Sự thật về cuộc gọi cuối
Hơi ấm nồng đượm từ chiếc ấm gốm nung chứa đầy nước trà gừng tươi vừa sôi lăn tăn chầm chậm lan tỏa khắp không gian gian nhà giữa, mềm mại đẩy lùi cái rét buốt thấu xương của đợt gió mùa đông bắc vừa tràn qua xứ Huế.
Bên ngoài hiên, những giọt nước mưa cuối cùng sót lại sau một đêm áp thấp nhiệt đới vần vũ vẫn còn trĩu nặng trên phiến lá chuối sứ xanh ngắt, thi thoảng lại trĩu xuống, buông từng giọt lộp độp đều đặn trên thềm gạch Bát Tràng đã lên màu rêu xám. Sau cơn thịnh nộ gầm thét dữ dội của trời đất đêm qua, con kiệt nhỏ ngoằn ngoèo ven bờ sông An Cựu như đang thu mình lại dưới lớp sương mù bảng lảng, tĩnh mịch, ngưng đọng và thanh sạch đến kỳ lạ. Mùi đất ẩm ngai ngái, nồng nồng từ những vạt phù sa bãi bồi ngoài ngõ len lỏi qua hàng rào dâm bụt, ùa vào gian nhà, quyện chặt lấy hương tinh dầu sả chanh thanh khiết mà My vừa nhỏ vào chiếc đĩa xông gốm mộc đặt nơi bậu cửa sổ con song tiện. Mùi hương mộc mạc ấy tạo nên một không gian ấm áp lạ thường, tựa như một tấm chăn len vô hình ôm ấp lấy căn nhà rường cổ kính vốn đã trải qua biết bao thăng trầm dâu bể.
Từ đầu con kiệt cụt, tiếng động cơ gằn từng chặng của một chiếc taxi bốn chỗ chầm chậm tắt hẳn. Ngay sau khoảnh khắc im ắng ngắn ngủi ấy là âm thanh lạo xạo quen thuộc của bánh xe va li kéo lê trên lớp đá dăm ẩm ướt, đan xen cùng tiếng bước chân ngập ngừng, ngơ ngác, dè dặt từng nhịp tiến vào khoảng sân lát gạch rêu phong.
My buông chiếc que tre đang dùng gạt tàn trà trên miệng lò than hồng, từ từ đứng thẳng dậy bên mép phản gỗ lim bóng loáng. Lồng ngực cô khẽ thắt lại trong một nhịp đập run rẩy, thổn thức. Đôi bàn tay vốn đã chai sạn sau chuỗi ngày dài vật lộn với khói lửa, dầu mỡ và những giọt mồ hôi mặn chát nơi chái bếp bỗng chốc cứng đờ, mười đầu ngón tay khẽ co quắp lại vào lòng bàn tay. Sau bao nhiêu tháng ngày đằng đẵng gồng mình gánh vác, đơn độc đối diện với những vụn vỡ hoang tàn và nỗi dằn vặt vô hình, thời khắc này rốt cuộc cũng đã gõ cửa.
Cánh cổng sắt then cài lâu ngày khẽ rít lên một tiếng khô khốc, trượt trên thanh ray gỉ sét. Bố Quang và mẹ Hà bước vào bậu cửa gỗ quen thuộc, ngỡ ngàng trước gian nhà rường tinh tươm, ấm cúng và thơm ngát hương tinh dầu sả sau bao năm vắng bóng người chăm nom.
Ông Quang đứng sững lại ngay trước thềm tam cấp dẫn lên gian tiền đường. Người đàn ông đã bước qua tuổi năm mươi, mái tóc hoa râm đã điểm thêm vô số sợi bạc sương gió sau bao năm tháng bôn ba, nhọc nhằn mưu sinh nơi đô hội phương Nam, lúc này vẫn mặc nguyên chiếc áo khoác gió sẫm màu đã bạc thếch ở cầu vai. Chiếc áo còn vương trọn hơi ẩm buốt giá, ẩm ướt của chuyến tàu Thống Nhất đêm vừa vượt qua những khúc quanh cheo leo của đèo Hải Vân. Đôi mắt trũng sâu, thâm quầng vì mất ngủ của ông dại đi, dừng lại ở từng góc cột mít vững chãi, từng phiến gỗ xẻ dọc đã lên nước nâu bóng theo thời gian.
Trong suốt chặng đường dài dằng dặc lắc lư trên toa tàu hỏa xuyên đêm, hình dung chất chứa đầy lo âu, thấp thỏm của ông về căn nhà của tổ tiên chỉ toàn là cảnh tượng hoang tàn, mục ruỗng và lạnh lẽo. Nhất là sau khi mẹ ông qua đời, lại thêm hung tin một mảng mái ngói chái bếp vừa bị giông bão giật sập tan tành vào đêm hôm trước do chú Vinh báo vội qua điện thoại, ông đã đinh ninh rằng bước chân về đây chỉ để chứng kiến một đống đổ nát ngập ngụa bùn đất và nước mưa. Thế nhưng, khung cảnh hiện ra trước mắt ông lúc này lại là một sự tương phản đến sửng sốt.
Nền gạch hoa cổ thời Pháp với những hoa văn đối xứng màu hoàng yến được lau chùi sáng bóng, sạch sẽ đến mức không vương lại một hạt bụi than hay một vết chân dơ. Bộ bàn ghế gỗ mun đồ sộ đặt trang trọng ở gian giữa tỏa ra ánh sáng ấm áp của sáp ong đánh bóng, phía trên mặt bàn được phủ ngay ngắn một tấm khăn trải bằng lụa màu xanh thiên thanh mềm mại, từng đường kim mũi chỉ viền quanh mép vải đều đặn và tinh xảo như bàn tay của những thợ thêu Cố đô ngày trước. Đưa mắt nhìn lên cao, nơi ba cây cột cái từng bị mối mọt đục rỗng phần chân đe dọa làm sụp cả bộ vì kèo, những giá đỡ gia cố tạm thời bằng khung thép bọc gỗ mít cẩn thận đã được dựng lên ngay ngắn, chắc chắn, toát lên sự cẩn trọng, chu toàn và khéo léo đến mức khó tin.
"My... con đó phải không con?"
Tiếng mẹ Hà cất lên khẽ khàng, nghẹn lại nơi cuống họng. Chiếc túi xách du lịch bằng da cũ kỹ trượt khỏi tay bà, rơi phịch xuống mặt chiếc ghế đẩu cạnh cửa ra vào. Đôi mắt người mẹ đảo quanh khắp gian nhà rộng thênh thang, rồi cuối cùng dừng lại, dán chặt vào khuôn mặt gầy guộc của đứa con gái duy nhất.
Bà nhận ra My đã gầy đi quá nhiều so với cái ngày cô xách va li rời khỏi căn hộ chung cư ở Sài Gòn. Đôi má phúng phính, trắng trẻo của một cô nàng chuyên viên truyền thông mẫn cán ngày nào giờ đây đã hóp lại, để lộ đường xương hàm sắc cạnh. Làn da trắng hồng ngày trước nay đã sạm đi vì ngày ngày trần mình trước hơi nóng của lò than, khói củi và những chảo dầu sôi sục. Đôi bàn tay thon thả, nuột nà vốn dĩ chỉ quen lướt êm ru trên bàn phím máy tính xách tay giờ chằng chịt những vết sẹo bỏng nhỏ li ti do mỡ bắn, những vết xước dài đã lên da non và những mảng chai sần thô ráp nơi kẽ các ngón tay.
Thế nhưng, điều khiến lòng mẹ Hà rung lên từng hồi thắt nghẹn lại chính là ánh mắt của con gái. Trong đôi mắt đen láy ấy không còn nét bồn chồn, hoảng loạn hay vẻ sắc sảo, phòng thủ cay đắng của một kẻ luôn bị những bản kế hoạch chỉ tiêu, những con số doanh thu và guồng quay công việc nghiệt ngã đuổi rượt đến nghẹt thở. Thay vào đó, sâu thẳm trong đáy mắt My là một sự trầm tĩnh, phẳng lặng và trong trẻo đến kỳ lạ, tựa như mặt nước sông Hương bảng lảng khói sương vào những buổi sớm mai không một gợn gió.
"Ba, mẹ... hai người đi tàu cả đêm lạnh lắm phải không? Mau vào đây ngồi uống miếng nước gừng cho ấm người đã."
My bước nhanh tới, run rẩy đỡ lấy chiếc va li bám đầy bụi đường và hơi nước ẩm ướt từ bàn tay cứng đờ của bố. Giọng cô cất lên nghe nhẹ tênh như một làn gió thoảng, nhưng sâu bên dưới từng âm tiết lại là sự run rẩy nghẹn ngào mà cô đã phải dùng hết sức bình sinh để kìm nén.
Ông Quang vẫn chôn chân tại chỗ, như thể bước chân ông bị níu lại bởi một sức mạnh vô hình nào đó toát ra từ chính nền nhà này. Các khớp xương ngón tay thô ráp, nứt nẻ của ông khẽ chạm vào mặt gỗ của thân cột cái gian giữa, run run lần theo từng đường vân gỗ mít gồ ghề quen thuộc—nơi hơn nửa thế kỷ trước, ông đã cất tiếng khóc chào đời và chập chững những bước đi đầu tiên dưới sự nâng niu của cha mẹ. Ánh mắt ông trôi dạt ra phía chái bếp sau, nơi tấm bạt dứa ba màu được chằng néo thẳng thớm, phẳng phiu bằng những sợi dây thừng bện chặt để che chắn mảng trần thủng ngói. Trên vách gỗ gần đó, bản hợp đồng thi công phục chế ngói âm dương có chữ ký nắn nót của nghệ nhân Nguyễn Khắc Tuấn được My ghim cẩn thận, phẳng phiu bên cạnh cuốn sổ tay ghi chép chi tiêu.
Một tiếng thở dài thật sâu trút ra từ lồng ngực người cha, nặng nề mà cũng nhẹ nhõm như vừa gỡ bỏ được tảng đá ngàn cân đè nặng bấy lâu nay. Đôi vai ông chùng xuống, ánh mắt ngập tràn vẻ bàng hoàng xen lẫn xót xa khôn tả.
"Căn nhà này... làm sao một thân một mình con có thể dọn dẹp, chống đỡ và lo liệu được ngần này việc hở My?" Ông Quang thều thào, giọng nói khàn đặc vì sương gió và những cơn ho khan dọc đường. "Đêm hôm qua nghe chú Vinh hớt hải gọi điện vào bảo bão giật sập nguyên cả mái bếp, nước tràn lênh láng khắp nhà, ba cứ ngỡ... ba cứ ngỡ cái cơ ngơi hương hỏa của nội mày để lại phen này coi như tan hoang, mất trắng hết rồi."
"Không phải một mình con làm đâu ba," My khẽ mỉm cười, hàng mi dài chớp nhẹ để ngăn giọt nước mắt chực trào ra. "Có chú Vinh đội mưa trèo lên thang gỗ chằng néo từng cây đòn tay suốt đêm bão; có anh Thiện phụ bưng bê gạch đá dọn dẹp; rồi bà Năm Sương bên xóm mang qua cho con thúng gạo, bác thợ may Phúc qua kiểm tra lại đường điện; rồi cả vợ chồng bác Sáu Bình, chị Vy... Ai ở quanh đây cũng xắn tay áo vào giúp một chút ba ạ. Căn nhà này chưa bao giờ bị bỏ rơi cả, chỉ là... chỉ là bấy lâu nay, chính gia đình mình đã tự khép chặt cánh cửa lại với xóm làng, với nguồn cội mà thôi."
Ngồi bên bàn gỗ, mẹ Hà khẽ nắm tay My và mở những đoạn ghi âm tin nhắn thoại cuối cùng của bà Lành gửi qua điện thoại mà bà đã âm thầm lưu giữ suốt những tháng ngày qua.
Bàn tay mẹ Hà mềm mại nhưng lạnh ngắt vì gió rét, run rẩy bao bọc lấy những ngón tay gầy guộc, thô ráp đầy vết tích của My. Người mẹ ngước nhìn sâu vào đôi mắt con gái mình, ánh mắt chất chứa một nỗi niềm trắc ẩn sâu xa, đau đớn mà suốt nhiều năm tháng gia đình ba người sống chen chúc, tất bật dưới mái nhà thuê rồi căn hộ chung cư giữa lòng Sài Gòn, bà chưa từng một lần bộc lộ ra ngoài.
"My à," mẹ Hà cất giọng trầm buồn, ngón tay cái khẽ miết nhẹ lên mặt kính trầy xước của chiếc điện thoại thông minh kiểu cũ mà bà đã dùng suốt bốn năm qua. "Suốt ba tháng qua, nhìn con một mình bỏ lại tất cả công việc ngoài kia để ở lì đất Huế này, chật vật nhóm từng bếp than, thức khuya dậy sớm nấu từng món ăn quê kiểng, rồi chắt bóp từng đồng bạc lẻ để giữ lại ngôi nhà rường của nội... mẹ vừa xót con, vừa cắn rứt ân hận vô cùng. Mẹ biết... mẹ biết rất rõ trong lòng con từ ngày nội mất luôn có một cái gai nhọn cắm rất sâu. Con luôn tự dằn vặt, tự trách cứ bản thân mình về những ngày tháng cuối cùng của nội, có đúng không con gái?"
Toàn thân My bỗng chốc cứng đờ lại. Đôi vai cô run lên bần bật. Chiếc tách sành đựng nước trà gừng trên tay cô chao đảo, khiến vài giọt nước nóng sóng sánh tràn ra ngoài, rơi tí tách xuống mặt bàn gỗ mun đen bóng. Cô vội vã cúi gằm mặt xuống, cắn chặt môi dưới đến rớm máu, không dám nhìn thẳng vào đôi mắt đỏ hoe chan chứa tình thương của mẹ, lại càng không dám ngước nhìn lên di ảnh bà Lành đang nghi ngút khói trầm hương nơi gian thờ phía sau lưng bố.
Nỗi ám ảnh kinh hoàng ấy, bóng ma tội lỗi đen tối ấy bấy lâu nay tựa như một vết thương mưng mủ chưa từng một giây khép miệng, lúc nào cũng âm ỉ rỉ máu, nhức nhối cào xé tâm can cô từ ngày tang lễ đưa tiễn bà cho đến tận giây phút này.
"Hồi nội còn nằm điều trị ở bệnh viện Đa khoa, rồi những tuần cuối cùng khi chú Vinh xin bác sĩ cho đưa nội về lại căn nhà rường này... nội yếu lắm rồi con ơi," mẹ Hà nghẹn ngào tiếp lời, giọng bà chùng xuống, run rẩy tựa như tiếng thở dài não nuột của một đêm đông giá buốt xứ Huế. "Nửa người bên phải của nội đã bị liệt hoàn toàn sau cơn tai biến. Bàn tay gầy guộc run rẩy không sao cầm nổi chiếc thìa ăn cháo, đôi mắt đục mờ đi vì căn bệnh đục thủy tinh thể tuổi già. Nội không tài nào bấm được từng phím chữ li ti trên màn hình điện thoại mô con. Mỗi lần nhớ con, nhớ cháu, nhớ ba con, nhớ con bé My bận rộn trong Nam, nội chỉ biết nằm trên chiếc giường tre ni, nhờ người ta bật sẵn cái phần mềm nhắn tin lên, rồi lấy hết chút sức tàn còn lại của ngón tay cái mà bấm giữ cái nút tròn để gửi tin nhắn thoại. Nội gửi cho mẹ cả thảy mười mấy đoạn băng ngắn như rứa. Suốt mấy tháng qua, mẹ cất kỹ trong máy, đêm nào mẹ cũng lén ba con mở ra nghe một mình trong bóng tối mà nước mắt ướt đầm gối. Mẹ không dám cho ba con hay vì sợ ông ấy lại suy sụp, mẹ cũng không dám gửi cho con vì sợ con đang dốc toàn lực cho sự nghiệp ngoài kia, nghe thấy rồi sẽ phân tâm, sẽ ngã quỵ giữa chừng... Nhưng hôm nay, khi đứng ở đây, nhìn thấy con đã can trường đứng vững chãi bên gian bếp của tổ tiên... mẹ nghĩ, đã đến lúc con cần phải nghe thấy những lời ni."
Ngón tay mẹ Hà khẽ run rẩy chạm nhẹ vào biểu tượng hình tam giác nhỏ trên màn hình điện thoại đang sáng mờ mờ.
Một tiếng sôi lách tách rè rè đặc trưng của loa ngoài vang lên, hòa vào tiếng gió đông đang rít từng cơn xào xạc qua rặng chè tàu bên hiên vắng. Rồi, một thanh âm già nua, khàn đặc, đứt quãng từng hơi nhưng ngập tràn vẻ dịu dàng, trìu mến vô bờ bến bất thần vang vọng giữa không gian tĩnh mịch của căn nhà cổ.
Trong đoạn băng, giọng bà Lành thều thào nhưng đầy trìu mến, không một lời hờn trách chuyện My bận rộn, chỉ ân cần hỏi cháu gái đã ăn cơm tối chưa và dặn đừng thức quá khuya kẻo đau dạ dày.
*"My ơi... My của nội... Con ăn cơm tối chưa con? Bữa ni... bữa ni ở trần gian Sài Gòn... có mưa dầm dề buốt giá như ngoài xứ mình không con?..."*
Tiếng thở dốc nặng nhọc, đứt quãng chen ngang giữa những câu chữ ngập ngừng. Tiếng đờm kéo lên ứ nghẹn nơi cuống họng gầy guộc của người già ốm nặng nghe rõ mồn một qua lớp màng loa bé nhỏ, khiến không gian căn nhà rường như đặc quánh lại trong một nỗi xót xa tê dại đến từng tế bào.
*"Nội nghe... mẹ Hà nói... dạo ni con bé bận lắm, làm việc quần quật tới tận khuya lơ khuya lắc... Đừng có thức khuya quá nghe con gái... Cái dạ dày con yếu lắm, từ nhỏ hễ ăn uống thất thường một bữa là lại ôm bụng khóc rấm rứt cả đêm... Nhớ ăn chén cơm nóng rồi hẵng làm chi thì làm nghe con... Nội ở ngoài ni... có chú Vinh chăm sóc chu đáo từng li từng tí, không có thiếu thốn thứ chi mô... Con đừng có lo nghĩ, đừng có bận lòng nghe con... Khi mô rảnh rỗi... tết nhất thì về đây với nội... Nội để dành cho con hũ mứt gừng sẻ... cay nồng... ngọt lịm..."*
Đoạn ghi âm thứ nhất kết thúc bằng một tràng ho húng hắng kéo dài đến xé lòng và tiếng một chiếc thìa nhôm khẽ chạm vào thành bát sứ lách cách bên giường bệnh. Mẹ Hà khẽ gạt nước mắt, bấm tiếp đoạn thứ hai, rồi đoạn thứ ba.
Tất cả những mẩu tin nhắn ngắn ngủi ấy đều chỉ là những lời thì thầm thều thào, rời rạc của một người bà đang trôi dần về phía bên kia bờ dốc của kiếp người. Tuyệt nhiên không có lấy một lời than vãn về những cơn đau nhức thể xác xé da xé thịt khi nằm liệt giường suốt chuỗi ngày dằng dặc. Không có lấy một câu hờn trách, giận dỗi tại sao đứa cháu gái duy nhất do một tay bà ẵm bồng, nuôi nấng từ những ngày đỏ hỏn, lớn lên từ từng muỗng nước hến ngọt thanh và những nắm xôi bắp dẻo thơm của bà, lại biền biệt cả năm trời không chịu bớt chút thời gian về thăm bà lấy một lần. Không một lời đòi hỏi con cháu phải từ bỏ công danh, sự nghiệp rực rỡ nơi phố thị phồn hoa để về kề cận bên giường bệnh tàn tạ. Đến tận những hơi thở mệt mỏi, kiệt cùng nhất của trần thế, tâm trí của người đàn bà xứ Huế ấy vẫn chỉ đau đáu một niềm thương yêu tha thiết, dung dị đến nghẹn lòng: lo cháu gái mình bỏ bữa, lo đứa trẻ năm nào đau dạ dày vì những đêm thức trắng chạy theo những mục tiêu xa xôi vô định.
Từng lời, từng chữ mộc mạc của bà Lành tựa như những nhát dao vô hình cứa thẳng vào nơi sâu kín, nhức nhối nhất trong tâm can My. Cổ họng cô nghẹn ứ, lồng ngực co thắt dữ dội như có bàn tay sắt bóp nghẹt lấy tim phổi.
Bức tường thành kiên cường, cứng cỏi mà cô đã cố công đắp nặn suốt bao năm tháng qua—bức tường của một người phụ nữ thành đạt, tự chủ, lạnh lùng, luôn kiểm soát được mọi rủi ro và các bản báo cáo tài chính—trong khoảnh khắc này đã hoàn toàn nứt toác, sụp đổ tan tành thành từng mảnh tro bụi.
My òa khóc nức nở, quỳ xuống thú nhận sự thật đau lòng rằng hôm ấy cô đã nhìn thấy cuộc gọi của bà nhưng vì mải thuyết trình dự án nên đã cố tình bỏ qua rồi sau đó nói dối máy hết pin; ông Quang nghẹn ngào ôm lấy vai con gái, rơi nước mắt thú nhận chính ông cũng từng vì tự ti và mặc cảm thất bại làm ăn trong Nam mà né tránh mẹ già suốt bao năm.
"Con có tội... Ba ơi, mẹ ơi, con có tội lớn lắm!..."
My buông rơi tách trà, sụp quỳ xuống nền gạch Bát Tràng lạnh ngắt. Hai bàn tay gầy gò của cô run rẩy ôm chặt lấy đầu gối mẹ Hà, tiếng khóc vỡ òa xé toạc không gian tĩnh mịch, thê lương của căn nhà rường. Nước mắt giàn giụa tuôn rơi làm nhòe đi toàn bộ khuôn mặt hốc hác, ướt đẫm cả gấu quần thô của mẹ.
"Hôm ấy... cái ngày thứ Năm định mệnh ấy... lúc hai giờ hai mươi phút chiều... con đã nhìn thấy màn hình điện thoại rung lên bần bật trên bàn họp. Màn hình hiện rõ mồn một hai chữ 'Nội gọi'... Cuộc gọi nhấp nháy kéo dài mười bảy giây... Nhưng lúc đó... lúc đó con đang đứng trên bục thuyết trình dự án truyền thông bốn tỷ cho đối tác lớn Sao Nam... Con sợ... con sợ tiếng chuông làm gián đoạn bài nói của mình... con sợ ánh mắt soi xét, khó chịu của ban giám đốc... con sợ mất đi cái hợp đồng béo bở mà cả nhóm của con đã cày cuốc thâu đêm suốt sáng suốt một năm trời... Cho nên... cho nên con đã nhẫn tâm lấy ngón tay... chủ động gạt từ chối cuộc gọi của nội! Con đã dập máy của nội, ba ơi!..."
Tiếng nấc nghẹn ngào dữ dội khiến từng câu chữ của My bị bẻ gãy vụn, méo mó trong cơn đau đớn cùng cực của sự sám hối:
"Rồi sau đó... khi ba hớt hải gọi điện báo tin nội đã đột quỵ não, nội đi rồi... lúc con tức tốc bay về đây chịu tang... con đã hèn hạ nói dối cả nhà! Con đã nói dối trơn tru rằng máy con bị hết pin sập nguồn lúc đang đi ngoài đường... Con đã tự dựng lên một cái cớ hoàn hảo, không tì vết để trốn chạy tội lỗi ghê tởm của mình, để ba mẹ thương hại con, để không một ai hay biết rằng chính con... chính sự ích kỷ mù quáng, tham lam danh vọng hão huyền của con đã vĩnh viễn tước đoạt đi cơ hội cuối cùng được nghe giọng nói của nội trước lúc người nhắm mắt xuôi tay!... Con bất hiếu... Con là đứa cháu tội lỗi, đáng bị trừng phạt!..."
My gục trán dập mạnh xuống thềm gỗ lim, từng thớ thịt trên bờ vai gầy guộc của cô rung lên bần bật trong nỗi thống khổ xé ruột xé gan. Suốt ba tháng qua, cô đã tự giam cầm linh hồn mình trong ngục tối của sự sám hối muộn màng. Nấu đủ mười một món ăn theo di nguyện, chịu đựng bao đắng cay, xước xát, dãi dầu mưa nắng, kỳ thực trong sâu thẳm tiềm thức, cô chỉ đang điên cuồng kiếm tìm một sự trừng phạt về thể xác để mong xoa dịu đi nỗi cắn rứt lương tâm đang gặm nhấm, giày vò tâm can mình từng giờ từng phút.
Mẹ Hà nghẹn ngào cúi xuống, hai cánh tay run rẩy ôm ghì lấy tấm lưng đang co giật vì nấc nghẹn của con gái, nước mắt người mẹ trào ra lã chã, rơi ướt đẫm mái tóc My. Nhưng trước khi bà kịp cất lời an ủi, một bóng người cao lớn đã lảo đảo bước nhanh tới.
Bố Quang quỳ sụp xuống bên cạnh con gái trên nền gạch lạnh buốt. Đôi bàn tay gầy gò, thô ráp đầy những vết nứt nẻ sương gió của người đàn ông cả đời lam lũ run rẩy choàng qua bờ vai nhỏ bé của My, ôm chặt lấy cô vào lồng ngực gầy của mình. Khuôn mặt vốn dĩ luôn trầm mặc, nghiêm nghị, khắc khổ và né tránh mọi biểu cảm mềm yếu của ông giờ đây nhăn nhúm lại trong một cơn đau đớn, giằng xé dữ dội. Những giọt nước mắt nóng hổi từ khóe mắt sâu hoắm, đầy nếp nhăn của người cha rơi lã chã xuống vai áo con gái.
"Đừng nói nữa, My... Đừng tự đày đọa, hành hạ bản thân mình nữa con ơi..." Giọng ông Quang vỡ vụn ra, đục ngầu và run rẩy như tiếng sóng vỗ dập dồn vào ghềnh đá. "Kẻ có tội lớn nhất trong cái nhà này... không phải là con đâu con gái. Kẻ hèn hạ, bất hiếu và trốn chạy suốt mấy chục năm qua... chính là ba! Chính là người cha vô tích sự, đớn hèn này đây!..."
Ông Quang nấc lên một tiếng nghẹn ngào, hai bàn tay siết chặt lấy bờ vai My như muốn dùng toàn bộ sức lực còn lại để san sẻ, gánh lấy tất cả sức nặng tội lỗi đang đè bẹp đứa con gái bé bỏng:
"Con mới chỉ bỏ lỡ một cuộc gọi mười bảy giây vì công việc... Còn ba... ba đã bỏ lỡ cả nửa cuộc đời của mẹ mình! Con có biết tại sao bao nhiêu năm trời bươn chải trong Nam, ba rất ít khi chịu bước chân về lại đất Huế này không? Không phải ba bận rộn làm ăn chi mô... Ba nói dối hết! Ba nói dối mẹ con, nói dối con, nói dối cả dòng họ làng xóm láng giềng!... Sau cái năm xưởng gỗ xẻ của ba ở Bình Dương bị người ta lừa đảo trắng trợn đến mức phá sản, nợ nần ngập đầu, ba trở thành kẻ trắng tay... Ba rơi vào cái hố sâu mặc cảm thất bại ê chề. Ba tự ti, ba xấu hổ tột cùng vì mình là thằng con trai trưởng của dòng họ Kiều mà làm ăn chẳng nên trò trống gì, không có tiền bạc vinh quy bái tổ, không làm rạng danh được gia đình, dòng tộc như con cái nhà người ta..."
Ánh mắt người cha ngước lên nhìn trân trân vào di ảnh bà Lành trên bàn thờ gia tiên, giọng nói của ông nghẹn lại, xé toạc từng lớp vỏ bọc sĩ diện hão huyền mà ông đã cố công dựng lên suốt bao năm tháng:
"Mỗi lần nhìn vào đôi mắt hiền từ của mệ Lành, ba sợ lắm con ơi. Ba sợ ánh mắt thấu suốt ấy sẽ nhìn thấu sự nghèo hèn, thất bại và bất tài của một thằng con trai cả. Ba sợ cái cảnh bước chân ra đầu ngõ, nghe xóm giềng xì xào bảo thằng Quang đi làm ăn xa xứ ngần ấy năm mà chẳng giúp được chi cho người mẹ già đau ốm. Thế là ba chọn cách trốn chạy! Ba hèn hạ viện cớ công việc ngập đầu để né tránh về thăm mệ. Ba đùn đẩy hết gánh nặng chăm sóc thuốc men, tắm rửa, dọn dẹp phân nước tiểu suốt năm năm trời mệ nằm liệt giường cho một mình chú Vinh gánh vác. Mỗi tháng ba chỉ biết gửi về vài ba triệu bạc tượng trưng qua tài khoản ngân hàng, rồi tự ru ngủ, tự lừa dối cái lương tâm rách nát của mình rằng mình đã làm tròn chữ hiếu!... Bảy năm trước, cái lần ba mẹ con mình cãi nhau dữ dội đến mức mệ khóc cạn nước mắt, cũng chỉ vì mệ tha thiết khuyên ba dẹp bỏ cái sĩ diện hão mà đưa cả nhà về lại Huế sống thanh đạm rau cháo bên mệ, nhưng cái tôi đớn hèn, cay cú của ba đã gạt phắt đi... Ba mới chính là kẻ có tội tày đình, My à! Mệ mất đi... là do sự vô tâm, sự hèn nhát của một thằng con bất hiếu như ba đã giết chết dần chết mòn niềm hy vọng cuối cùng của mệ!..."
Hai bố con ôm chặt lấy nhau giữa gian nhà rường cổ kính, tiếng khóc nức nở nghẹn ngào hòa vào tiếng gió rít và tiếng mưa rơi đều đặn ngoài hiên. Bao nhiêu lớp rào cản vô hình, lạnh lùng bấy lâu nay ngăn cách giữa hai thế hệ—những ngày tháng chiến tranh lạnh không một lời trò chuyện, những ánh nhìn né tránh trong mỗi bữa cơm gia đình vội vã ở phương Nam, những lời phán xét cay nghiệt trong cuộc họp gia tộc gay gắt về chuyện bán nhà hay giữ lại chái bếp—trong giây phút này đã hoàn toàn tan biến, bị cuốn phăng đi bởi dòng chảy của sự tha thứ và lòng chân thật tuyệt đối.
Không còn những toan tính số liệu thiệt hơn, không còn những tự ái cá nhân hay những chiếc mặt nạ danh dự giả tạo. Chỉ còn lại hai con người bằng xương bằng thịt, mang trong mình cùng một dòng máu họ Kiều, cùng quỳ gối trước cội nguồn tiên tổ để nhận ra rằng: mọi sự trốn chạy vì mặc cảm nghèo khó hay vì tham vọng công danh rốt cuộc cũng chỉ là một ảo ảnh hư vô, nếu trên hành trình bôn ba ấy, người ta đánh mất đi khả năng hiện diện trọn vẹn, chân thành bên cạnh những người thân yêu nhất của đời mình.
Mẹ Hà từ từ quỳ thấp xuống bên cạnh, vòng hai cánh tay gầy guộc ôm trọn lấy cả chồng và con gái vào lòng. Ba con người nương tựa vào nhau, để mặc cho những giọt nước mắt nóng hổi gột rửa đi toàn bộ những u uất, nghẹn ứ và dằn vặt cay đắng đã tích tụ, đè nặng suốt bao năm tháng dài đằng đẵng.
Hồi lâu sau, khi những tiếng nấc nghẹn ngào đã dần lắng xuống, chỉ còn lại những tiếng thở dài trút bỏ nhẹ nhõm lan trong gian phòng ấm mùi tinh dầu, ông Quang khẽ nâng cằm con gái lên. Ông dùng vạt chiếc áo khoác gió đã sờn mép cẩn thận lau đi những vệt nước mắt còn ướt đầm trên hai gò má hốc hác của My. Ánh mắt ông lúc này chan chứa một tình phụ tử bao la, dịu dàng và thanh thản mà từ thuở tấm bé đến giờ cô chưa từng được thấy.
"Đứng dậy đi con gái," ông Quang trầm giọng nói, đôi mắt đỏ hoe nhưng ánh lên một sự kiên định, vững chãi lạ thường. "Đứng dậy cùng ba. Chúng ta phải lên tạ tội với nội của con."
Sau khi hai bố con cùng thắp nén nhang tạ lỗi trước bàn thờ bà Lành, My lấy từ đáy balo chiếc phong thư ố vàng niêm phong sáp mà ông Lộc ở Cồn Hến từng trao gửi, nghẹn ngào trao tận tay bố Quang theo đúng di nguyện của bà.
Khói nhang trầm thơm ngát, bảng lảng cuộn tròn từng lọn biếc bay lên trong không gian trang nghiêm, u tịch của gian thờ giữa. Bàn tay ông Quang run rẩy cắm ba nén nhang thẳng thớm vào chiếc lư đồng cổ kính của gia tiên, rồi cùng My và mẹ Hà chắp tay, cúi đầu thật sâu trước di ảnh người mẹ hiền từ.
Trong làn khói trầm mờ ảo chập chờn, nụ cười đôn hậu, ánh mắt bao dung của bà Lành trong khung ảnh gỗ mít như đang lặng lẽ nhìn xuống đàn con cháu với tất cả sự thứ tha vô lượng của đất trời xứ Huế. Bà không hề oán trách, bà chưa từng một giây hờn giận. Cả một đời người đàn bà ấy chỉ âm thầm gom góp những yêu thương mộc mạc, chắt chiu gói ghém vào từng nồi bún bò thơm ngát mùi ruốc sả, từng chén bánh bèo tôm chấy đỏ au, từng âu cơm hến cay xé lưỡi hay niêu cá bống kho nghệ ba lửa... Tất cả những công phu nhẫn nại ấy, chỉ là để nhẫn nại chờ đợi một ngày: ngày mà những đứa con, đứa cháu lưu lạc biết dừng chân lại sau những dặm dài bão giông mỏi mệt, biết tìm về lại với mái nhà xưa để cúi đầu hòa giải với nguồn cội, và hòa giải với chính bản thân mình.
My bước lùi lại hai bước, hít một hơi thật sâu. Lồng ngực cô bỗng nhẹ bẫng đi, những u uất đè nặng suốt thời gian qua dường như đã tan biến vào làn sương sớm ngoài ngõ kiệt.
Cô bước chậm rãi về phía góc chiếc phản gỗ lim, nơi đặt chiếc ba lô vải dù sờn rách—vật tùy thân đã đồng hành cùng cô suốt ba tháng ròng từ Sài Gòn trở về Huế, rồi cùng cô lặn lội qua khắp các nẻo đường ngõ kiệt, từ chợ Đông Ba nhộn nhịp đến những bãi bồi ven sông cồn Hến. My kéo khóa chiếc ngăn đáy bí mật lót vải dù chống nước, cẩn thận lấy ra một bọc nhỏ được quấn kỹ trong nhiều lớp giấy báo.
Đó là một chiếc phong bì bằng loại giấy pơ-luya màu vàng nhạt đã ngả màu thời gian, các góc mép giấy đã sờn rách nhẹ theo năm tháng, nhưng lớp sáp niêm phong màu đỏ thắm có khắc nổi hình một đóa hoa sen thanh thoát ở chính giữa nắp phong thư vẫn còn nguyên vẹn, phẳng phiu, chưa từng có một vết cạy mở hay trầy xước nào.
My bước lại gần chiếc bàn gỗ mun, hai tay nâng niu chiếc phong bì ố vàng, nghẹn ngào ngước nhìn bố:
"Ba ơi... Ngày con sang Cồn Hến học cách làm món cơm hến theo trang nhật ký thứ ba trong cuốn sổ di nguyện của nội, con đã gặp lại bác Lộc. Bác Lộc thợ cào hến... người bạn học thân thiết thuở thiếu thời ba mươi năm trước của ba."
Toàn thân ông Quang khẽ chấn động. Đôi mắt ông mở to đầy kinh ngạc, dán chặt vào chiếc phong bì trên tay con gái:
"Lộc... Lộc 'cào' đó sao con? Cậu ấy... cậu ấy vẫn còn sống ở bến hến đó ư?"
"Dạ phải," My gật đầu, khóe mắt lại rưng rưng ươm ướt nhưng trên môi đã nở một nụ cười ấm áp. "Bác Lộc vẫn ở đó, vẫn ngày ngày dong thuyền đi cào hến trên sông Hương như mấy chục năm trước. Bác ấy đã kể lại cho con nghe hết tất cả rồi ba ạ. Bác bảo năm xưa, sau trận đại hồng thủy cuốn trôi toàn bộ thuyền bè và ngư cụ, chính nội là người đã gom góp tiền bạc cho bác mượn để sắm lại đồ nghề mưu sinh. Rồi nội bắt bác phải trả nợ dần bằng cách rảnh rỗi thì sang phụ nội nện đất, lát từng viên gạch men cho khoảng sân nhà rường suốt mười mấy năm ròng... Nội làm như rứa là để giữ gìn trọn vẹn lòng tự trọng cho một người bạn nghèo của con trai mình. Bác Lộc cũng thú nhận với con rằng, suốt ba mươi năm qua bác luôn tìm cách tránh mặt ba, không phải vì thù hằn hay ghét bỏ chi, mà chỉ vì mặc cảm bản thân mình nghèo hèn, thân phận cào hến lam lũ sợ làm phiền, làm mất thể diện của người bạn cũ đã thành đạt chốn thị thành... Và chiếc phong thư ni, nội đã đích thân gửi gắm bác Lộc cất giữ giùm suốt bảy năm trời, kể từ cái đêm hai mẹ con ba cãi vã rồi ba bỏ vào Nam."
My trân trọng đặt chiếc phong bì vào lòng bàn tay thô ráp, chai sần đang run rẩy không ngừng của người cha:
"Bác Lộc dặn dò con rất kỹ... Bác bảo nội dặn chỉ được phép trao lại bức thư ni tận tay cho ba... khi nào chính đôi chân ba tự nguyện bước qua bậu cửa nhà rường này, tự nguyện trở về đứng trước bàn thờ để đối diện với nội. Hôm nay, ba đã về rồi. Con xin trao lại trọn vẹn di nguyện cuối cùng của nội cho ba."
Không gian gian nhà giữa như ngưng đọng lại trong sự tĩnh lặng thiêng liêng. Ngọn lửa nhỏ từ chiếc đèn dầu bão đặt trên mặt bàn trà khẽ lay động, hắt lên những vách gỗ mít bóng loáng những vệt sáng vàng cam ấm áp, chập chờn theo từng cơn gió thoảng qua khe cửa.
Ông Quang cầm phong thư ố vàng con gái vừa trao, run rẩy bóc lớp sáp niêm phong dưới ánh đèn dầu gian giữa.