm trăm ba mươi đồng.”
An cầm tờ giấy lên, mắt rà đi rà lại từng phép tính cộng trừ của Hân. Bàn tay anh bất giác siết nhẹ vào mép giấy ca-rô. Khuôn mặt nghiêm nghị vốn dĩ luôn đóng băng của người kế toán trưởng bắt đầu giãn ra từng chút một, để lộ một sự thán phục kín đáo mà anh cố kìm nén không bộc lộ ra ngoài:
“Năm trăm ba mươi đồng... Với cơ chế trích ba phần trăm phí sàn hiện tại, một đơn hàng trung bình một trăm ngàn thu về ba ngàn đồng, sau khi trích năm trăm ba mươi đồng cho điểm hẹn Cẩm Nam, quỹ chợ vẫn còn giữ lại được hai ngàn bốn trăm bảy mươi đồng để chi trả máy chủ và tích lũy an toàn. Dòng tiền không những không bị âm ngược mà còn tạo ra thặng dư ròng ổn định.”
An đặt tờ giấy xuống bàn, ngẩng đầu chuyển tầm mắt sang phía Lộc:
“Còn về phía anh Lộc? Về mặt an toàn hàng hóa, tốc độ luân chuyển và điều kiện làm việc của anh em tài xế, cái điểm hẹn quán nước mía này có đáp ứng nổi yêu cầu thực địa không?”
Lộc cười xòa, đưa tay gãi ót một cách ngượng ngùng, gương mặt đen sạm vì sương gió giãn ra trong một nụ cười sảng khoái:
“Trời ơi, tui nói thiệt lòng với chú An, cái hiên quán bà Chín nó ngon gấp mười lần cái ki-ốt ẩm mốc kia! Ki-ốt nằm thụt sâu trong con hẻm, xe thồ ra vô vướng víu muốn chết, lại tối tăm mù mịt. Còn quán bà Chín nằm ngay ngã ba chân cầu, xe từ phố cổ lao xuống tấp vô cái rụp, chuyền tay ba mươi giây là xe sau vít ga chạy tiếp liền. Bánh mì cô Tư tới tay khách vẫn còn bốc khói, mà chè bắp thím Sáu thì đá chưa kịp tan một giọt! Tui... tui chịu cái phương án ni rồi đó. Cô Hân tính toán nước cờ ni thì tui tâm phục khẩu phục, không còn lời chi để cãi nữa!”
An khẽ gật đầu. Anh rút cây bút bi kẹp ở túi áo, không một chút do dự ký một nét chữ ký sắc sảo, dứt khoát vào góc dưới tờ giấy đề xuất phương án của Hân:
“Phê chuẩn. Sáng mai tôi sẽ đích thân cùng anh Lộc tới làm thủ tục thanh lý hợp đồng thuê gian ki-ốt Cẩm Nam, quyết toán sòng phẳng tiền công cho thằng Út Nhỏ và xuất ngân sách tạm ứng trả trước tiền mượn hiên hai tuần cho bà Chín. Khoản chi phí năm trăm ba mươi đồng trên mỗi đơn hàng ngoại vi này chính thức được chấp thuận đưa vào danh mục chi phí vận hành hợp lệ của Chợ Nhà Mình.”
Ba con người ngồi quanh chiếc bàn gỗ mun nhìn nhau, một tiếng thở phào nhẹ nhõm đồng loạt vang lên, hòa tan vào tiếng sóng vỗ ì oạp dưới chân kè quán Bờ Hiên. Một bài toán hóc búa tưởng chừng như đã đẩy toàn bộ ban điều hành vào thế đối đầu một mất một còn giữa một bên là "chất lượng dịch vụ sống còn" và một bên là "kỷ luật tài chính sắt đá" đã được hóa giải hoàn toàn. Nó không cần đến những thuật toán đao to búa lớn hay những nguồn vốn tài trợ khổng lồ, mà được giải quyết bằng chính sự thấu hiểu sâu sắc thực tế mặt đất và sự uyển chuyển, nương tựa vào nếp sống cộng đồng của phố cổ Hội An.
Đúng lúc đó, Phan Văn Phúc bưng ra một đĩa đậu phộng rang húng lìu thơm nức mũi, cười hề hề đặt xuống giữa bàn:
“Thấy chưa, tui đã bảo mấy cô mấy cậu rồi mà! Cứ ngồi ở Bờ Hiên ngắm nước sông Thu Bồn chảy xuôi là kiểu chi cái đầu nó cũng thông suốt, nghĩ ra cách buôn bán khôn ngoan liền à. Đĩa đậu phộng này tui đãi, chúc mừng Chợ Nhà Mình tai qua nạn khỏi nghen!”
***
Mô hình "Điểm hẹn linh hoạt" dưới bóng cây bàng bên chân cầu Cẩm Nam được chính thức đưa vào vận hành thử nghiệm ngay trong buổi chiều ngày hôm sau.
Đúng năm giờ chiều, khoảng sân hiên tráng xi măng của quán nước mía bà Chín bỗng chốc trở nên rộn ràng, tấp nập một cách lạ thường nhưng tuyệt nhiên không hề có sự hỗn loạn hay xáo trộn. Chiếc bàn gỗ thông chắc nịch của bà Chín được kê ngay ngắn dưới tán bàng râm mát. Những tài xế xe đạp thồ mang áo thun in logo Chợ Đèn Lồng từ trong các ngõ sâu phố cổ lướt êm qua chốt kiểm soát, vừa chạm chân cầu là tấp ngay vào lề, đặt các gói hàng nhỏ gọn lên mặt bàn.
Tại đó, người tài xế phụ trách tuyến ngoại vi lập tức dùng điện thoại quét mã QR dán trên bao bì để đối soát đơn hàng, chuyển các hộp chè bắp, ổ bánh mì vào trong chiếc giỏ mây lót xốp giữ nhiệt buộc sau yên xe, rồi rồ ga phóng vút đi về hướng Cẩm Châu, Cửa Đại. Toàn bộ thao tác giao nhận giữa hai người chỉ diễn ra trong vòng chưa đầy bốn mươi giây.
Bà Chín ngồi bên chiếc máy ép mía inox, nụ cười móm mém không ngớt nở trên môi. Đôi bàn tay gầy guộc thoăn thoắt ép từng ly nước mía mát lạnh đưa tận tay những chàng trai trẻ đang mồ hôi nhễ nhại, miệng liên tục giục: “Uống ngụm nước cho mát ruột rồi hẵng chạy tiếp nghen tụi con!” Dưới gầm bàn gỗ, chiếc hộp thiếc đựng tiền lẻ của bà cứ mỗi lúc một dày thêm những tờ tiền mười ngàn, hai mươi ngàn phẳng phiu.
Tốc độ giao vận của toàn bộ hệ thống được giữ nguyên vẹn một cách hoàn hảo: trung bình chỉ mất đúng ba mươi lăm phút cho một đơn hàng đồ ăn nóng hổi đi từ bếp nấu của tiểu thương trong lõi phố cổ đến tận tay người tiêu dùng ở các xã ngoại vi. Tỷ lệ khiếu nại về chất lượng món ăn trong suốt tuần thử nghiệm chạm mốc bằng không. Và quan trọng hơn cả, trong bảng cân đối tài chính gửi về máy tính của Hân vào tối Chủ nhật, Lâm Đức An đã đánh dấu một dòng chữ màu xanh lá cây đậm nét: *Chi phí trung chuyển ngoại vi tối ưu 86,7% – Dòng tiền tuần dương 620.000 đồng.*
Đêm hôm đó, phố cổ Hội An chìm đắm trong vẻ đẹp huyền ảo của lễ hội hoa đăng. Hàng ngàn chiếc đèn lồng đủ mọi hình dáng, từ quả trám, củ tỏi đến hình hoa sen bằng lụa ngũ sắc tỏa ra ánh sáng ấm áp, lung linh phản chiếu xuống mặt sông Hoài phẳng lặng như gương. Khách du lịch ken đặc trên các ngả đường ngắm cảnh, tiếng đàn ca tài tử và tiếng rao bài chòi văng vẳng trôi theo làn gió đêm mát rượi.
Khi những đợt khách cuối cùng bắt đầu tản dần về các khách sạn, Hân rời quán Bờ Hiên, rảo bước quay trở về gian kho chung nằm nép mình ở cuối con đường ven sông.
Gian kho chung sau những ngày cải tổ nay đã trở nên ngăn nắp, tinh tươm lạ thường. Những kệ hàng làm bằng gỗ thông ba tầng vững chãi đứng ngay ngắn dọc theo các bức tường, thơm nức mùi gỗ mới quyện với mùi dầu bóng chống ẩm. Hân ngồi xuống chiếc bàn làm việc mộc mạc kê dưới ánh đèn bàn màu vàng ấm, mở chiếc máy tính xách tay mini để kiểm tra lại những dòng mã nguồn của module xuất kho vừa được cô tinh chỉnh nhằm tương thích hoàn hảo với quy trình quét mã tại điểm hẹn Cẩm Nam.
Một cảm giác bình yên, vững chãi và tự chủ sâu sắc lan tỏa trong tâm trí cô gái trẻ. Không còn sự hoảng loạn đến nghẹt thở của những tháng ngày bù lỗ mù quáng ngoài Hà Nội, cũng không còn sự ngạo mạn ngây thơ của một kỹ sư phần mềm muốn dùng những dòng mã thuật toán để đè bẹp hiện thực cuộc sống. Từng bước đi của Chợ Nhà Mình giờ đây đều được đong đếm cẩn trọng bằng từng giọt mồ hôi của những người chạy xe ngoài đường, bằng từng đồng tiền cắc chắt chiu trong cuốn sổ tay buôn bán của mẹ Lành, và bằng sự đồng thuận bền chặt, keo sơn của những con người bình dị nơi phố Hội.
Bỗng nhiên, cánh cửa gỗ dày của gian kho chung phát ra một tiếng cọt kẹt nặng nề, cắt ngang dòng suy nghĩ của Hân.
Tiếng bước chân nện mạnh bạo, dồn dập trên nền gạch tàu vang lên mỗi lúc một gần.
Hân giật mình ngẩng đầu lên.
Chị Trương Ngọc Diệp đang đứng sừng sững ngay giữa ngưỡng cửa ra vào. Dưới ánh sáng vàng vọt của ngọn đèn tuýp ngoài hiên hắt vào, gương mặt người đàn bà buôn đồ sắt thép trông căng thẳng tột độ, hai hàm răng cắn chặt vào nhau, đôi gò má tái đi vì hồi hộp.
Trên tay phải của chị Diệp, một chiếc chảo gang đúc đen nhánh, dày cộp và nặng trịch đang được xách lủng lẳng bằng chiếc quai sắt thô ráp.
Không nói một lời nào, chị Diệp sải bước hùng hổ tiến thẳng tới chiếc bàn làm việc của Hân. Chị vung tay, dằn mạnh chiếc chảo gang đúc xuống mặt bàn gỗ thông.
Một tiếng *rầm* vang lên khô khốc, chát chúa, làm rung rinh cả chiếc đèn bàn và khiến cuốn sổ tay kế toán nảy bật lên khỏi mặt gỗ.
Chưa dừng lại ở đó, bàn tay trái của người đàn bà bán kim khí thoăn thoắt móc từ trong chiếc túi tạp dề bạc màu ra một cuốn sổ tay học sinh bìa màu xanh đã sờn rách bốn góc, ném cộp một cái xuống bên cạnh chiếc chảo gang. Những trang giấy kẻ ô li bên trong mở tung ra, để lộ những dòng chữ viết tay chi chít bằng mực tím học trò, nét chữ to tướng, xiêu vẹo, nguệch ngoạc nhưng từng đề mục đều được gạch chân cẩn thận bằng thước kẻ hai lần.
Hân sững sờ, chớp chớp mắt nhìn chiếc chảo gang đen bóng loáng không một vết xước rồi ngước nhìn lên gương mặt đang đỏ bừng bừng vì xúc động lẫn âu lo của người phụ nữ buôn kim khí thô mộc.
Chị Diệp hít một hơi thật sâu, lồng ngực phập phồng dữ dội dưới lớp áo bà ba vải ú, cất giọng the the nhưng ẩn chứa một sự quyết liệt đến nghẹt thở:
“Ngày mai đến phiên tôi lên sóng, cô Hân coi giùm kịch bản này có bán được chảo không!”