Căn Bếp Nhỏ Của BàC.5 / 35
Chương 5

Vị ngọt giữ gìn phẩm giá

Rạng đông rọi những tia nắng nhạt đầu tiên qua kẽ hở của phên nứa, chiếu rọi làn khói mỏng thơm ngát đang bảng lảng bay lên từ chiếc nồi nhôm đã sôi liu riu suốt đêm.

Căn bếp chái sau của ngôi nhà rường An Cựu vẫn còn đẫm hơi lạnh sau một đêm dài ngậm sương, nhưng không gian quanh bệ bếp đất nung thì ấm sực. Hơi ấm nồng đượm ấy tỏa ra từ sâu trong lòng lò, nơi những hòn than phi lao đỏ rực vẫn kiên nhẫn ủ mình dưới lớp tro xám mịn, bền bỉ truyền sinh khí qua đáy nồi suốt từ canh ba cho đến tận lúc trời hưng hửng sáng. My ngồi thu hình trên chiếc đẩu gỗ mít thấp lè tè kê sát chân cột bếp, đôi mắt cay xè vì thiếu ngủ và vương chút tàn tro mỏng mảnh. Đôi bàn tay cô, vốn cả chục năm trời ở chốn phồn hoa đô hội chỉ quen lướt thoăn thoắt trên bàn phím laptop hay bấm đốt ngón tay duyệt các bản kế hoạch tiếp thị với ngân sách hàng tỷ đồng, nay phủ một lớp muội than mờ xám ở từng đầu ngón. Các khớp ngón tay co cứng, hai bờ vai mỏi nhừ sau hàng giờ đồng hồ ngồi im thin thít canh chừng từng đợt lửa.

Suốt từ nửa đêm về sáng, cô gần như không dám chợp mắt trọn vẹn lấy nửa canh giờ. Mỗi lần nghe tiếng củi tí tách chùng xuống hay một bong bóng bọt nước khẽ lục bục dội lên từ lòng nồi, cô lại giật mình chồm dậy, ghé sát mắt nhìn qua cái lỗ thông gió tròn xoe của chiếc lò đất cổ. Cô cẩn trọng dùng chiếc kẹp sắt hoen gỉ gắp bớt hoặc vun thêm từng thanh than phi lao đượm hồng, nơm nớp sợ một ngọn lửa quá trớn sẽ làm sôi sục đáy nồi, khuấy đảo đám cặn xương vừa mới kịp lắng, xé tan hoang cái mặt nước phẳng lặng mà cô đã khổ công gìn giữ sau hai lần thất bại ê chề ngày hôm qua.

Tiếng dép lê khẽ chạm vào bậc thềm đá hoa cương phủ rêu ngoài sân sau kéo My trở về thực tại.

Thiện bước nhẹ qua ngạch cửa gỗ thấp, tay bưng chiếc rá tre đan mắt cáo đựng vài nhánh hành hoa xanh mướt và mớ rau răm còn đọng những hạt sương mai li ti vừa hái từ mảnh vườn sau nhà anh. Bước chân anh rất khẽ, cẩn trọng như một người quen đi lại giữa những cổ vật vô giá, dường như sợ chỉ một tiếng động thô ráp thôi cũng đủ làm xao động bầu không khí tĩnh mịch, thiêng liêng đang bao bọc gian bếp nhỏ. Chiếc áo len cổ lọ màu nâu sẫm của anh còn phảng phất hơi lạnh của sương sớm bờ sông An Cựu.

"Mở vung ra xem thử đi My," Thiện khẽ nói, giọng trầm ấm xóa tan cái tĩnh mịch buốt giá của buổi sớm. "Lửa than chừng này là vừa độ tủy tiết hết rồi."

My nuốt khan một ngụm nước bọt, nghe rõ tiếng tim mình đập dồn dập sau lồng ngực. Cảm giác hồi hộp, phấp phỏng xâm chiếm toàn bộ tâm trí cô, hệt như cái thuở cô đứng trước hội đồng quản trị của tập đoàn đa quốc gia để thuyết trình chiến dịch truyền thông sống còn của cả năm tài chính. Nhưng kỳ lạ thay, sự phán xét của các giám đốc cấp cao ngày ấy chưa bao giờ khiến lòng bàn tay cô ướt đẫm mồ hôi lạnh như khoảnh khắc chuẩn bị nhấc một chiếc vung nồi bằng nhôm cũ kỹ này.

Cô với lấy hai mảnh giẻ lót nồi bằng vải thô đã sờn rách mép của bà nội, run run đặt hai bàn tay lên quai nắp vung. Hơi nóng phả ra ngùn ngụt ngay khi khe hở đầu tiên hé mở, mang theo một luồng nhiệt lượng dồi dào khiến da mặt My ửng đỏ.

Khi chiếc vung được nhấc hẳn ra và đặt nghiêng sang một bên mép lò, một làn khói trắng cuộn tròn bảng lảng bay lên, mang theo hương thơm ngào ngạt phủ kín cả gian bếp rêu phong. My nín thở nhìn xuống. Mặt nước dùng phẳng lặng như gương sau một đêm dài được tôi luyện dưới ngọn lửa than liu riu, không một gợn vẩn đục, không một chút bọt bẩn cuộn trào như thảm họa ban chiều. Nước trong veo, ánh lên một sắc hổ phách trầm mặc, sâu thẳm, phản chiếu cả khoảng sáng nhờ nhờ của lỗ phên nứa trên cao rọi xuống. Trên bề mặt phẳng lặng ấy, những đốm mỡ li ti óng ánh màu hạt điều kết lại thành từng dải nhỏ lăn tăn, nhảy nhót nhè nhẹ theo nhịp sôi tăm tăm từ sâu dưới đáy nồi. Mùi thơm thanh nhẹ của sả cây đập dập, vị nồng ấm kín đáo của hành nướng và một mẩu hoa hồi khô hòa quyện tuyệt đối với hương mắm ruốc ngấu chín đã lắng trong, hoàn toàn không còn chút vị tanh nồng của máu tủy hay mùi gắt nồng xộc vào sống mũi như hai nồi nước dùng cô đã phải đổ bỏ trong nước mắt.

Thiện bước lại gần, cúi đầu nhìn thật kỹ màu nước phản chiếu trong lòng nồi nhôm. Gương mặt trầm tư của người thầy dạy nhạc cổ truyền thoáng nét nghiêm cẩn lạ thường. Anh cầm chiếc muôi nhôm nhỏ múc một lượng nước dùng vừa đủ, đổ nhẹ vào chiếc chén sứ trắng tinh đã tráng qua nước sôi, rồi đưa lên ngang mũi hít một hơi thật sâu trước khi nhấp một ngụm nhỏ.

My đứng bất động bên cạnh, hai bàn tay siết chặt lấy vạt áo len xám, đôi mắt mở to không dám chớp, chăm chú dõi theo từng cử chỉ, từng nét biến đổi nhỏ nhất trên cơ mặt của anh thợ dạy nhạc.

Nước dùng chạm vào đầu lưỡi Thiện, ngưng đọng lại chừng vài giây. Đôi lông mày hơi nhíu lại của anh từ từ giãn ra, khóe môi khẽ cong lên một nụ cười hiền hậu, ấm áp như vạt nắng sớm. Anh thở phào một hơi dài nhẹ nhõm, trao chiếc chén sứ vẫn còn bốc khói mỏng sang cho My:

"Em nếm thử đi. Đừng vội nuốt, để nước dùng đọng lại dưới cuống họng xem."

My đón lấy chiếc chén bằng cả hai bàn tay thô ráp. Lớp men sứ truyền qua da thịt cô một hơi ấm dịu dàng, lan tỏa dần lên cổ tay. Cô đưa chén lên sát môi, nhắm mắt lại rồi nhấp ngụm đầu tiên.

Vị đậm đà nhưng thanh tao của mắm ruốc Thuận An lan tỏa tức thì trên các gai vị giác, kéo theo vị ngọt béo ngậy mà tinh khiết của tủy xương ống bò tơ, rồi đọng lại nơi cuống họng bằng một hậu vị ngọt lịm, sâu hun hút, không một chút gợn ngọt nhân tạo của hạt nêm hay đường kính. Đó là một vị ngọt thuần khiết, kiên nhẫn tích tụ từ đất đai, củi lửa và sự chờ đợi nhẫn nại suốt cả một đêm dài đằng đẵng. Nó không tấn công khứu giác hay vị giác bằng sự nồng gắt chát chúa, mà thẩm thấu chậm rãi, êm ái như dòng nước ngầm len lỏi qua từng tầng đất đá cổ xưa.

Ký ức xa xăm của những buổi chiều ba mươi Tết thời thơ ấu bất thần ùa về làm cay xè sống mũi My. Nồi bún bò của bà nội bên bếp than hồng năm nào giữa cái rét căm căm xứ Huế, tiếng củi nổ lách tách, mùi sả nồng ấm xua tan mưa dầm giá buốt... tất cả vẹn nguyên trong từng giọt nước đang tan chảy trên đầu lưỡi cô lúc này. Hóa ra, mùi vị của ký ức chưa bao giờ mất đi; nó chỉ nằm im lìm ở một góc khuất nào đó trong tâm khảm, chờ đợi một ngọn lửa đủ kiên nhẫn để đánh thức trở lại.

"Đạt rồi," Thiện gật đầu xác nhận, ánh mắt lấp lánh sự cảm phục kín đáo nhìn cô gái thị thành. "Nước trong veo, mỡ nổi màu hạt điều đúng độ lăn tăn, vị ngọt rút từ tủy xương chứ không bốc mỡ ngấy ngọn. Hương sả vừa đủ nén mùi mắm lại thành một nốt trầm dịu dàng, không lấn át vị ngọt của thịt. Nồi bún ni... đúng chuẩn bàn tay của mệ Lành rồi đó My."

Một tiếng thở phào dài buông ra từ lồng ngực My, kéo theo bao nhiêu nỗi sợ hãi, căng thẳng và hoài nghi dồn nén suốt mấy ngày qua rơi rụng xuống đất. Đôi chân cô mềm nhũn, suýt nữa thì ngồi thụp xuống bệ bếp. Cô không kìm được một nụ cười rạng rỡ, vội vã đưa mu bàn tay áo len quệt vội giọt nước mắt vừa ứa ra nơi khóe mi. Mẻ bún thứ ba—mẻ bún được nấu bằng sự tĩnh lặng, bằng việc học cách kiềm chế thói quen kiểm soát mọi thứ và buông bỏ sự vội vã của một kẻ làm kinh doanh—cuối cùng đã không phụ lòng người.

"Bây giờ trần bún và xếp thịt đi," Thiện khẽ nhắc nhở, đưa mắt chỉ tay về phía chiếc chạn gỗ bát úp nép sau cánh cửa bếp. "Bà Năm Sương dọn sạp xôi từ năm giờ rưỡi sáng, chừ sáu giờ hơn rồi, trời sắp tỏ hẳn, khách lao động quanh cầu Kho Rèn sắp ghé mua đông rồi đó."

My gật đầu lia lịa, thoăn thoắt bắt tay vào việc. Mọi cử chỉ vụng về, nôn nóng của một cô gái thành thị sống vội dường như đã bị ngọn lửa đêm qua gột sạch, thay vào đó là sự cẩn trọng, tỉ mẩn đến từng chi tiết nhỏ.

Cô cẩn thận bắc một chiếc nồi nhỏ lên góc lò phụ nơi có mấy hòn than hoa đang ủ, đun sôi nước giếng trong vắt lấy từ chiếc giếng đá sau vườn để trụng sợi bún con. Bún con Cồn Sét cọng tròn đều, sợi mảnh dẻ dai, mang sắc trắng ngà tự nhiên của hạt gạo ngâm ủ đủ cữ chứ không hề có sắc trắng tinh lóa mắt của hóa chất tẩy trắng công nghiệp. My dùng chiếc vợt tre nhỏ thả từng vắt bún mềm dai vào làn nước sôi sùng sục, đảo nhẹ hai vòng cho sợi bún nở đều và nhả hết mùi chua nhẹ của bột lên men, rồi nhấc phắt ra ngay, vẩy thật ráo nước trước khi đặt gọn ghẽ, uốn lượn vào lòng tô.

Chiếc tô My dùng hôm nay không phải là bát đĩa sành sứ công nghiệp mua ngoài chợ Đông Ba hay những chiếc bát đĩa trắng tinh đơn điệu của các nhà hàng tiện lợi. Đó là chiếc tô sứ hoa lam tráng men cổ của bà Lành mà My đã phải lục tìm rất lâu dưới đáy chiếc rương gỗ gụ trong buồng trong. Chiếc tô men chàm vẽ hoa cúc uốn lượn mềm mại, mép viền hơi rạn những đường chỉ chân chim mỏng manh qua năm tháng, dưới đáy dập nổi một dấu triện lò nung đã mờ nhạt theo thời gian. Đó là chiếc tô bà Lành nâng niu, quý nhất trần đời, lúc sinh thời chỉ dùng vào những dịp cúng giỗ tiên tổ trọng đại hay múc bún đãi khách quý vào những ngày đầu năm mới.

Dưới sự chỉ dẫn khẽ khàng bằng lời của Thiện bên cạnh, My gắp tảng bắp hoa đã luộc chín tới ra đĩa. Tảng thịt này đã được cô vớt ra ngâm vào thau nước nguội từ nửa đêm để thớ thịt săn chắc lại, lớp da bên ngoài se khô mà không bị thâm đen. Cầm con dao bài sắc lịm miết nhẹ trên mặt thớt gỗ nghiến dày cộp, cô thái từng lát bắp bò mỏng dính như cánh chuồn. Từng lát thịt rời ra, để lộ những đường gân trong suốt như hổ phách đan xen chằng chịt, uốn lượn tuyệt đẹp giữa những thớ thịt đỏ hồng tươi tắn.

My dùng đôi đũa tre cẩn thận gắp từng lát thịt bò xếp ôm tròn quanh miệng tô hoa lam, chừa lại khoảng trống ở giữa để bày biện. Cô điểm xuyết một chút hành hoa thái mịn li ti như hạt tấm, vài cọng ngò gai ngắt khúc, dăm lát hành tây xắt mỏng tanh ngâm giấm đường cho giòn rụm và trong suốt, cùng một thìa con ớt màu chưng dầu hạt điều đỏ au, lấp lánh như những hạt hồng ngọc.

Cuối cùng, cô dùng chiếc muôi đồng cán dài đã ngả màu xỉn của bà nội, khuấy nhẹ một vòng tròn nơi lòng nồi để lớp mỡ hạt điều và nước dùng cốt tủy hòa quyện vào nhau, rồi múc một muôi nước dùng sôi sùng sục chan đều, chầm chậm từ mép tô vào trung tâm.

*Xèo...* Một âm thanh rất khẽ vang lên khi làn nước nóng rẫy tưới qua những lát thịt bắp hoa và hành ngò. Làn khói thơm bốc lên nghi ngút, đánh thức toàn bộ sắc màu và hương vị đang ẩn mình bên trong chiếc tô sứ hoa lam. Nước dùng nóng làm tái nhẹ những sợi hành tây, tôn lên màu xanh biếc của hành ngò và sắc đỏ thắm rực rỡ của ớt màu trên nền thịt bò nâu sẫm viền gân trong suốt. Chiếc tô bún bò Huế hoàn chỉnh hiện ra giữa gian bếp tranh tối tranh sáng, đẹp đẽ, mực thước và thanh nhã như một bức tranh thủy mặc đượm chất cố đô xưa cũ.

My cẩn thận đặt tô bún lên một chiếc khay gỗ mít vuông vức đã lên nước bóng lộn, lấy chiếc đĩa sứ sâu lòng đậy hờ lên miệng tô để giữ trọn hơi nóng và hương thơm không bị gió sớm thổi bạt đi, rồi ngẩng đầu nhìn sang Thiện.

"Tôi tự mang đi một mình được," cô khẽ nói, ánh mắt kiên định.

Thiện mỉm cười, lùi lại một bước nép bên khung cửa, hai tay khoanh nhẹ trước ngực, ánh mắt ấm áp:

"Đi đi. Giờ này bà Năm Sương đang đợi đó. Cẩn thận trơn trượt ngoài ngõ nghe."

***

Sáng sớm xứ Huế mùa mưa dầm buốt lạnh thấu xương. Gió từ mạn sông An Cựu mang theo hơi nước ẩm ướt thổi thốc vào con kiệt sâu hun hút, cuốn theo hơi ẩm rỉ rả bốc lên từ những bức tường gạch vồ rêu phong và những tán lá chè tàu ướt sũng nước mưa đêm.

My hai tay bưng chặt chiếc khay gỗ mít, từng bước đi cẩn trọng, chậm rãi trên những phiến đá lát gập ghềnh, trơn trượt của con kiệt An Cựu. Hơi nóng hôi hổi từ chiếc tô men hoa lam xuyên qua lớp gỗ mỏng của chiếc khay, truyền thẳng vào lòng hai bàn tay đang tê cóng vì gió lạnh của cô, mang lại một cảm giác ấm áp, an tâm lạ kỳ. Đi dọc con kiệt quen mà lạ này, nơi cô đã từng gắn bó suốt cả thời thơ ấu rồi bẵng đi mười mấy năm trời bươn chải nơi đất khách quê người, My nghe thấy những âm thanh quen thuộc của buổi sớm lao động lam lũ: tiếng chổi tre quét sàn sạt trên sân gạch của một cụ già dậy sớm tập dưỡng sinh, tiếng xích líp xe đạp cà tàng lọc cọc chở những sọt rau tươi ra chợ Bến Ngự, tiếng trẻ con bi bô trở mình sau cánh cửa liếp nứa, và tiếng chuông chùa xa xăm vọng lại từ phía đồi Từ Hiếu, thanh tịnh và u trầm.

Ở đầu ngõ, nơi con kiệt giao nhau với con đường nhựa dẫn ra chân cầu Kho Rèn, sạp xôi của bà Năm Sương đã đỏ lửa từ lâu.

Đó thực chất chỉ là một chái che tạm bợ được dựng bằng mấy cây cọc tre xiêu vẹo, lợp vài tấm bạt dứa rách vá chằng vá đụp, nép mình khiêm nhường dưới bóng một cây bàng già cỗi xù xì trút gần hết lá. Chiếc chõ đồ xôi bằng nhôm to sụ đặt trên lò than tổ ong đang phì phò nhả từng luồng khói trắng nghi ngút lên nền trời xám đục, tỏa ra mùi thơm ngào ngạt của nếp hương dẻo quánh quyện lẫn vị bùi béo của đỗ xanh và hương thanh nồng của lá chuối tươi hơ lửa.

Bà Năm Sương ngồi trên chiếc ghế đòn gỗ thấp, đầu quấn chiếc khăn rằn sờn bạc đã ngả màu ố vàng, đôi bàn tay gầy guộc chằng chịt những đường gân xanh nổi cộm đang thoăn thoắt xới từng muôi xôi nếp vàng óng ả gói vào manh lá chuối cho một người phu xích lô ghé mua vội lót dạ trước chuyến chở khách sớm.

"Của chú ba ngàn nhen, rắc thêm chút muối mè cho bùi bùi, ấm bụng mà đạp xe nghe chú," tiếng bà Năm Sương vang lên giòn tan, hào sảng nhưng phảng phất chút khàn đặc của một người đã dầm sương dãi nắng, hứng trọn gió bấc mưa dầm suốt cả một đời người bên ngã tư đường.

Người khách đạp xe rời đi, sạp xôi vắng lặng lại trong chốc lát giữa màn sương sớm bảng lảng.

My đứng khựng lại cách sạp xôi chừng vài bước chân, bỗng thấy lồng ngực mình thắt lại, hai bàn chân như bị chôn chặt xuống nền đá ẩm ướt, ngập ngừng không dám bước tiếp. Ký ức về mối hiềm khích năm cô lên tám tuổi—khi hai gia đình cãi cọ nảy lửa đến mức long trời lở đất chỉ vì cái hàng rào dâm bụt ranh giới lấn sang nhau vài tấc đất cằn cỗi—lại bất thần hiện về rõ mồn một. Ngày ấy, My nhớ như in hình ảnh bà Năm Sương đứng chống nạnh nơi đầu ngõ, mắng té tát bằng cái giọng Huế đanh thép, chua ngoa khiến cả xóm kiệt đều phải e dè, còn bà nội cô thì đùng đùng đóng chặt then cài cửa, suốt cả tuần trời không buồn bước chân ra chợ mua bán nửa lời. Cái bóng đen của sự thù hằn trẻ con ấy đã hằn sâu vào tâm trí My suốt bao nhiêu năm tháng, khiến cô luôn nghĩ về bà Năm Sương như một người hàng xóm cay nghiệt, khó gần.

Bà Năm Sương ngẩng đầu lên, đưa tay áo bà ba sờn chỉ quẹt những giọt mồ hôi đọng trên trán dù trời đang lạnh căm căm. Ánh mắt kèm nhèm của bà bất chợt chạm phải My đang đứng sững như pho tượng giữa làn mưa bụi.

Bà lão hơi sững người lại, buông chiếc đũa cả xới xôi xuống, đôi mắt nheo nheo nhìn cô gái trẻ lạ mà quen đang bưng chiếc khay gỗ:

"Con My... cháu nội bà Lành đó phải không con?"

My hít một hơi thật sâu để trấn tĩnh nhịp đập rộn ràng trong lồng ngực, nuốt sự ngượng ngùng xuống rồi rảo bước lại gần chái sạp xôi. Đôi bàn tay cô khẽ run lên bần bật khi cẩn thận đặt chiếc khay gỗ mít lên chiếc bàn con bọc tôn đã hoen gỉ, lỗ chỗ những vết ố của dầu mỡ.

"Dạ... con chào bà Năm," giọng My run run, nghẹn lại nơi cuống họng. "Bà nội con... trước khi mất có để lại cuốn sổ dặn con nhất định phải nấu một tô bún bò Huế mang sang gửi bà. Sáng ni con nấu xong mẻ bún đạt nhất, mang lại liền cho bà lúc nước còn đang sôi nóng."

Bà Năm Sương buông hẳn chiếc muôi xới xôi xuống chõ nhôm, ánh mắt nhìn trân trân vào chiếc khay gỗ, rồi dừng lại trên chiếc đĩa sứ sâu lòng đang đậy hờ bên trên. Khi bà đưa bàn tay khô ráp nhấc chiếc đĩa sứ ra, nhìn thấy rõ mồn một chiếc tô men hoa lam viền rạn chỉ chân chim bên dưới, hai bả vai gầy guộc của bà bỗng giật thót lên một cái.

Làn khói bún bò nóng hổi bị giam giữ nãy giờ lập tức bùng lên nghi ngút, thơm lựng một mùi hương xưa cũ, nồng ấm và da diết. Màu nước dùng hổ phách trong vắt như mắt mèo, những lát bắp hoa viền gân trong suốt nằm gối lên nhau, những đốm mỡ hạt điều li ti óng ánh nhảy múa trên nền hành ngò xanh mướt... Tất cả hiện ra rõ mồn một, sống động trước đôi mắt mờ đục của bà lão bán xôi.

Bà Năm Sương đứng chết trân hồi lâu. Khóe miệng móm mém của bà run rẩy dữ dội, đôi đồng tử đùng đục vì chứng đục thủy tinh thể tuổi già dường như phủ một lớp màng nước mỏng manh, lấp loáng:

"Tô men hoa lam ni... Trời đất ơi, cả đời con Lành chỉ có duy nhất một cái tô quý giá ni thôi..."

Bà run rẩy kéo chiếc ghế đòn gỗ lại gần chiếc bàn tôn hoen gỉ, từ từ ngồi xuống. Đôi chân già nua dường như không còn đủ sức nâng đỡ thân hình gầy guộc của bà nữa. Bà cầm lấy chiếc thìa nhôm nhỏ mà My đã chu đáo đặt sẵn bên cạnh, bàn tay gầy gò nổi chằng chịt những đường gân xanh run rẩy bần bật đến mức chiếc thìa nhôm va nhẹ vào thành tô sứ hoa lam, phát ra những tiếng kêu *leng keng, leng keng* giòn giã mà xao xác giữa buổi sớm mai.

Bà múc một thìa nước dùng sóng sánh sắc hổ phách, đưa lên miệng, húp một ngụm nhỏ.

Thời gian như ngưng đọng lại hoàn toàn nơi góc sạp xôi rách nát buổi sớm mai. Gió An Cựu vẫn rít từng cơn lạnh buốt qua kẽ bạt, những chiếc lá bàng khô rụng lạo xạo trên mái tôn xiêu vẹo, tiếng còi xe ngoài cầu Kho Rèn xa xa dội lại, nhưng quanh bà Năm Sương lúc này chỉ còn lại một sự tĩnh lặng tuyệt đối, thiêng liêng.

Bà nhắm nghiền hai mắt lại, để dòng nước dùng nóng hổi, đậm đà nhưng thanh khiết chầm chậm chảy qua vòm họng, lan tỏa xuống tận lồng ngực.

Bất chợt, một giọt nước mắt đục ngầu lăn dài từ đuôi mắt đầy những nếp chân chim nhăn nheo của bà Năm Sương, rơi tõm xuống mặt chiếc khay gỗ mít. Tiếp theo đó, từng tiếng nấc nghẹn ngào, run rẩy bắt đầu bật ra từ lồng ngực lép kẹp của người đàn bà cả đời lam lũ.

"Nước trong veo... hậu ngọt tận tủy... mắm ruốc ngấu gạn đáy chum sành số ba..." Bà Sương nghẹn ngào, giọng bà lạc hẳn đi trong tiếng gió rít. "Đúng rồi... Đúng là cái vị bún bò của con Lành rồi con ơi! Mấy chục năm trời sống ở cái kiệt ni, chỉ có một mình hắn mới biết cái bụng dạ bà yếu ớt, ăn ruốc sống hay mỡ màng là đau bụng quằn quại. Chỉ có hắn mới chịu khó gạn từng muôi nước ruốc trong vắt, ninh than thâu đêm suốt sáng như ri để nấu riêng cho bà một tô..."

Chứng kiến cảnh tượng ấy, My xúc động đến mức sống mũi cay xè, một luồng nhiệt nóng ran trào dâng nơi khóe mắt. Cô vô thức quỳ một gối xuống bên cạnh chiếc ghế đòn của bà Sương, khẽ đặt bàn tay mình lên bờ vai gầy đang run rẩy từng chập của bà lão:

"Bà Năm... Con nấu... có vừa miệng bà không ạ? Có mặn hay nhạt quá không bà?"

Bà Năm Sương vội vã lấy vạt chiếc khăn rằn sờn bạc quẹt mạnh dòng nước mắt đang giàn giụa trên má, nhìn My bằng ánh mắt chan chứa tình thương yêu, sự hoài niệm và nỗi nhớ khôn nguôi:

"Vừa lắm con... Vừa như in bàn tay của nội con nấu cho bà năm xưa vậy. Lành ơi là Lành... Răng mà mi đi vội vàng rứa mi ơi! Mi bỏ đi rồi, sau ni ai mà nấu cho tao tô bún bò tử tế, thương cái bụng dạ tao như ri nữa..."

Bà Sương lại run rẩy húp thêm một thìa nước dùng nữa, rồi cầm đôi đũa tre gắp một lát bắp hoa đưa vào miệng. Bà nhai chầm chậm, nhai từng chút, từng chút một như sợ hương vị ấy sẽ tan biến mất, như thể bà lão đang nhấm nháp lại từng mẩu ký ức vụn vỡ của một đời người đã trôi qua nơi con kiệt nghèo nàn này.

Sau một lúc lâu cố gắng trấn tĩnh lại nhịp thở, bà Sương nhìn My, ánh mắt đăm chiêu nhìn sâu vào con ngõ hun hút mờ sương:

"Con có biết... vì răng trong cuốn sổ tay của bà nội con, món ăn đầu tiên hắn bắt con nấu lại là tô bún bò mang sang cho bà không?"

My lắc đầu thật thà, đôi mắt tròn xoe ngơ ngác:

"Dạ con không rõ... Con chỉ nhớ hồi con còn nhỏ, hai nhà từng cãi nhau to lắm vì cái hàng rào dâm bụt lấn đất. Ngày đó dữ dội lắm, con cứ tưởng hai bà giận nhau đến chết không nhìn mặt nhau..."

Bà Năm Sương nghe nhắc đến chuyện cũ bỗng bật cười, một tiếng cười méo mó, nghẹn ngào sau những giọt nước mắt vừa khô:

"Cái chuyện cãi nhau ranh giới bờ rào dâm bụt nớ là chuyện vặt vãnh của mấy mụ già nhà quê rỗi việc đó thôi con ơi! Người Huế mình lạ lùng lắm, giận thì chửi nhau râm ran cả xóm kiệt nghe thấy, chửi cho sướng cái miệng rứa thôi, chớ cái ân, cái nghĩa, cái tình thâm sâu thì nó khắc tận vào trong xương tủy, có chết cũng không quên được."

Bà ngừng lại một nhịp, đưa mắt nhìn chõ xôi đang phì phò nhả khói ấm, giọng bà chùng hẳn xuống, thì thầm như sợ cơn gió sớm sẽ mang câu chuyện bí mật bay mất:

"Năm nớ con mới năm, sáu tuổi chi đó, chưa biết chi nhiều. Ông Năm nhà bà bỗng dưng lên cơn đau bụng dữ dội, bị vỡ ruột thừa giữa đêm mưa to gió lớn. Hồi nớ nước sông An Cựu dâng ngập kiệt, bà với mấy người xóm giềng phải dùng thuyền nan chở ông ấy lên Bệnh viện Trung ương Huế cấp cứu trong đêm mưa lũ mịt mùng. Bác sĩ họ bảo ruột thừa đã vỡ mủ, phải mổ cấp cứu ngay lập tức, và đòi người nhà phải nộp ngay ba triệu bạc tiền viện phí mới cho vào phòng mổ."

Bà Sương hít một hơi sâu, đôi môi khô ráp mím chặt:

"Thời điểm nớ, ba triệu bạc là cả một gia tài khổng lồ đối với những người lao động nghèo như nhà bà. Bán cả đàn lợn trong chuồng, bán sạch cả cái sạp xôi ni gom góp lại cũng chẳng bòn đâu ra được một nửa số tiền đó. Bà chạy vạy khắp hang cùng ngõ hẻm, gõ cửa từng nhà họ hàng nội ngoại, nhưng thời buổi khó khăn, ai cũng nghèo xơ xác, người ta chỉ biết xua tay lắc đầu ái ngại. Đêm đó, bà ngồi gục bên bậc thềm đá lạnh buốt của bệnh viện, khóc cạn cả nước mắt, hai bàn tay buông xuôi tưởng chừng như đành phải bất lực nhìn ông ấy trút hơi thở cuối cùng..."

My nín thở lắng nghe, từng lời kể của bà Sương như bóp nghẹt trái tim cô. Bàn tay cô vô thức siết chặt lấy gấu áo len.

"Giữa đêm hôm khuya khoắt, trời mưa gió thấu xương thấu thịt, con có biết ai đội nón mê rách, mặc áo tơi bước chân vào sảnh bệnh viện không?" Bà Sương nghẹn ngào, giọng run lên từng chặp. "Chính là bà Lành của con. Hắn ướt như chuột lột, toàn thân run cầm cập vì lạnh buốt, chân không mang dép lội nước ngập đến đầu gối. Hắn bước thẳng lại chỗ bà đang ngồi khóc, tay cầm một chiếc khăn tay mùi soa cũ kỹ bọc tròn một bọc tiền dày cộp, nhét thẳng vào túi áo bà. Bà giật mình hốt hoảng đẩy ra chối từ, bà bảo: 'Lành ơi, nhà mi cũng đang ngập trong khó khăn, nợ nần tiền gỗ dựng căn nhà rường còn chưa trả hết cho người ta, tao làm răng dám nhận món tiền lớn như ri của mi, biết đến kiếp mô tao mới trả nổi!'."

Bà Năm Sương lại đưa mu bàn tay quẹt giọt nước mắt vừa lăn xuống gò má nhăn nheo, khóe môi khẽ run rẩy trong một nụ cười xót xa:

"Con có biết bà nội con lúc đó nói răng không? Hắn đanh mặt lại, quắc mắt mắng át vía bà ngay giữa sảnh bệnh viện: 'Ai bảo với mi là tao cho mi mượn tiền? Mi đừng có tưởng bở! Đây là tiền tao trả trước để bao trọn gói xôi ăn sáng cả năm trời của mi đó! Mi lo mà cầm lấy nộp viện phí mổ cấp cứu cho ông Năm đi, rồi từ ngày mai, sáng sáng cứ gói xôi nếp đem sang hiên nhà tao mà trừ nợ dần. Tao nói trước, tính tao khó nết, xôi bữa mô mà khô cứng hay nhão nhoét là tao trả lại bắt đền gấp đôi đó nghe!'. Nói xong một tràng đanh thép như rứa, hắn quay lưng đi thẳng ra màn mưa trắng xóa, không thèm đứng lại nghe bà nói thêm bất kỳ một lời cảm ơn hay phân trần nào nữa."

Trái tim My thắt lại nghẹn ngào. Từng câu từng chữ của bà Năm Sương như một luồng điện chạy dọc sống lưng, làm rung chuyển toàn bộ những định kiến bấy lâu nay trong cô về bà nội. Bà Lành đã cứu mạng chồng của người bạn thân nhất bằng tất cả số tiền dành dụm kiệt cùng của gia đình, nhưng bà tuyệt nhiên không dùng tư thế của một kẻ bề trên ban ơn bố thí. Bà không biến người nhận thành một kẻ mang nợ mặc cảm, tự ti. Bà đã khéo léo che giấu sự hy sinh cao cả của mình dưới lớp vỏ của một cuộc mua bán sòng phẳng, trả tiền trước để giữ gìn trọn vẹn lòng tự trọng và phẩm giá mong manh cho người bạn nghèo khó.

"Suốt hơn một năm trời sau đó," bà Sương rơm rớm nước mắt kể tiếp, giọng đầy vẻ hoài niệm, "ngày mô cũng vậy, cứ tờ mờ sáng là bà gói một bọc xôi đầy đặn, nóng hổi mang sang đặt bên hiên nhà bà Lành. Nhưng con Lành hắn khôn ngoan và tinh tế lắm con ơi. Có ngày thì hắn bảo sáng ni bụng dạ không khỏe, ăn không hết nên xẻ ra đem cho lũ trẻ con đầu kiệt; có ngày hắn lại chạy ra níu tay bà lại, dúi vào túi áo bà mớ rau cải tươi, dăm ba củ khoai lang hay chiếc âu sành đựng vài con cá bống kho tiêu mặn mòi, hắn bảo là 'đổi ngang thức ăn' cho đỡ ngán. Hắn tính toán tỉ mỉ, chi li đến từng đồng tiền cắc bạc, chỉ cốt sao cho bà không bao giờ phải mang cái cảm giác mình là một kẻ nợ nần, một kẻ chịu ơn huệ của người khác."

Bà Sương thở dài một hơi dài buốt giá, ánh mắt nhìn sâu vào tô bún bò hoa lam đã vơi đi non nửa:

"Bà Lành của con cả một đời là rứa đó My à. Người ngoài nhìn vào thì thấy mệ khó tính, nghiêm nghị, ít khi nào nở nụ cười hay nói những lời ngọt ngào xởi lởi. Nhưng cái tâm của mệ thì thơm thảo, kín đáo và thanh khiết hệt như bông hoa dành dành nở âm thầm trong đêm tối vậy. Mệ thương ai là thương bằng hành động cụ thể, bằng sự chăm chút giữ gìn thể diện đến tận cùng cho người ta, chớ tuyệt đối không bao giờ thích khua chiêng gõ trống khoe khoang cho thiên hạ trầm trồ."

"Dạ... vậy còn chuyện hai bà cãi nhau giận hờn sau này thì răng hả bà?" My tò mò hỏi khẽ, lòng chùng xuống đầy xúc động.

Bà Sương nghe hỏi bỗng phì cười thành tiếng, đôi mắt nhăn nheo ánh lên nét hóm hỉnh, tếu táo đặc trưng của những người già xứ Huế:

"À, cái vụ hàng rào dâm bụt nớ hả! Sau cái vụ mổ ruột thừa đó chừng hơn một năm. Có bữa hắn sang mua xôi, chê xôi bà đồ bữa đó bị khô hạt, thiếu nước cốt dừa béo. Tính bà thì nóng nảy như lửa than gặp gió, bà tự ái bừng bừng nổi giận quát lên bảo: 'Khô thì mi đi chỗ khác mà mua, đừng có cậy có mấy đồng bạc dằn túi mà sang đây chê ỏng chê eo!'. Rứa là hai mụ già nhảy dựng lên cãi nhau nảy lửa vang cả góc kiệt. Rồi sẵn cớ cái hàng rào dâm bụt ranh giới giữa hai vườn lấn qua lấn lại vài tấc đất, hai đứa xông vào mắng nhau một trận đã đời. Sau trận đó, chạm mặt nhau ngoài đường là ngoảnh mặt làm ngơ, lườm nguýt suốt cả tháng trời ròng rã. Bà tức đến mức thề độc trong bụng là đời đời kiếp kiếp không thèm bước nửa bước chân qua ngõ nhà hắn nữa."

"Rồi... rồi làm răng mà hai bà làm hòa lại được với nhau rứa bà?" My mỉm cười, đôi mắt lấp lánh sự tò mò.

"Thì cũng chính là nhờ cái nồi bún bò ni đây chứ đâu ra nữa!" Bà Sương cười sặc sụa, vừa cười vừa lấy khăn lau những giọt nước mắt trào ra nơi khóe mi. "Chiều bữa nọ, trời Huế đổ mưa dầm gió bấc buốt thấu ruột thấu gan, bà đang ngồi bó gối rầu rĩ một mình trong chái bếp vì xôi ế ẩm, thì bỗng nghe tiếng cửa liếp xịch mở cái rầm. Con Lành hắn lặc lè đội nón mê bưng nguyên một chiếc nồi nhôm to đùng, bên trong nước bún bò sôi sùng sục, bốc mùi sả ớt thơm điếc cả mũi. Hắn đặt cái nồi dằn một cái rầm lên chiếc chõng tre của bà, rồi quắc mắt, chống nạnh bảo: 'Tao lỡ tay nấu dư cả nồi bún bò, nhà ăn không hết thì đổ cho lợn ăn cũng tiếc của trời. Mi dẹp ngay cái bộ mặt đưa đám, giận dỗi đó đi, lấy bát đũa ra đây mà ăn cho nóng, để nguội ngắt mỡ đông lại tanh tao không chịu trách nhiệm đâu đó nghe!'. Nói một tràng xong, hắn chẳng thèm đợi bà đồng ý, tự tiện lục chạn lấy hai cái tô, xới đầy bún rồi ngồi thụp xuống bậu cửa vừa ăn vừa húp sì sụp. Rứa là hai mụ già vừa ăn vừa nhìn nhau trừng trừng, rồi bỗng dưng bật cười chảy cả nước mắt. Bao nhiêu giận hờn, hiềm khích của cả tháng trời trôi tuột hết theo từng muôi nước bún cay nồng."

Bà Năm Sương dừng đũa, nhìn My bằng ánh mắt chan chứa sự dịu dàng và tin cậy tuyệt đối:

"Sáng ni con bưng tô bún bò ni sang, bà chỉ cần húp ngụm nước đầu tiên là bà biết ngay con đã học được cái tính nhẫn nại, cái tâm ý của bà nội con rồi. Người không có cái tâm phẳng lặng, không biết dằn cái nóng nảy của mình xuống thì muôn đời không thể nào nấu ra được một nồi nước dùng thanh trong, ngọt hậu mà êm dịu như ri đâu con gái à."

Nói rồi, bà Sương cẩn thận cầm đũa ăn hết từng sợi bún con mềm dai, nhai kỹ từng lát bắp hoa giòn sần sật, và húp cạn đến giọt nước dùng cuối cùng trong lòng chiếc tô men hoa lam. Bà ăn một cách nâng niu, trân trọng, như thể sợ bỏ phí bất kỳ một chút ân tình sâu nặng nào mà người bạn tri kỷ quá cố đã gửi gắm lại trần gian qua bàn tay của đứa cháu gái nội.

Ăn xong, bà cẩn thận dùng một chiếc khăn vải sạch lau khô từng giọt nước còn đọng lại trên miệng chiếc tô sứ hoa lam, rồi cung kính trao lại chiếc tô vào chiếc khay gỗ cho My.

My cúi đầu nhận lại chiếc khay. Nhưng ngay khi cô vừa xoay người chuẩn bị bước đi, bà Năm Sương bỗng vươn bàn tay gầy guộc, thô ráp nắm chặt lấy cổ tay cô. Giọng bà hạ thấp xuống, run rẩy và mang một vẻ nghiêm cẩn dị thường:

"My nè, con đứng lại nghe bà dặn chuyện ni đã."

My chớp mắt, dừng bước quay lại nhìn bà lão:

"Dạ, bà dặn chi con rứa bà?"

"Trong cuốn sổ tay của bà nội con để lại... món ăn tiếp theo... có phải là món bánh bèo chén làm cho ông thợ may Phúc ở kiệt bên không con?"

My hơi giật mình vì sự am hiểu tường tận đến kỳ lạ của bà Sương về những tâm nguyện của bà nội:

"Dạ... con mới hoàn thành xong trang đầu tiên nên chưa mở hẳn trang tiếp theo, nhưng trong danh mục mười hai món ăn ở trang bìa lót, đúng là có tên của ông Phúc thợ may ạ."

Bà Năm Sương khẽ thở dài một tiếng sầu não, đôi mắt mờ đục nhìn xa xăm ra màn mưa bụi đang bắt đầu giăng mắc dày đặc ngoài đường cái:

"Nếu con có làm bánh bèo mang sang tiệm may của ông Phúc, con nhớ kỹ lời bà dặn đây: Tuyệt đối, tuyệt đối chớ có dại mồm dại miệng mà nhắc đến chuyện chiếc áo dài lụa màu xanh thiên thanh năm xưa nghe con. Cứ mang bánh bèo sang, lễ phép thưa chuyện bà Lành gửi, rồi để mặc cho ông ấy tự mở lời. Đừng có tò mò gặng hỏi chuyện xưa tích cũ làm chi, kẻo lại chạm vào vết thương lòng rỉ máu cả một đời người của người ta."

My gật đầu ghi nhớ từng lời dặn dò đầy ẩn ý ấy, dù trong lòng trào dâng một nỗi tò mò và thắc mắc khôn tả:

"Dạ, con nhớ kỹ lời bà rồi ạ. Con cảm ơn bà Năm nhiều lắm."

"Đi về đi con gái, trời chuyển gió độc sắp đổ mưa lớn lại rồi đó. Cảm ơn con vì tô bún bò sáng ni nghe. Lâu lắm rồi... kể từ ngày con Lành nằm xuống, bà mới lại được ăn một bữa sáng no lòng và ấm dạ đến rứa."

***

My bưng chiếc khay gỗ mít đựng chiếc tô sứ hoa lam đã sạch bóng trở về căn nhà rường cổ kính.

Đúng như lời dự báo của bà Năm Sương, khi cô vừa bước chân qua khỏi hàng rào chè tàu xanh mướt thì trời đất bỗng chốc sầm tối lại. Cơn mưa dầm đặc trưng của xứ Huế—thứ mưa phùn dai dẳng, rả rích, buốt lạnh thấu vào tận xương tủy—lại bắt đầu trút xuống đều đặn. Nước mưa gõ lộp độp, rền rĩ trên những phiến ngói âm dương rêu phong, làm cho toàn bộ không gian quanh ngôi nhà cổ chìm sâu vào một vẻ u uẩn, trầm mặc và tĩnh mịch đến nao lòng.

Bước chân vào gian bếp chái sau, đập ngay vào tai My là một âm thanh quen thuộc nhưng đầy nhức nhối: *tỏng... tỏng... tỏng...*

Cô giật mình ngước mắt nhìn lên trần bếp. Dưới góc mái giáp ranh giữa chái bếp và gian nhà chính, nơi những thanh rui mè bằng gỗ kiền kiền đã bị mối mọt đục khoét rỗng ruột mà bác Tấn thợ mộc từng cảnh báo hôm trước, nước mưa bắt đầu rỉ qua những khe nứt nẻ. Từng giọt nước mưa đùng đục men theo vách gỗ mít xám xịt rỉ xuống, tạo thành những vệt nước thẫm màu loang lổ chảy tràn xuống nền đất nện ẩm ướt. Ngôi nhà rường này thực sự đã quá già nua, mỏi mệt sau hơn một thế kỷ gồng mình che chở cho bao thế hệ; nó không còn đủ sức chống chọi thêm với những trận bão lũ triền miên của dải đất miền Trung nếu không được hạ giải, tu sửa kịp thời.

Con số 155 triệu đồng tiền sửa chữa cấp thiết mà bác thợ mộc ước tính lại hiện lên trong tâm trí My như một tảng đá ngàn cân đè nặng lên lồng ngực. Đó là một số tiền không hề nhỏ đối với một người vừa quyết định từ bỏ công việc quản lý tiếp thị lương cao ở Sài Gòn để trở về quê như cô.

Nhưng lúc này, lạ kỳ thay, cô không còn cảm thấy hoảng loạn, bế tắc hay bất an như những ngày đầu tiên mới đặt chân bước vào căn nhà hoang phế này nữa.

My cẩn thận đặt chiếc khay gỗ mít lên chiếc bàn sơ chế bằng tre đã được lau dọn sạch sẽ, tinh tươm. Nồi nước dùng bún bò trên bệ bếp đất nung vẫn còn ấm sực, tỏa ra một làn khói mỏng thơm nồng hương sả và hành nướng. Thiện có lẽ đã trở về bên căn nhà cổ của anh để chuẩn bị cho những tiết dạy đàn tranh, đàn nguyệt buổi sáng, trả lại cho gian bếp nhỏ một sự tĩnh lặng tuyệt đối.

My kéo chiếc đẩu gỗ mít lại gần bệ bếp, chậm rãi ngồi xuống. Hơi ấm từ những hòn than phi lao còn sót lại trong lò phả vào đôi chân tê cóng của cô một cảm giác an ủi dịu dàng. Cô cẩn thận lấy cuốn sổ tay bọc vải hoa nhí từ trong chiếc túi vải thô đeo bên người ra, đặt ngay ngắn lên mặt bàn tre.

Trang đầu tiên—món bún bò Huế dành cho bà Năm Sương—đã chính thức hoàn thành.

My mở nắp chiếc bút mực đen, nắn nót ghi lại từng dòng cảm xúc chân thành nhất của mình vào khoảng giấy trắng ngay phía dưới công thức nấu ăn của bà Lành. Bàn tay cô lúc này không còn run rẩy vì mệt mỏi hay hoang mang nữa. Cô không còn chăm chăm ghi lại những con số khô khốc về dung tích mililit, về số gram thịt, về nhiệt độ sôi hay thời gian bấm giờ trên điện thoại thông minh. Cô viết về bài học sâu sắc đầu tiên mà gian bếp rêu phong này đã dạy cho cô:

*"Món thứ nhất: Bún bò Huế — Trao cho bà Năm Sương.* *Bài học: Sự nhẫn nại của ngọn lửa than và vị ngọt của lòng tự trọng.* *Bà Lành dạy mình: Giúp đỡ một con người cùng khổ không phải là ban phát sự thương hại trịch thượng, mà là biết nâng đỡ họ một cách kín đáo, tinh tế để họ giữ trọn vẹn phẩm giá của mình. Nấu ăn cũng vậy, không thể vội vã bằng củi lớn tro bay; tâm người nấu có phẳng lặng, khiêm nhường thì nước dùng mới trong veo và ngọt hậu."*

Viết xong dòng chữ cuối cùng, My khép hờ mắt lại, hít một hơi thật sâu làn khói bếp thơm mùi tro ấm và sả tươi.

Trong khoảnh khắc tĩnh lặng tuyệt đối ấy, giữa tiếng mưa rơi rả rích trên mái ngói và tiếng nước nhỏ giọt nơi góc nhà dột nát, My bỗng nhận ra một sự thật chấn động tâm can: Cuốn sổ di nguyện mười hai món ăn mà bà nội để lại hoàn toàn không phải là một bài kiểm tra hình phạt khắc nghiệt để đo đếm lòng hiếu thảo của cô. Đó cũng không phải là một gánh nợ đồng lần, một sự trói buộc vô lý mà người đã khuất cố tình tròng vào cổ đứa cháu gái thành thị.

Đó thực chất là một lời mời. Một con đường cứu rỗi mà bà nội đã kiên nhẫn mở sẵn từ trước khi nhắm mắt xuôi tay, nhằm dẫn lối cho My—một kẻ đã lạc lối quá lâu trong guồng quay gấp gáp, thực dụng, lạnh lùng và cô độc của những bản báo cáo tài chính vô hồn—học cách chậm lại, học cách lắng nghe, học cách thấu hiểu con người và cuộc đời qua từng hạt muối, cọng rau, ngọn lửa.

Một cảm giác bình yên sâu thẳm, dịu ngọt chưa từng có len lỏi vào từng ngóc ngách trong tâm hồn My, xua tan đi cái lạnh lẽo của những giọt nước mưa đang rỉ qua vách gỗ mục nát.

My đưa những đầu ngón tay còn vương muội than xám, nhẹ nhàng lật mở trang giấy ố vàng thứ hai của cuốn sổ tay.

Dưới ánh sáng mờ nhạt của buổi sớm mưa dầm hắt qua khe phên nứa, những nét chữ mực tím nghiêng nghiêng, run rẩy theo tuổi tác nhưng vô cùng rắn rỏi của bà Lành hiện ra rõ mồn một trước mắt cô:

*Trang thứ hai của cuốn sổ hiện dòng chữ: Bánh bèo chén cho ông thợ may Phúc, hấp bằng nước mưa đầu mùa.*

Chương này thế nào?Đánh giá giúp Readeep đề xuất đúng hơn cho bạn