Căn Bếp Nhỏ Của BàC.29 / 35
Chương 29

Cơn mưa thử căn nhà

Gió giật từng cơn rít qua khe cửa gỗ lim đã lên nước bóng loáng của gian tiền đường, cuốn theo những màn mưa trắng xóa quất ràn rạt vào hàng chè tàu cắt tỉa cẩn thận trước sân nhà rường. Bầu trời An Cựu sập xuống một màu xám chì đặc quánh, nặng trĩu hơi nước như một tấm dạ ướt sũng ép chặt lấy những vòm cây cổ thụ. Dòng nước lũ từ thượng nguồn sông Hương qua ngã ba Tuần đổ về đục ngầu phù sa, mang theo bọt bèo cùng rác rưởi ven bờ dềnh lên từng chặp, mấp mé bờ kè đá hộc, liếm sát vào những bậc tam cấp rêu phong dẫn vào tận chân cánh cổng sắt hoen gỉ. Không khí nồng nặc mùi bùn non sực lên từ lòng sông, quyện chặt với mùi lá ướt mục rữa và cái lạnh căm căm của một đợt gió mùa đông bắc tràn sâu vào dải đất miền Trung.

Kiều My còng lưng đẩy chiếc xe đạp phượng hoàng cũ kỹ qua ngưỡng cửa cổng sắt. Cả người cô ướt đẫm, chiếc áo mưa giấy mỏng manh đã bị gió bão giằng rách toạc bên sườn từ lúc nào, dán chặt vào da thịt lạnh buốt sau chặng đường gồng mình đạp xe bạt gió từ thư viện phường về. Dưới lớp áo mưa tả tơi, hai cánh tay cô vẫn ghì chặt trước ngực một bọc ni lông dày, bên trong là cuốn sổ tay bọc nhung xanh thiên thanh của bà Lành—kỷ vật thiêng liêng lưu giữ từng nét chữ ngay ngắn, từng công thức nêm nếm gia truyền mà cô vừa cẩn thận đối chiếu với những tài liệu văn hóa ẩm thực cổ. My thở dốc, từng luồng hơi trắng phả ra hòa vào màn mưa lạnh ngắt. Cô vừa đặt chân lên thềm gạch Bát Tràng trước hiên, toan tìm chiếc khăn khô để lau nước đọng trên bọc sách thì tai họa đã ập xuống từ phía sau nhà.

Một tiếng *rắc* khô khốc, xé toạc không gian oi nồng hơi ẩm, vang lên đanh gọn từ khoảng mái dốc phía chái bếp. Tiếp nối ngay sau đó là tiếng ngói vỡ loảng xoảng rợn người, rồi một tiếng *ầm* nặng nề, dữ dội giáng thẳng xuống sàn gạch bên dưới, làm rung chuyển cả hệ khung sườn gỗ của gian nhà ngang.

My giật bắn người, tim đập thắt lại trong lồng ngực. Không kịp cởi bỏ vạt áo mưa rách bết dính nước, cô vội vã nhét ghì bọc sách bọc nhung xanh vào ngăn kéo trên cùng của chiếc tủ chè cẩn ốc xà cừ ở gian giữa, ấn chặt chốt đồng then cài rồi hớt hải lao bổ xuống gian bếp thấp phía sau.

Cảnh tượng bày ra trước mắt khiến từng giọt máu trong người Kiều My như đông cứng lại. Trên mái dốc phía chái sau—nơi vốn che chắn cho khu vực sơ chế và bảo quản thực phẩm—một luồng gió lốc xoáy cực mạnh vừa bốc bay một mảng ngói âm dương rộng chừng sáu mét vuông. Những thanh rui mè bằng gỗ tạp, vốn đã dầm dãi ẩm mốc qua hàng chục mùa mưa bão xứ Huế và bị mối mọt gặm nhấm từ bên trong, nay không chịu nổi sức nặng khủng khiếp của hàng tấn nước mưa dồn tụ cùng gió giật cấp tám, đã gãy toác làm đôi. Những đầu gỗ xơ xác, lởm chởm chĩa thẳng lên nền trời xám xịt như những chiếc xương gãy trơ trọi giữa cơn cuồng nộ của thiên nhiên.

Qua khoảng thủng hoác hoang tàn ấy, nước mưa không còn rơi thành giọt hay thành tia nữa. Nó tuôn xối xả, cuồn cuộn như một vòi rồng cứu hỏa công suất lớn trút thẳng xuống lòng gian bếp thấp. Dòng nước đục ngầu, lạnh buốt xối xả giáng thẳng vào mặt trên của chiếc chạn gỗ mít cổ—kỷ vật vô giá ba đời của bà nội, nơi từng giấu kín bức thư viết trên giấy bao xi măng chỉ đỏ và gói hoa hồi hoài niệm của một thời tao loạn. Nước tràn trề qua từng chấn song gỗ tiện tròn, chảy xối xả xuống kho nguyên liệu khô mà My đã tỉ mỉ thu gom, phơi sấy, sàng sảy và phân loại suốt hơn hai tháng ròng rã kể từ ngày đặt chân về lại Huế.

Dưới làn nước buốt giá, những hũ sành đựng gừng sẻ Kim Long ngào đường màng phấn đang ngập dần trong vũng nước bùn; dãy âu men tôm chua đầm Cầu Hai đang chờ đợt chín tới bị nước xối nghiêng ngả; ba bao nếp cái hoa vàng hạt mẩy tròn căng dự trữ cho những mẻ bánh cổ truyền bắt đầu sũng nước, chuyển màu thâm sì; những mẹt bọc mộc nhĩ rừng, nấm hương khô thơm nức, và cả những hũ tiêu sọ Tiên Phước đắt đỏ cô phải lặn lội đặt mua tận vườn đồi Quảng Nam đều đang chìm trong thảm cảnh ngập úng.

"Trời ơi! Hỏng hết mất thôi! Tổ tiên ơi!"

My hét lên thất thanh, tiếng kêu của cô vừa bật ra khỏi cuống họng đã bị tiếng gầm rú điên cuồng của gió bão và tiếng mưa quất ràn rạt trên những mái tôn hàng xóm nuốt chửng không còn một mảnh vụn.

Cô cuống cuồng lao thẳng vào tâm điểm của dòng thác buốt giá. Đôi tay gầy guộc ôm chầm lấy bao nếp cái hoa vàng nặng trịch, dùng hết sức bình sinh kéo giật nó ra khỏi góc kệ bếp đang bị nước dội trực tiếp. Nước mưa trên mái cao quất thẳng vào đỉnh đầu, chảy xối xả xuống trán, táp rát bỏng vào mắt khiến cô cay xè, không thể mở mi. Dòng nước lạnh ngắt chui tọt vào cổ áo, thấm ướt sũng lớp len mỏng bên trong, dính chặt vào da thịt khiến My run lên bần bật.

Sàn gạch tàu dưới chân vốn đã bám rêu phong lâu năm, nay gặp bùn non trôi từ mái ngói xuống hòa lẫn với nước mưa trở nên trơn nhẫy như bôi mỡ. Đang cố sức kéo bao nếp thứ hai, chân My trượt mạnh trên một mảnh ngói vỡ sắc lẹm. Cả người cô ngã dúi dụi xuống sàn gạch ngập nước. Cùi chỏ tay phải đập mạnh xuống nền đá đau điếng, buốt nhói lên tận óc. Bao nếp tuột khỏi tay, lăn lông lốc vào góc tường, nơi dòng nước mưa cuốn theo tro trấu đen ngòm từ lòng bếp kiềng lập tức ùa tới, bao vây lấy lớp vải bố thô ráp.

"Có ai không... Chú Vinh ơi! Anh Thiện ơi! Cứu bếp với!" My vừa gượng chống tay ngồi dậy vừa gào to trong tuyệt vọng. Tiếng khóc nghẹn ngào vỡ òa giữa không gian bão bùng đinh tai nhức óc. Giữa căn bếp ngập ngụa đổ nát, cô thấy mình nhỏ bé, bất lực và đơn độc đến cùng cực trước sự tàn phá tàn nhẫn của thời tiết miền Trung.

Đúng lúc My tưởng như toàn bộ công sức gây dựng lại căn bếp của bà sẽ trôi tuột theo dòng nước lũ, thì cánh cửa liếp bằng tre đan ngăn cách giữa sân sau và chái bếp bất thần bị một lực cực mạnh đạp tung ra. Bản lề tre kêu lên một tiếng *rắc* khô khốc.

Thiện xuất hiện như một cơn lốc giữa màn mưa trắng xóa. Cả người anh sũng nước, mái tóc bết chặt vào trán, vạt áo sơ mi xanh công nhân dán chặt vào khuôn ngực vạm vỡ đang phập phồng thở dốc. Trên hai cánh tay cuồn cuộn gân xanh nổi rõ dưới làn da ngăm đen, Thiện vác theo một cuộn bạt dứa lớn sọc xanh đỏ dày dặn loại chuyên dùng cho tàu thuyền đánh cá ngoài biển Thuận An, cùng mấy cuộn dây thừng bện bằng sợi gai to bản vắt ngang vai.

"My! Tránh ngay ra góc cột cái! Đừng đứng đó!" Thiện gầm lên, giọng nói đanh gọn, sắc lạnh át cả tiếng sấm rền vừa nổ vang trời từ phía bến sông An Cựu.

Không một giây chần chừ hay ngơ ngác, Thiện quẳng phắt cuộn dây thừng xuống vùng sàn gạch tương đối khô ráo, bung rộng tấm bạt dứa dày cộp, lao mình vào giữa vùng nước dội xối xả. Bằng một động tác dứt khoát của người thợ quen với việc chằng néo công trình, anh tung tấm bạt trùm phủ kín mít lên toàn bộ chiếc chạn gỗ mít cổ và dãy kệ nguyên liệu khô phía dưới.

Thế nhưng, dòng nước từ mái rui mè gãy phía trên tuôn xuống với một khối lượng và áp lực quá khủng khiếp. Sức nặng của nước dồn tụ chỉ trong vài giây ngắn ngủi đã làm trũng hẳn lòng tấm bạt dứa, kéo tấm che trĩu nặng xuống như một chiếc túi nước khổng lồ treo lơ lửng, tạo một lực đè nghìn cân đe dọa bẻ gãy luôn những thanh nẹp gỗ của chiếc chạn đã có dấu hiệu mục mọt.

"My! Chạy lại cầm lấy góc bạt này! Dùng sức ghì chặt lấy mép nẹp gỗ, kéo căng ra, đừng để nước đọng trũng lòng máng!" Thiện gào lên qua tiếng mưa gầm, hai bàn tay thô ráp của anh bấu chặt vào hai góc bạt đối diện, cơ bắp hai bả vai căng cứng, nổi rõ từng múi thịt dưới làn nước buốt giá dội xối xả.

Tiếng thét của Thiện kéo My ra khỏi cơn hoảng loạn. Cơn đau nhức nhối ở cùi chỏ dường như biến mất trước mệnh lệnh dứt khoát ấy. Cô lập tức vùng dậy, quệt vội vệt nước mưa đang làm cay xè mi mắt, lao tới nắm chặt lấy góc bạt dứa còn lại. Bằng toàn bộ trọng lượng cơ thể và sức bình sinh của hai cánh tay đang run rẩy, My nghiến răng kéo căng mép bạt sang hướng mép chiếc bàn sơ chế bằng gỗ lim, tạo thành một mặt nghiêng dốc thẳng xuống rãnh thoát nước phụ bên hông tường gạch. Dòng nước nặng trĩu lập tức tìm được lối thoát, trượt ào ào trên bề mặt nilông trơn láng, đổ thẳng ra ngoài rãnh thay vì đọng lại trên nóc chạn.

Đúng khoảnh khắc ngàn cân treo sợi tóc ấy, cánh cổng sắt ngoài ngõ kiệt lại va vào nhau rầm rầm. Tiếng bước chân lội nước bì bõm, gấp gáp và hỗn loạn vang lên từ ngoài sân gạch lát hoa cương.

Một bóng người cao gầy, khoác chiếc áo tơi chằm bằng lá cọ xơ xác, đầu đội chiếc nón cùi rách vành lao thẳng vào cửa bếp. Đó là chú Vinh. Tay chú lăm lăm chiếc thang tre ba gióng dài ngoằng, bóng loáng nước mưa, bên hông lủng lẳng một cuộn dây kẽm to bản cùng chiếc kìm mỏ bằng gỉ sét. Ngay sát phía sau chú, bà Năm Sương khoác vội manh áo mưa cánh dơi màu mỡ gà, hai tay xách theo hai chiếc xô sơn rỗng bằng nhựa cứng; bác thợ may Phúc ở đầu kiệt trong chiếc áo khoác bông cũ xắn cao tay áo, tay bưng chiếc chậu nhôm Liên Xô cỡ đại sáng loáng; rồi hai ba chú bác thanh niên trong con kiệt nhỏ An Cựu cũng ùa vào theo, người cầm đòn tay tre, người vác bao tải gai thô ráp.

"Tổ cha quân gió máy! Trời đất chi mà độc địa rứa không biết!" Chú Vinh gầm lên một tiếng đầy giận dữ, quẳng phắt bó dây kẽm đánh *xoảng* xuống sàn gạch khô ráo gần bậu cửa. Đôi mắt trũng sâu của người cựu binh già đảo nhanh một vòng sắc lẹm, đánh giá toàn bộ kết cấu mái rường đang oằn mình rên rỉ dưới từng cơn gió rít. "Tao đứng đầu ngõ thấy đàn chim sẻ bay tản mác, ngói chái sau rớt mảnh là biết ngay cái bếp nhà mệ Lành dính đòn rồi! Thằng Thiện với cái My né ra góc hè mau! Đàn bà con gái đừng có đứng dưới tầm rui mục, ngói liệt nó mà sạt xuống là chém vỡ đầu bây chừ!"

Giữa tình thế hiểm nghèo, không ai cần ai phải ra lệnh rườm rà. Sự phối hợp diễn ra thuần thục, nhịp nhàng như một bản năng sinh tồn đã ăn sâu vào máu thịt của những con người cả một đời quen sống chung với bão lũ, thiên tai ở dải đất miền Trung này.

Bà Năm Sương thoăn thoắt kê hai chiếc xô sơn nhựa vào đúng những điểm nước nhỏ giọt dày đặc nhất gần vách gỗ, miệng liến thoắng chỉ huy với chất giọng rổn rảng quen thuộc của người đàn bà chợ búa: "Bác Phúc ơi, ghì lưng khiêng cái bàn sơ chế sang gian chái phụ giùm tui với! Mấy chú thanh niên phụ con My một tay vác mấy bao nếp với hũ tôm chua lên phản gỗ lim gian giữa mau lên! Nước sông An Cựu đang dềnh mấp mé thềm hiên rồi, chậm tay một tí là ướt hết gạo nếp tiến vua của con nhỏ!"

Bác thợ may Phúc cẩn trọng cúi người, luồn hai bàn tay xương xẩu nhưng dẻo dai xuống gầm chiếc bàn sơ chế kỷ vật của bà Lành. Cùng với hai thanh niên lực lưỡng trong xóm, ba người cùng hô một tiếng "Hai, ba!" rồi đồng lòng nhấc bổng chiếc bàn gỗ mít nặng trịch di dời vào sâu bên trong gian nhà chính cao ráo, thơm nồng mùi nhang trầm.

My cùng bà Năm Sương và mấy chị em hàng xóm thoăn thoắt chuyền tay nhau từng hũ sành gia vị, từng hũ tôm chua đậy kín bằng lá chuối khô, cẩn thận đặt ngay ngắn lên chiếc phản gỗ lim trên cao. Đôi tay My vừa bưng bê vừa run rẩy, nhưng nhìn ánh mắt lo toan đầy tình nghĩa của bà con lối xóm, từng giọt nước mắt nghẹn ngào cứ thế trào ra, lăn dài trên đôi má bỏng rát vì gió lạnh.

Trong khi dưới mặt đất mọi người đang hối hả di tản tài sản, thì ở góc tường gạch chịu lực giáp ranh giữa gian bếp và nhà chính, chú Vinh đã dựng phắt chiếc thang tre ba gióng vào mép tường.

"Chú Vinh! Đừng trèo lên, nguy hiểm lắm chú ơi! Gió giật cấp tám ngoài trời đấy, trơn trượt ngã thì chết!" My hoảng hốt kêu lên, toan chạy lại giằng lấy chiếc thang tre khi thấy người chú ruột đã quấn chặt cuộn dây kẽm quanh hông, miệng ngậm chặt chiếc kìm sắt mỏ bằng, tay vớ lấy hai thanh nẹp gỗ kiền kiền dự phòng để bên chái nhà.

Chú Vinh quay phắt lại, quắc mắt nhìn My, giọng khàn đặc nhưng dứt khoát như một mệnh lệnh thép trên chiến trường: "Im mồm! Chờ thợ tới thì cái bếp của bà nội mày sập nát thành đống củi mục trôi sông rồi con ạ! Căn bếp ni là xương tủy, là cái hồn của mệ Lành, tao còn thở thì tao không để nó sập!"

Nói đoạn, người đàn ông trạc ngũ tuần thoăn thoắt trèo lên từng bậc thang tre. Bàn chân trần gân guốc, móng chân bấm chặt vào từng gióng tre trơn tuột vì nước mưa và rêu nhớt. Thiện lập tức lao lại, dùng toàn bộ trọng lượng cơ thể và đôi cánh tay sắt đá ghì chặt hai chân thang xuống mặt sàn gạch chống trượt, mắt ngước nhìn lên cao không rời từng cử động của chú Vinh: "Chú bước cẩn thận! Đặt chân lên đầu hồi tường gạch, đừng dẫm chân lên xà gồ mục, nó gãy đôi bây giờ!"

Chú Vinh trèo lên đến sát mí mái ngói, đầu và đôi vai gầy nhô hẳn ra ngoài khoảng trống rách toác giữa trời mưa dầm. Gió bão lập tức thốc mạnh vào người chú, chiếc áo tơi lá cọ phần phật bay như cánh chim gãy, từng cơn gió giật lồng lộn như muốn bứng người đàn ông quẳng xuống nền gạch bên dưới. Nước mưa từ trời cao xối thẳng vào mặt, táp rát bỏng hai gò má sạm đen, nhưng chú Vinh không hề nao núng một ly.

Với kinh nghiệm của hàng chục năm trực tiếp leo trèo, chằng chống căn nhà rường cổ cho mẹ già mỗi độ bão về, chú khéo léo luồn hai chân kẹp chặt lấy thân cột cái chịu lực, ngả người với tay kéo giằng thanh xà gồ đang oằn mình cong vênh trước từng đợt gió rít.

"Thiện! Quăng đầu dây thừng lên đây mau!" Tiếng chú Vinh hét xuống qua màn mưa ràn rạt nghe xa xăm như vọng về từ đáy vực.

Thiện nhanh như cắt tóm lấy cuộn dây thừng bện, quăng chuẩn xác đầu dây có buộc sẵn hòn đá dằn lên nóc mái. Chú Vinh chộp lấy đầu dây trong tích tắc, luồn dây qua thanh đòn tay cái, siết chặt hai vòng quanh vì kèo chính. Rút hai thanh nẹp gỗ kiền kiền giắt sau lưng, chú ốp chặt vào đoạn rui mè bị gãy toác, rồi dùng kìm sắt vặn xoắn dây kẽm nhiều tầng ép chặt mối ghép gỗ vào nhau.

Từng vòng kẽm cứng được những ngón tay thô ráp, chai sần của chú bẻ gập, siết chặt đến mức thanh gỗ kiền ép chặt vào thanh rui cũ kêu lên răng rắc. Da tay chú tước ra từng mảng, máu tươi ứa ra hòa lẫn vào dòng nước mưa xám ngắt chảy ròng ròng xuống cổ tay, nhưng chú Vinh chẳng thèm để tâm. Đôi mắt người cựu binh dán chặt vào từng mối buộc, từng thớ gỗ.

Sau hơn hai mươi phút vật lộn nghẹt thở trên cao giữa lằn ranh mong manh của sự an nguy, chú Vinh đã dùng ba thanh nẹp gỗ kiền và hàng chục mét dây kẽm to bản giằng néo tạm thời toàn bộ hệ thống rui mè đang oằn mình trước gió lốc. Chú với tay kéo căng tấm bạt dứa từ bên ngoài phủ trùm lên mảng thủng, dùng những viên ngói âm dương còn nguyên vẹn sót lại trên mái chèn chặt bốn góc mép bạt, tạo thành một mái che dốc ngược ra phía vườn chuối sau nhà.

Dòng nước xối xả trong gian bếp lập tức ngưng bặt. Áp lực nước được giải tỏa hoàn toàn, chỉ còn lại những giọt nước rỉ rả tí tách rơi vào lòng những chiếc xô sơn và chậu nhôm đã kê sẵn bên dưới.

Khi chú Vinh tụt xuống đất, cả người chú ướt sũng như vừa được vớt lên từ đáy dòng sông An Cựu. Bùn đất, mạng nhện và rêu phong bám đen kịt hai bên bả vai áo tơi. Đôi bàn tay thô ráp rướm máu vì kẽm cứa run lên bần bật vì nhiễm lạnh và kiệt sức.

My đứng sững lại, sống mũi cay xè, nước mắt trào ra hòa vào vệt nước mưa trên má. Cô vội vã chạy vào gian giữa, lấy chiếc khăn bông khô sạch nhất chạy lại choàng lên đôi vai đang run rẩy của chú: "Chú Vinh... tay chú chảy máu nhiều quá rồi, để cháu rửa sạch rồi băng lại cho chú!"

Chú Vinh thở dốc từng hồi, ngực phập phồng sau làn áo rách. Chú xua xua bàn tay run rẩy, giọng nói cộc lốc như thường lệ nhưng ánh mắt nhìn đứa cháu gái đã dịu đi rất nhiều vẻ gay gắt: "Xước da tí chứ chết chóc chi mà làm ầm ĩ lên rứa. May mà nẹp kịp cái đòn tay cái, chậm năm phút nữa gió nó hất tung nguyên mảng ngói lòng máng thì cả cái chạn của mệ mày nát bét dưới sàn rồi."

Bà Năm Sương lúc này bưng lại một bát nước gừng nóng hổi, nghi ngút khói cay nồng mà bà vừa tranh thủ đun trên chiếc bếp dầu mang sang từ nhà bên: "Uống ngụm nước gừng đi ông Vinh! Cả cái kiệt An Cựu ni có mỗi ông là gan cóc tía, mưa gió bão bùng rứa mà dám trèo lên tận đỉnh nóc nhà rường. Thôi, đồ đạc con My an toàn cả rồi, gánh nếp cái với mấy hũ tôm chua không dính một giọt nước bùn."

Bác thợ may Phúc cũng thở phào nhẹ nhõm, ngồi bệt xuống chiếc ghế đẩu tre bên hiên, đưa tay vuốt mồ hôi lẫn nước mưa trên trán: "Căn nhà ni tuổi thọ hơn cả đời người rồi, rui mè gỗ tạp chịu mỏi cả trăm năm qua bao mùa lụt lội. May có thằng Thiện với bà con chòm xóm xúm vô phụ một tay, chứ một thân con nhỏ làm răng mà xoay xở cho xuể giữa cơn bão táp ni."

Bà con lối xóm kiệt An Cựu ngồi quây quần quanh chiếc bàn gỗ ở gian giữa, vừa sưởi ấm đôi bàn tay cóng buốt bên âu than hoa đỏ rực vừa chuyện trò rôm rả một hồi. Họ chia sẻ cho nhau củ khoai nướng, ngụm trà nóng, rồi khi thấy tình hình trong nhà rường đã tạm thời ổn định, mọi người lục tục đội nón, khoác áo mưa cáo từ ra về để lo chằng chống nhà cửa của chính mình khi tiếng gió bão vẫn còn rít từng hồi ngoài ngõ vắng.

Thiện ở lại phụ My dọn dẹp đống đổ nát. Anh cẩn thận nhặt từng mảnh ngói âm dương vỡ sắc nhọn vương vãi trên nền đất, gom vào sọt tre mang ra góc vườn, rồi dùng chổi tre quét sạch lớp bùn non trơn trượt để tránh trơn ngã.

Đứng giữa gian bếp thân thuộc vừa tạm thời thoát khỏi cơn hiểm cảnh dưới tấm bạt dứa giằng kẽm chằng chịt, lòng Kiều My dâng lên một niềm xúc động vô bờ bến. Tình làng nghĩa xóm, sự xả thân không toan tính của chú Vinh, của Thiện, của bà Năm Sương và bác Phúc là những ân tình thiêng liêng mà cả đời này cô không bao giờ được phép quên.

Thế nhưng, sâu thẳm trong tâm can một người trẻ từng bươn chải nơi đô hội, từng nếm trải bao bài học khắc nghiệt về quản trị rủi ro và tính bền vững của các dự án, một sự thức tỉnh sâu sắc bừng sáng trong tâm trí Kiều My.

Tấm bạt dứa kia, những sợi dây kẽm xoắn vội vã kia và cả những thanh nẹp gỗ chắp vá của chú Vinh chỉ là giải pháp tình thế trong cơn ngặt nghèo của một trận cuồng phong. Tình nghĩa xóm giềng là vô giá, sự hy sinh của chú Vinh là tấm lòng ruột thịt, nhưng My hiểu rất rõ: cô không thể và tuyệt đối không bao giờ được phép biến những ân tình ấy thành một thói quen ỷ lại, không thể tiếp tục chấp nhận lối tư duy chắp vá qua ngày để đối phó với sự khắc nghiệt của thời gian và thời tiết xứ Huế.

Căn nhà rường này là nơi bà Lành đã sống trọn vẹn một đời thanh bạch, là chốn đi về của tổ tiên, và hơn hết, nó là không gian tương lai của Bếp Của Bà—nơi cô đã thề sẽ phục dựng những giá trị ẩm thực tinh hoa, nơi sẽ đón nhận thực khách từ khắp nơi tìm về để thưởng thức những bữa cơm tử tế và an lành. Nếu kết cấu mái ngói, hệ thống đòn tay chịu lực và máng thoát nước không được xử lý một cách bài bản, căn cơ và triệt để bằng kỹ thuật chuyên môn cao nhất, thì bất kỳ một đợt áp thấp nhiệt đới hay một cơn bão muộn nào khác cũng có thể biến mọi nỗ lực gìn giữ di sản của cô thành tro bụi trong chớp mắt.

Hơn thế nữa, My không cho phép mình được nhìn thấy chú Vinh hay Thiện phải tiếp tục đánh cược mạng sống trên những bờ nóc mục nát, trơn trượt thêm một lần nào nữa. Trách nhiệm của cô đối với di sản của bà Lành không chỉ dừng lại ở lòng hiếu thảo cảm tính, mà phải được hiện thực hóa bằng năng lực tổ chức, sự quyết đoán và tính chuyên nghiệp tuyệt đối.

Đến ba giờ chiều, tâm bão tạm thời quét qua vùng đồng bằng duyên hải Thừa Thiên Huế. Gió rít giảm dần cường độ, bầu trời bớt đi vẻ u ám đặc quánh, chỉ còn lại những đợt mưa rào rải rác rơi lộp độp trên tàu lá chuối ngự sau vườn.

My bước vào gian phòng nhỏ, ngồi xuống chiếc bàn gỗ mộc, mở cuốn sổ tay quản lý tài chính cá nhân bọc bìa da nâu. Bằng những nét bút bi sắc sảo, cô rà soát lại từng con số thu chi: sau khi đã chuyển khoản chính xác 14 triệu đồng đóng học phí kỳ một cho em gái Kiều Oanh ở trường đại học trong Sài Gòn, và tạm trích 60 triệu đồng đặt cọc cho công đoạn kích kê, gia cố hệ thống chân cột cái bằng đá tảng hoa cương, trong tài khoản tiết kiệm của cô vẫn còn lại một khoản tích lũy dự phòng khẩn cấp. Khoản tiền này cô từng dự định để dành cho đợt nhập nguyên liệu mùa tết, nhưng lúc này, sự an toàn và nguyên vẹn của căn bếp chính là ưu tiên tối thượng không gì thay thế được.

Dứt khoát không chần chừ, My cầm điện thoại, tìm đến số liên lạc của nghệ nhân Nguyễn Khắc Tuấn—trưởng một đội thợ mộc ngói danh tiếng bậc nhất vùng Kim Long, người từng tham gia trùng tu nhiều công trình di tích cổ tại Đại Nội mà đợt trước bác Tấn cán bộ văn hóa đã tận tình giới thiệu cho cô.

"Cháu chào bác Tuấn. Cháu là Kiều My, cháu nội mệ Lành ở kiệt An Cựu..." My nói vào ống nghe, giọng điềm đạm, gãy gọn, truyền tải chính xác tình trạng khẩn cấp của căn nhà mà không một chút hoang mang.

Chưa đầy một tiếng đồng hồ sau, chiếc xe máy cà tàng của bác Tuấn cùng hai người thợ cả giàu kinh nghiệm đã đỗ xịch trước cổng sắt nhà rường. Bác Tuấn trạc ngoài sáu mươi, dáng người quắt queo nhưng đôi mắt sáng quắc như mắt chim ưng, mang theo bên mình chiếc thước dây thép, máy đo độ ẩm gỗ chuyên dụng và cuốn sổ tay đóng gáy lò xo dày cộp.

Chú Vinh lúc này vẫn đang ngồi bên bậc thềm hiên, chiếc áo tơi đã cởi bỏ, tay cầm điếu thuốc lào bằng tre ngà rít từng chặp khói đặc. Thấy người lạ mang theo đồ nghề đạc bước vào sân, chú nhíu đôi lông mày bạc hoa râm lại, ánh mắt lộ rõ vẻ dò xét, cảnh giác cố hữu của một người cả đời sống khép kín trong mảnh vườn xưa.

"Bác Tuấn, các anh, mời mọi người vào đây uống ngụm trà ấm đã ạ," Kiều My từ gian giữa đàng hoàng bước ra hiên đón tiếp.

Cái dáng vẻ tất bật, hoảng loạn của cô gái lội bùn trưa nay đã biến mất hoàn toàn. Thay vào đó là phong thái đĩnh đạc, tự tin, mạch lạc của một người quản lý dự án từng điều phối những chiến dịch truyền thông và sự kiện quy mô tiền tỷ chốn công sở Sài Gòn.

"Cháu mời bác Tuấn và các anh thợ đến khảo sát thực trạng toàn bộ mái chái sau vừa bị gió lốc bốc sập trưa nay," My vừa rót trà vừa nói, giọng nói ấm nhưng dứt khoát lạ thường. "Đồng thời, cháu muốn các bác kiểm tra lại toàn diện hệ thống máng xối tôn kẽm và toàn bộ ngói âm dương trên mái gian bếp, không để tình trạng dột ngấm cục bộ làm mục ruỗng hệ khung gỗ thêm nữa."

Bác thợ cả nhấp một ngụm trà gừng nóng, đưa mắt nhìn quanh kết cấu bộ vì kèo gian hiên rồi gật đầu tán thưởng: "Bác nghe danh căn nhà rường cổ bảy gian hai chái ni của mệ Lành từ lâu rồi, nay mới có dịp mục sở thị. Mưa gió bão bùng thế này mà cháu chủ động gọi thợ chuyên môn phục chế đến khảo sát ngay là quá chuẩn xác đó. Nhà rường bằng gỗ, kỵ nhất là nước ngấm âm ỉ. Ngói xô lệch một tí, nước rỉ vào trong vài mùa là đòn tay, rui mè mục rỗng hết từ ruột, tới lúc nó sập thì không đỡ nổi đâu."

My mở cuốn sổ tay, lật ra trang phác thảo sơ đồ mặt bằng gian bếp mà cô đã dùng bút chì đo đạc và vẽ chi tiết kích thước từ tuần trước: "Cháu đã ghi nhận sơ bộ các điểm hư hỏng: mảng ngói bị tốc và vỡ hoàn toàn khoảng sáu mét vuông; có bốn thanh rui mè bằng gỗ tạp chịu lực kém bị gãy đôi; hai thanh xà gồ phụ dọc theo bờ mái có dấu hiệu mục ải do ngấm nước lâu ngày. Riêng hệ thống máng xối hiện tại bằng tôn mỏng đã rỉ sét thủng đáy nhiều chỗ, tiết diện quá hẹp nên khi mưa lớn lưu lượng nước không thoát kịp, dẫn đến nước tràn ngược vào chân tường vách gỗ."

Chú Vinh đứng dựa lưng vào cây cột hiên bằng gỗ lim đen bóng, ngậm chặt điếu thuốc lào trên môi mà dường như quên cả rít tiếp. Đôi mắt người cựu binh già mở to hơn một chút, chăm chú quan sát từng cử chỉ khúc chiết, từng câu nói rành rẽ về kết cấu nhà cửa của đứa cháu gái mà bấy lâu nay chú vẫn nghĩ chỉ là một đứa con nít thị thành quen thói ăn trắng mặc trơn.

Bác Tuấn cùng hai người thợ cả đeo găng tay, trèo lên thang kiểm tra cẩn thận từng vì kèo chịu lực, soi đèn pin chuyên dụng vào từng khớp mộng én, gõ nhẹ chiếc búa gỗ nhỏ lên từng thân xà để kiểm tra độ rỗng của gỗ. Sau gần nửa tiếng khảo sát tỉ mỉ từng chi tiết trên mái và đo đạc độ dốc thoát nước, người thợ cả leo xuống, mở cặp da lấy ra tập bảng đơn giá phục chế nhà cổ.

"Cháu nắm kết cấu nhà rường chắc lắm, nói điểm nào trúng điểm đó," Bác Tuấn nhìn My với ánh mắt đầy vẻ nể phục. "Đúng như cháu nhận định: bốn thanh rui mè gãy bắt buộc phải thay mới hoàn toàn bằng gỗ kiền kiền chịu lực loại một, được xử lý ngâm dầu rái chống mối mọt theo đúng phương pháp truyền thống; thay thế hai thanh xà gồ phụ bằng gỗ cùng chủng loại; dỡ bỏ toàn bộ mảng ngói vỡ và lợp lại bằng ngói âm dương cổ phục chế nung củi đúng quy chuẩn của lò gốm Phước Tích để đảm bảo độ khít tuyệt đối và tính thẩm mỹ đồng bộ với mái cổ kính của mệ Lành; đồng thời dỡ bỏ toàn bộ máng tôn rỉ sét, thay bằng hệ thống máng xối bằng đồng đỏ dày một ly, uốn lòng máng rộng ba mươi phân để gom và thoát triệt để lưu lượng nước mưa xả thẳng ra phía mương vườn chuối."

"Dạ, cháu hiểu rõ tầm quan trọng của những hạng mục đó," My bình tĩnh nhìn thẳng vào mắt bác thợ cả. "Vậy tổng chi phí trọn gói cho toàn bộ vật tư loại một và nhân công thợ lành nghề xử lý dứt điểm là bao nhiêu thưa bác?"

Bác Tuấn lật gióng ngón tay, tính toán nhanh trên mặt giấy: "Bác tính đúng giá làng nghề phục chế nhà cổ Kim Long, bao gồm cả phụ phí thi công che chắn chống bão khẩn cấp cho cháu: gỗ kiền kiền ba triệu rưỡi; ngói cổ Phước Tích nung củi và vôi vữa tam hợp truyền thống bốn triệu; hệ thống máng xối đồng đỏ uốn thủ công năm triệu hai; công nhật ba người thợ cả làm việc cật lực trong ba ngày là bốn triệu tám. Tổng cộng trọn gói là mười bảy triệu năm trăm ngàn đồng. Bác lấy đúng giá thợ di tích, không bớt một xu nhưng bảo hành cho cháu trọn ba mùa mưa bão không nhỏ một giọt nước vào chạn bếp."

Nghe đến con số mười bảy triệu năm trăm ngàn đồng cho một mảng mái bếp nhỏ, chú Vinh đứng bên cột hiên khẽ giật mình đánh thót. Chú buông điếu thuốc lào xuống đất, khuôn mặt co rúm lại vì tiếc tiền. Với người cả đời tằn tiện, chắt bóp từng đồng bạc lẻ như chú, mười bảy triệu rưỡi là một món tiền lớn, đủ để mua biết bao nhiêu tạ thóc. Chú toan bước lại gần chiếc bàn, định cất giọng gạt đi, cho rằng chỉ cần mua vài tấm tôn fibro xi măng với mấy cân đinh thép đóng chằng lại là xong chuyện.

Thế nhưng, chưa kịp để người chú ruột mở lời can ngăn, Kiều My đã gật đầu dứt khoát, ánh mắt kiên định không hề có một chút chần chừ hay mặc cả vụn vặt:

"Cháu hoàn toàn đồng ý với mức giá mười bảy triệu năm trăm ngàn đồng theo đúng chất lượng vật tư loại một mà bác vừa nêu. Nhưng để đảm bảo quyền lợi và sự minh bạch cho cả hai bên, cháu xin đưa ra ba điều khoản ràng buộc cụ thể trong hợp đồng sửa chữa này:

Thứ nhất, toàn bộ ngói âm dương thay mới phải là ngói gốm Phước Tích chuẩn nung củi thủ công, tuyệt đối không dùng ngói máy công nghiệp tráng men bóng bẩy làm phá vỡ không gian kiến trúc cổ kính của nhà rường.

Thứ hai, trong suốt quá trình tháo dỡ ngói vỡ và thi công lắp đặt rui mè, đội thợ phải dùng bạt dù hai lớp che chắn tuyệt đối an toàn cho chiếc chạn gỗ mít cổ và toàn bộ gian bếp bên dưới, không để bụi vôi vữa hay mạt gỗ rơi vào khu vực bảo quản nguyên liệu ẩm thực.

Thứ ba, tiến độ thanh toán sẽ chia làm ba đợt rõ ràng: cháu tạm ứng bốn mươi phần trăm ngay sau khi ký hợp đồng để bác nhập vật tư gỗ kiền và ngói Phước Tích; bốn mươi phần trăm tiếp theo sẽ thanh toán sau khi đội thợ hoàn thành xong phần khung sườn gỗ và lắp đặt hoàn chỉnh máng xối đồng; hai mươi phần trăm còn lại sẽ thanh toán dứt điểm sau khi cháu và bác cùng dùng vòi nước áp lực cao phun thử xối toàn diện lên mái để kiểm tra nghiệm thu chống thấm dột."

Bác thợ cả Nguyễn Khắc Tuấn sững sờ mất vài giây, chăm chú nhìn cô gái trẻ trước mặt, rồi bất thần bật cười sảng khoái, tiếng cười vang cả hiên nhà tĩnh mịch: "Hay lắm! Con nhỏ tuổi trẻ mà làm việc rành rọt, khúc chiết, đâu ra đó chẳng khác chi các kỹ sư trưởng công trình lớn của Sở Xây dựng. Bác làm nghề phục chế mấy chục năm nay, hiếm thấy đứa con gái nào am hiểu kết cấu và có bản lĩnh quản lý chặt chẽ như cháu. Được! Bác ký hợp đồng với cháu ngay bây giờ! Chiều mai ngớt mưa gió, đội thợ của bác sẽ chở gỗ kiền ngâm dầu và ngói Phước Tích tới thi công dứt điểm trước khi đợt không khí lạnh tăng cường tràn về."

Hai bên nhanh chóng điền thông tin và ký tên vào hai bản hợp đồng giao khoán sửa chữa có đầy đủ các điều khoản bảo hành minh bạch. My mở điện thoại thông minh, thao tác nhanh nhẹn trên ứng dụng ngân hàng và chuyển khoản chính xác bảy triệu đồng tiền tạm ứng đợt một ngay trước mặt bác Tuấn. Nghe tiếng chuông báo tin nhắn nhận tiền ting ting vang lên, người thợ cả hài lòng cất bản hợp đồng vào cặp da, đưa bàn tay thô ráp bắt chặt lấy bàn tay My rồi cùng nhóm thợ vui vẻ cáo từ ra về để kịp chuẩn bị vật liệu cho ngày mai.

Khi tiếng xích xe máy của nhóm thợ xa dần và cánh cổng sắt khép lại, không gian sân nhà rường An Cựu lại chìm vào sự yên tĩnh thanh bình. Chỉ còn tiếng nước mưa rỏ giọt đều đặn, êm ái từ đầu những tàu lá chuối ngự ngoài vườn xuống thảm cỏ xanh.

Kiều My quay người lại, toan thu dọn ấm chén trên bàn thì bắt gặp ánh mắt của chú Vinh. Người cựu binh già vẫn đứng lặng bên cây cột hiên bằng gỗ lim từ nãy đến giờ, tàn thuốc lào đã tắt ngấm trên tay mà chú không hề hay biết. Ánh mắt chú nhìn đứa cháu gái nhỏ bé đang tỉ mỉ gấp bản hợp đồng kẹp vào cuốn sổ dự án không còn vẻ gắt gỏng, xét nét hay hằn học như những ngày đầu cô mới từ Sài Gòn quay về. Gương mặt khắc khổ, hằn sâu những nếp nhăn của năm tháng cơ cực và nhọc nhằn dường như đã giãn ra, rũ bỏ hoàn toàn lớp vỏ bọc gai góc phòng thủ thường ngày.

Chú Vinh bước chầm chậm lại gần chiếc bàn gỗ, kéo chiếc ghế đẩu tre ngồi xuống đối diện với My. Chú lặng lẽ với tay rót một chén nước chè gừng đã nguội, nhấp một ngụm nhỏ để thấm giọng, rồi ngước mắt lên nhìn thẳng vào mắt đứa cháu gái ruột thịt.

"Tao thiệt không ngờ..." Chú Vinh mở lời, giọng trầm đục, run rẩy một cách khó giấu sau những cơn xúc động mạnh đang dâng lên trong lồng ngực. "Lúc nãy thấy mày rút điện thoại gọi thợ, tao tưởng mày lại bốc đồng vung tay quá trán, hay là làm màu làm mè cho oai như mấy đứa trẻ ranh trên mạng xã hội bây chừ. Nhưng ngồi nghe từ đầu tới cuối cái cách mày điều đình công việc với thằng Tuấn thợ ngói... tao chịu mày rồi, My à."

My khẽ mỉm cười, ngồi xuống chiếc ghế bên cạnh chú, giọng nói dịu dàng, lễ phép: "Chú Vinh chê cháu làm việc cứng nhắc, tính toán chi li quá phải không chú?"

"Không! Mày làm rứa là chuẩn xác trăm phần trăm!" Chú Vinh đập nhẹ bàn tay thô ráp đầy những vết xước rướm máu vì sợi kẽm xuống mặt bàn gỗ, một cái gật đầu dứt khoát mang theo sự công nhận tuyệt đối. "Cái thứ nhà cổ ni, việc chằng chống dây kẽm với nẹp gỗ tạp như tao với thằng Thiện làm hồi trưa chỉ là trò cứu hỏa tạm bợ thôi. Qua một trận lụt lớn nữa là nước nó ngấm mục ruỗng hết từ trong tủy gỗ, tới lúc nó sập đè chết người thì tiền trăm triệu đền cũng không kịp. Mày không cậy vào tình làng nghĩa xóm để nhờ vả người ta làm không công cho mình, biết thuê thợ chuyên môn đúng giá, biết bắt bẻ chất lượng từng viên ngói Phước Tích, từng cái máng xối đồng đỏ, lại biết giữ thế chủ động tiền bạc... Mày chững chạc, từng trải hơn cái đầu già ni của tao tưởng nhiều lắm."

Chú Vinh buông một hơi thở dài nhẹ nhõm, ánh mắt xa xăm nhìn về phía gian chái bếp, nơi tấm bạt dứa đang căng mình che chở cho chiếc chạn gỗ mít cổ của người mẹ đã khuất:

"Hồi mệ mày còn sống, mỗi lần nhà rường dột nát sau bão, mệ cứ cắn răng chịu đựng trong xó bếp vì sợ tốn tiền của tao với ba mày. Mệ toàn để tao leo lên trét mấy cục xi măng chết dở chắp vá qua ngày. Hôm nay nhìn mày đứng ra gánh vác, tính toán chi phí đâu ra đó, dứt khoát mà đàng hoàng... tao mới thực sự tin: cái nhà rường ni, và cả cái căn bếp gia truyền của mệ Lành, giao lại cho mày là đúng người rồi. Mệ mày dưới suối vàng chắc cũng đang mỉm cười ngậm cười nơi chín suối."

Từng lời công nhận mộc mạc, chân chất, không hoa mỹ nhưng nặng tựa ngàn cân của người chú ruột khiến hai mắt Kiều My nhòe đi vì ngấn lệ. Sống mũi cô cay xè, một cảm giác nghẹn ngào pha lẫn hạnh phúc vỡ òa lan tỏa khắp lồng ngực.

Bao nhiêu áp lực nặng nề đè nén suốt những tuần qua—từ thời hạn sáu tuần thử thách nghiệt ngã mà gia đình đặt ra, món nợ viện phí bốn trăm triệu đồng của cha vẫn còn treo lơ lửng, sự hoài nghi gay gắt của người thân họ hàng, cho đến những thất bại ê chề bên ngọn lửa bếp củi khi nấu hỏng những mẻ chè khoai tía đầu tiên—dường như trong khoảnh khắc linh thiêng này đã hoàn toàn tan biến thành mây khói.

Cô nhận ra mình đã không còn là một cô nhân viên marketing trốn chạy thực tại sau những đổ vỡ nơi phố thị phồn hoa. Cô đã thực sự trở thành người chủ thực thụ của mảnh đất này, một người kế thừa có đủ bản lĩnh, đủ năng lực, đủ sự kiên định và trách nhiệm để gìn giữ, chở che cho ngôi nhà và di sản của tổ tiên trước mọi giông bão của cuộc đời.

Đêm hôm đó, mưa bão trên dòng sông An Cựu ngớt dần. Gió ngừng gầm rú, chỉ còn lại một màn sương lạnh buốt giăng kín mặt nước phẳng lặng như gương. Không gian cố đô chìm sâu vào sự tĩnh mịch, trầm mặc vốn có. Căn nhà rường cổ sau cơn thử thách dữ dội của đất trời dường như đã trút bỏ được sự mệt mỏi, lấy lại vẻ bình yên, vững chãi ngàn đời.

Kiều My tắm gội sạch sẽ, khoác lên mình chiếc áo len dài tay màu lam ấm áp. Cô thắp ba nén nhang trầm thơm ngát, cung kính cắm lên bát hương đồng trên bàn thờ bà Lành ở gian giữa. Làn khói trầm thanh khiết cuộn tròn thành từng vòng xoắn ốc lững lờ bay lên trong không gian u tịch, phảng phất hương thơm của thảo mộc và ký ức êm đềm.

Vừa cất chiếc bật lửa xuống mặt phản gỗ lim, chiếc điện thoại đặt trên bàn trà bất ngờ rung lên từng hồi bần bật, phá vỡ sự tĩnh lặng của đêm muộn. Trên màn hình sáng lấp lánh hiện lên dòng chữ quen thuộc: *Mẹ Hà*.

My vội vã bấm nút nghe, áp điện thoại vào tai: "A lô, mẹ à? Mẹ với ba..."

Giọng mẹ Hà vang lên từ đầu dây bên kia, ấm áp, run rẩy và ngập tràn những cảm xúc dồn nén bấy lâu, hòa lẫn trong những âm thanh xình xịch đều đặn, nhịp nhàng của những bánh xe thép đang nghiến trên đường ray kim loại:

"My ơi, con có đang ở nhà rường không con? Ba mẹ... ba mẹ đang trên chuyến tàu Thống Nhất đêm ra Huế với con đây. Tàu vừa chạy qua khỏi đèo Hải Vân rồi con ạ, chừng nửa tiếng nữa thôi là tàu sẽ cập ga Huế. Ba con... ba con muốn về thắp cho nội một nén nhang."

Kiều My lặng người đi, toàn thân bất động như có một dòng điện ấm áp chạy dọc sống lưng. Tim cô đập rộn rã trong lồng ngực, những giọt nước mắt hạnh phúc lặng lẽ trào ra trên khóe mắt.

Cô bước nhanh ra phía hiên nhà rường, đứng tựa vào hàng cột lim vững chãi, phóng tầm mắt nhìn về khoảng không gian đêm mờ ảo của thành phố Huế cổ kính dưới làn sương đông mỏng manh.

Từ phía xa xa bên kia cầu Bạch Hổ, vượt qua những mái ngói rêu phong và những rặng cây cổ thụ trầm mặc của cố đô, tiếng còi tàu hỏa Thống Nhất đêm bất thần ngân vang trầm ấm, xé toạc màn sương đêm tĩnh mịch: Bố Quang và mẹ Hà đã đặt chân về lại mảnh đất chôn nhau cắt rốn, về lại với căn bếp rực lửa yêu thương của mệ Lành.

Chương này thế nào?Đánh giá giúp Readeep đề xuất đúng hơn cho bạn