Chiếc két không có di sản
Mảnh giấy nhắn gấp vội ghi địa chỉ một tiệm đóng khung tranh nhỏ ở dốc đá Robin, những con chữ nguệch ngoạc bằng mực bút bi xanh đã hơi nhòe đi vì mồ hôi ngón tay, nhưng trước khi Nam và Châu kịp rời đi, Tường Vân đã kéo họ về phía góc tường sảnh chính.
Bàn tay người phụ nữ siết chặt lấy cổ tay áo khoác của Nam. Những ngón tay gầy guộc, chai sần vì nhiều năm tiếp xúc với dung môi hữu cơ, dầu thông, cồn công nghiệp và các góc cạnh thô ráp của vóc gỗ run lên bần bật, nhưng lực giữ lại cứng như gọng kìm sắt nguội. Gương mặt bà dưới ánh sáng trắng rọi thẳng từ vòm cửa thứ mười ba dường như mất hết sắc máu, chỉ còn lại đôi mắt sau cặp kính đồi mồi đang bốc lên một ngọn lửa cuồng nhiệt, nhức nhối và quẫn bách đến nghẹt thở. Cổ áo măng-tô sờn mép của bà dựng đứng, dính vài vệt bụi vôi mục rơi xuống từ trần thạch cao nứt nẻ của gian phòng khánh tiết.
— Khoan đã. Chưa thể đi gặp cậu ta vội được, — giọng Vân khàn đặc, vỡ ra từng chặng ngắn giữa tiếng gió thông rít qua các khe nẹp gỗ ngoài hành lang hun hút. Hơi thở bà dồn dập, phả ra từng luồng khói mỏng manh rồi tan biến ngay vào bầu không khí buốt giá đặc trưng của vùng cao nguyên lúc sáng sớm. — Thằng Huy chỉ là kẻ giữ đồ thuê. Bức tranh nằm trong tay nó, nhưng cội nguồn sự thật của mẹ tôi... sự đền bù mà ông Diệp buộc phải trả lại cho danh dự của bà An... nằm ở ngay sau bức vách này!
Châu khựng lại giữa sảnh, gót giày da gõ một tiếng khô khốc trên nền gạch bông cổ điển. Đôi mày thanh tú chau chặt, bàn tay cô vừa nhét vội mẩu giấy kẻ ô ly đẫm mồ hôi của Mai Quốc Huy vào túi áo gi-lê bảo tồn liền rút ra, các ngón tay siết lại quanh quai đeo túi đồ nghề quang học:
— Cô Vân, Huy đang trốn ở lán cưa bìa rừng Cam Ly. Bọn người của Lam Thành đã phong tỏa các ngả đường xuống đèo từ nửa đêm qua. Nếu chúng ta không đến trước khi xe của Phạm Đức Lâm lùng ra cậu ta, bức tranh thứ mười ba sẽ bị tẩu tán hoặc tiêu hủy vĩnh viễn! Chúng ta đâu thể nấn ná thêm một phút nào giữa căn nhà hoang phế này?
— Cô không hiểu! Các người làm sao hiểu được suốt bốn mươi năm qua mẹ tôi đã phải sống như thế nào! — Tường Vân gắt lên, thanh âm nghẹn ứ nơi cuống họng như thể bị chẹn lại bởi lớp lớp tro tàn dĩ vãng. Lực kéo từ cánh tay khẳng khiu của bà bất ngờ mạnh đến mức khiến cả Nam và Châu phải dạt về phía góc tối. — Mẹ tôi không chết vì bệnh tật tầm thường! Bà chết mòn trong một xưởng vóc ẩm thấp tồi tàn bên bờ sông Sài Gòn, hai bàn tay rụng hết móng vì nhựa sơn ăn loét đến tận xương tủy, trong khi tên tuổi của Trương Diệp được khắc bằng chữ mạ vàng trên các pa-nô triển lãm Paris, Tokyo! Các người nghĩ tôi đuổi theo những tấm vóc này chỉ vì mấy đồng bạc lẻ của giới buôn đồ cổ sao?
Bà lôi mạnh cả hai người về phía bức vách ốp gỗ thông ba lá nằm nép mình trong góc khuất nhất của ô cửa vòm thứ mười ba.
Nơi đây là điểm giao thoa kỳ lạ giữa bóng râm u tịch của trụ đá chịu lực bằng đá hoa cương chẻ thô và luồng sáng trắng gay gắt rọi chéo xuống từ đỉnh vòm kính vỡ lở dở. Bức vách gỗ gồm những nan thông bản rộng mười lăm centimet ghép mộng âm dương tinh xảo, phủ một lớp véc-ni mờ đã ngả sang màu hổ phách sẫm do thời gian, bụi than sưởi và hơi ẩm lưu cữu hàng chục mùa mưa cao nguyên. Bề ngoài, nó chỉ như một mảng tường trang trí nội thất mang phong cách kiến trúc Đông Dương kết hợp Art Deco thập niên ba mươi, hoàn toàn đồng nhất với các mảng ốp quanh phòng khánh tiết rộng lớn, nơi từng tiếp đón những phái đoàn văn hóa và những nhà sưu tập sành sỏi nửa thế kỷ trước.
Thế nhưng, Tường Vân không hề nhìn ngắm những đường vân gỗ thông uốn lượn như sóng nước. Đôi mắt bà găm chặt vào đường chỉ nẹp chân tường phủ lớp sơn then mỏng. Đốt ngón tay bà trắng bệch vì gồng sức. Bà quỳ sụp xuống nền gạch bông cũ bám đầy bụi vôi mục và lá thông khô, không bận tâm đến lớp vải quần măng-tô đang cọ sát vào nền đất ráp buốt. Dùng đầu ngón tay cái chai sạn miết mạnh dọc theo khe mộng thứ tư tính từ mép trụ đá hoa cương, bà ấn sâu vào một điểm gờ chìm gần như vô hình.
*Cạch.*
Một tiếng lẫy cơ khí khô khốc vang lên từ sâu bên trong thớ gỗ, đanh gọn và dứt khoát như tiếng búa súng gõ vào buồng đạn. Đoạn nan thông ở tầm ngang thắt lưng bật hé ra chừng hai phân, để lộ một khoảng rỗng sâu hoắm sau lớp tường gạch đôi dày bốn mươi phân trát vữa vôi mật mía.
Nam tiến lại gần nửa bước, một tay đặt nhẹ lên vai Châu để cô không cản trở Vân, ánh mắt anh lập tức nheo lại quan sát từng chi tiết kỹ thuật của cơ cấu ẩn. Không hề có dấu vết của việc đục đẽo chắp vá hay cải tạo vội vã trong những năm sau chiến tranh. Các mép gạch thẻ màu đỏ sẫm được trát vữa xi măng mác cao láng mịn, phẳng lì và sắc cạnh như thể đã được chừa sẵn từ bản vẽ kiến trúc ban đầu của kiến trúc sư người Pháp thiết kế tòa nhà. Không gian ẩn được tính toán cẩn mật nhằm triệt tiêu hoàn toàn sự truyền âm và chênh lệch nhiệt độ.
Và ngự trị ở khoảng trống trung tâm là một khối kim loại hình hộp vuông vức màu xám chì, bề mặt sơn tĩnh điện dày dặn đã sủi bọt rỉ sét li ti ở bốn góc mép: một chiếc két sắt gia đình hiệu Fichet-Bauche cổ điển, loại ổ khóa cơ học phối hợp bốn vòng đĩa số cùng một tay vặn đúc bằng đồng thau nặng trịch, mang dấu ấn công nghiệp châu Âu đầu thế kỷ hai mươi.
— Mẹ tôi... trước khi rời khỏi căn biệt thự này vào mùa đông năm 1982, bà đã tận mắt chứng kiến ông Diệp cho thợ nề xây bọc chiếc két này vào tim tường, — Tường Vân thì thầm, hai bờ môi mỏng mấp máy, hơi thở phả ra làn khói mờ trong cái lạnh buốt thấu xương của sảnh đường bỏ hoang. Đôi vai bà run lên từng chặp, những ký ức chôn giấu dường như đang cào xé lồng ngực. — Đó là một đêm mưa tuyết hiếm hoi ở Đà Lạt, cả ngôi nhà chìm trong mùi dầu hỏa và khói thông. Ông ta từng thề thốt trước mặt bà rằng, mọi danh vị triển lãm ở thủ đô, mọi bản hợp đồng hoa hồng bán tranh với các nhà bảo trợ ngoại quốc chỉ là bức bình phong để bảo vệ sự nghiệp của ông ta trước búa rìu dư luận thời bao cấp. Ông ta bảo rằng giá trị thực sự, những khế ước tài sản, cổ phần quỹ và văn tự đền bù cho công sức mười năm làm vóc của xưởng thợ sẽ được ông ta cất kín ở đây, dành riêng cho mẹ con tôi khi thời cuộc yên ổn!
Bà ngước nhìn lên Nam, ánh mắt vừa như cầu khẩn sự đồng tình, vừa như thách thức toàn bộ trật tự mà anh và Châu đang đại diện:
— Ông ta đã giấu tất cả những gì mẹ tôi xứng đáng được hưởng vào đây. Tên tuổi của bà trên giấy tờ pháp lý! Quyền sở hữu tài sản! Một sự đền bù sòng phẳng mà một người thợ thủ công nghèo khó không bao giờ đòi được từ tay một danh họa quốc gia!
— Cô tính mở nó bằng cách nào? — Nam hỏi, giọng anh trầm tĩnh, từng lời nhả ra đều đặn để giữ cho bầu không khí không bùng nổ, nhưng ánh mắt sắc sảo của một chuyên gia giám định không hề rời khỏi dãy số khắc mờ trên đĩa xoay đồng thau đã xỉn màu ten đồng.
Tường Vân run rẩy rút từ trong túi áo măng-tô ra cuốn sổ tay bìa bọc vải thô cũ kỹ—cuốn sổ có mép giấy sờn rách, nẹp góc bằng đồng đã biến dạng, thứ tín vật bà luôn mang bên mình như chiếc bùa hộ mệnh qua bao nhiêu chặng đường bôn ba từ Nam chí Bắc. Những trang giấy kẻ dòng màu vàng ố chi chít các con số được tính toán bằng mực tím, gạch xóa rồi cộng trừ qua hàng chục năm ròng rã. Có những trang mực nhòe nhoẹt vì nước mưa hoặc nước mắt, có những dòng ghi chú vội vã tại các thư viện lưu trữ mỹ thuật ở Hà Nội hay trung tâm tư liệu ở Sài Gòn.
— Tôi đã nghiên cứu toàn bộ danh mục xuất bản các tác phẩm của ông Diệp, — Vân nói, giọng run rẩy nhưng chứa đựng một vẻ xác tín tuyệt đối đến mù quáng. Ngón tay trỏ chai cứng của bà đặt lên núm vặn kim loại lạnh ngắt của ổ khóa Fichet-Bauche. — Trật tự triển lãm chính thức được Nhà xuất bản Mỹ thuật in năm 1990, bản in có dấu nổi của Cục Mỹ thuật: Bức số một là *Khởi sinh*, đại diện cho chu kỳ khai mở, ứng với số năm xuất bản 1978. Bức thứ hai là *Phố rêu*, số thứ tự 02. Bức thứ ba là *Thương cảng*, số thứ tự 03... Dãy số kết hợp các mã định danh danh mục triển lãm từ một đến mười hai chính là chuỗi mã vòng xoay! Tôi đã đối chiếu tọa độ này suốt mười lăm năm qua. Hai mươi mốt vòng sang phải... ba mươi bảy vòng sang trái... mười tám... và bốn mươi chín!
Bà bắt đầu xoay đĩa số.
Những tiếng *tách... tách... tách* cơ khí vang lên đanh gọn, lạnh lùng, dội ngược vào vách tường gạch rỗng như tiếng đồng hồ đếm ngược giữa một hầm mộ. Từng vòng xoay là sự tích tụ của hàng vạn giờ dằn vặt, của những đêm thức trắng trong căn gác xép ngột ngạt mùi dầu chuối và bột màu, nơi người đàn bà này tự giam mình trong nỗi thù hận truyền đời.
Nam đứng sững phía sau, lặng lẽ quan sát từng chuyển động của đĩa số và ánh mắt thất thần của Vân. Trái tim anh dâng lên một nỗi bất an sâu sắc xen lẫn niềm xót xa khôn tả. Dãy số mà Tường Vân đang dùng để thao tác—những con số hai mươi mốt, ba mươi bảy, mười tám—hoàn toàn dựa trên bảng danh mục tuyến tính thương mại năm 1990. Đó chính là trật tự sai lệch, bị cắt xén và áp đặt cơ học mà Nam và Châu đã mất bao công sức bóc tách tại Nhà lưu trữ sông Hương ở Huế. Bản danh mục ấy sinh ra để phục vụ thị trường tranh xuất khẩu, nơi các bức tranh bị biến thành những món hàng trang trí độc lập, bóp méo hoàn toàn sơ đồ elip tuần hoàn nguyên bản năm 1978. Trương Diệp chưa bao giờ nhìn nhận tác phẩm của mình theo cái danh mục in ấn phẳng lì phục vụ con mắt dung tục ấy. Ông coi toàn bộ bộ tranh là một thực thể sống, một chu kỳ chuyển dịch của đất trời và nhân sinh, nơi điểm khởi đầu cũng chính là điểm kết thúc.
Thế nhưng, điều không tưởng đã xảy ra ngay trước mắt họ.
Khi ngón tay Vân xoay vòng đĩa số cuối cùng về mốc số mười hai—con số khép lại chuỗi danh mục ấn hành năm 1990—bên trong ruột khóa vang lên một tiếng *khục* nặng nề, dứt khoát.
Âm thanh kim loại va đập vào rãnh then báo hiệu chốt hãm lò xo bên trong đã rơi xuống đúng vị trí đón lõng. Toàn bộ cơ cấu cơ học phức tạp của hãng két sắt lừng danh nước Pháp sau bốn mươi năm ngâm mình trong bóng tối đã hoàn toàn ăn khớp, nhẹ nhàng đến rợn người.
— Mở rồi... Các người thấy chưa? Mở rồi! — Tường Vân reo lên, giọng lạc đi giữa tiếng cười điên dại và những giọt nước mắt chực trào trên gò má hóp. Nỗi sung sướng tột cùng khiến bà run lẩy bẩy, cả thân hình chao đảo như sắp ngã quỵ. — Mã số của danh mục chính thống! Ông ấy không lừa mẹ tôi! Ông ấy đã cài đặt chính những con số đó! Chính là danh mục triển lãm công khai, nơi ông ấy buộc phải ghi nhận sự tồn tại của bộ tranh!
Bà dùng cả hai tay nắm chặt lấy cần gạt bằng đồng thau, dồn toàn bộ trọng lượng cơ thể gầy guộc kéo mạnh về phía bên phải.
Cánh cửa sắt dày hơn mười phân, nặng trịch và bám đầy bụi xám từ từ hé mở. Bản lề thép rỉ sét cọ vào nhau phát ra một tiếng nghiến ken két dài, rợn óc. Cùng với chuyển động chậm chạp của cánh cửa, một luồng không khí tù hãm bấy lâu bị giải thoát, mang theo mùi kim loại oxy hóa nồng nặc, mùi ẩm mốc của giấy lưu kho lâu năm và thứ mùi hăng hắc, ngọt lợ rất đặc trưng của sơn then tự nhiên bị giam cầm suốt bốn thập kỷ tràn ra, xộc thẳng vào khứu giác của ba người. Thứ mùi hương của quá khứ mục rữa, của những bí mật bị khóa chặt trong lòng đá lạnh.
Tường Vân không chần chừ một phần mười giây. Bà vội vã quỳ rạp xuống, hai cánh tay khẳng khiu thọc sâu vào lòng chiếc két sắt sâu hun hút.
— Khế ước... chứng chỉ ngân khố... hay vàng thỏi ký gửi... Phải có thứ gì đó để chứng minh mẹ tôi không phải một người làm công rẻ mạt! Phải có công trái hoặc văn tự sở hữu xưởng vóc! — bà lẩm bẩm trong cơn hoảng loạn tột độ, hai bàn tay cuống cuồng cào quờ khắp các góc kim loại trơn tuột, quét qua lớp bụi mịn bám dưới đáy két.
Nhưng bên trong chiếc két sắt đồ sộ, kiên cố và bí mật ấy, không hề có ánh hoàng kim rực rỡ của vàng bạc châu báu. Không có những tập cổ phiếu ngân hàng Đông Dương hay chứng chỉ quỹ tài chính dày cộp bọc trong vải chống ẩm. Chẳng có lấy một bức tượng quý, một viên ngọc gia bảo hay một món cổ vật nào như bà hằng ôm ấp và tưởng tượng suốt nửa đời người lặn lội trong thù hận và cơ cực.
Toàn bộ khoang chứa thênh thang, lạnh lẽo chỉ có trơ trọi hai thứ nằm đơn độc ở đáy két.
Thứ nhất là một bản sao đánh máy trên giấy than xanh mỏng tang, bốn góc đã mủn nát vì ẩm mục, mép giấy quăn queo như lá khô mùa đông. Bên trên in đậm dòng tiêu đề bằng máy chữ cơ học: *Hợp đồng chuyển nhượng toàn phần thương quyền và quyền tác giả bộ tác phẩm Sơn mài Đại ngàn — Bên chuyển nhượng: Xưởng vóc A.-D. — Bên nhận chuyển nhượng: Trương Diệp*. Từng điều khoản pháp lý được soạn thảo chặt chẽ, liệt kê chi tiết các khoản bồi hoàn bằng tiền mặt, các cam kết bảo mật danh tính và việc tước bỏ hoàn toàn quyền đứng tên của những người thợ làm vóc.
Nhưng đè lên toàn bộ hai trang văn bản pháp lý sặc mùi tiền bạc và sự bội ước ấy là hai đường gạch chéo dứt khoát, tàn nhẫn bằng mực tàu đen đặc. Nét mực dày cộm ăn sâu vào thớ giấy than, và bên dưới là một dòng đại tự viết tay thô bạo, nét bút như muốn xé toạc mặt giấy: **VÔ HIỆU HÓA — KHÔNG BAO GIỜ THỰC HIỆN**.
Và nằm đè lên bản hợp đồng phế tích đầy cay đắng ấy là một mẩu giấy dó hình chữ nhật, chỉ dài bằng bàn tay người lớn, mép xơ xác tự nhiên do lối xé thủ công bằng thước cật tre, chất giấy mộc mạc đã ngả sang màu vàng sáp ong đậm đặc theo năm tháng.
Bàn tay Tường Vân khựng lại giữa không trung. Những ngón tay co quắp run rẩy, lơ lửng ngay trên mẩu giấy dó. Đôi mắt bà trợn trừng, dán chặt vào khoảng không rỗng toác của đáy két sắt. Đồng tử giãn ra, phản chiếu sự trống rỗng đến cùng cực. Tiếng thở dốc nghẹn lại nơi lồng ngực, biến thành một âm thanh rên rỉ khô khốc, đứt quãng như sợi dây đàn bị kéo căng quá mức rồi đứt phựt giữa khoảng không tĩnh mịch.
— Không có... Không có gì cả... — bà thì thào, giọng nói mỏng manh như sương khói mùa đông bốc lên từ mặt hồ Than Thở. Từng chữ rớt ra khỏi bờ môi khô nứt. — Không có tiền bồi thường... không có tài sản thừa kế... Không có một phân vàng nào... Tại sao? Tại sao lại mở được ổ khóa bằng danh mục xuất bản... mà bên trong lại là một cái hòm rỗng? Ông ta lừa tôi... Cho đến tận lúc chết ông ta vẫn lừa dối mẹ con tôi!
Nam bước tới một bước, khẽ nghiêng mình che chắn luồng gió lùa từ cửa sổ vỡ. Với tác phong cẩn trọng của một chuyên gia phục chế và giám định đã thành phản xạ tự nhiên ăn sâu vào máu thịt, anh rút đôi găng tay vải cotton trắng không bột từ túi ngực đeo vào tay, từng ngón tay miết phẳng lớp vải dệt. Anh từ tốn quỳ một chân xuống bên cạnh người phụ nữ đang chết lặng vì bàng hoàng.
Nam không chạm vào bản hợp đồng bị gạch bỏ. Anh dùng hai đầu ngón tay bọc vải trắng nhẹ nhàng nâng mép mẩu giấy dó ố vàng lên khỏi tấm đáy kim loại. Mặt giấy ráp mịn, những sợi vỏ cây dướng đan cài chặt chẽ, lộ rõ cấu trúc sợi thực vật không đồng nhất dưới ánh sáng ban mai—dấu ấn không thể nhầm lẫn của kỹ nghệ làm giấy thủ công truyền thống vùng đồng bằng Bắc Bộ từ thập niên bảy mươi.
Trên mặt giấy, không có con số tài khoản, không có chỉ dẫn bản đồ kho báu. Chỉ có duy nhất hai dòng chữ viết bằng bút lông chấm mực tàu nguyên chất, loại mực nho thỏi mài trên nghiên đá mễ mang sắc tím đen trầm mặc. Nét chữ sắc sảo, đĩnh đạc, từng nét sổ thẳng dứt khoát như nhát chém của ngọn đục, từng nét phẩy phóng khoáng mang đậm phong cốt kiêu bạt nhưng chất chứa nỗi cô đơn tột cùng của cố danh họa Trương Diệp trong những ngày tháng cuối đời cô độc tại ngôi biệt thự này.
Nam hít một hơi sâu, luồng khí lạnh buốt tràn qua thanh quản. Anh nhìn thẳng vào gương mặt thất thần, đờ đẫn của Tường Vân rồi cất giọng đọc to từng chữ. Tiếng anh vang vọng, rành rọt, âm vang dội vào các vòm đá chịu lực giữa sự tĩnh lặng đến rợn ngợp của căn sảnh hoang tàn:
— *“Ai chỉ nhìn lớp mặt sẽ nhận phần của lớp mặt; người giữ nền không sống trong két sắt.”*
Từng âm tiết rơi xuống sàn đá như những nhát búa nện thẳng vào tâm can người nghe.
Gió từ ô cửa vòm thứ mười ba bất chợt thổi thốc vào, cuốn theo vài cánh lá thông khô xoay tít trên nền gạch lạnh buốt, phát ra tiếng sột soạt ma quái. Tường Vân run bắn lên như vừa bị dòng điện hàng nghìn vôn chạy dọc sống lưng. Câu chữ ngắn ngủi, mộc mạc mà sắc lạnh ấy như một tia chớp xé toạc màn sương mù u tối, đập tan bức tường hận thù đã bao phủ và định hình toàn bộ tâm trí bà suốt hơn bốn mươi năm cuộc đời.
Bà bàng hoàng khuỵu hẳn người xuống sàn gạch, hai đầu gối chạm mạnh vào nền đá cứng phát ra một tiếng *cộc* đau đớn, nhưng dường như thể xác lúc này đã mất hết cảm giác đau đớn thông thường. Hai bàn tay bà buông thõng giữa hai đùi, các ngón tay buông lơi, đờ đẫn nhìn chằm chằm vào khoảng rỗng không đen ngòm của chiếc két sắt. Chiếc két sắt từng là biểu tượng cho sự cứu rỗi, cho sự đền bồi công lý mà bà hằng tôn thờ, giờ đây hiện nguyên hình là một nấm mồ chôn cất những ảo tưởng tầm thường.
— Lớp mặt... nhận phần của lớp mặt... — Vân lẩm bẩm, giọng nói vỡ vụn thành từng mảnh. Nước mắt lúc này mới bắt đầu tuôn trào thành dòng, chảy qua các rãnh nhăn nheo trên khóe mắt, làm nhòe đi tròng kính đồi mồi dày cộp. — Ông ấy... ông ấy biết... Ông ấy biết trước tất cả những gì tôi sẽ làm...
Nam cẩn trọng đặt mẩu giấy dó trở lại vị trí cũ trên tấm gỗ lót két sắt, giọng anh trầm xuống, chất chứa sự thấu hiểu sâu sắc trước một bi kịch của nhận thức và lòng người:
— Ông Trương Diệp đã cố ý dựng nên chiếc két sắt này như một cái bẫy đạo đức, cô Vân ạ. Một cái bẫy hoàn hảo đến tàn nhẫn được thiết kế riêng cho những ai chỉ nhìn thấy bề nổi của hội họa. Chiếc két này mở được bằng chính dãy số của danh mục xuất bản thương mại năm 1990—cái danh mục mà ông buộc phải ký duyệt để làm vừa lòng các nhà buôn tranh quốc tế và các cơ quan quản lý thời bấy giờ, nơi tên tuổi của bà Nguyễn An và xưởng thợ A.-D. bị xóa sạch để tôn vinh huyền thoại về một 'thiên tài độc bản'.
Nam nhìn sâu vào đôi mắt đang ngập tràn nước mắt của Tường Vân, tiếp tục phân tích bằng sự điềm tĩnh chuẩn xác của một nhà nghiên cứu:
— Ông Diệp hiểu rất rõ tâm lý con người. Bất kỳ ai tiếp cận di sản của ông bằng lòng tham tài sản cá nhân, bằng tư duy đòi hỏi sự bồi hoàn bằng tiền bạc, bằng khế ước thương quyền hay hiện vật kim giá... sẽ tự nhiên tìm đến trật tự tuyến tính sai lệch của danh mục năm 1990. Bởi vì đó là ngôn ngữ duy nhất của thị trường! Và khi họ xoay đúng mật mã của lòng tham, cánh cửa mở ra, phần thưởng duy nhất dành cho họ chỉ là một tờ hợp đồng đã bị chính tay ông gạch bỏ trong tủi nhục và một khoảng không rỗng tuếch! Ông ấy đã dự liệu rằng nếu cô đến đây với tâm thế của một kẻ đòi nợ tiền bạc, cô sẽ chỉ nhận được sự trống rỗng mà thôi.
Châu đứng sững bên cạnh, bàn tay cô siết chặt lấy quai túi đồ nghề giám định đến mức các khớp ngón tay trắng bệch. Ánh mắt cô nhìn người phụ nữ đang suy sụp dưới chân mình, rồi nhìn vào dòng chữ viết tay kiêu hãnh của ông ngoại, giọng cô nghẹn ngào, rung lên vì xúc động:
— Ông ngoại cháu... đã không giấu bất kỳ tài sản cá nhân nào ở đây cả. Suốt thời thơ ấu, cháu đã nghe mẹ kể về sự im lặng đáng sợ của ông trong căn nhà ở đường Tú Xương. Ông biết mẹ con cô oán hận ông. Ông biết cả những đứa con ruột thịt của ông như cậu Khang cũng chỉ nhăm nhe nhìn vào giá trị bán đấu giá của mười hai bức tranh sơn mài. Cả cuộc đời ông bị giằng xé giữa danh vọng nghệ thuật cá nhân và món nợ lương tri đối với những người thợ làm vóc. Chiếc két sắt này mở ra không phải để giấu của cải, mà để trừng phạt những ai nghĩ rằng phẩm giá của nghệ thuật và công lao của người thợ có thể được định giá bằng một khoản tiền đền bù giấu kín sau vách tường!
Tường Vân ôm lấy mặt, bật lên tiếng khóc xé ruột xé gan.
Tiếng khóc dội vào những bức tường gỗ thông, vang vọng khắp trần nhà cao vút của ngôi biệt thự cổ. Tiếng khóc không còn vẻ cay nghiệt, sắc nhọn của kẻ đứng trong bóng tối giật dây những phi vụ mờ ám, không còn sự hằn học của một phụ nữ bị ám ảnh bởi sự trả thù, mà là tiếng khóc trần trụi, tuyệt vọng của một linh hồn nhận ra mình đã phí hoài cả một kiếp người để đuổi theo một ảo ảnh sai lầm. Bốn mươi năm thanh xuân, bốn mươi năm của những toan tính, lừa lọc, rình rập và thù hận, cuối cùng đổi lại hai dòng mực tàu lạnh lùng bóc trần sự mù quáng của chính bản thân.
— Tôi đã căm thù gia đình các người... — bà nấc nghẹn, từng lời nói rớt ra trong đớn đau tột cùng, hai vai rung bần bật. — Tôi căm thù từng bức tranh ông ta vẽ, căm thù căn nhà lộng lẫy ở Sài Gòn, căm thù cái tên Trương Diệp được tung hô trên báo chí quốc tế... Tôi căm thù cả cô, Bảo Châu, vì cô mang dòng máu của kẻ đã cướp đi tất cả của mẹ tôi! Tôi đã nghĩ ông ta cướp đoạt mồ hôi nước mắt của bà An để xây dựng cơ đồ cho con cháu ông ta hưởng thụ sung sướng! Tôi thuê thằng Huy lấy bức tranh đi... tôi lục tung kho Cẩm Phô ở Hội An... tôi cạy tủ sắt ngân hàng chỉ để tìm cho ra những tờ văn tự bồi thường tài chính... Tôi nghĩ ông ta giấu vàng bạc của mẹ tôi... Tôi đã tự biến mình thành một kẻ trộm, một kẻ sống chui lủi trong bóng tối suốt mười lăm năm trời!
Bà ngước nhìn lên vòm cửa thứ mười ba, nơi ánh sáng ban mai Đà Lạt đang rót xuống từng vệt tinh khôi, soi rõ những hạt bụi lơ lửng giữa không trung như những mảnh linh hồn phiêu bạt:
— Nhưng mẹ tôi... mẹ tôi đâu có cần tiền! Mẹ tôi chưa từng một lần đòi ông ta phải chia chác đất đai hay thương quyền! Bà chỉ muốn người đời biết rằng, nếu không có đôi bàn tay thợ của bà, nếu không có những lớp vóc cội rễ mài từ bùn đất dòng sông, thì những kiệt tác rực rỡ kia sẽ chỉ là những tấm gỗ mục nát trước thời gian! Bà chỉ muốn một dòng tên... một sự thừa nhận đường hoàng trước lịch sử! Vậy mà tôi... đứa con gái duy nhất của bà... lại đi tìm sự đền bù trong một chiếc két sắt chứa vàng! Tôi đã sỉ nhục chính vong linh của mẹ tôi!
Không gian đại sảnh chìm vào một khoảng lặng nặng nề, u uất. Tiếng gió thông xào xạc ngoài hiên như tiếng thở dài của người xưa gửi lại trần thế, hòa cùng tiếng nước nhỏ giọt đều đặn từ máng xối rỉ sét phía sau biệt thự.
Nam không ngắt lời bà. Anh đứng yên, tôn trọng sự sụp đổ đau đớn ấy. Là một người làm công tác bảo tồn di sản, anh hiểu rằng sự sụp đổ của một niềm tin sai lệch là cái giá bắt buộc phải trả để một sự thật lớn hơn được hiển lộ. Đạo đức trong nghệ thuật của Trương Diệp không nằm ở sự thanh khiết tuyệt đối—ông đã từng hèn nhát, từng thỏa hiệp với thị trường thương mại để che giấu tên tuổi người cộng sự, từng để sự ích kỷ của người nghệ sĩ lấn át lẽ công bằng—nhưng đến cuối đời, khi đối diện với cái chết và sự phán xét của thời gian, ông đã thiết kế một hệ thống câu đố công bằng đến tàn nhẫn để tự phán xét chính mình và phán xét những kẻ muốn thừa kế ông.
Trong lúc Tường Vân vẫn đang gục đầu thổn thức trên sàn gạch hoa hoang phế, Bảo Châu bỗng quỳ xuống cạnh chiếc két rỗng. Bản năng của một kỹ sư phục chế được đào tạo bài bản không cho phép cô dừng lại ở lớp bề mặt của cảm xúc bi kịch. Mắt cô quét qua từng chi tiết cơ học của lòng két.
Châu rút chiếc đèn pin kiểm định quang học góc hẹp từ thắt lưng, bật công tắc. Luồng sáng LED trắng 4500K trung tính—loại ánh sáng chuẩn bảo tàng giúp loại bỏ hiện tượng sai lệch sắc độ—bật sáng rực rỡ. Cô không rọi vào khoảng không rỗng tuếch bên trên, cũng không rọi vào tờ hợp đồng vô hiệu, mà quét luồng sáng là là sát mặt đáy của khoang két—nơi đặt tấm gỗ lót bằng gỗ gõ đỏ dày chừng hai phân, vốn dùng để ngăn ẩm từ sàn kim loại ngấm lên giấy tờ lưu trữ lâu năm.
— Nam, anh nhìn này, — giọng Châu bỗng cất lên, nhỏ nhưng sắc và đanh gọn, phá vỡ bầu không khí tang tóc trong sảnh.
Nam lập tức cúi thấp người xuống bên cạnh cô, mắt hướng theo chùm sáng định hướng.
Dưới ánh sáng xiên góc mười lăm độ của chiếc đèn kiểm định, lớp bụi mịn bám trên bề mặt tấm gỗ lót bị luồng sáng hắt xiên tạo nên những dải bóng đổ vi mô rõ nét. Ở góc trong cùng bên phải của tấm gỗ, nơi bản hợp đồng vô hiệu vừa bị nhấc lên khỏi mặt phẳng, hiển hiện những vết khắc chìm rất sâu vào thớ gỗ gõ đỏ già tuổi.
Đó không phải là vết trầy xước ngẫu nhiên do ma sát kim loại hay sự cào quẹt của chuột bọ. Từng nhát đột bằng đầu đục thép bán nguyệt hiện lên sắc nét, dứt khoát và tỉ mỉ đến từng chi tiết, được thực hiện bởi một bàn tay nắm vững kỹ thuật điêu khắc gỗ truyền thống:
Ba ký tự chữ cái in hoa được lồng ghép vào nhau theo phong cách dấu nghề cổ truyền của các phường thợ Nam Bộ: **T.B.H.**
Và ngay phía dưới ba chữ cái ấy là một biểu tượng hình tròn đường kính khoảng ba mươi milimét: ba nhánh cây sơn uốn cong ôm trọn lấy nhau tạo thành hình thái cực, ở giữa là một chiếc lá khuyết gân phải đọng lại một vệt sơn then màu nâu cánh gián đã hóa thạch bóng loáng như ngọc mắt mèo—chính là dấu triện của xưởng nghề mà họ đã từng bắt gặp trên bản kê công việc năm 1979 tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia ở Huế và trên đáy vóc của những bức tranh rừng thông trong căn phòng thực nghiệm ở tầng hầm!
Tường Vân nghe tiếng Châu gọi, từ từ ngẩng đầu lên, gương mặt ướt đẫm nước mắt. Đôi mắt đỏ hoe sau cặp kính đồi mồi nhìn vào luồng sáng đèn pin đang hội tụ nơi góc đáy két sắt.
— Biểu tượng này... — Vân thảng thốt, giọng run rẩy như không tin vào mắt mình.
— Tương Bình Hiệp, — Nam khẽ nói, ngón tay đeo găng cotton của anh nhẹ nhàng miết theo đường cong của ba nhánh cây sơn khắc chìm trên thớ gỗ gõ đỏ. Cảm giác gồ ghề của nhát đục truyền qua lớp vải dệt. — Ba chữ viết tắt 'T.B.H.' cùng con dấu ba nhánh cây sơn của Hợp tác xã Cây Sơn. Cụ Trương Diệp đã tự tay khắc nó vào đây ngay trước khi đóng cánh cửa sắt này lại bốn mươi năm trước.
Châu ngước lên nhìn Nam, ánh mắt cô rạng ngời một niềm tin son sắt, xua tan mọi nghi ngờ và hoang mang bấy lâu:
— Lời nhắn của ông ngoại hoàn toàn nhất quán: 'Người giữ nền không sống trong két sắt'. Di sản đích thực—cả về kỹ thuật, kho mẫu, tư liệu thực nghiệm và toàn bộ giá trị tinh thần lẫn vật chất mà ông muốn trao lại để tạ lỗi với bà Nguyễn An—chưa bao giờ nằm ở các ngân hàng thương mại hay các két sắt cá nhân tại Sài Gòn, Hội An hay căn biệt thự Đà Lạt này. Toàn bộ cội nguồn, toàn bộ nền tảng của bộ tranh Đại Ngàn đã được gửi về nơi nó thuộc về: làng sơn mài Tương Bình Hiệp bên bờ rạch Bà Lụa!
Tường Vân đưa bàn tay gầy gò, run rẩy chạm vào ba chữ khắc chìm trên thớ gỗ. Những đường gờ kim khí thô ráp cọ sát vào da thịt bà, nhưng lần này không mang lại sự cay đắng hay hận thù, mà là một sự bình an kỳ lạ lan tỏa khắp cơ thể, như thể linh hồn phiêu bạt của mẹ bà sau bốn mươi năm lưu lạc nơi đất khách quê người cuối cùng đã tìm thấy lối dẫn về nhà.
— Mẹ tôi... bà sinh ra ở rạch Bà Lụa, lớn lên trong mùi khói lò ủ sơn của làng Tương Bình Hiệp... — Tường Vân thì thầm, nụ cười héo hắt xen lẫn xót xa nở trên đôi môi tái nhợt. — Cả đời bà chỉ tự hào mình là một người thợ làm vóc của đất Thủ. Bà luôn bảo rằng sơn mài mà rời bỏ đất phù sa sông Sài Gòn, rời bỏ những người thợ quấy sơn thâu đêm thì chỉ còn là thứ hàng mỹ nghệ vô hồn. Vậy mà tôi... tôi đã kéo bà đi qua bao nhiêu toan tính kim tiền dơ bẩn... Tôi đã biến di sản của bà thành công cụ thù hận... Tôi thật có tội lớn với bà...
— Cô không có tội, cô Vân, — Nam nhẹ nhàng nói, anh đứng thẳng dậy và đưa hai tay đỡ người phụ nữ đứng lên khỏi sàn gạch lạnh buốt. Giọng anh trầm ấm, mang theo sự bao dung của một người hiểu thấu những vết thương lịch sử. — Cô chỉ nhìn cuộc đời bằng nỗi đau của một người con thấy mẹ mình chịu bất công trong một giai đoạn lịch sử đầy biến động và bất cập. Nhưng bây giờ, bức màn giả tạo đã hoàn toàn hạ xuống. Ông Trương Diệp đã không phản bội bà An. Ông đã chuẩn bị sẵn con đường để lịch sử phải trả lại tên tuổi cho bà, chỉ là ông đòi hỏi chúng ta phải đi hết hành trình của sự thật, bằng con mắt của người làm nghề, bằng lương tri của người bảo tồn chứ không phải bằng con mắt của kẻ trục lợi thương mại.
Châu tắt chiếc đèn kiểm định, đứng dậy phủi lớp bụi vôi bám trên đầu gối áo gi-lê. Vẻ kiên định, quyết đoán thường ngày đã hoàn toàn trở lại trên gương mặt thanh tú của cô gái trẻ:
— Mảnh ghép cuối cùng của di sản nằm ở Tương Bình Hiệp. Nơi đó lưu giữ những tài liệu gốc và minh chứng cho công lao của bà An. Nhưng để mở được kho lưu trữ ấy, để kích hoạt Quỹ Diệp Sơn trước mặt luật sư Thu và Hội đồng thừa kế trong phiên họp toàn thể sắp tới, chúng ta bắt buộc phải có bức tranh thứ mười ba thật sự—chìa khóa vật chất duy nhất mang dòng chữ 'Mười hai mặt, một nền; trả tên cho người giữ nền'. Không có tấm vóc thứ mười ba, chúng ta không có tư cách pháp lý để ngăn chặn việc phát mãi bộ tranh cho tập đoàn tài chính nước ngoài.
Nam gật đầu dứt khoát, ánh mắt anh lóe lên vẻ khẩn trương:
— Chúng ta phải tìm Mai Quốc Huy ngay lập tức. Mảnh giấy của cậu ta nhắn đến lán gỗ số 4 suối Cam Ly, nhưng địa chỉ trên mảnh giấy vội của người thợ đóng khung lại chỉ về dốc Robin. Rõ ràng Huy đang bị dồn đuổi ráo riết và cậu ta liên tục phải đổi chỗ ẩn nấp trong rừng thông. Nếu chúng ta chậm chân, mạng lưới của Lam Thành và đám tay chân của Phạm Đức Lâm sẽ bắt được cậu ta trước. Một khi bức tranh rơi vào tay bọn chúng, toàn bộ sự thật này sẽ bị chôn vùi vĩnh viễn dưới danh nghĩa một vụ giao dịch cổ vật chợ đen.
Tường Vân đưa tay gạt khô những giọt nước mắt còn đọng trên gò má, hít một hơi thật sâu để lấy lại sự điềm tĩnh phi thường của người phụ nữ từng nhiều năm điều hành mạng lưới sưu tập và phục chế ngầm khắp hai miền Nam Bắc:
— Thằng Huy là đứa nhút nhát nhưng tay nghề phục chế rất khéo, đặc biệt là kỹ thuật xử lý bề mặt sơn then cổ. Nó nhận tiền của tôi để cứu bức tranh ra khỏi phòng kho biệt thự, nhưng khi bị dồn vào chân tường, nỗi sợ hãi và sự hoảng loạn sẽ khiến nó làm liều. Tôi biết các ngõ ngách rừng thông Cam Ly, khu xưởng cưa cũ và cả những căn chòi hoang của dân cạo nhựa thông. Tôi sẽ đi cùng hai người. Lần này, không phải để tranh giành quyền sở hữu hay đòi hỏi bồi thường... mà để chuộc lại lỗi lầm do chính tôi đã gây ra khi lôi nó vào vòng xoáy hận thù này.
Ba người nhanh chóng thu dọn dụng cụ kiểm định vào túi da chuyên dụng. Nam cẩn thận khép cánh cửa chiếc két sắt Fichet-Bauche lại, đẩy cần gạt đồng thau khóa chốt, rồi đẩy tấm vách gỗ thông ba lá trượt nhẹ nhàng vào khớp mộng âm dương ban đầu. Một tiếng *cách* nhỏ vang lên, trả lại vẻ nguyên sơ, tĩnh mịch và bí ẩn cho góc tường của Biệt thự Mười Ba Ô Cửa.
Ánh nắng rực rỡ của buổi trưa đã lên tới đỉnh vòm, nhưng cái lạnh buốt của gió cao nguyên vẫn luồn qua từng khe cửa nứt nẻ, nhắc nhở họ về một cuộc chạy đua sinh tử đang diễn ra từng giây từng phút ngoài kia.
Họ bước nhanh qua hành lang lát gạch bông phủ bụi, men theo lối cầu thang gỗ lim uốn lượn dẫn ra đại sảnh tầng trệt. Tiếng bước chân dồn dập, gấp gáp vang lên trên nền đá sỏi của khoảng sân trước rợp bóng thông già cổ thụ. Không khí bên ngoài biệt thự đặc quánh mùi nhựa thông tươi nồng nặc và hơi lạnh ẩm ướt bốc lên từ thảm mục thực vật sau cơn mưa đêm xối xả.
Khi bước ra khỏi biệt thự, Nam nhìn thấy Mai Quốc Huy đang đứng co ro dưới tán thông với gương mặt tái nhợt và một tập bìa kẹp tài liệu.