Gian bếp không nghe lệnh
Buổi sáng đầu tiên trong ba tháng nghỉ phép bắt đầu bằng tiếng chổi quét sân xào xạc của người qua lại ngoài kiệt An Cựu và cái lạnh buốt len qua kẽ liếp gian bếp hoang phế.
Không gian mờ mờ trong làn sương sớm của đất cố đô chưa tan hết. Hơi nước từ dòng sông An Cựu đục ngầu phù sa theo gió bấc trườn qua bờ thành đá, bò qua những bờ rào chè tàu đẫm nước, rồi luồn lách vào từng ngóc ngách của căn nhà rường cổ. My đứng chôn chân giữa gian bếp thấp, kéo cao cổ chiếc áo len dày cộp đã mang từ phương Nam ra, hai bàn tay đút sâu vào túi áo nhưng các đầu ngón tay vẫn tê buốt buốt giá. Hơi ẩm xông lên từ nền đất nện lồi lõm mang theo mùi ẩm mốc ngàn ngày, mùi của những lớp tro mục, của vách đất trộn rơm lâu năm không được hơi người sưởi ấm.
Trước mắt cô, một đống ngổn ngang hiện ra trần trụi dưới ánh sáng nhợt nhạt của buổi bình minh mùa đông: chiếc kiềng sắt ba chân gỉ sét nằm chỏng chơ giữa lớp tro nguội ngắt đóng váng nước mưa dột từ trận bão tháng Mười một; những chiếc nồi nhôm đen kịt muội than xếp lộn xộn dưới chân chạn bát; và sát góc bếp tối tăm là chiếc cối đá xanh to bản đóng một lớp rêu phong trơn trượt, nhờn nhẫy.
My thở dài. Làn khói mỏng từ miệng cô phả ra tan nhanh vào không khí buốt giá. Đã bao nhiêu năm rồi cô không chạm vào thứ gì nặng hơn tập hồ sơ thuyết trình dày cộp hay chiếc chuột máy tính công thái học vừa vặn lòng bàn tay? Suốt sáu năm ròng rã ở văn phòng máy lạnh tầng mười hai tại Sài Gòn, cuộc sống của cô được định nghĩa bằng những bảng biểu Excel trải dài bất tận, những sơ đồ Gantt phân nhánh từng ngày từng giờ, và những chỉ số hiệu suất đo lường bằng tỷ lệ phần trăm chuẩn xác đến từng chữ số thập phân.
Đối với My, một cuộc khủng hoảng truyền thông nhãn hàng hay một dự án tung sản phẩm trị giá hàng tỷ đồng dù rối rắm đến đâu cũng chỉ cần mổ xẻ cấu trúc, ấn định hạn chót, phân bổ nhân sự và kiểm soát chặt chẽ từng mắt xích là sẽ ra được kết quả tối ưu. Mọi thứ trong thế giới ấy đều có thể giải quyết bằng tư duy logic, bằng các thuật toán tối ưu hóa và sự duy lý sắt đá.
Nhưng gian bếp hoang phế này chẳng có nút bấm nào để khởi động lại. Không có phần mềm nào lập trình được cách nhóm một đốm lửa, và chẳng có thuật toán nào tẩy sạch được lớp rêu đóng trên phiến đá của thời gian.
Cô cắn môi, xắn cao hai ống tay áo len, quyết định bắt đầu từ chiếc cối đá xanh. My bước ra hàng hiên sau, múc từng gáo nước lạnh ngắt từ chiếc lu sành hứng nước mưa dưới máng xối. Nước mưa mùa đông lạnh như châm kim vào da thịt. Cô đổ ập gáo nước vào lòng cối đá, cầm lấy chiếc bàn chải đóm tre đã sờn rách tìm thấy dưới gậm chạn, rồi dùng sức miết thật mạnh.
Lớp rêu xanh bám chặt vào từng thớ đá nhám buông ra từng mảng nhờ nhờ, nhả ra thứ mùi ngai ngái, tanh nồng của đất ẩm tù đọng lâu ngày. Nước đá buốt bắn tung tóe lên cổ tay áo, tạt vào mu bàn tay làm da thịt cô rát buốt, đỏ ửng lên. My nghiến răng, dồn toàn bộ trọng lượng cơ thể vào hai bàn tay, ấn chiếc bàn chải cọ từng vòng tròn quanh vành cối, quanh lòng cối sâu hoắm cho đến khi hai bả vai mỏi nhừ, từng khớp ngón tay run lên vì cóng. Phải mất gần nửa giờ đồng hồ và năm gáo nước dội liên tiếp, màu xanh xám nguyên thủy của đá tổ ong mới chịu lộ ra dưới ánh sáng ngày.
Tiếp đó là chiếc chạn gỗ – nơi chiếc phong bì di nguyện từng rơi ra trong đêm tang ma u buồn. Chiếc chạn bát ba tầng đóng bằng gỗ mít tạp, bốn chân kê trên bốn chiếc bát sành chứa nước để chống kiến, nay nước đã cạn khô từ lâu và mạng nhện giăng mắc chằng chịt từ các thanh nan tre. Cô dùng chiếc giẻ rách nhúng nước ấm vắt khô, lau sạch từng tầng nan, quét đi lớp bụi bặm lưu cữu của nửa thập kỷ bà Lành nằm liệt giường trên căn gác sau.
Khi chiếc chạn gỗ đã lộ ra màu gỗ mít sẫm mộc mạc và sạch sẽ, My mở ngăn kéo nhỏ ở góc dưới cùng chạn bát – nơi ngày xưa bà nội hay cất mấy phong kẹo cau, vài gói hạt giống rau muống hay những món đồ lặt vặt quý giá. Bàn tay My bỗng chạm vào một gói giấy báo đã ngả màu ố vàng, mép giấy giòn vụn, được buộc cẩn thận bằng một sợi lạt giang mỏng manh đã khô xác.
Tò mò, My cẩn thận gỡ mối lạt. Bên trong lớp giấy báo cũ kỹ là mấy cánh hoa hồi khô đã ngả sang màu cánh gián thẫm. Một mùi hương trầm ấm, ngọt dịu, nồng đượm len lỏi qua lớp bụi mốc, xộc thẳng vào khứu giác My. Mùi hương ấy thân thuộc đến thắt lòng – mùi của nồi nước dùng bún bò mà bà nội vẫn hay ninh vào mỗi chiều ba mươi Tết thời thơ ấu của cô. Gói hoa hồi nằm đó, kín đáo và nhẫn nại qua bao mùa mưa nắng cố đô, tựa hồ một mẩu ký ức xưa cũ mà bà cố tình để lại, như một lời nhắc nhở thầm lặng về sự thơm thảo của căn bếp này. My tần ngần ngắm nhìn những cánh hoa tám cánh sẫm màu, cẩn thận gấp lại từng mép báo cũ rồi đặt gói hồi vào góc chạn khô ráo nhất.
Lau dọn xong mặt bàn sơ chế bằng gỗ lim dày bản sát cửa sổ bếp, My lấy cuốn sổ tay bọc vải hoa nhí ra. Cô đặt nó ngay ngắn bên cạnh chiếc máy tính bảng hiện đại và tập giấy ghi chú A4 kẻ sẵn các cột biểu mẫu dự án mà cô mang theo từ công ty ở Sài Gòn. My mở trang giấy đầu tiên, nơi dòng chữ tím nắn nót, run rẩy của bà Lành ghi món bún bò Huế dành cho bà Năm Sương bên cồn Dã Viên.
Ngón trỏ My rê chầm chậm trên mặt giấy xơ xác. Trong đầu cô, tư duy quản trị dự án bắt đầu tự động vận hành. Cô muốn chuyển hóa toàn bộ những câu chữ thủ công của bà thành một quy trình chuẩn hóa tuyệt đối: *Nguyên liệu đầu vào — Khối lượng (gram/ml) — Thời gian sơ chế (phút) — Thời gian ninh (phút) — Nhiệt độ sôi (°C) — Trạng thái thành phẩm*.
Thế nhưng, ngòi bút bi trong tay My khựng lại giữa không trung.
*“Một nắm sả cây đập giập cho dập đầu, buộc lại thành bó...”* Nắm là bao nhiêu gam? Nắm tay của bà Lành vốn gầy guộc, các khớp xương nổi rõ sau mấy mươi năm quang gánh tảo tần, hay nắm tay của My vốn dài ngón, mảnh khảnh của một kẻ chỉ quen gõ bàn phím văn phòng? Một nắm là ba nhánh sả to hay năm nhánh sả nhỏ?
*“Nêm một vá ruốc biển loại ngon, gạn nước trong, bỏ xác...”* Vá là chiếc muôi múc canh lớn bằng nhôm hay chiếc vá gỗ treo nơi góc chạn? Ruốc biển loại ngon là loại ruốc có độ đạm bao nhiêu, độ mặn bao nhiêu phần trăm, ủ trong bao nhiêu tháng?
*“Hầm xương bò trên than đượm lửa ba chập, đun đến khi vừa thơm thì hạ than liu riu...”* Thế nào là "vừa thơm"? Thơm mùi sả át mùi hôi của mỡ bò, hay thơm mùi ruốc chín ngấu quyện vào tủy xương? "Ba chập than" là kéo dài bao nhiêu tiếng đồng hồ? Nhiệt độ nước sôi lúc đó là chín mươi độ, chín mươi lăm độ hay một trăm độ C?
Đầu óc My quay cuồng trước những danh từ ước lệ mơ hồ ấy. Ở Sao Nam, bất kỳ một bản đề xuất kế hoạch nào cô ký duyệt cũng phải có số liệu định lượng rành mạch: ngân sách rõ từng đồng xu, thời lượng clip quảng cáo tính bằng từng phần ba mươi giây, thông điệp truyền thông phải dựa trên dữ liệu nghiên cứu thị trường có dung lượng mẫu hàng nghìn người. Không có chỗ cho sự phỏng chừng.
Vậy mà cuốn sổ di nguyện của bà nội lại dùng những từ ngữ cảm tính đến kỳ quặc. Nó như một câu đố cổ xưa đầy thách thức, dựng lên một bức tường vô hình ngăn cô bước chân vào thế giới ẩm thực của bà. My cắn chặt môi, bực bội gạch một đường ngoằn ngoèo lên trang giấy kẻ sẵn.
***
Trong lúc My còn đang ngồi thẫn thờ trước những dòng công thức bế tắc thì ngoài ngõ có tiếng bước chân lẹp xẹp của dép nhựa trên nền đất ướt sũng. Tiếng khọt khẹt của chiếc cổng gỗ cũ kỹ vang lên, kèm theo một giọng nói khàn khàn, đậm đặc thổ âm Huế:
"Có ai ở nhà không đó tề? Nghe chú Vinh nhắn tui ghé qua coi cái mái nhà bếp."
My giật mình, vội gấp cuốn sổ lại rồi bước nhanh ra hàng hiên. Người đàn ông đứng ngoài sân khoảng ngoài sáu mươi tuổi, dáng người gầy guộc nhưng săn chắc, mặc chiếc áo khoác bộ đội đã bạc phếch màu lá úa, vai đeo một chiếc túi da sờn rách đựng đầy thước dây, đục sắt và búa gỗ. Đó là bác Tấn thợ mộc – người thợ cả sửa chữa đồ gỗ quen thuộc nhất trong xóm An Cựu mà chú Vinh đã dặn My đón tiếp hôm trước tang lễ.
"Dạ, cháu chào bác Tấn. Cháu là My, con gái đầu của ba Quang đây ạ." My lễ phép cúi đầu, bước xuống bậc tam cấp phủ rêu mời bác vào nhà.
Bác Tấn dừng lại trước hiên, cởi đôi dép nhựa dính đầy bùn đất để ngoài thềm, ánh mắt thoáng vẻ bùi ngùi khi nhìn vào dải băng tang trắng còn gắn trên khung cửa chính: "Bác biết rồi. Mới hôm đưa bà Lành đi ngang qua ngõ nhà bác đó chớ. Tội nghiệp bà, chịu đau đớn mấy năm ròng rã trên giường bệnh rồi mới dứt được nợ trần gian... Chú Vinh con có dặn bác sang kiểm tra kỹ kết cấu rui mè với mấy cây cột cái của gian bếp và gian nhà chái, sợ mùa mưa dầm ni dột quá rồi mục ngã thì nguy hiểm lắm."
Nói đoạn, bác Tấn không vào nhà uống nước mà rút ngay chiếc thước dây kim loại và cây đèn pin nhỏ từ túi đồ nghề, bắt đầu đi vòng quanh các góc của gian nhà rường. Bác leo lên chiếc thang tre cũ dựng ở góc tường, soi luồng ánh sáng vàng vọt của đèn pin lên trần gỗ tối om, dùng cán chiếc búa gỗ gõ lốc cốc vào từng đòn tay, rui mè và các thanh xà ngang chịu lực.
Tiếng kim loại và gỗ chạm nhau vang lên khô khốc, đanh gọn ở những đoạn gỗ còn tốt, nhưng rồi có những chỗ tiếng gõ lại trầm đục, *bộp bộp* xốp xộp như gõ vào vỏ trấu rỗng. Mỗi tiếng gõ bất thường là một cái nhíu mày thật sâu của người thợ mộc già.
Bác trèo xuống thang, bước lại gần cây cột cái bằng gỗ kiền kiền sát vách gian bếp – nơi tiếp giáp trực tiếp với mái hiên dột nước. Bác Tấn rút từ túi da một chiếc đục sắt sắc lẹm, nhẹ nhàng chọc mũi đục vào chân cột, cách mặt đất chừng hai gang tay. Mũi đục ngập sâu vào thân gỗ một cách dễ dàng đến rợn người. Bác xoay nhẹ mũi đục, một vốc vụn gỗ mùn cưa màu nâu sẫm, ẩm ướt và mủn như bột cà phê rơi lả tả xuống mu bàn chân My.
"Mối đất ăn rỗng ruột từ dưới chân cột ăn lên rồi con gái ơi," bác Tấn thở dài thườn thượt, lấy tay áo phủi lớp bụi gỗ trên tay, rút ra một mẩu bút chì cùn và cuốn sổ tay con con bìa da từ túi ngực. "Gian nhà ni dựng từ thời ông cố con, gỗ kiền kiền với gỗ mít tốt thiệt đó, ngâm nước cả chục năm không sao, nhưng năm năm ni bà con đau ốm liệt giường, chú Vinh con thì bận tối mắt tối mũi mần ăn buôn bán dưới phố chợ, không ai quét dầu trừ mối thường xuyên. Mưa bão miền Trung thì con biết rồi đó, nước rỉ qua khe ngói liệt ẩm quanh năm suốt tháng, mối nó đục từ trong ruột đục ra, bên ngoài nhìn lớp vỏ sơn vẫn nguyên mà bên trong chỉ còn lớp rỗng."
Bác Tấn lật từng trang giấy nháp ố vàng, đặt lên bàn trà ở gian giữa, bắt đầu kê một dãy danh sách dài dằng dặc kèm theo những con số chi phí ước tính. Ngòi bút chì cùn vạch từng hàng chữ xiêu vẹo nhưng rành mạch: — Thay bốn mươi mét đòn tay và rui mè mục nát hoàn toàn ở gian chái và mái bếp: ba mươi nhăm triệu. — Xử lý mối mọt mộng âm dương, vá ruột và gia cố thép hai cột cái chịu lực: bốn mươi hai triệu. — Tháo dỡ toàn bộ phần mái ngói liệt âm dương góc tây nam bị nứt vỡ, lót bạt chống thấm và lợp lại ngói mới: năm mươi triệu. — Tiền công thợ rường chuyên nghiệp làm ròng rã trong ba tuần: hai mươi tám triệu.
Bác Tấn cộng dồn các con số lại, ngước nhìn My qua cặp kính lão trễ xuống tận sống mũi:
"Tính sơ bộ phần khung sườn nguy cấp nhất để nhà khỏi sập trong mùa bão năm sau thôi đã ngót nghét một trăm năm mươi lăm triệu rồi. Đó là bác tính giá tình làng nghĩa xóm, lấy công làm lời giùm cho bà Lành đó nghe. Chớ đem cái kết cấu nhà rường ni ra thợ phục chế trên thành phố, họ đòi hai trăm mấy chục triệu là ít. Gỗ kiền kiền chừ hiếm lắm, phải lùng mua tận vùng núi Nam Đông mới có lõi tốt."
My sững sờ nhìn vào con số một trăm năm mươi lăm triệu được gạch chân đôi nằm chỏng chơ ở góc trang giấy nháp. Lồng ngực cô thắt lại như bị một tảng đá đè nghẹn.
Toàn bộ số tiền tiết kiệm cá nhân mà My tích cóp suốt sáu năm làm việc quần quật ở Sài Gòn, sau khi trừ đi chi phí sinh hoạt dự phòng ba tháng không lương và chi phí ma chay vừa qua, chỉ vỏn vẹn gần chín mươi triệu đồng. Cô từng ngây thơ nghĩ rằng mình có thể dùng khoản tiền này để vừa trang trải cuộc sống đạm bạc ở quê, vừa mua sắm nguyên liệu nấu nướng cho mười hai món ăn, vừa thuê thợ sửa sang vài chỗ dột nát vặt vãnh nhằm thuyết phục chú Vinh không bán nhà.
Nhưng con số thực tế lạnh lùng của người thợ mộc già đã đập tan ảo tưởng ấy. Căn nhà này không chỉ cần một tấm lòng hoài niệm; nó là một thực thể già cỗi đang hấp hối từng ngày, đòi hỏi một khoản chi phí bảo dưỡng vượt xa khả năng của một mình cô. Nếu không sửa, mái bếp có thể đổ sụp bất cứ lúc nào trong một cơn giông mùa đông. Nếu muốn sửa, cô phải tìm đâu ra số tiền còn lại khi bản thân vừa từ chối nhận phong bì của mẹ và đã nộp đơn xin nghỉ phép không lương ở Sao Nam?
"Cháu... cháu cảm ơn bác Tấn," My cố giữ cho giọng mình không run rẩy, run run đón lấy tờ giấy báo giá từ tay người thợ già. "Bác cho cháu xin bảng kê này để cháu bàn bạc thêm với ba và chú Vinh ạ."
Bác Tấn nhìn My với ánh mắt từng trải, dường như bác đã quá quen với những bi kịch của các căn nhà rường cổ xứ Huế: con cháu tha hương cầu thực, người già qua đời, và ngôi nhà mục ruỗng dần theo năm tháng rồi cuối cùng phải bán tháo lại cho các dự án du lịch phân lô hay những tay săn gỗ cổ. Bác vỗ nhẹ lên vai cô, buông một tiếng thở dài:
"Ừ, tính sớm đi con gái. Gỗ mục không đợi người đâu. Mùa đông ni nghe đài báo mưa dầm gió bấc dữ dội lắm đó. Chậm trễ là đến lúc sập mái ngói thì không cứu được rui mè mô."
***
Khi tiếng bước chân lẹp xẹp của bác thợ mộc khuất hẳn ngoài đầu kiệt An Cựu, không gian căn nhà lại rơi vào sự tĩnh mịch ngột ngạt đến nghẹt thở. Tờ giấy báo giá chi phí nằm trơ trọi trên mặt bàn trà như một bản án treo lơ lửng trên đầu My.
Một cảm giác hoảng loạn và cô độc trào dâng dữ dội, bóp nghẹt lấy cuống họng cô. Nhưng rồi, bản năng đối kháng được tôi luyện qua những cuộc khủng hoảng truyền thông khốc liệt ở chốn công sở Sài Gòn lại kéo My đứng thẳng dậy. Cô không thể đầu hàng ngay từ ngày đầu tiên. Chú Vinh đã cho cô thời hạn đến ngày hai mươi tháng Chạp. Bằng mọi giá, cô phải bắt đầu hành trình này. Cô phải hoàn thành món bún bò Huế đầu tiên để chứng minh với chính mình, với gia đình rằng cô không hề vô dụng, rằng cô không chỉ là đứa cháu gái vô tâm chỉ biết nói những lời đạo đức sáo rỗng trên trang mạng xã hội.
Nghĩ là làm, My lập tức dắt chiếc xe đạp cọc cạch của bà nội ra cổng, đạp vội ra con chợ cóc nhỏ ven bờ sông An Cựu.
Gió bấc thổi lồng lộng trên mặt sông mang theo hơi nước lạnh buốt. Tại quầy thịt bò của một người đàn bà trung niên béo tốt, My chọn mua ba cân xương ống bò còn tươi, một bắp bò hoa tròn lẳn và một cân gân bò theo đúng danh mục nguyên liệu ghi trong sổ tay của bà nội. Cô ghé hàng rau mua hai bó sả tươi mập mạp, vài củ hành tím bó thành chùm, ớt sừng đỏ au và một hũ mắm ruốc đóng chai sẵn có dán nhãn vệ sinh an toàn thực phẩm của một cơ sở tư nhân. My nhất quyết không mua loại ruốc múc từ vại sành phủ vải màn ở chợ vì trong đầu cô, những vại ruốc lộ thiên đó tiềm ẩn quá nhiều nguy cơ vi sinh vật chưa qua kiểm định.
Trở về căn bếp hoang phế, My cẩn thận bày biện đồ nghề lên chiếc bàn sơ chế vừa lau sạch. Để kiểm soát sự mơ hồ của công thức, cô đem theo chiếc cân tiểu ly điện tử màu bạc thường dùng để cân yến mạch giảm cân ở Sài Gòn, một chiếc nhiệt kế nấu ăn đầu dò kim loại sắc nhọn và đặt chiếc điện thoại thông minh bật sẵn ứng dụng bấm giờ ngay trước mặt.
Cô bắt đầu quy đổi các đại lượng trong sổ tay của bà. "Một nắm sả" của bà nội được My dùng dao gọt vỏ sạch sẽ, đặt lên cân tiểu ly đo đúng một trăm hai mươi lăm gam, chia thành từng khúc đều tăm tắp rồi dùng chày đập dập đầu, buộc lại bằng dây lạt nhựa chịu nhiệt. "Một vá ruốc" được cô cẩn thận múc ra hai mươi lăm mililit bằng ống đong nhựa có vạch chia độ chính xác. Xương ống bò sau khi rửa qua vòi nước lạnh được cô xếp ngay ngắn vào chiếc nồi nhôm cỡ đại của bà Lành, đổ ngập bốn lít nước tinh khiết đóng chai loại năm lít mà cô vừa mua ở tiệm tạp hóa đầu kiệt.
Nhưng thử thách thực sự ập đến khi My bắt đầu bước vào công đoạn nhóm bếp củi.
Ở thành phố, cả cuộc đời nấu nướng của My chỉ gói gọn trong một nút vặn bếp từ êm ru hoặc bếp gas có đánh lửa tự động. Ở đây, giữa gian bếp ẩm thấp này, chỉ có chiếc kiềng sắt ba chân gỉ sét và đống củi tạp ẩm ướt chất đống ở góc tường mục.
My vò nát mấy tờ báo cũ nhặt được dưới gậm chạn, nhét sâu vào dưới đáy kiềng sắt, xếp vài thanh củi nhỏ lên trên rồi run rẩy quẹt diêm. Ngọn lửa vàng le lói bùng lên được vài giây, liếm vào thớ củi ẩm sũng nước mưa rồi xì ra một tiếng *xèo* yếu ớt. Thay vì bốc cháy, thanh củi nhả ra một luồng khói đen đặc, ngùn ngụt bốc lên trần liếp. Củi không bén lửa mà chỉ ủ khói âm ỉ.
Gian bếp chật hẹp, không có quạt hút gió hay ống khói lập tức biến thành một chiếc lồng hun khói khổng lồ. Khói cay xè xộc thẳng vào mắt, vào mũi, vào cuống họng của My. Mắt cô cay xé rát rúa, nước mắt nước mũi trào ra giàn giụa không thể mở nổi mí mắt.
Càng ho sặc sụa, My càng cuống cuồng dùng chiếc quạt nan rách quạt lấy quạt để vào lòng kiềng với hy vọng thổi bùng ngọn lửa. Nhưng gió quạt không làm bùng lên lửa đỏ mà lại thổi tung lớp tàn tro nguội đóng dưới đáy kiềng bay mù mịt khắp không gian. Tro xám bám đầy lên mặt bàn sơ chế, vương vãi vào đĩa thịt bắp bò tươi rói, và phủ một lớp bụi mờ xám xịt lên cả mặt kính chiếc cân tiểu ly điện tử.
Phải mất gần một tiếng đồng hồ vật lộn trong cay đắng, ho đến rát buốt lồng ngực và hai bàn tay đen nhẻm nhọ nồi, My mới chật vật duy trì được một ngọn lửa bập bùng bằng cách chêm liên tục những thanh tre khô nhỏ nhặt từ hàng rào. Cô vội vã dùng hết sức bình sinh bắc chiếc nồi nhôm cỡ đại chứa bốn lít nước và ba cân xương bò lên kiềng sắt.
Tuy nhiên, ngọn lửa củi trong bếp không hề tuân theo bất kỳ chỉ số nhiệt độ nào trên chiếc nhiệt kế điện tử hiện đại của cô. Lúc thì gió bấc lùa qua vách liếp mục nát làm ngọn lửa bùng lên dữ dội, táp liếm quanh thân nồi nhôm khiến nước trong nồi sôi sùng sục, trào bọt trắng xóa ra ngoài mép vung; lúc thì củi ẩm ngấm nước ngún khói lụi dần, làm nhiệt độ nước tụt dốc thê thảm từ chín mươi lăm độ xuống còn bảy mươi độ.
My hoang mang chạy qua chạy lại giữa kiềng bếp và đống củi, chốc chốc lại nhìn vào màn hình điện thoại đang đếm giây lạnh lùng: *01:45:20... 02:10:15... 02:35:40...* Thời gian trôi đi theo đúng dự kiến trên giấy, nhưng trạng thái của nồi nước thì hoàn toàn mất kiểm soát.
Đến công đoạn nêm mắm ruốc, nhớ lời bà ghi vắn tắt trong sổ: *"hòa ruốc vào nước lạnh cho lắng rồi mới châm vào nồi"*, nhưng lúc này ngọn lửa dưới đáy nồi lại đang bùng lên dữ dội vì cô vừa chêm một thanh củi thông khô. Nước trong nồi cạn nhanh trông thấy, bốc hơi ngùn ngụt. Hoảng sợ vì nghĩ nước cạn sẽ làm cháy xương và khét đáy nồi, My cuống cuồng không kịp hòa ruốc với nước lạnh để gạn lọc nữa. Cô dùng muôi múc thẳng phần mắm ruốc đóng chai vừa đong đổ ập vào giữa nồi nước đang sôi ùng ục.
Một mùi khét nồng, hăng hắc và gay gắt của mắm ruốc sống gặp nhiệt độ cao đột ngột lập tức bốc lên ngùn ngụt. Mùi nồng ấy xộc thẳng vào không gian bếp, đè bẹp và lấn át hoàn toàn mùi thơm thanh nhẹ của những bó sả đập dập.
Một mảng bọt xám đen dày cộp trào dâng cuồn cuộn từ đáy nồi, cuốn theo cả những mảng tủy xương chưa kịp chín và tàn tro củi từ ngoài bay vào. Màu nước dùng trong nồi không hề có sắc trong leo lẻo hay ánh đỏ cam dịu dàng của ớt màu như trong ký ức tuổi thơ mà cô từng được ăn. Nó ngả sang một màu xám đục ngầu, nhờ nhờ, sền sệt những váng mỡ bò ngậy hôi chưa được hớt bọt. Nồi nước sôi ùng ục, sủi tăm ùng oàng tựa như một vũng lầy sủi bọt khí giữa ngày giông.
My run rẩy lấy chiếc muôi nhôm múc một chút nước dùng ra chiếc bát sứ con, thổi phù phù rồi đưa lên miệng nếm thử.
Vừa chạm vào đầu lưỡi, một vị mặn chát như xát muối cào xé vị giác của cô. Vị mắm ruốc sống nồng gắt, ngai ngái, tanh tưởi hòa lẫn với mùi mỡ bò hôi rình xộc thẳng lên tận sống mũi khiến My lợm giọng kinh hoàng. Cô không thể nuốt nổi ngụm nước ấy mà phải nhổ vội xuống nền đất, ôm lấy cổ họng ho sặc sụa, suýt nôn thốc nôn tháo. Toàn bộ vị giác của My hoàn toàn tê liệt bởi một thứ dung dịch cay đắng, chát chúa, nồng khét và tanh nồng.
Bên cạnh bếp, chiếc nhiệt kế điện tử vẫn cắm bên thành nồi nhôm, màn hình tinh thể lỏng nhấp nháy con số báo nhiệt độ chín mươi tám phẩy năm độ C. Chiếc đồng hồ bấm giây trên điện thoại thông minh vẫn lạnh lùng điểm phút thứ một trăm bốn mươi. Mọi số liệu đo lường về thể tích, khối lượng, thời gian đều chính xác đến từng mililit, từng gam, từng giây theo tiêu chuẩn kiểm soát nghiêm ngặt nhất của một trưởng nhóm dự án.
Thế nhưng, sản phẩm trước mặt cô là một đống phế phẩm hoàn toàn. Một nồi nước thải hôi hám và vô giá trị.
Một cơn bất lực tột cùng ập xuống, đè bẹp sự kiên cường gượng gạo suốt mấy ngày qua của My. Chiếc muôi nhôm trên tay cô trượt khỏi những ngón tay cóng buốt, rơi *keng* một tiếng chói tai xuống nền gạch tàu lạnh ngắt.
My ngồi bệt xuống thềm gạch trước cửa bếp, hai đầu gối co gập áp chặt vào ngực. Bụi tro bếp bám đen nhẻm trên má, trên trán và hai bàn tay cáu bẩn mùi mỡ bò tanh tưởi. Mùi khói củi cay xè vẫn còn quẩn quanh trong từng sợi tóc, từng thớ vải của chiếc áo len đắt tiền. Cô ôm lấy đầu, vừa ho sặc sụa vì lồng ngực còn tức nghẹn khói củi, vừa bật khóc nức nở.
Những giọt nước mắt nóng hổi lăn dài trên gương mặt lấm lem tro bụi, vạch ra những vệt trắng xám ngoằn ngoèo. My khóc vì sự bất lực ê chề của một kẻ trí thức ngạo mạn từng nghĩ mình có thể kiểm soát và tái lập mọi thứ bằng trí óc duy lý và số liệu khô cứng; cô khóc vì con số một trăm năm mươi lăm triệu tiền sửa nhà như một bản án nghiệt ngã đang đè nặng lên đôi vai đơn độc; và hơn hết thảy, cô khóc vì nhận ra mình đã quá xa lạ, quá xa rời thế giới thực sự của bà nội.
Bà Lành đã đứng ở gian bếp này suốt sáu mươi năm cuộc đời, nhóm bếp trong những mùa đông giá buốt thấu xương của xứ Huế, nhẫn nại lắng nghe từng tiếng than nổ để nấu những nồi nước dùng nuôi nấng ba cô, nuôi nấng cả gia đình vượt qua bao thời tao loạn. Vậy mà cô, đứa cháu gái tự hào là tinh hoa thành thị, đến một ngọn lửa củi cũng không giữ nổi cho đàng hoàng.
Gian bếp này không chịu tuân lệnh cô. Nó không phải là một chiến dịch quảng cáo bốn tỷ đồng để cô có thể áp đặt những quy trình vô hồn và các biểu mẫu cơ học.
***
"Khóc trong bếp là củi ẩm thêm đó, cô My."
Một giọng nói trầm ấm, khoan thai vang lên sau lưng khiến My giật nảy mình.
Cô vội vàng đưa mu bàn tay quệt ngang dòng nước mắt, nhưng hành động vụng về đó chỉ làm tàn tro trên tay lem luốc thêm khắp hai gò má. My ngước nhìn lên qua làn mi ướt đẫm.
Đứng bên khung cửa liếp bếp là Trần Minh Thiện – người thầy giáo dạy nhạc ở ngôi nhà cấp bốn bên kia bức tường hoa chè tàu. Anh mặc một chiếc áo len mỏng màu xám tro giản dị, chân mang đôi guốc mộc mộc mạc, trên tay bưng một chiếc ấm tích bằng gốm bọc trong giỏ ấm đan bằng mây tre và một chiếc xẻng sắt nhỏ đựng mấy hòn than củi đang cháy đượm hồng rực, tuyệt nhiên không hề bốc lên một sợi khói nào.
Thiện không bước vào bếp ngay để tránh làm My bối rối trước cảnh tượng nhếch nhác của mình. Anh đặt chiếc xẻng than xuống khoảng sân gạch trước hiên, nơi gió bấc hiu hiu thổi qua, rồi từ tốn bước vào bếp, đặt chiếc giỏ ấm trà gừng lên mặt bàn gỗ đã bị tro bụi phủ một lớp xám mờ.
"Tôi dạy đàn cho mấy đứa nhỏ bên nhà, thấy khói mù mịt bốc qua mái ngói bếp sau nhà cô suốt cả buổi sáng," Thiện mỉm cười nhẹ, nụ cười hiền lành và đôi mắt ấm áp xua tan đi phần nào bầu không khí ngột ngạt đang bóp nghẹt gian bếp. "Đoán là cô đang đánh vật với đống củi mục của bác Tấn để lại sau trận bão."
My cúi gằm mặt xuống đất, giọng cô nghẹn đặc vì tro bụi và nước mắt: "Tôi... tôi làm hỏng hết rồi. Tôi đã cân đúng từng gam thịt, đong đúng từng mililit gia vị như trong sổ bà ghi chép, vậy mà..."
Thiện bước lại gần chiếc kiềng sắt, nhìn vào nồi nước dùng đục ngầu đang sủi những vệt bọt xám đen sì. Anh không hề tỏ ra ngạc nhiên hay chê bai, chỉ lặng lẽ nhặt chiếc muôi nhôm My vừa làm rơi dưới đất lên, nhúng vào chậu nước rửa sơ qua rồi múc một muôi nước dùng lên xem xét. Anh nghiêng muôi nhìn sắc nước nhờ nhờ, rồi đưa lên gần mũi khẽ ngửi mùi hơi nước đang bốc lên hăng hắc.
"Mắm sống bị cháy khét vì bỏ thẳng vào nước đang sôi sùng sục. Xương bò chưa trụng qua nước sôi pha muối và gừng nướng đập giập để tẩy hết máu đọng trong tủy nên tủy tiết ra làm đen nước. Lửa củi thì hun khói quá nhiều do củi ẩm, tàn tro bay ngược vào nồi làm nước dùng đắng nghét."
Thiện đặt chiếc muôi lại trên thành nồi, giọng bình thản đưa ra những lời nhận xét ngắn gọn, rành mạch và chuẩn xác như một người đã nhìn thấy cảnh tượng này hàng trăm lần trong đời.
"Có... có cách nào cứu được nồi nước ni không anh?" My ngước nhìn anh, trong đáy mắt ánh lên một tia hy vọng mong manh, thảm hại của một người đuối nước đang cố vớ lấy một cọng rơm khô. "Tôi có thể lọc nước qua rây vải nhiều lần, rồi đun sôi lại, châm thêm nước sôi, thêm đường phèn với sả nướng để át mùi tanh..."
"Không cứu được mô," Thiện lắc đầu dứt khoát, ánh mắt anh nhìn thẳng vào My, nghiêm túc nhưng không hề có ý giễu cợt hay cay nghiệt. "Nồi ni hỏng từ gốc rễ rồi. Vị mắm sống đã ngấm chặt vào từng thớ thịt bắp bò, mỡ bò hôi rình đã hòa tan hoàn toàn vào nước dùng. Có cố lọc, cố nêm nếm thêm gia vị thì nó cũng chỉ là một thứ nước lẩu hổ lốn không ra hình hài bún bò xứ Huế. Đem tô nước dùng ni sang cho bà Năm Sương bên cồn Dã Viên, bà húp thử một muỗng là bà hất cả tô ra sân đó. Đổ bỏ đi."
Hai chữ "đổ bỏ" rơi xuống gian bếp lạnh lùng như một nhát dao chém đứt sợi dây hy vọng cuối cùng của My. Cô chết lặng.
Công sức của cả một buổi sáng vật lộn, ba cân xương bò đắt tiền, những đầu ngón tay bỏng rát và tê buốt vì cọ rửa... tất cả những nhọc nhằn ấy hóa thành con số không tròn trĩnh. Sự phán xét không khoan nhượng của Thiện làm lòng kiêu hãnh của cô gái thành thị vụn vỡ.
Thấy My ngồi bất động, đôi vai gầy khẽ run rẩy dưới lớp áo len, Thiện mở nắp giỏ mây, rót một chén trà gừng nóng từ chiếc ấm tích ra chiếc chén sành nhỏ. Khói trà thơm ngát mùi gừng tươi cay nồng và mật ong hoa rừng dịu nhẹ lập tức lan tỏa, đẩy lùi thứ mùi mỡ bò hôi hám trong không gian ẩm mốc. Anh đưa chén trà đến trước mặt cô:
"Uống miếng trà gừng cho ấm cổ họng đi đã. Phổi cô hít đầy khói củi mục từ sáng đến chừ rồi đó."
My run rẩy đưa hai bàn tay đen nhẻm đón lấy chén trà. Hơi nóng từ lớp men gốm truyền thẳng vào lòng bàn tay tê cóng làm cô giật mình tỉnh táo lại đôi chút. Cô nhấp một ngụm nhỏ. Vị cay ngọt, nồng ấm của gừng tươi và mật ong từ từ trôi qua cuống họng, làm dịu đi cơn rát buốt và cảm giác lợm giọng tanh tưởi của thứ mắm ruốc sống lúc nãy.
Thiện kéo chiếc ghế đẩu gỗ thấp ngồi xuống đối diện với My, hai bàn tay đan vào nhau đặt trên đầu gối:
"Cô My này, nấu món Huế không giống như cô gõ phím trên máy tính ở Sài Gòn đâu. Những con số điện tử của cô không sai về mặt toán học, nhưng nó vô hồn. Bà Lành ngày xưa nấu bún bò không có cân tiểu ly, cũng chẳng có đồng hồ bấm giây. Bà nấu bằng tai, bằng mũi và bằng cảm giác của đôi bàn tay."
Thiện chỉ tay ra phía chiếc xẻng than củi đang cháy đượm hồng rực ngoài sân gạch:
"Bà Lành từng dạy tôi hồi tôi mới về xóm ni ở: muốn nước dùng bún bò ngọt thanh và trong leo lẻo, người nấu phải biết lắng nghe tiếng của than củi. Than nổ lách tách là than còn ngậm ẩm, khói nhiều thì phải gắp bỏ ra ngay; khi than đã đượm hồng một màu đồng nhất, không còn một sợi khói, đặt nồi lên thì nước mới sôi tăm liu riu. Nước sôi ùng ục là nước đục, nước sôi lăn tăn hạt bắp thì nước mới ngọt tủy xương.
Mắm ruốc cũng vậy, ruốc Huế mặn mòi và đậm đà gấp mấy lần mắm vùng khác, nhưng phải hòa tan trong nước lạnh, để lắng một đêm cho cát biển và xác ruốc chìm hết xuống đáy, chỉ gạn lấy phần nước trong vắt bên trên rồi châm từ từ vào mép nồi khi nước vừa sôi lăn tăn, để hương ruốc chín dần, quyện vào sả mà không bị nồng khét. Cô đem mắm sống đổ ụp vào nước sôi sùng sục thì khác chi đốt cháy nó."
My ngồi im lìm lắng nghe. Từng lời nói của Thiện như mở ra một thế giới hoàn toàn khác – một thế giới không có các chỉ số KPI, không có tỷ lệ chuyển đổi hay thuật toán tối ưu, mà chỉ có sự nhẫn nại, sự tĩnh lặng và năng lực thấu cảm tinh tế đối với từng trạng thái mong manh của lửa, của nước, của nguyên liệu tự nhiên.
"Bác Tấn nói đúng một nửa, mái bếp này dột nát thật, nhưng thứ mục ruỗng nhất lúc này là sự nóng vội của cô," Thiện nhìn thẳng vào mắt My, giọng anh chậm rãi nhưng từng từ rành rọt như gõ vào tâm can cô. "Nếu cô muốn giữ lại căn nhà này, muốn nấu đủ mười hai món ăn trong cuốn sổ cho người ta, cô phải học lại từ đầu. Từ cách cầm que cời than, cách chẻ củi khô, cách lắng nghe tiếng sôi của nước, đến cách ngửi mùi hơi nước để biết nồi dùng đang thiếu muối hay thừa ruốc."
"Anh... anh có thể dạy tôi không?" My thốt lên, giọng cô khàn đặc sau những cơn ho sặc sụa, nhưng ánh mắt chứa đầy sự khẩn khoản, chân thành.
Thiện nhìn cô gái trẻ thành phố đang lấm lem tro bụi trước mặt mình, im lặng trong giây lát. Ngoài hiên, tiếng chiếc chuông gió bằng đồng treo bên hiên nhà anh khẽ leng keng theo một ngọn gió đông vừa thổi xao xác qua rặng chè tàu. Cuối cùng, anh gật đầu, nhưng nét mặt trở nên nghiêm nghị lạ thường:
"Tôi đồng ý hướng dẫn cô những kỹ thuật cơ bản nhất của căn bếp này. Nhưng tôi có một điều kiện tiên quyết."
"Điều kiện gì tôi cũng chấp nhận," My vội vã đáp, không một chút do dự.
"Tôi chỉ làm mẫu một lần duy nhất cho mỗi thao tác, và sau đó tôi chỉ đứng bên cạnh quan sát, nhắc nhở bằng lời. Tôi kiên quyết không nấu thay cô bất kỳ một công đoạn nào. Dù cô có làm cháy củi, có làm trào nồi, hay có làm hỏng thêm mười mẻ nước dùng nữa, bàn tay hoàn thành món ăn để dâng lên bàn thờ hay đem đi trả nợ ân tình phải là bàn tay của cô. Cuốn sổ di nguyện là của bà Lành để lại cho cô, không phải cho tôi. Nếu cô đồng ý để tôi làm một người giám sát khó tính chứ không phải một người làm thuê nấu hộ, thì ngày mai chúng ta bắt đầu."
My nhìn vào đôi mắt kiên định, sâu thẳm của người thầy giáo dạy nhạc. Cô hiểu rằng đây không phải là một sự mặc cả hay lên mặt dạy đời, mà là một lằn ranh đạo đức rõ ràng. Anh không muốn cô biến sự giúp đỡ của người khác thành một tấm lá chắn để trốn tránh trách nhiệm tự thân đối với di nguyện của bà nội.
"Tôi đồng ý," My nói, giọng dứt khoát và kiên quyết.
"Được rồi. Bây giờ việc đầu tiên của cô: bê nồi nước hỏng này ra gốc cây khế già sau vườn đổ đi. Rửa sạch chiếc nồi nhôm, quét sạch tro bụi vương vãi trong bếp. Chiều nay tôi sẽ sang chỉ cô cách xếp củi khô và cách ủ than đượm." Thiện đứng dậy, phủi nhẹ vạt áo len xám, bước ra sân cầm lấy chiếc xẻng than. Trước khi bước qua ranh giới hàng rào chè tàu thấp, anh quay đầu lại dặn thêm một câu: "Và sáng mai, cô phải dậy thật sớm. Muốn có xương bò ngon, sả tươi và ruốc chuẩn gốc Huế, cô không thể mua ở mấy hàng thịt ôi ngoài chợ cóc lúc chín giờ sáng được đâu."
Khi bóng Thiện đã khuất hẳn sau hàng chè tàu xanh mướt, gian bếp hoang phế chỉ còn lại một mình My giữa không gian tĩnh mịch.
Cô hít một hơi thật sâu, nén cơn đau nhức ở hai bả vai, cúi xuống dùng hai tấm giẻ dày nhấc chiếc nồi nhôm nặng trịch chứa đầy nước dùng hỏng. Bước chân cô khập khiễng bước ra góc vườn sau. Dòng nước dùng đục ngầu, mặn chát và tanh tưởi trút ầm xuống gốc cây khế già xù xì, bốc lên một làn khói hôi hám cuối cùng rồi từ từ ngấm dần vào lòng đất cát pha sỏi.
Suốt buổi chiều mùa đông hôm đó, My không hề mở máy tính bảng, cũng không buồn kiểm tra bất kỳ tin nhắn nào từ các nhóm chat công việc ở Sài Gòn đang nhảy thông báo liên tục.
Cô cặm cụi ngồi bên bờ giếng sau nhà, dùng tro bếp mịn và xơ mướp khô cọ rửa chiếc nồi nhôm cỡ đại cho đến khi từng mảng muội than đen kịt bong tróc hết, để lộ ra đáy nồi sáng bóng ánh kim loại. Cô quét sạch lớp tro bụi phủ trên mặt bàn sơ chế, sắp xếp lại đống củi mục theo đúng lời Thiện sang hướng dẫn vào đầu giờ chiều: phân loại củi khô để riêng vào góc ráo nước, củi ẩm đem ra rải đều trước hiên để đón chút nắng hanh hao le lói cuối ngày.
Thiện chỉ cho cô cách dùng dao rựa chẻ những thanh củi lớn thành từng nan nhỏ vừa vặn, cách xếp củi theo hình mái lều để gió có thể luồn vào nuôi ngọn lửa, và cách nhận biết những hòn than củi đượm không khói. Suốt cả buổi, anh chỉ làm mẫu một lần duy nhất rồi khoanh tay đứng nhìn cô tự tay cầm rựa, tự tay nhóm thử một đốm lửa nhỏ bằng vỏ trấu và dăm bào khô cho đến khi ngọn lửa bùng lên êm ả.
Đêm mùa đông ở cố đô Huế buông xuống thật nhanh và đặc quánh.
Gió bấc từ sông Hương thổi về mang theo hơi nước buốt giá luồn qua những phiến ngói âm dương nứt nẻ trên mái nhà rường, phát ra những tiếng rít khe khẽ, u uẩn tựa như tiếng thở dài trầm mặc của một ngôi nhà cổ đang già đi cùng năm tháng.
My nằm trên chiếc giường gỗ mít ở gian chái sau, cuộn tròn người trong chiếc chăn bông cũ kỹ đã ngả màu nhưng vẫn thơm thoang thoảng mùi nắng hạ và mùi hương thảo mộc thanh sạch của bà nội. Cả cơ thể cô ê ẩm, đau nhức từng thớ cơ; các khớp ngón tay mỏi nhừ sau một ngày lao động chân tay cật lực; và khóe mắt vẫn còn cay xè vì khói củi mục.
Trên chiếc bàn con đầu giường, chiếc điện thoại thông minh được cô tắt toàn bộ các thông báo công việc từ ứng dụng nội bộ của công ty Sao Nam, chỉ cài đặt một mốc báo thức duy nhất.
Bóng tối bao trùm lấy căn phòng nhỏ, tĩnh mịch đến mức nghe rõ từng giọt sương đêm rơi tí tách từ mái hiên ngói liệt xuống phiến đá bậc thềm ngoài sân.
My nhắm mắt lại. Trong tâm trí cô lúc này, những bảng tính Excel phức tạp, những sơ đồ Gantt nhiều màu sắc hay những slide thuyết trình hào nhoáng ở tầng mười hai tòa cao ốc Sài Gòn đã hoàn toàn biến mất. Thế chỗ vào đó là hình ảnh gói hoa hồi cũ kỹ thơm trầm ấm nơi góc chạn mít, màu than củi hồng rực không khói trên chiếc xẻng sắt của Thiện, và mùi hương ngai ngái của những cây sả tươi đang chờ đợi ở một khu chợ lớn ven sông.
Đúng bốn giờ sáng, tiếng chuông báo thức vang lên reo rắt phá tan sự tĩnh lặng đặc quánh của đêm đông.
Chuông báo thức bốn giờ sáng reo vang, bắt đầu buổi đi chợ sớm đầu tiên trong đời My tại Chợ Đông Ba.