Hòn đảo của những giá sách bay
Chiếc Dực Điệp tắt bớt phân nửa các vòi phun của động cơ luồng gió, hạ thấp góc nghiêng của đôi cánh cơ khí để lướt qua dải mây trắng mỏng manh, áp sát đài thiên văn giả lập hoang phế nằm trên hòn đảo phụ của Học viện Thiên Biên.
Không khí ở tầng cao ngoại vi kinh đô Bạch Thiên loãng và buốt lạnh hơn bất cứ nơi nào họ từng đi qua trong suốt cuộc hành trình dài dằng dặc từ ranh giới Biển Mù trở về. Từng cuộn mây xơ xác, bị xé vụn bởi những luồng gió cắt ngang tầng đối lưu, trôi là là ngay dưới lườn tàu bọc thép nhẹ, phản chiếu ánh sáng bạc nhạt nhòa từ vầng trăng khuyết đang bị che khuất một nửa sau những dải khí quyển nén nhân tạo của kinh thành. Trước mắt họ, hòn đảo phụ trôi dạt giữa khoảng không như một mảnh vỡ bị lãng quên của quần thể học thuật khổng lồ: một khối đá vôi xám nham nhở, rêu phong và địa y bám dày đặc trên những bờ tường nghiêng dốc, bao quanh các trụ chống bằng thép rỉ sét cắm sâu vào lòng đá lạnh buốt.
Trên đỉnh cao nhất của mỏm đá cô độc ấy, mái vòm bán cầu của đài quan sát thiên văn cũ nứt toác một đường dài từ đỉnh vòm chạy thẳng xuống chân bệ đỡ, tựa hồ một con mắt mù lòa bằng đồng và đá vôi hướng cái nhìn vô hồn lên khoảng không vô tận của bầu trời đêm. Nơi này từng là đỉnh cao của ngành khí quyển học trước thời biến loạn, nhưng giờ đây chỉ còn lại vẻ hoang phế đến rợn ngợp giữa tiếng gió rít qua những khe nứt lộ thiên.
Kha Duy ghì chặt cần hãm phụ bằng cả hai tay, các khớp ngón tay trắng bệch dưới lớp găng da thô. Ngón trỏ của anh thoăn thoắt bấm nhẹ chốt nhả phanh đệm khí ở bên hông hộp điều khiển. Tiếng rít chói tai của buồng đốt phân tầng ngược dịu dần thành một hơi thở khẽ khàng, rung rinh qua lớp sàn gỗ bọc kim loại, gần như tan biến hoàn toàn vào tiếng gió hú qua các hốc đá tự nhiên quanh đảo. Anh liếc nhìn chiếc đồng hồ áp kế gắn trên cổ tay trái, mặt kính đã xước dăm nhưng kim chỉ thủy ngân vẫn dao động đều đặn quanh mức áp suất cực hạn của tầng trung lưu. Sau một thoáng tính toán cẩn trọng quỹ đạo trôi của những đám mây tơi xốp, anh nghiêng đầu ra hiệu cho Lam An và Trác Minh đang đứng nép mình sau tấm chắn gió mạn thuyền.
“Độ lệch gió sáu mươi dặm một giờ, luồng xoáy đối lưu từ đáy đảo đang ép sát đáy mạn phải,” Kha Duy hạ giọng thì thầm, âm thanh bị nuốt chửng một phần trong lớp khăn len quấn kín cổ, bàn tay thoăn thoắt vơ lấy cuộn dây néo quấn quanh thắt lưng da bò dày cộp. “Nếu hạ cánh bằng càng đáp kim loại, tiếng va đập của khớp thép vào mặt đá sẽ đánh thức toàn bộ bốt gác tầm xa của Cấm quân Thiết Vũ đóng cách đây chưa đầy nửa dặm trên cầu tàu số bốn. Hệ thống lắng nghe âm học của lũ chim ưng sắt đó nhạy bén như tai cú. Chúng ta phải đu dây xuống.”
Lam An gật đầu dứt khoát. Nàng khẽ kéo lại vạt áo choàng chống lạnh, đưa những ngón tay thon thả nhưng rắn rỏi chạm nhẹ vào Chìa Khóa Tịch Vân đang được đeo trang trọng trước ngực. Sau khi tầng Tội bị phá vỡ hoàn toàn ở buồng máy Thành Tro Lơ Lửng, vật cổ này dường như đã trải qua một sự chuyển hóa kỳ lạ tận sâu trong cốt lõi vật chất. Nó không còn tỏa ra luồng nhiệt căm phẫn đến bỏng rát hay đè nặng lên lồng ngực nàng bằng sự nghẹt thở của ngàn vạn linh hồn oán thán nữa.
Ba rãnh khắc cổ xưa chạy dọc thân đồng thau giờ đây sáng lên một thứ ánh sáng xanh xám trầm lặng, tĩnh tại tựa như mặt hồ băng giữa đêm đông, nhịp đập của luồng năng lượng bên trong nó hòa nhịp một cách kỳ diệu theo từng hơi thở sâu và chậm rãi của nàng. Trong tâm trí Lam An, hình bóng đầy thù hận gắn liền với diện mạo của Bạch Tuyên—người từng gieo rắc bao nỗi kinh hoàng và dằn vặt lên cuộc đời nàng—đã hoàn toàn tan biến theo màn sương xám của quá khứ. Thứ còn đọng lại chỉ là một sự thấu suốt lạnh lùng, một nhận thức rành mạch đến tàn nhẫn về món nợ máu mà thể chế hoàng triều mục ruỗng này đang nợ Vũ Uyên và sinh linh của cả thế gian.
Nàng khẽ liếc mắt nhìn sang Trác Minh. Vị học giả vẫn đang nắm chặt lấy vạt áo trước ngực trái của mình, nơi vết sẹo ấn hoa sen mười hai cánh vừa trải qua một cơn đau buốt xé toạc da thịt khi họ tiến vào phạm vi khí quyển của học viện. Gương mặt Trác Minh tái nhợt dưới ánh mây đêm lờ mờ, những giọt mồ hôi lạnh rỉ ra bên thái dương chảy dài xuống gò má gầy guộc. Thế nhưng, đôi mắt vốn dĩ luôn mờ đục và lơ đãng vì những mảnh ký ức vỡ vụn của anh, giờ đây lại ánh lên những tia nhìn căng thẳng, sắc lẹm đến lạ thường, như thể có một bản năng ngủ vùi suốt nhiều năm tháng đang bị đánh thức dữ dội bởi từng phân tử không khí quen thuộc của nơi này.
Kha Duy tháo rời chiếc móc neo ba chấu làm bằng hợp kim giảm chấn khỏi đai lưng. Anh móc một đầu sợi dây néo dệt từ tơ tằm đá bện sợi bông giảm thanh vào gờ ray chịu lực của boong tàu Dực Điệp, kiểm tra lại mối nối bằng hai cú giật dứt khoát, rồi vung mạnh cánh tay ném chiếc móc về phía chiếc ban công bằng đá đang chìa ra ngoài mép vực cheo leo của đài quan sát.
*Phập.*
Một âm thanh khô khốc, nhỏ đến mức chỉ như một chiếc lá khô rụng xuống mặt đá phủ sương. Mấu neo bằng hợp kim ngoạm sâu vào một khe nứt tự nhiên của bờ lan can cẩm thạch đã bị địa y và rêu phong gặm nhấm nham nhở. Kha Duy giật mạnh sợi dây thử tải trọng ba lần liên tiếp, cảm nhận độ căng tuyệt đối của sợi tơ tằm đá chịu lực, sau đó quay đầu lại, nháy mắt với Lam An bằng vẻ sắc sảo quen thuộc của một hoa tiêu từng vào sinh ra tử:
“Hoa tiêu đi trước, kẻ gác cổng theo sau, học giả bọc hậu. Nhớ bấm chặt mấu hãm ở găng tay, đừng để tuột. Rơi khỏi sợi dây này thì điểm dừng chân duy nhất là đáy vực mây không đáy đấy.”
Dứt lời, thân hình nhanh nhẹn, dẻo dai của Kha Duy lập tức trượt xuống sợi dây, biến mất vào màn sương đêm lạnh buốt mà không hề tạo ra một tiếng xao động nhỏ nào trong không khí. Lam An không chần chừ một giây. Nàng bám chặt đôi găng tay da có lót đệm ma sát vào sợi dây bện êm ru, xoay người tụt qua mép lan can tàu Dực Điệp.
Gió rét căm căm từ khoảng trống vắng giữa hai hòn đảo nổi thốc ngược lên từ bên dưới, giật mạnh vạt áo choàng của nàng phần phật. Hơi lạnh buốt giá của sương mù cao tầng táp thẳng vào mặt, làm tê dại hai gò má và đọng lại thành những hạt băng li ti trên hàng mi. Nàng ghì chặt mấu hãm, điều chỉnh tốc độ trượt một cách nhịp nhàng. Khi mũi ủng da của nàng vừa chạm vào mặt sàn đá phủ đầy rêu nhớp nháp của chiếc ban công hoang phế, Kha Duy đã xuất hiện ngay bên cạnh, đưa bàn tay rắn chắc đỡ lấy bả vai nàng, kéo nàng nép sát vào góc tối của một cột trụ cẩm thạch gãy đổ gần đó.
Chỉ vài giây sau, Trác Minh cũng bám dây trượt xuống. Đôi chân anh chạm đất có phần loạng choạng, mất thăng bằng do cơ thể suy nhược và cơn đau ở lồng ngực chưa nguôi, nhưng bàn tay gầy gò của anh ngay lập tức bấu chặt vào một mảng tường đá phủ đầy dây leo khô cằn để giữ thăng bằng. Anh không hề kêu lên một tiếng, chỉ thở dốc qua kẽ răng, hàm răng nghiến chặt đến mức cơ hàm nổi cộm lên dưới làn da nhợt nhạt.
Chiếc ban công đá này từng là nơi các nhà thiên văn học lỗi lạc của triều đình đặt kính vọng vân cổ đại—loại khí cụ quang học khổng lồ kết hợp thấu kính thạch anh và màng bắt sáng bằng bột bạc—để đo đạc sự dịch chuyển li ti của các tầng mây ký ức nguyên thủy trôi dạt từ thời hồng hoang. Giờ đây, cảnh tượng huy hoàng ấy chỉ còn là dĩ vãng. Những bệ sắt tròn trơ trọi, rỉ sét ăn mòn từng mảng lớn tạo thành những vết lở loét đỏ quạch trên nền đá. Những mảng gạch men vẽ bản đồ sao và hải đồ mây vỡ vụn dưới lớp rêu ẩm mục, vương vãi khắp sàn như những mảnh xương tàn của một thời kỳ khai sáng đã bị bức tử.
Trác Minh không bước tiếp ngay theo hiệu lệnh của Kha Duy. Anh đứng sững lại giữa ban công lộng gió, lồng ngực phập phồng dữ dội dưới lớp áo vải thô. Đôi mắt anh nhìn trừng trừng vào bóng tối của khung cửa tò vò dẫn vào bên trong viện nghiên cứu. Bàn tay anh run rẩy đến mức phải mất vài giây mới có thể cởi bỏ lớp găng tay da bảo hộ, để lộ những ngón tay gầy guộc, các khớp xương gồ ghề và đầu ngón tay chai sần—dấu vết không thể xóa nhòa của hàng chục năm cầm bút lông ngỗng, gọt giũa thấu kính và tiếp xúc với những phiến tinh thể khắc nhớ cổ xưa.
Anh chầm chậm bước tới, đặt lòng bàn tay trần lạnh ngắt lên bề mặt phiến đá hoa cương xám ốp quanh khung cửa tò vò. Phiến đá xù xì, ẩm ướt và lạnh như băng, nhưng khi da thịt anh tiếp xúc với nó, một thoáng co giật nhẹ chạy dọc từ cánh tay lên tận sống lưng anh.
“Trác Minh? Anh thấy gì không?” Lam An bước khẽ lại gần, giọng nàng hạ thấp chỉ đủ để hai người nghe thấy giữa tiếng gió rít, ánh mắt nàng dõi theo từng chuyển động bất thường trên gương mặt anh.
“Tôi... tôi không nhìn thấy hình ảnh rõ ràng trong đầu,” Trác Minh thì thầm, giọng anh run rẩy, từng âm tiết vỡ vụn ra như những mảnh gốm nứt nẻ. “Ký ức trong tâm trí tôi vẫn bị những màn sương của phong ấn che lấp... Nhưng những ngón tay này... từng thớ cơ bắp trên cánh tay này... chúng nhớ. Chúng nhớ độ nhám của phiến đá này, nhớ cả góc nghiêng ba mươi độ của cái rãnh thoát nước dưới chân tường...”
Anh run rẩy đẩy nhẹ cánh cửa gỗ mun đã mục nát, hoàn toàn không hề khóa. Chiếc bản lề bằng đồng rỉ sét rên lên một tiếng ken két nặng nề, trầm đục, như tiếng thở dài ai oán của một kẻ bị giam cầm lâu năm, rồi từ từ mở toang ra một hành lang dài hun hút, chìm nghỉm trong bóng tối dày đặc của bụi bặm và thời gian bị ngưng đọng. Không khí bên trong lập tức ùa ra, mang theo một mùi hương vô cùng đặc thù mà chỉ những nơi lưu trữ học thuật cổ xưa mới có: mùi nồng ẩm của giấy da cừu được quét dầu bảo quản hàng trăm năm, mùi hắc nhẹ của dầu thông chống mối mọt, và đặc biệt là hương thơm ngọt ngào thoang thoảng nhưng lạnh lẽo đến thấu xương của những khối khoáng thạch khinh vân đã cạn kiệt năng lượng sau nhiều thập kỷ bỏ hoang.
Trác Minh bước vào hành lang với một cảm giác quen thuộc đến rợn ngợp. Từng bước chân anh đặt xuống mặt sàn đá xám dường như không cần đến ánh sáng dẫn đường; đôi chân anh tự động sải những bước dài ngắn khác nhau để né tránh những chỗ gạch lát bị sụt lún do rễ cây ăn sâu, tự động nghiêng vai chuyển hướng ở một ngã rẽ hình quạt mà không hề va quẹt vào những gờ tường nhô ra.
Lam An và Kha Duy bám sát phía sau anh từng tấc một. Kha Duy cầm khẩu súng bắn móc trong tay trái, tay phải đặt hờ trên chuôi dao găm, ánh mắt sắc như dao cạo liên tục quét qua từng góc tối của trần nhà và các hốc tường đổ nát. Lam An giữ tay gần Chìa Khóa Tịch Vân, các giác quan của nàng mở rộng tối đa để cảm nhận bất kỳ sự biến đổi áp suất hay dao động năng lượng nào của sương khí xung quanh.
Dọc theo bức tường hành lang đá hoa cương mờ mịt bụi bặm, hàng chục khung kính bảo quản tài liệu treo san sát nhau. Phần lớn các tấm kính đã bị nứt vỡ do rung chấn của những cỗ máy khổng lồ bên đảo chính hoặc do sự biến đổi nhiệt độ qua nhiều mùa đông khắc nghiệt. Bên trong những khung kính vỡ ấy lộ ra những bản đồ sao thiên văn cổ, các đồ thị biểu diễn áp suất khí quyển của những tầng mây ký ức nguyên thủy và những bảng phân loại mật độ khinh thạch viết bằng thứ ngôn ngữ hàn lâm phức tạp của thế kỷ trước.
Trác Minh đột ngột dừng bước trước một tấm bảng đồng lớn gắn chặt vào vách đá, bề mặt kim loại đã bị oxy hóa thành một màu xanh rì nham nhở. Bụi bặm tích tụ qua nhiều năm tháng bám trên mặt bảng thành một lớp dày mịn như nhung xám. Bằng một phản xạ hoàn toàn vô thức, dường như không qua bất kỳ sự chỉ đạo nào của ý thức, các đầu ngón tay của Trác Minh vươn ra, quệt một đường ngang dứt khoát qua lớp bụi mờ.
Dưới lớp bụi xám bị gạt đi, những nét vẽ bằng mực khoáng xám pha bột đá thạch anh hiện ra rõ mồn một, lấp lánh yếu ớt dưới ánh sáng lọt qua khe cửa. Đó là một sơ đồ phân rã cực kỳ tinh vi của dòng mây mang ký ức tập thể, với những đường cong tiếp tuyến phức tạp đan xen chằng chịt vào nhau, bao quanh bởi hàng loạt công thức tích phân và vi phân khí quyển viết bằng cổ ngữ Viện Chính Sử.
Ở góc dưới cùng bên phải của tấm bảng đồng, một dòng chữ chú giải nhỏ nhắn, sắc sảo và mang đầy tính triết học chạy dài theo mép khung:
*“Nếu bản chất của Vân Tâm là sự nuốt chửng, thì mọi độ cao mà kinh thành đạt được chỉ là ảo ảnh của một chiếc bẫy treo.”*
Nét chữ ấy thẳng thớm, góc cạnh, với những nét móc cong vô cùng đặc trưng ở các ký tự kết thúc mệnh đề—một phong cách viết không thể lẫn vào đâu được, giống hệt nét chữ trên bản mật đồ mà họ từng tìm thấy ở buồng máy Thành Tro Lơ Lửng, và cũng giống hệt nét chữ trên cuốn sổ tay bọc da mà Trác Minh vẫn dùng hàng ngày để ghi chép lại các tính toán lộ trình cho con tàu Dực Điệp.
“Nét chữ của anh...” Lam An nín thở thốt lên, nàng bước tới gần, ánh mắt găm chặt vào dòng chữ mực xám lấp lánh. “Anh từng làm việc ở đây. Căn phòng hoang phế này... đài thiên văn này... từng là phòng nghiên cứu của anh sao?”
“Không chỉ là làm việc...” Trác Minh lẩm bẩm, trán anh lấm tấm những giọt mồ hôi lạnh ngắt, đôi mắt mở to nhìn chằm chằm vào dòng chữ như thể đang nhìn vào một vực thẳm sâu không đáy của chính linh hồn mình. “Tôi... tôi đã giam mình ở đây ròng rã suốt ba năm trời. Từng ngày, từng đêm... Trước khi bọn họ... trước khi Viện trưởng Cảnh Thư ký vào bản lệnh chuyển giao toàn bộ kết quả đo đạc cho Ty Giám Vân. Tôi nhớ... tôi nhớ chiếc bàn làm việc bằng gỗ sồi ở góc phòng bên kia, chiếc đèn lồng dùng tinh thể tím để không làm biến chất mực khoáng... và... một bóng hình... một người luôn đứng tựa vào khung cửa sổ kia, lặng lẽ mỉm cười nhìn tôi vò đầu bứt tai giải những phương trình khí nén...”
Anh đột ngột giơ cả hai tay lên ôm chặt lấy đầu mình. Cơn đau dữ dội từ vết sẹo ấn hoa sen mười hai cánh trên ngực trái lại bùng phát, một luồng nhiệt buốt giá như dòng thủy ngân đông lạnh chạy dọc theo các dây thần kinh tủy sống, xông thẳng lên hộp sọ khiến anh lảo đảo, hai đầu gối khuỵu xuống mặt sàn đá.
Kha Duy nhanh như cắt lao tới, một tay túm lấy bả vai áo anh, ghì chặt người anh vào vách đá, bàn tay kia đưa lên bịt hờ miệng Trác Minh, gằn giọng nhắc nhở bằng một tông giọng lạnh tanh nhưng đầy tính cảnh báo:
“Tỉnh táo lại đi, giáo sư! Hoài niệm hay đau khổ thì để dành đến khi nào chúng ta còn sống mà rời khỏi kinh thành này! Mũi tôi vừa ngửi thấy mùi dầu máy mới thay bốc ra từ trục thông gió sàn bên dưới rồi đấy. Nơi này tuy là đảo hoang phế bị phong tỏa, nhưng hệ thống tuần hoàn khí nén của nó vẫn thông thẳng vào lòng đại thư viện trung tâm của Học viện Thiên Biên. Có sự chuyển động của máy móc, và có người ở rất gần đây.”
Trác Minh hít sâu một hơi luồng không khí ẩm mốc vào lồng ngực đang đau thắt, cố gắng dùng ý chí đè nén cơn co giật của các cơ bắp và sự run rẩy nơi đầu ngón tay. Anh ngẩng đầu lên, đưa mu bàn tay quệt đi lớp mồ hôi đọng trên thái dương, gật đầu dứt khoát với Kha Duy:
“Tôi ổn... Cơn đau đã qua rồi. Đi thôi... Con đường dẫn vào kho tài liệu cấm của Viện Chính Sử bắt buộc phải đi xuyên qua tầng thấp của đại thư viện.”
Họ tiếp tục tiến sâu hơn vào lòng công trình kiến trúc cổ. Đi hết hành lang dài hun hút, một cánh cổng vòm bằng sắt đúc nguyên khối, chạm trổ hoa văn hình những đám mây cuộn sóng cách điệu hiện ra trước mắt họ. Cánh cổng này không khóa chốt ngoài, dường như chỉ khép hờ để duy trì sự cân bằng áp suất giữa hai khu vực. Khi Kha Duy cẩn trọng dùng mũi dao găm nới lỏng then cài và đẩy hé một khe nhỏ của cánh cổng nặng trịch, cả ba người đều phải nín thở, sững sờ trước cảnh tượng kỳ vĩ và choáng ngợp đang diễn ra ngay trước mắt họ.
Đó là đại thư viện trung tâm của Học viện Thiên Biên.
Không gian bên trong rộng lớn đến mức ngột ngạt, một thánh đường tri thức hình trụ khổng lồ vươn cao hàng chục tầng, đáy sâu hun hút chìm trong làn sương mù mỏng và đỉnh vòm chạm tới tận những tấm kính mờ khổng lồ trên mái của hòn đảo chính. Nhưng điều khiến bất cứ ai lần đầu chứng kiến cũng phải kinh sợ không phải là quy mô đồ sộ của nó, mà là sự vận động cơ khí không ngừng nghỉ bên trong. Hàng trăm, hàng ngàn giá sách bằng đồng thau đen và gỗ sắt nặng trịch, cao từ sàn lên tới tận trần nhà, hoàn toàn không hề đứng yên tại chỗ. Chúng được gắn trên các trục bánh răng khổng lồ bằng thép tôi và một hệ thống đường ray trượt phức tạp đan xen chéo nhau cắm sâu vào vách đá tự nhiên của hòn đảo.
Mỗi khi có một luồng gió nén cực mạnh dẫn từ buồng phong quyển dưới đáy đảo rít lên qua các ống dẫn bằng đồng đỏ lộ thiên chạy dọc vách tường, áp suất khí nén lại thay đổi đột ngột.
*Xì xì... Phì...*
Tiếng pít-tông khí lực đẩy phát ra những âm thanh trầm đục, vang dội như nhịp tim của một con quái vật cơ khí khổng lồ. Kèm theo đó là tiếng kim loại cọ sát, tiếng bánh răng ăn khớp giòn giã: hàng loạt khối giá sách nặng hàng chục tấn lại từ từ xoay chuyển trên trục, trượt ngang, trượt dọc, hoán đổi vị trí cho nhau theo những quỹ đạo hình học biến ảo khôn lường. Một thư viện sống đúng nghĩa, một mê cung chuyển động vĩnh cửu được thiết kế bởi những bộ óc cơ học thiên tài cách đây cả thế kỷ, nhằm mục đích tối thượng: không một kẻ ngoại đạo nào có thể tìm thấy một cuốn sách cụ thể nếu không nắm giữ trong tay bảng quy luật phân phối khí áp của chính ngày hôm đó.
Mùi giấy cũ mốc meo, mùi mực in pha bột khoáng thạch ngai ngái và mùi dầu mỡ bôi trơn máy móc bốc lên nồng nặc trong không khí xáo động liên hồi. Những bậc thang kim loại xoắn ốc treo lơ lửng giữa khoảng không liên tục gãy gập rồi ghép nối vào những lối đi mới theo từng nhịp thở cơ học của buồng phong quyển bên dưới.
“Mẹ kiếp...” Kha Duy chửi thề một tiếng khe khẽ qua kẽ răng, đồng tử co rút lại khi nhìn những khối giá sách đồ sộ đang lướt sượt qua nhau như những bức tường thành di động, chỉ cách mép ban công đá họ đang đứng chừng vài gang tay. “Lũ mọt sách học viện các người bị điên toàn bộ rồi sao? Xếp sách kiểu này thì đọc cái nỗi gì? Đứng nhìn cái đống sắt vụn này chuyển động một lúc khéo hoa mắt chóng mặt rồi rơi xuống đáy vực mà nát thây!”
“Đây là hệ thống phân loại theo dòng khí quyển do Viện Chính Sử thiết lập hơn một trăm năm trước,” Trác Minh vô thức đáp lời, ánh mắt anh dõi theo chuyển động nhịp nhàng của các bánh răng truyền động khổng lồ gắn trên vách đá với sự thấu hiểu kỳ lạ. “Mỗi cuốn sách, mỗi tập hồ sơ lưu trữ đều mang một trọng lượng vật lý và mật độ ký ức khác nhau. Chúng được sắp xếp để tự động tìm đến tầng nhiệt độ và độ ẩm thích hợp nhất nhờ sự dịch chuyển của các luồng khí nén, nhằm bảo tồn chất lượng giấy da và màng sương ký ức đính kèm trên từng trang viết. Muốn qua được hành lang cấm ở phía đối diện của hòn đảo, chúng ta buộc phải băng qua sàn tầng hai... ngay bên dưới vòm trần kia.”
Lam An ngước nhìn lên theo hướng cánh tay gầy guộc của Trác Minh chỉ. Trần vòm của đại thư viện, nơi ánh sáng từ các ô kính mờ rọi xuống yếu ớt, đang treo lơ lửng hàng chục ống búp bằng đồng sáng loáng. Đầu mỗi chiếc ống vươn dài xuống không gian như những chiếc vòi bạch tuộc, gắn một bầu thủy tinh trong suốt chứa một chất lỏng phát ra ánh sáng màu lam nhạt, lập lòe đầy đe dọa.
“Cảm biến báo động bằng sương,” Kha Duy lập tức nhận ra cơ chế chết người đó, giọng anh đanh lại, sự căng thẳng hiện rõ trên từng đường nét khuôn mặt. “Cơ chế bẫy hơi nén đặc trưng của Ty Giám Vân. Bọn chúng cài đặt cảm biến nhạy cảm với thân nhiệt và nồng độ hơi thở. Chỉ cần có luồng khí thở lạ không mang huy hiệu định danh tẩm tinh dầu bạc hà của học viện lọt vào phạm vi tỏa sương của bầu thủy tinh, áp suất bên trong sẽ tăng vọt làm vỡ lớp vỏ mỏng. Tiếng nổ sẽ kích hoạt chuông hơi nén toàn viện và sập toàn bộ các cửa sắt cách ly trong vòng ba giây. Chúng ta không thể đi bộ công khai qua cây cầu treo bên dưới được, đó là một cái bẫy chết người.”
“Có cách nào vô hiệu hóa chúng mà không làm kinh động đến hệ thống cảnh báo không?” Lam An hỏi, bàn tay nàng siết chặt lấy báng đồng của Chìa Khóa Tịch Vân, mắt không rời những bầu thủy tinh phát sáng lơ lửng trên không trung.
“Đối với người khác thì chịu chết, nhưng với một hoa tiêu chuyên luồn lách qua các bẫy gió Phong Diều thì không gì là không thể,” Kha Duy nhếch mép cười, một nụ cười ngạo nghễ lộ ra trên gương mặt phong trần, nhưng trong đáy mắt anh hoàn toàn không có vẻ gì là đùa cợt.
Mặc cảm tội lỗi về mảnh biên nhận nợ mười lăm năm trước—thứ bằng chứng đanh thép về sự phản bội và hèn nhát của phường hoa tiêu mà anh từng cố chôn giấu—vẫn như một hòn than cháy âm ỉ cắn xé lồng ngực anh từng ngày. Mỗi khi có cơ hội mở đường, đối mặt với hiểm nguy để bảo vệ Lam An và che chắn cho cuộc hành trình này, Kha Duy luôn hành động với một sự liều lĩnh gần như tuyệt vọng, như thể anh đang muốn dùng chính sinh mạng của mình để trả dần món nợ máu năm xưa.
“Hai người đứng yên ở góc tối này. Tuyệt đối không được cử động hay thở mạnh. Đợi hiệu lệnh của ta,” Kha Duy dặn dò bằng giọng thì thầm dứt khoát.
Anh tháo chiếc móc sắt nhỏ bọc nỉ gắn ở thắt lưng, rút khẩu súng bắn móc neo tầm ngắn bọc da hươu giảm âm ra khỏi bao. Đôi mắt sắc lẹm của người hoa tiêu bắt đầu nheo lại, quan sát từng nhịp điệu xoay chuyển của các giá sách khổng lồ.
*Một... hai... ba...*
Ngay khoảnh khắc một giá sách khổng lồ mang biển đồng chữ *Kỷ yếu Khinh vân* trượt ngang qua mép ban công đá với một tiếng *khục* nặng nề của chốt hãm áp suất, Kha Duy đã tung người nhảy phắt lên đỉnh của khối giá sách đang chuyển động.
Anh di chuyển nhẹ tựa một bóng ma trên nóc những dãy sách bọc thép dày đặc. Luồng gió từ các van xả phong quyển dưới sàn thổi tung mái tóc bù xù và vạt áo da của anh, nhưng đôi chân của người hoa tiêu sinh ra trên những cánh buồm bão táp bám chặt vào từng mép gờ kim loại với một sự thăng bằng tuyệt đối đến khó tin. Khi khối giá sách xoay một góc chín mươi độ theo đường ray trượt, đưa anh tiếp cận dầm ngang bằng thép đen của trần vòm, Kha Duy búng người phóng vọt lên thanh xà gồ chịu lực.
Anh bò trườn thoăn thoắt dọc theo thanh xà bằng những động tác dẻo dai của một loài thú ăn đêm. Đến vị trí ngay phía trên bầu cảm biến sương đầu tiên, Kha Duy lộn ngược người xuống, hai khoeo chân móc chặt vào thanh giằng sắt. Rút từ trong ống tay áo ra hai chiếc kẹp đồng mảnh như sợi tóc cùng một lọ mỡ hải cẩu lạnh đã được chuẩn bị từ trước, anh cẩn thận áp sát bầu thủy tinh phát sáng.
Bằng những ngón tay khéo léo phi thường của một kẻ từng bẻ khóa hàng trăm hòm cơ mật trên các đảo nổi ngoài Biển Mù, Kha Duy nhẹ nhàng luồn chiếc kẹp đồng vào khe hở siêu nhỏ của van xả áp suất, chèn một viên sáp đông lạnh vào chốt kích hoạt cơ học bên trong. Thao tác chuẩn xác đến từng phần mười milimét, không một giọt mỡ thừa rơi xuống, không một tiếng kim loại va chạm phát ra.
Từng cái một, lần lượt ba chiếc cảm biến báo động bằng sương dọc theo lối dẫn vào hành lang cấm bị anh vô hiệu hóa hoàn toàn. Luồng ánh sáng lam nhạt đầy đe dọa bên trong những bầu thủy tinh dần chuyển sang sắc xám đục bất động, biểu thị cơ chế kích nổ đã bị đóng băng tạm thời.
Kha Duy trượt theo một sợi dây tơ tằm thả xuống đầu kia của cây cầu treo kim loại hẹp, quay người lại vẫy tay ra hiệu dứt khoát về phía góc ban công:
“Đường thông! Nhanh chân lên, nhiệt độ cơ thể và không khí sẽ làm tan sáp đông trong vòng bảy phút thôi!”
Lam An và Trác Minh không chần chừ một khắc nào. Lợi dụng thời điểm hai khối giá sách lớn đang xoay chuyển giao nhau tạo thành một bức tường che chắn hoàn hảo tầm nhìn từ sàn thư viện bên dưới, cả hai người nhanh như cắt băng qua cây cầu treo kim loại hẹp hoài, lách mình qua khoảng trống hẹp giữa các khối kiến trúc cơ khí đang rít lên ầm ĩ để hội quân với Kha Duy ngay trước cánh cửa ngách dẫn vào hành lang cấm.
Thế nhưng, ngay khi bước chân cuối cùng của họ vừa đặt vào bóng tối sâu thẳm của hành lang cấm, tiếng bước chân gấp gáp nện trên bậc kim loại và tiếng thì thầm run rẩy vọng lên từ phía cầu thang xoắn ốc bên dưới đã xé toạc không gian tĩnh mịch.
“Nép vào! Mau!” Kha Duy nghiến răng thì thào, một tay kéo Lam An, một tay đẩy Trác Minh lùi sâu vào hõm tường đá thụt vào sau một bức rèm nhung mục nát phủ đầy mạng nhện.
Cả ba người nín thở, ép sát lưng vào bức tường đá lạnh ngắt. Ánh sáng vàng vọt, chập chờn từ một chiếc đèn lồng dầu khoáng hắt lên vách đá những bóng người méo mó, run rẩy. Đó là một nhóm ba sinh viên mặc áo choàng học giả màu xanh đậm viền chỉ bạc đã sờn cũ—bộ đồng phục đặc trưng của những người trực đêm thuộc Khoa Lưu trữ Viện Chính Sử. Gương mặt của họ còn rất trẻ măng, nhưng nét mặt người nào người nấy đều căng thẳng tột độ, hai mắt đỏ hoe vì thiếu ngủ và sợ hãi, liên tục láo liên nhìn quanh bóng tối như thể những gờ tường của thư viện có thể biến thành những móng vuốt quái vật vồ lấy họ bất cứ lúc nào.
“...Tôi nói thật đấy, mau thu dọn đống bản thảo khảo sát dòng mây vùng Nam Giới đi, đừng có chần chừ nữa!” một giọng nói trẻ tuổi, run rẩy vang lên, hơi thở hổn hển đứt quãng vì nỗi kinh hoàng đang đè nặng trong lồng ngực. “Lệnh giới nghiêm cấp một vừa được ban bố chính thức từ Cung Điện Mây Trắng cách đây một canh giờ rồi. Cấm quân Thiết Vũ đã phong tỏa toàn bộ các cầu tàu nối giữa đảo chính và các phân viện ngoại vi. Không một ai được phép rời khỏi ký túc xá sau nửa đêm!”
“Tại sao lại đột ngột đến mức này?” Một giọng sinh viên khác thì thào đáp lại, đôi bàn tay run rẩy ôm chặt lấy một chồng ống kim loại chứa tài liệu cuộn tròn trước ngực. “Chẳng phải kỳ kiểm kê định kỳ của Ty Giám Vân còn hai tuần nữa mới tới sao? Mọi năm bọn họ chỉ cử vài viên thư lại đến kiểm tra sổ sách thôi mà!”
“Hai tuần cái gì nữa! Cậu điếc đặc hay không chịu nghe ngóng tin tức từ các giáo sư phụ trách thế hả?” Người sinh viên thứ nhất gắt nhỏ, âm điệu tràn ngập sự hoảng loạn tột cùng. “Chiếc tàu tuần dương Huyền Hạc vừa trở về từ Biển Mù trong tình trạng tả tơi, mang theo tin dữ làm rúng động cả triều đình! Nghe nói hai tầng phong ấn ngoài cùng của Cổng Mây Đen đã bị một kẻ phản nghịch nào đó phá vỡ hoàn toàn! Thành Tro Lơ Lửng đang phát ra những làn sóng xung kích khí áp làm rung chuyển cả hệ thống Vân Tâm kinh đô. Ty Giám Vân nghi ngờ có học giả của học viện chúng ta tiếp tay cho kẻ gác cổng mang chìa khóa trốn thoát, nên chính Tổng giám Tạ Nghiêm đích thân mang lệnh niêm phong của Nhiếp chính vương tới đây!”
“Tạ Nghiêm... đích thân Tạ Nghiêm tới đây ư?” Người thứ ba trong nhóm run bắn lên bần bật, chiếc đèn lồng trên tay anh ta chao đảo dữ dội, suýt chút nữa rơi xuống bậc thang đá. “Tên đồ tể đó tới đây để làm gì?”
“Thanh trừng! Một cuộc thanh trừng học thuật quy mô lớn nhất và tàn khốc nhất trong năm mươi năm qua!” Người sinh viên thứ nhất thì thầm, âm thanh rợn người như tiếng gió rít qua những khe mộ đá lạnh lẽo. “Toàn bộ các tài liệu ghi chép về lịch sử khai quốc ba trăm năm trước, các bản thảo khảo sát cấu trúc nguyên bản của Cổng Mây Đen và đặc biệt là tất cả những công trình nghiên cứu cũ của Trác Minh... đều bị liệt vào danh sách tà thư loại một. Bắt đầu từ rạng sáng mai, khi tiếng chuông đầu tiên điểm, Ty Giám Vân sẽ đốt lò nén sương tại quảng trường trung tâm. Mọi cuốn sách, mọi phiến đá khắc không có dấu mộc kiểm duyệt mới của triều đình sẽ bị tống vào lò, thiêu rụi thành tro trắng! Ngay cả Viện trưởng Cảnh Thư cũng không bảo vệ nổi chúng ta đâu... Nghe nói ông ấy đang bị quản thúc nghiêm ngặt trong phòng làm việc ở tháp chuông rồi!”
“Trời đất ơi... Trác Minh đã chết mất xác ngoài Biển Mù từ ba năm trước rồi cơ mà... Tại sao bóng ma của con người đó vẫn còn ám ảnh cái học viện này đến tận ngày hôm nay chứ...”
Tiếng bước chân của nhóm sinh viên vội vã rời đi, mang theo sự hoảng loạn tột độ và tiếng xào xạc gấp gáp của những trang giấy da bị nhồi nhét vội vã vào hòm khóa sắt. Ánh đèn lồng leo lét mờ dần theo từng bậc thang xoắn ốc đi xuống, rồi hoàn toàn biến mất sau ngã rẽ tối tăm của tầng hầm lưu trữ phụ.
Không gian trong hành lang cấm lại chìm sâu vào sự tĩnh lặng chết chóc của đêm đen. Chỉ còn lại tiếng rít cơ khí nặng nề, đều đặn của buồng phong quyển từ xa vọng lại qua các khe nứt, nghe như tiếng thở dài vô vọng của một nền văn minh đang chuẩn bị bước vào lò thiêu.
Lam An siết chặt bàn tay thành nắm đấm, móng tay nàng bấm sâu vào lòng bàn tay qua lớp găng mỏng. Nàng quay sang nhìn Trác Minh, nhận thấy toàn thân vị học giả đang cứng đờ như một bức tượng đá. Từng lời nói của đám sinh viên vừa rồi như những mũi tên tẩm độc bắn thẳng vào tâm can anh, xới tung lên những vết thương chưa bao giờ khép miệng. Sự thật đang khép chặt vòng vây quanh họ: Ty Giám Vân không chỉ rắp tâm săn lùng Chìa Khóa Tịch Vân để củng cố quyền lực tối thượng cho ngai vàng, mà chúng còn muốn xóa sạch mọi dấu vết của sự thật lịch sử, thiêu rụi toàn bộ chứng cứ về tội ác diệt chủng và phản bội thời khai quốc mà hoàng tộc Bạch Vân đã cố công che giấu suốt ba thế kỷ qua.
“Chúng định tiêu hủy mọi thứ...” Trác Minh thì thào, giọng nói khàn đặc và run rẩy, nhưng trong đáy mắt anh, một ngọn lửa u tối và đau đớn tột cùng đang bùng cháy dữ dội. “Chúng muốn biến toàn bộ ký ức của thế giới này thành một mảnh giấy trắng rỗng tuếch, để rồi mặc sức cho chính tay Tạ Nghiêm và triều đình vẽ nên những lời dối trá kinh tởm nhất.”
“Vậy thì chúng ta phải tìm ra những tài liệu cấm đó trước khi lò nén sương của chúng bốc khói vào rạng sáng mai,” Kha Duy gằn giọng, đôi mắt sắc lẹm của anh đảo liên hồi qua các ngóc ngách của hành lang tối tăm, ngón tay đã đặt sẵn trên lẫy khóa súng bắn móc. “Thời gian không còn nhiều đâu. Lối vào mật thất thực sự nằm ở đâu, Trác Minh?”
Trác Minh không trả lời bằng lời nói. Anh quay người, bước những bước đi chầm chậm nhưng kiên định về phía cuối hành lang cấm.
Nơi đây là một gian phòng cụt hình bán nguyệt, bốn bề được xây bằng những khối đá xanh nguyên khối kiên cố, không hề có bất kỳ cửa sổ hay lỗ thông hơi nào thông ra bên ngoài. Chiếm trọn toàn bộ bức tường đá trung tâm là một bức phù điêu khổng lồ, được chạm khắc tinh xảo đến từng chi tiết bằng đá cẩm thạch trắng và viền bằng những đường chỉ vàng ròng lộng lẫy: Bức phù điêu Thất Thánh.
Bức phù điêu đồ sộ này miêu tả bảy nhân vật huyền thoại của thời kỳ lập quốc—bảy vị thánh thần tối cao trong cuốn chính sử được triều đình Bạch Vân dày công tô vẽ, ca tụng họ là những đấng cứu thế vĩ đại đã dùng pháp thuật và khí giới thần thánh để phong ấn con ác long Vũ Uyên hung hãn, giải cứu nhân loại khỏi thảm họa sương mù ăn thịt, và nâng những hòn đảo bay lên tầng trời ánh sáng ngập tràn vinh quang.
Ở vị trí trung tâm trang trọng nhất của bức phù điêu, hình tượng vị hoàng đế lập quốc đầu tiên đội vương miện rực rỡ, hai tay giơ cao thanh Trượng Khinh Vân quyền uy hướng thẳng lên trời cao. Dưới chân ngài, con rồng Vũ Uyên khổng lồ bị khắc họa như một loài thủy quái tàn bạo, gớm ghiếc, đang quằn quại trong những sợi xiềng xích bằng đồng đen cắm sâu vào nền đá.
Lam An ngước nhìn bức phù điêu nguy nga tráng lệ ấy, trong lồng ngực nàng dâng lên một cảm giác ghê tởm và căm phẫn tột cùng. Sau khi đã tận mắt chứng kiến những dòng huyết thư trên bản chiếu chỉ khai quốc đẫm máu tại buồng máy Thành Tro Lơ Lửng, sau khi đã thấu hiểu nỗi đau đớn bị rút cạn tủy sống của Kẻ Giữ Mưa, nàng biết rõ bức phù điêu Thất Thánh này chính là lời dối trá kinh tởm và đê hèn nhất từng được khắc vào đá trong lịch sử loài người. Bảy vị Thất Thánh được toàn thể thần dân Bạch Vân quỳ lạy tôn thờ kia, thực chất chỉ là bảy kẻ đại diện cho những chức vụ chính trị và học thuật quyền lực nhất thời bấy giờ—những kẻ đã cùng nhau bày ra một mưu đồ phản bội tàn độc: đâm lén người bảo hộ của bầu trời, rút cạn từng giọt máu và hơi thở của thần long chỉ để thỏa mãn lòng tham vô đáy và tham vọng bay lên trời cao của một thể chế hoàng quyền mục ruỗng.
Trác Minh đứng lặng người trước bức phù điêu. Ánh mắt anh không hề dừng lại trên những gương mặt được tạc với vẻ thánh thiện, từ bi giả tạo của các vị thánh khai quốc, mà dán chặt vào chân bệ đá cẩm thạch bên dưới, nơi tiếp giáp với mặt sàn ẩm ướt.
Ở góc khuất đó, ẩn giấu vô cùng tinh vi giữa những hoa văn mây cuộn sóng cách điệu, có ba chiếc bánh răng thiên văn bằng đồng thau đen bóng. Mỗi chiếc chỉ có kích thước bằng lòng bàn tay, được lồng ghép vào nhau theo một trật tự hình tam giác lệch vô cùng hiểm hóc. Các rãnh răng cưa kim loại của chúng đã bị bụi bẩn, mạng nhện và lớp rỉ đồng bám chặt suốt nhiều năm tháng dài đằng đẵng không có một ai đụng tới.
Trác Minh đứng chết lặng trong vài giây. Hơi thở anh nghẹn lại nơi cổ họng. Anh hoàn toàn không suy nghĩ bằng lý trí logic; tâm trí anh, nơi những ký ức rời rạc vẫn đang bị phong ấn bủa vây, hoàn toàn trống rỗng trước cơ chế khóa bí mật bằng mật mã bánh răng này.
Nhưng rồi, một điều kỳ diệu và đáng sợ xảy ra: hai cánh tay gầy guộc của anh tự động nâng lên giữa không trung.
Đó là thứ ký ức cơ bắp sâu sắc—thứ phản xạ vận động vô thức của cơ thể mà ngay cả thuật khâu nhớ tàn nhẫn và các loại thuốc tẩy xóa tâm trí tinh vi nhất của Viện Chính Sử cũng không thể nào gột rửa sạch sẽ khỏi da thịt anh. Những ngón tay dài, chai sần của Trác Minh vươn ra, chạm chính xác vào ba chiếc bánh răng đồng thau đen.
*Cách.*
Bánh răng thứ nhất kêu lên một tiếng đanh gọn khi những ngón tay của anh xoay nó ngược chiều kim đồng hồ đúng ba khấc, dừng lại chuẩn xác ở ký hiệu hình ngôi sao bảy cánh bị cắt cụt.
*Lạch cạch... Két...*
Không một chút do dự, không một thoáng ngập ngừng tính toán, bàn tay trái của Trác Minh lập tức xoay chiếc bánh răng thứ hai thuận chiều kim đồng hồ năm khấc liên tiếp. Rãnh kim loại ăn khớp hoàn hảo, đưa một ký tự cổ ngữ Viện Chính Sử có nghĩa là *“Giam giữ”* vào đúng khớp nối chịu lực ở trung tâm cơ chế.
Và rồi, bằng một động tác phối hợp nhịp nhàng đến mức kinh ngạc, hai bàn tay anh đồng thời dùng toàn bộ trọng lực cơ thể ép chiếc bánh răng thứ ba thụt sâu vào trong vách đá nửa đốt ngón tay, rồi vặn mạnh một vòng tròn hoàn chỉnh ngược theo hướng gió thổi của hệ thống buồng phong quyển.
Một chuỗi âm thanh cơ khí tinh vi, giòn giã và phức tạp vang lên liên hồi từ sâu bên trong vách đá kiên cố:
*Cách... tạch... rầm... rắc...*
Áp suất khí nén cực mạnh bị dồn nén suốt nhiều năm rò rỉ xì ra từ các khe nứt quanh bức tường, thổi bay những mảng bụi bặm và mạng nhện hàng chục năm tích tụ thành một làn sương mù xám đục.
Trước ánh mắt kinh ngạc của Lam An và sự sững sờ của Kha Duy, toàn bộ mảng phù điêu Thất Thánh khổng lồ bằng cẩm thạch trắng—chính nơi khắc hình tượng vị hoàng đế lập quốc đang giơ cao thanh Trượng Khinh Vân—từ từ tách đôi ra làm hai nửa. Cơ chế pít-tông ngầm hoạt động êm ru, kéo hai khối đá nặng hàng tấn trượt sâu vào hai bên vách đá hoa cương, để lộ ra một lối đi ngầm tối đen hun hút, với những bậc thang bằng đá phiến dẫn sâu xuống lòng đá tự nhiên của hòn đảo phụ.
Từ sâu bên trong bóng tối của lối đi ngầm ấy, một mùi hương thân thuộc đến xé lòng lập tức ùa ra, bao bọc lấy toàn bộ giác quan của Trác Minh: mùi nồng nặc của mực khoáng xám chống ẩm, mùi ngai ngái của da thuộc cổ dùng để bọc các ống lưu trữ ký ức, và đặc biệt là một làn hơi ấm thanh tao, ngọt ngào của tinh dầu hoa sen mười hai cánh—thứ tinh dầu chỉ có tại phòng nghiên cứu tối mật của các học giả thượng cấp.
“Chính là ở đây...” Trác Minh nghẹn ngào thì thầm, giọng anh lạc đi trong cơn xúc động tột cùng. Bước chân anh run rẩy, như bị một lực hút vô hình đầy ma lực kéo tuột về phía miệng hầm tối om. “Toàn bộ những bản nghiên cứu bị triều đình cấm đoán... những bản đồ sao nguyên thủy và sự thật đẫm máu mà tôi từng đánh đổi cả tính mạng để tìm thấy... chúng vẫn còn nằm ở dưới này. Bọn chúng chưa kịp tiêu hủy...”
“Vào nhanh đi! Tôi sẽ đứng ngay chốt cửa này để canh gác!” Kha Duy giục giã dứt khoát, tay nắm chặt báng súng bắn móc, ánh mắt sắc bén liên tục quét ngang quét dọc hành lang cấm phía sau lưng họ. “Bất kỳ biến động nào từ phía đại thư viện, tôi sẽ báo động ngay!”
Lam An bước tới, nắm chặt lấy cánh tay Trác Minh để tiếp thêm sức mạnh cho anh. Cả hai người cùng nhau bước qua ngưỡng cửa đá cẩm thạch, thận trọng đặt từng bước chân xuống những bậc thang dốc đứng, tiến sâu vào căn mật thất ngầm đã bị chôn vùi trong lãng quên suốt nhiều năm tháng đằng đẵng.
Căn phòng ngầm bên dưới rộng khoảng vài chục bước chân, bốn bề xây bằng đá bazan đen kiên cố nhằm ngăn chặn mọi sóng dò tìm của các thiết bị tầm xa. Chung quanh phòng kê những giá sách nhỏ bằng gỗ sồi bọc đồng, chất đầy những cuộn giấy da cổ xưa ố vàng, hàng trăm ống đồng khắc vi mạch ký ức tinh xảo và những mô hình thiên văn chuyển động bằng dây cót đang đứng bất động.
Thế nhưng, ngay khoảnh khắc gót ủng của Lam An và Trác Minh vừa chạm trọn vẹn vào mặt sàn đá nhẵn bóng ở trung tâm mật thất, một cơ chế kích hoạt bằng trọng lực giấu kín dưới phiến đá lát sàn đột ngột lún sâu xuống một tấc.
*Tách.*
Âm thanh kim loại bật nẩy vang lên đanh gọn, sắc lẹm, xé toạc không gian tĩnh mịch của căn hầm ngầm.
Chưa kịp để Lam An kịp rút Chìa Khóa Tịch Vân hay Kha Duy kịp thốt lên một lời cảnh báo từ cửa hầm, một chuỗi ánh sáng ma thuật chói lòa bất ngờ bừng sáng khắp bốn góc mật thất. Hàng loạt ngọn đèn lồng cơ khí sử dụng tinh thể khinh vân trắng tinh khiết treo trên trần vòm đồng loạt rực cháy với công suất tối đa. Luồng ánh sáng trắng lóa mắt xua tan hoàn toàn bóng tối dày đặc tích tụ suốt nhiều năm, chiếu rọi rõ mồn một từng hạt bụi li ti đang lơ lửng hoảng loạn trong không khí xáo động.
Lam An bị chói mắt, nàng lùi phắt lại nửa bước theo bản năng chiến đấu. Chiếc Chìa Khóa Tịch Vân treo trước ngực nàng lập tức phản ứng với luồng quang năng đột ngột, phát ra một tiếng ngân vang trầm đục và dựng lên một màng chắn năng lượng màu xám bạc bao bọc lấy nàng và Trác Minh. Ở phía cửa hầm, Kha Duy lập tức xoay phắt người lại, rút con dao găm thép đen sáng loáng, hạ thấp trọng tâm chắn ngang lối vào.
Thế nhưng, lối ra phía sau lưng họ đã không còn an toàn, và kẻ thù cũng không hề đến từ phía đại thư viện bên ngoài.
Từ trong bóng tối tĩnh lặng của một góc phòng mật thất sâu hút, ngay phía sau chiếc bàn làm việc bằng gỗ sồi bề thế chất đầy những tấm bản đồ sao cổ và các chồng sách dày cộp, một bóng người gầy gò, khoác trên mình chiếc áo choàng đại lễ màu xanh thẫm viền bạc của Viện trưởng Học viện Thiên Biên chầm chậm bước ra ánh sáng rực rỡ của tinh thể khinh vân.
Mái tóc ông đã bạc trắng như sương tuyết của vùng cực bắc, buông xõa xuống đôi vai gầy guộc. Đôi mắt ông trũng sâu, phủ đầy những nếp nhăn của sự mệt mỏi và năm tháng, lấp lánh sau cặp kính gọng đồng dày cộp có gắn thấu kính phóng đại quang học. Và trên đôi bàn tay già nua đầy những đốm đồi mồi của ông, đang run rẩy nâng niu một tập bản thảo cũ kỹ với những nét vẽ đồ thị dòng mây mang nét chữ quen thuộc đến xé lòng.
Một giọng nói già nua, khàn đặc vì năm tháng cô độc nhưng lại mang theo một sự quen thuộc nghẹn thở cất lên, vang vọng từng âm tiết rõ mồn một trong không gian kín mít của căn mật thất:
“Con đã về muộn mất ba năm rồi... Trác Minh.”