Căn Bếp Nhỏ Của BàC.26 / 35
Chương 26

Mảnh vườn rau và thực đơn thu nhỏ

Lát thịt ba chỉ luộc mỏng tang kẹp giữa lát chuối chát, khế chua và con tôm đỏ au nằm gọn gàng trên chiếc đĩa sứ hoa lam, phản chiếu ánh sáng dịu mát của gian nhà ven đô.

Gió đông từ mặt sông Hương thổi thốc qua những luống cải bẹ xanh mướt mát nơi bãi bồi Hương Long, mang theo mùi ngai ngái của đất phù sa ướt và hương nồng ngát của những vạt húng quế, kinh giới vừa tắm qua một làn sương sớm. Dưới mái hiên lợp ngói liệt rêu phong của căn nhà ngang ven vườn, chiếc chõng tre bóng loáng màu thời gian được lau sạch bóng, đặt trang trọng chiếc mâm đồng mắt cua mà vợ chồng ông bà Sáu Bình vừa bưng ra đãi khách.

Để có được mâm đồ ăn vừa mắt và trọn vị này, My đã dậy từ lúc trời còn tờ mờ sương ở kiệt An Cựu. Khâu luộc thịt ba chỉ tưởng chừng dung dị nhất lại là thứ đòi hỏi sự cẩn trọng nghiêm ngặt không kém gì kỹ thuật hãm lửa ninh nước dùng bún bò. Miếng thịt ba rọi đầm lợn quê do chính tay Thiện dặn người quen mổ từ sớm phải là dải thịt cân đối, lớp mỡ trắng trong xen kẽ giữa hai thớ nạc đỏ hồng, phần bì mỏng tang và không sót một chân lông. Khi luộc, My không thả thịt vào nước lạnh từ đầu mà đợi nước sôi tăm mới thả vào cùng một củ hành khô nướng thơm bóc vỏ, vài lát gừng tươi đập dập và nửa thìa muối hạt thô Thuận An để khử sạch mùi tanh tạp. Lửa dưới đáy nồi gang chỉ được giữ ở mức liu riu bốc khói nhẹ, để bọt mỡ từ từ đùn lên cho My hớt sạch, làm chín thấu thớ thịt từ ngoài vào tận tủy mà không khiến lớp mỡ bị nhũn nát hay phần nạc ngả màu xám xịt. Đúng hai mươi phút, khi dùng đầu đũa tre xiên nhẹ qua phần dày nhất thấy nước ứa ra trong veo không vẩn chút sắc hồng, My lập tức vớt tảng thịt thả chìm vào âu nước mưa đun sôi để nguội đã thả đầy đá lạnh. Sức sốc nhiệt đột ngột giam giữ trọn vẹn lớp collagen dưới bì, khiến miếng thịt co lại săn chắc, bì giòn sần sật, mỡ se thành ngọc trắng và thớ nạc mềm mọng như tơ.

Lưỡi dao bài của làng rèn Hiền Lương được mài trên đá bùn bén ngọt lướt qua thớ thịt, từng lát ba chỉ rơi xuống thớt gỗ mỏng tang, đều tăm tắp, đủ để nhìn xuyên qua thớ mỡ trong veo dưới ánh sáng ban ngày. Từng dải thịt khi xếp vòng tròn trên lòng đĩa gốm hoa lam phô diễn trọn vẹn sự cân xứng: một vệt nạc sẫm màu ôm lấy bờ mỡ trong như hổ phách non, viền ngoài cùng là đường viền da mỏng mịn màng không tì vết.

Bày quanh đĩa thịt luộc là chiếc mẹt tre lót lá chuối tươi chất đầy thức rau ghém của đất cố đô. Vả non hái từ cây vả cổ thụ sau vườn được gọt sạch vỏ xanh dưới vòi nước chảy, thái mỏng ngâm ngay vào chậu nước pha chút nước cốt chanh để giữ trọn màu trắng ngà mịn màng không thâm xỉn; chuối sứ bánh tẻ tước vỏ xanh, thái vát mỏng tang mang vị chát thanh tao; khế chua cắt khía hình ngôi sao vàng nhạt ứa nước; vài củ kiệu ngâm chua giòn tan, kèm theo đĩa rau thơm tươi rói hái tận luống gồm ngò rí, kinh giới, rau răm, tía tô đất và những đọt rau quế ngát hương cay the. Mỗi loại rau ghém là một mảnh ghép của khí tiết đất phù sa, được nhặt tỉ mẩn từng ngọn non, rảy ráo nước nhưng tuyệt đối không để giập nát một phiến lá, giữ nguyên lớp phấn mịn màng của đọt rau đón nắng sớm.

Ngay chính giữa mâm đồng là chiếc bát sứ men lam đựng tôm chua vừa múc ra từ chiếc hũ sành Phước Tích đã trải qua tròn trĩnh mười bốn ngày đêm ủ men trong chái bếp. Dưới ánh nắng đông nhàn nhạt, từng con tôm đất đầm Cầu Hai uốn cong đỏ rực rỡ như những hạt mã não, ngập trong thứ nước xốt sánh keo màu hổ phách điểm xuyết sợi riềng già thái chỉ vàng ươm, tỏi tép thái lát mỏng và những chấm ớt chỉ thiên đỏ thắm. Nước xốt không hề lỏng loãng hay tách nước, mà quyện sánh một cách tự nhiên nhờ hạt nếp cái hoa vàng đã tan biến thành tinh chất men ủ, bám chặt lấy lưng tôm, dậy lên một thứ mùi hương kích thích khứu giác đến run rẩy: vừa thơm nồng ấm áp của riềng lửa, cay the sắc sảo của ớt, đượm đà của mắm ngon, lại thoang thoảng men rượu làng Chuồn dìu dịu.

Ông Sáu Bình kéo chiếc ghế đẩu bằng gỗ mít lại gần, ngắm nhìn mâm thức ăn được bày biện ngăn nắp, tinh tươm rồi đưa mắt nhìn My bằng ánh nhìn đăm chiêu, cẩn trọng. Đôi mắt người nông dân bãi bồi quanh năm dầm mưa dãi nắng đã hằn sâu những vết chân chim nơi đuôi mắt, ánh lên vẻ từng trải, khó tính của người thuộc nằm lòng từng ngọn rau tấc đất ven sông. Bà Bình ngồi bên cạnh, mái tóc bạc búi gọn sau gáy cài chiếc trâm tre nhỏ, đôi bàn tay gầy gò nhăn nheo nhưng sạch sẽ khẽ lau nhẹ chiếc đũa tre trước khi đưa cho chồng.

“Con tôm ngấu đủ mười bốn ngày rồi đó hả cháu?” Bà Bình cất giọng nhỏ nhẹ, âm sắc trầm ấm đặc trưng của người vùng bãi bồi ven sông.

“Dạ thưa bà, đúng tròn mười bốn ngày đêm con để ở góc chái bếp, tránh gió bấc và không hề đụng chạm than củi nóng ạ,” My lễ phép đáp, hai bàn tay đan vào nhau đặt trên gối, lòng thầm hồi hộp như một đứa học trò đứng trước kỳ khảo hạch nghiêm khắc nhất. “Sáng ni mở nẹp tre ra, con nếm thấy nước xốt đã sánh keo, mùi riềng ớt thơm lừng mà không hề có váng mốc, con mới dám luộc thịt mang sang kính ông bà.”

Ông Sáu không vội trả lời. Ông cầm đôi đũa tre già, từ tốn gắp một lát chuối chát lót dưới cùng, đặt lên trên một lát vả non trắng giòn, một cánh khế chua, nhúm lá rau thơm, rồi mới gắp lát thịt ba chỉ mỏng tang ấp lên. Sau cùng, ông cẩn thận gắp một con tôm chua đỏ au đặt vào giữa, khẽ chấm một đầu đũa lấy chút nước xốt màu hổ phách rưới nhẹ lên miếng cuốn, rồi khéo léo cuộn tròn lại đưa vào miệng.

Bà Bình cũng chậm rãi làm theo từng thao tác của chồng, không sót một chi tiết nào. Từng cử chỉ nhón nhặt, xếp đặt của hai ông bà chậm rãi, khoan thai như một nghi thức ẩm thực thiêng liêng đã được tôi luyện qua mấy mươi năm bên dòng nước Hương giang.

Gian nhà ngang chìm vào một khoảng lặng trang nghiêm, chỉ còn nghe tiếng gió xào xạc lùa qua vạt ngô ngoài bãi và tiếng nhai giòn rụm, êm ả của hai người già sành ăn đất thần kinh.

Cả ông Sáu và bà Bình đều nhai rất chậm. Đôi mắt ông Sáu khẽ nhắm lại để cho toàn bộ các gai vị giác nơi đầu lưỡi thẩm thấu trọn vẹn từng lớp lang của món ăn. Đầu tiên là cái giòn sần sật của lớp bì lợn và vị béo ngậy ngọt lịm tan chảy của thớ mỡ ba chỉ; ngay sau đó là sự bùng nổ của vị chua thanh thoát, êm ái mà tôm chua mang lại. Con tôm đất đầm phá không hề bị bở rệu hay nhão thịt như tôm nuôi công nghiệp, trái lại thớ thịt đanh chắc, dai ngọt tự nhiên, lớp vỏ giáp mỏng tan vỡ vụn dưới chân răng tạo cảm giác khoái khẩu kỳ lạ. Nước xốt men nếp cái hoa vàng hòa quyện với nước mắm cốt Thuận An và đường mía sánh quyện không gắt gỏng, vị ngọt đằm thắm dẫn lối cho hương cay nồng ấm của sợi riềng già và lát ớt chỉ thiên chín cây chạy dọc lên sống mũi, làm ấm sực cả khoang miệng trong buổi sáng đông lạnh giá. Vị chát thanh của chuối, vị bùi xốp của vả non và vị chua thanh tao của khế như một chiếc phanh hãm hoàn hảo, ghìm chặt độ béo của thịt mỡ, khiến miếng ăn trôi qua cổ họng chỉ để lại một hậu vị ngọt ngào, thơm thảo, đượm đà mà thanh sạch đến vô ngần.

Đôi mắt ông Sáu mở ra, ánh lên một tia sáng ấm áp khác hẳn vẻ nghiêm nghị dò xét của hai tuần trước. Ông từ tốn đặt đôi đũa xuống mép mâm đồng, khẽ gật đầu ba nhịp:

“Được lắm. Con tôm ni đã đạt tới độ ngấu chuẩn mực của tôm chua xứ Huế rồi đó cháu. Thịt tôm dai đanh, gạch đầu giữ nguyên béo ngậy, nước xốt sánh dẻo tự nhiên nhờ cơm nếp chín men chứ không phải thứ sánh nhớt do quấy bột năng của mấy quán làm ẩu. Cái quý nhất là vị chua ngọt dịu dàng, nồng thơm hương riềng ớt tự nhiên của đất trời, tuyệt đối không bị cái vị chua xé cổ của giấm công nghiệp hay lạm dụng mì chính, chất điều vị đánh lừa đầu lưỡi.”

Bà Bình khẽ mỉm cười, nụ cười làm giãn những nếp nhăn nơi khóe mắt người đàn bà cả đời gắn bó với đất đai và sông nước:

“Bà khen cho cái tính nhẫn nại của cháu. Hai tuần qua, giữ cho hũ tôm không bị nhiễm nước lã, không sốt ruột mượn nhiệt bếp than sưởi ấm để kích chua mau, đó là cái tâm của người làm bếp biết kính trọng tự nhiên. Mệ Lành ngày xưa muối tôm cũng y chang cái vị ni: mặn vừa, ngọt đằm, chua thanh và thơm ngát hương riềng đồi. Cháu làm được mẻ tôm ni coi như đã thấu được một nửa cái nếp ăn nếp ở của người dân xứ Huế rồi đó.”

Nghe những lời nhận xét chân tình ấy, tảng đá đè nặng trong lồng ngực My suốt hai tuần qua như được nhấc bổng. Cô thở phào một hơi nhẹ nhõm, khóe mắt cay cay vì xúc động. Suốt nửa tháng trời ròng rã, ngày nào cô cũng nín thở mở nắp vại sành kiểm tra từng bọt khí li ti, lo sợ một giọt mồ hôi rơi trúng hay một cơn gió ẩm lọt vào sẽ làm hỏng cả công sức của bao người. Giờ đây, nghe lời xác nhận từ chính miệng những người khắt khe nhất, cô mới biết mình đã không phụ lòng tin của mệ. Thiện ngồi bên cạnh khẽ mỉm cười, đưa mắt nhìn My với ánh mắt đầy vẻ khích lệ và tự hào kín đáo. Bàn tay anh dưới gầm bàn khẽ vỗ nhẹ lên mu bàn tay cô như một lời chia vui thầm lặng.

“Dạ, con đội ơn ông bà nhiều lắm,” My cúi đầu cảm tạ, giọng rưng rưng. “Nếu không có ông bà chỉ dạy tường tận từng công đoạn từ bến nước, từ cách chọn tôm đất đầm Cầu Hai đến tỷ lệ rượu làng Chuồn và nếp cái làm men, con chắc chắn sẽ hỏng mẻ tôm ni vì thói nôn nóng của mình.”

Bà Bình đứng dậy, bước vào chái bếp nhỏ phía sau rồi bưng ra một chiếc ấm đất nung bốc khói nghi ngút cùng bộ chén mắt trâu da lươn màu nâu sẫm. Khói chè xanh tươi rói nấu bằng nước giếng đá ong lan tỏa khắp gian nhà, mang theo vị chát ngọt ấm áp xua tan cái lạnh ẩm ướt của ngày đông bãi bồi.

Bà rót chè ra từng chén, thứ nước chè xanh sóng sánh màu mật ong nhạt, tỏa hương thơm ngái nồng của lá chè hái từ vùng đồi Truồi. Nước chè rót từ độ cao vừa phải tạo thành dòng nước óng ả, sủi bọt tăm trắng mịn quanh vành chén sành, tỏa ra hơi ấm len lỏi vào từng đầu ngón tay đang cóng lạnh vì sương sớm.

Ông Sáu nâng chén chè nóng trong hai lòng bàn tay thô ráp, thổi nhẹ làn khói mỏng rồi nhấp một ngụm nhỏ. Hương chè nóng dường như khơi dậy những tầng ký ức sâu thẳm trong tâm trí người nông dân già. Ánh mắt ông nhìn xa xăm ra vạt bãi bồi ven sông Hương, nơi những rặng tre ngà đang kẽo kẹt nghiêng mình theo gió, nơi dòng nước đỏ đục phù sa đang trôi lững lờ về phía hạ nguồn.

“Cháu ăn miếng tôm, miếng rau ghém ni, có thấy vị phù sa của dòng sông Hương trong đó không?” Ông Sáu bỗng trầm giọng hỏi.

My khẽ giật mình, rồi nghiêm túc ngẫm nghĩ: “Dạ, con cảm nhận được cái thanh ngọt của đất và nước bãi bồi. Cọng húng, đọt cải ở đây thơm đượm và dày lá hơn hẳn rau mua ở chợ phố. Nó có cái vị ngọt hậu rất sâu, nhai kỹ thấy nước ứa ra mát lịm cả chân răng.”

“Phải rồi cháu,” ông Sáu gật đầu, giọng ông chùng xuống, mang theo âm hưởng bùi ngùi của những năm tháng gian truân. “Đất bãi bồi Hương Long ni màu mỡ là nhờ phù sa sông Hương bồi đắp sau mỗi mùa lũ lụt. Nhưng cũng chính cái dòng sông hiền hòa thơ mộng nớ, có những năm nổi giận cướp đi tất cả mồ hôi nước mắt của cả một đời người.”

Bà Bình đặt chén chè xuống bàn, khẽ thở dài tiếp lời chồng, đôi mắt nhìn đăm đắm vào khoảng không mù sương ngoài bãi:

“Ấy là trận đại hồng thủy năm Thìn. Mưa trắng trời trắng đất suốt bảy ngày bảy đêm, nước từ thượng nguồn sông Hương đổ về cuồn cuộn như thác lũ. Tiếng nước gầm réo giữa đêm đen nghe kinh hoàng như tiếng thú dữ xé toạc màn mưa. Nước dâng ngập lút nóc nhà, cuốn trôi hết gà lợn, tài sản. Người ta phải khoét mái ngói chui lên đòn nóc ngồi ôm nhau run rẩy hứng từng ngọn gió buốt giá. Đến khi nước rút đi, cả vùng bãi bồi Hương Long ni trơ trọi một màu bùn đỏ quạch dày cả mét. Toàn bộ mấy mẫu rau thơm, xà lách, cải bẹ, hành ngò đang kỳ thu hoạch để bán vụ Tết của vợ chồng ông bà bị ngâm trong nước lũ dập nát, thối rữa hết trơn.”

Bà Bình run run lấy vạt áo bà ba lau giọt nước mắt chực trào nơi khóe mi. Ký ức về trận cuồng nộ của thiên nhiên dường như vẫn còn tươi nguyên như vừa mới xảy ra hôm qua.

Ông Sáu siết chặt chén chè trong tay, gân mu bàn tay nổi rõ:

“Năm nớ, vợ chồng ông bà vay mượn bạc triệu để đầu tư phân bón, hạt giống và mở rộng giàn tưới tiêu. Lũ rút đi, đứng trên bờ bãi nhìn cơ nghiệp trắng xóa bùn lầy, bà Bình ngồi thụp xuống mép nước mà khóc ngất, còn ông thì chết lặng không biết lấy chi mà trả nợ đại lý, lấy chi mà đong gạo nuôi mấy đứa con nhỏ dại. Giữa cảnh màn trời chiếu đất, nhiều nhà nông quanh đây cùng đường phải bỏ xứ đi làm thuê làm mướn. Ai nấy đều nghĩ đất bãi coi như chết trắng, năm đó chắc chắn cả làng phải chịu cảnh đứt bữa, chịu đói chịu rét qua mùa giáp hạt.”

“Rồi mệ Lành đã làm răng để giúp gia đình mình vậy ông?” My khẽ hỏi, lồng ngực thắt lại trước bức tranh khốc liệt của thiên tai miền Trung. Trong tâm trí cô, những mùa lũ ở Huế qua lời kể của bố Quang chỉ là những ngày nước ngập sân gạch, nhưng qua đôi mắt của người làm nông, đó là ranh giới mong manh giữa sự sinh tồn và bờ vực khánh kiệt.

Ánh mắt ông Sáu bỗng ấm áp lạ kỳ khi nhắc đến tên người bà quá cố của My:

“Hôm nước vừa rút khỏi bờ kiệt An Cựu, đường sá còn lầy lội ngập ngụa rác rưởi phù sa, thì mệ Lành đã xắn quần quá gối, chống chiếc gậy tre lội bộ hàng chục cây số từ trong nội thành ra tận bãi Hương Long ni tìm ông bà. Đôi chân trần của mệ lội qua bùn nhão tướt máu vì gai tre, chiếc nón lá rách tơi tả vì gió bão, nhưng đôi mắt mệ thì sáng quắc và kiên định vô cùng. Mệ không mang tiền bạc sang cho không, vì mệ biết người làm nông tụi ông nghèo thì nghèo thật nhưng lòng tự trọng với mảnh đất cao lắm, cho tiền cứu trợ họ sẽ tủi thân.”

Bà Bình rơm rớm nước mắt nhớ lại:

“Mệ Lành bước thẳng xuống bãi bùn, cùng ông bà lội bì bõm nhặt nhạnh từng luống rau còn sót lại. Mệ cúi lưng vạch từng bụi ngò gai, từng gốc húng lủi bị phù sa vùi lấp. Những luống rau thơm, cải dạt bị dập nát rễ, úa vàng vì ngâm nước lâu ngày, thương lái ở chợ Đông Ba chê ỏng chê eo không thèm ngó ngàng tới, mệ Lành bảo: ‘Rau dập lá ngoài nhưng cái gốc còn thơm, cái tim còn ngọt, bỏ đi là có tội với trời đất’. Thế là mệ đích thân lặn lội đến từng quán ăn, từng gánh bún bò, quán bánh khoái, tiệm cơm quen khắp nội thành Huế đứng ra gom đơn. Mệ dùng uy tín cả đời nấu nướng của mình để bảo lãnh với thương lái và chủ quán, cam kết chất lượng rau bãi bồi Hương Long rửa sạch qua ba nước vẫn là đệ nhất phong vị. Mệ gom từng mớ rau dạt, hướng dẫn người ta cắt tỉa làm dưa cải muối, làm rau ghém ăn kèm tôm chua thịt luộc, bảo lãnh thu mua toàn bộ số rau còn cứu vãn được của gia đình ông với giá công bằng.”

Bà Bình ngậm ngùi nói tiếp, giọng nghẹn lại:

“Không chỉ có rứa, mệ còn tự tay bỏ tiền túi ứng trước cho tụi ông mua hạt giống xà lách son, giống cải bẹ chịu úng để gieo trồng lại vụ mới, rồi mệ nhận bao tiêu hết toàn bộ sản lượng rau sạch khi thu hoạch. Mệ bảo: ‘Người làm bếp mà không biết quý người trồng rau, người mò tôm bắt cá, thì thức ăn nấu ra chỉ là đồ vô hồn’. Suốt mùa đông năm nớ, nhờ có mệ Lành, khói bếp nhà ông bà mới không bị tắt, mấy đứa nhỏ mới có tấm áo ấm mặc đón Tết.”

Chén chè trên tay My khẽ sóng sánh. Cô hình dung ra bóng dáng nhỏ bé của bà nội, người đàn bà góa bụa với manh áo bà ba cũ kỹ, kiên cường lội qua những bãi bùn lầy lội sau lũ dữ, dùng chính sự thấu hiểu sâu sắc về ẩm thực và các mối quan hệ nghĩa tình để bắc một chiếc cầu sinh kế cho những người nông dân cùng quẫn. Bà không làm từ thiện theo lối bố thí bề trên; bà trao cho họ một lối thoát bằng chính sức lao động và lòng tự tôn nghề nghiệp của họ. Sự tử tế của mệ Lành không nằm ở những lời đao to búa lớn, mà ẩn sâu trong từng gánh rau dạt được cứu vớt, từng mớ cải muối được trân trọng nâng niu.

“Nhờ có mệ Lành đứng ra bao tiêu và bảo lãnh thu mua suốt mấy tháng sau lũ năm nớ,” ông Sáu xúc động nói, “vợ chồng ông mới có tiền trả dứt nợ phân giống, có vốn mua lại cây giống mới để phục hồi những luống rau bãi bồi như cháu thấy ngày hôm nay. Ơn nghĩa nớ của mệ Lành, cả đời vợ chồng ông bà khắc cốt ghi tâm, không bao giờ dám quên. Mấy chục năm qua, dù có bao nhiêu lái buôn từ Đà Nẵng, Sài Gòn ra trả giá cao để gom rau sạch của ông bà, ông bà vẫn luôn dành riêng những luống rau ngon nhất, tươi nhất cho chái bếp của mệ Lành.”

Bà Bình với tay nắm lấy bàn tay My, những ngón tay gầy gò ấm áp truyền sang cô một luồng sinh khí dịu dàng:

“Bởi rứa, nghe tin cháu về giữ lại căn nhà rường và muốn mở Bếp Của Bà để nối nghiệp mệ, ông bà mừng lắm mà cũng lo thắt ruột. Ông bà lo là vì thấy cháu là con gái thành thị, quen nhịp sống gấp gáp, làm việc chi cũng tính bằng số liệu, bằng tốc độ. Cháu ơi, ẩm thực xứ Huế mình quý nhất ở sự tinh tế và vừa vặn. Cái chữ ‘vừa vặn’ ni, học cả đời chưa chắc đã xong mô cháu.”

My chăm chú lắng nghe, nhận ra đây chính là bài học cốt lõi mà người phụ nữ bãi bồi từng trải muốn truyền trao cho mình. Chữ “vừa vặn” nghe sao mà giản dị, nhưng đằng sau nó là cả một triết lý nhân sinh sâu sắc của vùng đất cố đô.

“Cháu định mở bếp ăn đón khách, đó là cái tâm tốt để giữ căn nhà cổ,” bà Bình ôn tồn khuyên nhủ. “Nhưng cháu chớ có tham lam mà ôm đồm quá nhiều món trong một ngày, cũng đừng ham đón khách ồ ạt để lấy doanh số lớn. Người Huế ăn uống thanh cảnh, một bữa ăn ngon không phải ở chỗ ê hề mâm cao cỗ đầy, mà ở chỗ từng món dọn ra đều đạt tới độ tinh tế cao nhất, từ ngọn rau ghém hái đúng độ sương, con tôm chua ủ đủ ngày đến miếng thịt luộc canh đúng độ lửa.”

Bà Bình khẽ thở dài, ánh mắt đầy vẻ từng trải:

“Nếu cháu tham bát bỏ mâm, đưa vào thực đơn năm mười món, đón mỗi ngày dăm bảy chục lượt khách, thì gian bếp của mệ Lành sẽ biến thành một cái xưởng gia công công nghiệp. Cháu sẽ phải thuê người làm ẩu, phải mua rau chợ trôi nổi ép giá rẻ, phải dùng giấm công nghiệp kích chua cho tôm mau chín để kịp bán. Khi ấy, sự chăm sóc chân thành sẽ biến thành việc vắt kiệt sức lực của chính cháu và những người đồng hành. Thức ăn nấu ra trong sự mệt mỏi, cáu bẳn và vội vã thì dù nêm nếm khéo mấy cũng chỉ mang theo năng lượng nặng nề, khách ăn vào răng mà cảm nhận được sự an lành cho đặng?”

Lời dặn dò mộc mạc mà sâu sắc của bà Bình như một hồi chuông gióng thẳng vào tâm trí My, làm thức tỉnh những ngộ nhận vô thức mà cô từng mang theo từ môi trường tiếp thị thương mại Sài Gòn.

Suốt nhiều năm qua ở công ty Sao Nam, đầu óc My luôn bị ám ảnh bởi các chỉ số tăng trưởng: KPI, tỷ lệ chuyển đổi, độ phủ thị trường, tối ưu hóa quy mô để giảm chi phí biên. Khi bắt tay vào lập đề án tài chính cho “Bếp Của Bà” nhằm chứng minh tính khả thi trước chú Vinh và bố Quang, phản xạ tự nhiên của một người làm marketing chuyên nghiệp đã thôi thúc cô vẽ ra một bảng tính chi tiết với số lượng bàn tối đa, danh mục mười hai món ăn phong phú để chiều chuộng mọi đối tượng thực khách, và các kịch bản xoay vòng bàn liên tục nhằm đạt doanh thu cao nhất để sớm hoàn vốn 155 triệu đồng sửa nhà và trích trả nợ viện phí.

Nhưng My đã quên mất một điều tối quan trọng: căn bếp của bà nội không phải là một chuỗi nhà hàng thức ăn nhanh.

Nếu cô biến chái bếp rêu phong thành một dây chuyền sản xuất gấp gáp, nếu cô buộc Thảo Vy phải nhồi hàng nghìn chiếc bánh nậm mỗi ngày bằng bột pha tạp, buộc Thiện phải gánh gồng những đơn hàng vội vã, và biến chính mình thành một cỗ máy điều hành kiệt quệ như những ngày tháng tăng ca ở văn phòng máy lạnh, thì căn nhà rường cổ kính kia dẫu có giữ lại được về mặt thể xác cũng đã chết đi về mặt linh hồn. Đó tuyệt đối không phải là điều mệ Lành mong muốn khi để lại cuốn sổ tay mười hai món ăn tạ ơn đời.

Món ăn của Mệ Lành không đơn thuần là calo hay dinh dưỡng nạp vào cơ thể; đó là sự an trú, là liều thuốc xoa dịu tâm hồn sau những thăng trầm bão giông. Muốn trao đi sự an lành, người đứng bếp trước hết phải an lành. Muốn thức ăn đượm đà, người nấu phải có đủ thời gian để gửi gắm ân tình vào từng thao tác nhặt rau, nhóm lửa.

Sự kiên nhẫn mười bốn ngày đêm chờ một hũ tôm ngấu men tự nhiên, sự tỉ mỉ gọt từng quả vả non không để thâm nhựa, sự nhẫn nại canh từng đốm than đước cho nồi nước dùng trong vắt... tất cả những điều tinh túy ấy đòi hỏi một không gian tĩnh lặng, một nhịp độ khoan thai và một giới hạn nghiêm ngặt về quy mô. Cái đẹp của ẩm thực Huế là cái đẹp của sự chừng mực, biết dừng lại ở mức vừa đủ để mọi phong vị đạt đến đỉnh cao của sự thăng hoa.

My hít một hơi thật sâu, cảm nhận luồng không khí trong lành của bãi bồi Hương Long tràn ngập lồng ngực. Từng mạch máu trong cơ thể như được thanh lọc, cuốn trôi đi những toan tính thực dụng, những con số khô khan đã bóp nghẹt tâm hồn cô bấy lâu nay. Cô nhìn thẳng vào mắt bà Bình, giọng nói vang lên dõng dạc và chắc chắn:

“Bà dạy chí phải ạ. Suốt thời gian qua, con vẫn bị cái tư duy công nghiệp đè nặng mà không tự nhận ra. Con cứ nghĩ phải mở thật lớn, phục vụ thật nhiều món thì mới chứng minh được căn bếp sống được. Nhưng con quên mất rằng, điều giữ chân người ta lại với căn bếp của bà nội chính là sự chăm sóc tỉ mỉ trong từng chi tiết nhỏ nhất. Con xin nhận lời răn dạy ni của ông bà.”

My với lấy chiếc túi vải mang bên mình, cẩn thận rút cuốn sổ tay bìa bọc vải hoa nhí của mệ Lành cùng tập tài liệu đề án kinh doanh mà cô đã dày công soạn thảo. Trước mặt vợ chồng ông bà Sáu Bình và Thiện, My cầm cây bút mực, dứt khoát gạch bỏ bảng phân bổ phục vụ năm mươi khách mỗi ngày cùng danh mục thực đơn dài dằng dặc mười hai món.

Động tác gạch bỏ dứt khoát ấy như một sự đoạn tuyệt với quán tính tư duy cũ. Dưới ánh nhìn ấm áp của Thiện, My nắn nót viết lại những nguyên tắc vận hành cốt lõi mới cho Bếp Của Bà:

*Thứ nhất: Tự giới hạn quy mô.* Bếp Của Bà chỉ phục vụ tối đa ba mươi suất ăn mỗi ngày, chia làm hai cữ trưa và tối, bắt buộc khách phải đặt chỗ trước ít nhất hai mươi bốn giờ để người nấu có đủ thời gian chuẩn bị nguyên liệu tươi ngon nhất và giữ được sự an nhiên, thảnh thơi trong tâm trí khi chế biến. Không nhận khách vãng lai ồ ạt, không cơi nới bàn ghế làm mất đi không gian thanh tịnh của ngôi nhà rường cổ.

*Thứ hai: Thực đơn xoay vòng theo mùa tự nhiên.* Tuyệt đối không phục vụ tràn lan toàn bộ mười hai món ăn cùng một lúc. Thực đơn sẽ biến chuyển nhịp nhàng theo mùa vụ của đất trời xứ Huế: Mùa cạn nước ngọt sông Hương sẽ có cá bống thệ kho tiêu ba lửa ăn kèm cơm gạo đỏ; mùa lũ bãi bồi khan hiếm rau thơm sẽ chuyển sang các món dưa kiệu, mít non, vả chát kho hoặc nấu canh tôm rảo; mùa đông rét mướt sẽ ấm nồng với tôm chua thịt luộc, bánh nậm nóng hổi và chè bột lọc heo quay; mùa sen hồ Tịnh Tâm hé nở sẽ thanh tao với bát chè hạt sen long nhãn. Mỗi thời điểm chỉ phục vụ một mâm cơm cố định gồm ba món chính và một món tráng miệng, để từng món ăn khi dọn lên đều đạt tới độ toàn bích nhất.

*Thứ ba: Tôn trọng tính chu kỳ của đất trời.* Người làm bếp phải thuận theo tự nhiên thay vì ép tự nhiên phục vụ lòng tham của mình. Hết mùa rau nào thì ngừng món đó, không dùng thực phẩm trái mùa nuôi trồng bằng hóa chất. Giữ mối liên kết hữu cơ, công bằng và gắn bó thủy chung với những người nông dân cung ứng nguyên liệu.

Nhìn những dòng chữ nắn nót, kiên định của My trên trang giấy, nét mặt ông Sáu Bình giãn ra một nụ cười sảng khoái. Ông vỗ đùi đánh đét một tiếng:

“Khá lắm! Biết dừng lại đúng lúc, biết tự đặt ra giới hạn cho lòng tham, nớ mới thực sự là cái cốt cách của người nấu ăn xứ Huế! Một căn bếp nhỏ mà giữ được cái tâm trong sạch, thức ăn làm ra thơm thảo từ gốc rễ, thì tiếng lành tự khắc đồn xa, không cần phét lác quảng cáo người ta cũng tìm tới tận kiệt mà xin một chỗ ngồi. Cháu đã nghĩ được như rứa thì mệ Lành dưới suối vàng chắc chắn đang mỉm cười hài lòng về đứa cháu gái của mình rồi đó.”

Bà Bình mỉm cười gật đầu, đứng dậy bước vào chiếc tủ gỗ lim con góc nhà, lấy ra một tờ giấy hoa râm đã kẻ sẵn dòng và một lọ mực tím:

“Đã rứa thì hôm ni, vợ chồng ông bà cũng xin làm một việc rõ ràng sòng phẳng với cháu. Mệ Lành ngày xưa dạy tụi ông: Nghĩa tình là để trong tim, nhưng làm ăn buôn bán thì phải minh bạch trên giấy trắng mực đen mới bền chặt được. Có giấy trắng mực đen thì hai bên mới cùng nhau giữ gìn chữ tín, không sợ cảnh dời đổi khi gặp lúc khó khăn.”

Trước sự chứng kiến của Thiện, bốn người quây quần bên chiếc bàn gỗ mít ấm cúng, cùng nhau soạn thảo và ký kết Bản ghi nhớ cung ứng nông sản an toàn theo mùa giữa vườn rau bãi bồi Hương Long của vợ chồng Sáu Bình và Bếp Của Bà.

Bản thỏa thuận ghi rõ: Gia đình ông Sáu Bình cam kết dành riêng hai sào đất bãi bồi ven sông Hương để canh tác hoàn toàn tự nhiên các loại rau thơm truyền thống xứ Huế (húng quế, kinh giới, rau răm, tía tô, cải bẹ, ngò rí), cùng nguồn vả non, chuối chát, khế ngọt và ớt chỉ thiên tươi ngon nhất để cung cấp độc quyền cho Bếp Của Bà theo từng chu kỳ mùa vụ. Đất trồng tuyệt đối không dùng thuốc trừ sâu hóa học hay phân bón kích thích tăng trưởng, chỉ bón lót bằng phù sa sông Hương và ủ phân hữu cơ hoai mục.

Ngược lại, Bếp Của Bà cam kết thu mua với mức giá công bằng, ổn định quanh năm cao hơn giá thương lái chợ sỉ mười lăm phần trăm, tuyệt đối không ép giá khi được mùa và có cơ chế chia sẻ rủi ro tài chính hỗ trợ gia đình tái thiết hạt giống nếu chẳng may gặp thiên tai bão lũ.

Nét chữ ký dứt khoát của My đặt cạnh chữ ký chân chất bằng mực tím của ông Sáu Bình và bà Bình. Đó không chỉ là một văn bản kinh tế thuần túy; đó là một mắt xích bền vững tiếp theo trong mạng lưới sinh kế công bằng mà My đang dày công kiến tạo cho căn bếp nhỏ của bà nội—sau dì Mến chợ Đông Ba với gừng sẻ Kim Long, Đỗ Thanh Tâm với tôm đầm Cầu Hai, và Thảo Vy với nghề bánh nậm truyền thống. Một mạng lưới được đan cài bằng lòng tin, sự trân trọng giá trị bản địa và mối thâm tình keo sơn qua nhiều thế hệ.

Khi hai bên gấp lại bản giao ước, bà Bình khẽ vỗ vai My rồi chỉ tay ra góc vườn sau nhà:

“Cháu theo bà ra đây một lát.”

My bước theo bà Bình ra khoảng vườn nhỏ rực rỡ nắng đông. Đất vườn dưới chân xốp mềm, từng luống cải bẹ xanh mướt mọng nước tỏa hương hăng nồng sảng khoái. Những giọt sương mai đọng trên kẽ lá long lanh như những hạt ngọc dưới ánh mặt trời rạng rỡ. Ở góc vườn sát mép rào dâm bụt, nơi được che chắn cẩn thận bằng phên nứa tránh gió bấc, bà Bình cẩn thận cúi xuống, nhấc một chiếc bầu ươm bằng lá chuối khô bọc đất màu mỡ. Bên trong chiếc bầu là một cây giống khế ngọt cao chừng hai gang tay, thân cây mập mạp, cành lá xanh non mơn mởn tràn đầy sức sống.

“Cây giống khế ngọt bản địa ni là giống khế cổ của đất Hương Long, quả mọng nước, vị ngọt thanh mà giòn tan, lá nấu canh chua cá bống hay hoa rụng làm thuốc đều quý,” bà Bình trao bầu cây vào hai bàn tay My, ánh mắt chan chứa tình thương. “Bà tặng cháu đem về trồng vào góc sân gạch căn nhà rường kiệt An Cựu. Cây khế của mệ Lành ngày xưa già cỗi rồi, trồng thêm cây khế non ni xuống đất, để nó bén rễ, đâm chồi, ra hoa kết trái. Cây cối trong vườn có xanh tươi tiếp nối thì căn bếp mới ấm áp đời đời.”

My ôm bầu cây non áp vào ngực áo, nghe mùi đất ẩm nồng nàn thơm ngát xộc vào sống mũi, sống mũi cay xè vì một niềm xúc động thiêng liêng khó tả:

“Dạ, con xin nhận món quà quý giá ni của bà. Con sẽ chăm bón cho cây lớn thật xanh tốt nơi góc sân của mệ, để mai sau mỗi mùa quả ngọt, con lại nhớ về bài học vừa vặn mà ông bà đã dạy cho con hôm nay.”

Bà Bình hiền hậu xoa đầu My: “Tốt lắm cháu. Đất An Cựu lành lắm, có bàn tay thơm thảo của cháu chăm sóc, cây khế ni nhất định sẽ đơm hoa kết trái sum suê.”

Bữa trưa hôm ấy trôi qua trong tiếng cười nói rộn rã, ấm cúng bên chiếc mâm đồng mắt cua. Đĩa thịt ba chỉ luộc trắng giòn, bát tôm chua đỏ au và mẹt rau ghém bãi bồi đã được bốn người ăn hết sạch sành sanh, không sót lại dù chỉ một cọng rau thơm. Ông Sáu ăn liền một lúc ba bát cơm gạo đỏ với nước xốt tôm chua sánh keo, tấm tắc khen không ngớt. Vị ngon thanh sạch của đất trời và lòng người như hòa quyện làm một, đọng lại dư vị ngọt ngào khôn xiết, xua tan hoàn toàn cái giá rét buốt lạnh của mùa đông xứ Huế.

Đầu giờ chiều, trời hửng nắng vàng óng ả trên những ngọn tre ven sông. Mây xám tản dần nhường chỗ cho khoảng trời xanh biếc phản chiếu lấp lánh trên mặt sông Hương phẳng lặng như gương. My và Thiện chào tạm biệt vợ chồng ông bà Sáu Bình để đạp xe trở về kiệt An Cựu. Chiếc giỏ xe cẩn thận chở theo bầu cây giống khế ngọt được chằng buộc kỹ càng bằng lạt giang, cùng hai hũ tôm chua trứ danh mà bà Bình nhất quyết biếu thêm để My dùng thử nghiệm thực đơn.

Bánh xe lạo xạo lăn trên con đường làng rải đá dăm uốn lượn ven sông Hương. Gió đông thổi tung mái tóc My, mang theo hơi thở mát rượi của dòng nước xanh trong và hương thơm dìu dịu của hoa ngô nở muộn. Ngồi sau tay lái vững chãi của Thiện, My thấy lòng mình nhẹ bẫng, thanh thản và bình yên đến lạ lùng. Cô không còn cảm giác hoang mang, sợ hãi trước thời hạn sáu tuần hay những gánh nặng nợ nần của gia đình nữa. Mỗi bước đi, mỗi món ăn hoàn thành đều đang mở ra trước mắt cô một con đường sáng tỏ—con đường được dệt nên bằng sự chân thành, lòng nhẫn nại và sự đùm bọc thầm lặng của cả một cộng đồng tình nghĩa.

“Em có mệt không?” Thiện khẽ nghiêng đầu hỏi, nhịp đạp xe vẫn đều đặn và nhịp nhàng.

“Dạ không, em thấy khỏe khoắn và nhẹ nhõm lắm anh Thiện ạ,” My mỉm cười, tựa nhẹ trán vào lưng áo ấm áp của anh. “Em nhận ra ẩm thực không phải là cuộc đua giành thị phần. Nó là một sự sẻ chia bình dị. Khi mình không còn tham lam, tự khắc mọi thứ sẽ trở nên rõ ràng và thanh thản.”

Thiện khẽ cười, tiếng cười trầm ấm hòa vào tiếng gió sông: “Mệ Lành ngày xưa cũng từng nói với anh y như rứa. Nấu ăn là để kết nối lòng người, chứ không phải để tranh đoạt danh lợi. Em đã thực sự hiểu được mệ rồi đó.”

Về đến căn nhà rường cổ kính ở kiệt An Cựu, nắng chiều đã nhuộm vàng những mái ngói liệt rêu phong và những chậu kiểng xanh tốt trước hiên. My cẩn thận cùng Thiện xách chiếc cuốc nhỏ ra góc sân gạch, dưới bóng mát của giàn hoa thiên lý. Hai người tỉ mẩn đào một hố đất nhỏ sâu chừng hai gang tay, nhặt sạch những mảnh gạch vụn và sỏi đá. My nhẹ nhàng bóc lớp lá chuối khô quanh bầu cây khế ngọt, đặt bộ rễ non còn bọc đất phù sa nguyên vẹn xuống lòng đất mẹ. Cô cùng Thiện vun lớp đất phù sa tơi xốp xung quanh gốc cây, dùng tay nén nhẹ đất để giữ cho thân cây đứng thẳng tắp.

Xong xuôi, My múc một gáo nước giếng trong vắt tưới đều quanh gốc. Từng giọt nước mát lành thấm sâu vào lòng đất, làm mầm lá non rung rinh trong nắng chiều đông như một lời chào mừng sự hồi sinh của chốn này. Cây khế non đứng đó, khiêm nhường nhưng tràn đầy sức sống mới, hứa hẹn những mùa hoa tím biếc và những chùm quả mọng ngọt ngào che mát góc sân trong những năm tháng tương lai.

Rửa sạch đôi tay dính đất phù sa bằng gáo nước giếng mát lạnh, My bước từng bước chậm rãi vào gian giữa nhà rường. Không gian bên trong tĩnh mịch, thoang thoảng mùi gỗ kiền kiền và mùi hoa cúc vàng cắm trên bàn thờ. Cô rút ba nén nhang trầm thơm ngát, châm lửa rồi cắm trang trọng lên bát hương cổ trên bàn thờ tổ tiên. My kính cẩn nghiêng mình trước di ảnh của bà Lành. Trong bức ảnh đen trắng đã ngả màu, mệ Lành mỉm cười đôn hậu, ánh mắt hiền từ như đang dõi theo từng bước trưởng thành của đứa cháu gái nhỏ.

Làn khói trầm uốn lượn mềm mại bay lên khung xà gồ gỗ kiền kiền, phảng phất như nụ cười bao dung, hiền hậu của người bà đang sưởi ấm toàn bộ không gian căn nhà cổ. My thầm thì trong tâm tưởng: *Mệ ơi, con đã hiểu bài học về sự vừa vặn của mệ rồi. Con sẽ không để lòng tham làm vẩn đục gian bếp của mệ đâu.*

My ngồi xuống chiếc phản gỗ lim quen thuộc, trân trọng mở cuốn sổ tay bìa hoa nhí ra đặt lên mặt bàn. Ánh nắng chiều xiên qua ô cửa sổ con chấn song gỗ, rọi lên những trang giấy úa vàng thấm đẫm vết dầu mỡ và dấu vết thời gian của mệ.

Trang thứ mười với dòng chữ nắn nót về món tôm chua thịt ba chỉ luộc dành cho vợ chồng Sáu Bình đã được My cẩn thận dùng bút mực tím đánh dấu một dấu tích tròn trĩnh, trọn vẹn, khép lại món ăn thứ mười trong hành trình di nguyện với tất cả sự kính trọng và biết ơn sâu sắc.

Chỉ còn hai món ăn nữa thôi. Thời hạn ngày hai mươi tháng Chạp đang đến gần, nhưng tâm hồn My lúc này vững chãi như một tảng đá ngầm dưới đáy sông Hương. Không còn chút dao động, không còn chút hoài nghi, trong lòng cô chỉ tràn ngập niềm tin vững chắc vào con đường mình đã chọn.

Bàn tay cô khẽ lật sang trang giấy tiếp theo ố vàng màu thời gian.

Trang sổ thứ mười một viết: Xôi đậu xanh cho Châu ở thư viện - hạt nếp đồ hai lửa mới dẻo thơm trọn vẹn.

Chương này thế nào?Đánh giá giúp Readeep đề xuất đúng hơn cho bạn