Bức Tranh Thứ Mười BaC.2 / 32
Chương 2

Vật còn lại trong hộp

Nam đặt tấm tranh lên bàn kiểm định di động giữa xưởng tranh, chỉnh góc đèn xiên ba mươi độ trong khi các thành viên gia đình họ Trương vây quanh trong im lặng căng thẳng.

Tiếng động cơ xe hơi gầm rú ngoài cổng hẻm ít phút trước hóa ra chỉ là do Khang xua tài xế riêng chạy đi giải quyết công việc gấp, còn bản thân ông ta không thể dứt áo rời đi giữa lúc khoản vay ba mươi tỷ đồng đứng trước bờ vực đổ vỡ. Cơn thịnh nộ và nỗi hoảng loạn đã đẩy Khang quay ngoắt trở lại xưởng chỉ ít phút sau khi bước ra lối sỏi. Nhận ra mình không thể để mặc cháu gái cùng một chuyên gia giám định độc lập toàn quyền xử lý chiếc hộp, Khang đã sấn bước xông ngược vào phòng với hai mắt vằn đỏ, gầm ghè đòi một câu trả lời dứt khoát ngay tại chỗ. Bà Trương Thanh Mai hớt hải chạy theo sau can ngăn anh trai bất thành, đành khép nép tựa vào mép cánh tủ gỗ gụ cũ, hai bàn tay đan chặt vào nhau đến mức các khớp ngón trắng bệch, ánh mắt hoảng loạn đảo qua đảo lại giữa mặt tranh và đứa con gái ruột. Ngay cả luật sư Nguyễn Hoài Thu, khi vừa ra đến sân và nghe thấy tiếng Khang lớn tiếng xộc trở vào, cũng lập tức quay gót trở lại để thực hiện trách nhiệm giám sát di chúc, nghiêm nghị đứng canh chừng ngay cạnh ngưỡng cửa gỗ lim.

Mặt bàn kiểm định được bọc một lớp dạ nỉ màu xám tro trung tính, không phản quang, chuyên dùng để triệt tiêu mọi tạp sắc từ môi trường xung quanh. Tấm vóc vuông vức nằm trơ trọi dưới chùm sáng trắng lạnh phát ra từ chiếc đèn LED công suất cao có thấu kính phi cầu. Mùi sơn ta tự nhiên thoảng hương đất ẩm và vỏ cây ngai ngái quen thuộc trong xưởng của cố danh họa Trương Diệp dường như bị một luồng khí lạ lẫm xua bạt. Thay vào đó, lảng vảng quanh bán kính nửa mét quanh tấm vóc là mùi khét ngọt gắt của dung môi butyl acetate chưa kịp bay hơi triệt để – một dấu hiệu hóa học không thể lừa dối khứu giác của những người đã dành cả đời để phân biệt giữa nhựa cây tự nhiên và hóa chất tổng hợp.

Nam điều chỉnh khớp nối kim loại của chân đèn, hạ thấp nguồn sáng xuống ngang mép bàn, tạo một góc xiên vừa đúng ba mươi độ so với bề mặt nằm ngang. Ở góc chiếu này, mọi gồ ghề vi mô, từng thớ nếp của vải màn bồi vóc, hay các vết rạn nứt tế vi dưới lớp men sẽ bị kéo dài bóng tối sang bên cạnh, phơi bày toàn bộ cấu trúc thật sự của mặt phẳng.

Anh rút chiếc kính lúp phóng đại mười lần có thang đo quang học tích hợp từ túi áo vest, ghé mắt xuống sát bề mặt sơn.

"Mọi người hãy nhìn vào đây," Nam cất giọng trầm tĩnh, phá vỡ bầu không khí đặc quánh như chì. "Trong kỹ thuật sơn mài truyền thống Việt Nam, lớp sơn then – tức lớp sơn đen sâu thẳm được tạo nên từ nhựa cây sơn tự nhiên đánh kỹ với sắt gỉ trong chậu gang – luôn có một đời sống vật chất riêng biệt. Để sơn then khô và đông kết hoàn toàn, nó bắt buộc phải được đưa vào buồng ủ có độ ẩm trên tám mươi phần trăm và nhiệt độ ổn định. Quá trình polyme hóa tự nhiên của men urushiol diễn ra chậm rãi qua nhiều tuần, thậm chí nhiều tháng. Khi người thợ mài nước bằng than xoan, than củi ổi rồi đến tóc rối, từng lớp sơn then sẽ tạo ra một độ sâu quang học đa tầng. Ánh sáng khi đi vào lớp men sơn tự nhiên không bị chặn đứng lại ở bề mặt, mà nó xuyên thấu, khúc xạ qua các tầng nhựa bán trong suốt rồi mới phản xạ ngược trở lại mắt người nhìn. Đó là lý do vì sao một bức tranh sơn then cổ luôn cho ta cảm giác nhìn vào đáy một cái giếng nước sâu thẳm trong đêm rằm."

Nam xoay nhẹ vành kính lúp, chuyển ngón tay trỏ bọc găng cotton chỉ vào vùng nền đen ngay cạnh dòng chữ khắc mạ vàng.

"Còn tấm vóc này? Bề mặt của nó quá phẳng phiu. Phẳng một cách cơ học và vô hồn." Nam đưa kính lúp cho Bảo Châu, rồi nhìn sang Minh Khang. "Dưới độ phóng đại mười lần và góc đèn xiên, chúng ta không hề thấy các vết mài tròn xoắn ốc tự nhiên của thỏi than trôi trên dòng nước mài. Thay vào đó là những vệt xước mảnh, thẳng tắp và chạy song song theo một phương duy nhất. Đây là dấu vết đặc trưng của việc sử dụng giấy ráp mịn hạt silicon carbide chà bằng máy rung cầm tay. Kẻ tạo ra tấm vóc này đã dùng máy mài khô để rút ngắn thời gian, sau đó phủ lên một lớp dầu bóng toát công nghiệp hoặc polyurethane nhằm tạo độ căng bóng giả tạo. Lớp phủ này quá mỏng và trơ lì, nó khiến ánh sáng đập vào rồi dội ngược ra ngay lập tức. Nó không có chiều sâu quang học của ba mươi năm tích tụ, mà chỉ là sự phản quang bóng bẩy của một lớp màng nhựa vừa khô cách đây vài tuần lễ."

Bảo Châu cúi xuống, mắt áp sát vào thị kính. Đôi mày thanh tú của cô chau lại, gò má giật nhẹ từng cơn. Cô là kỹ sư phục chế, người từng dành hàng ngàn giờ trong phòng thí nghiệm để phân tích các lát cắt địa tầng sơn mài, từng quen với việc bóc tách từng mảng màu bằng dao mổ vi phẫu dưới kính lập thể. Chỉ cần ba giây quan sát, hơi thở của cô đã trở nên gấp gáp.

"Không chỉ có giấy ráp," Bảo Châu tiếp lời, giọng đanh thép và sắc lẻm như dao cắt kính. "Hắn thậm chí còn không buồn ủ ẩm cho lớp sơn nền lót. Các hạt muội than trong lớp then nhân tạo này không được nghiền mịn trong dầu hỏa mà dùng bột màu công nghiệp pha sẵn. Nhìn vào rìa mép của những vết xước song song kia: cạnh của chúng nham nhở, sắc nhọn, biểu hiện của một lớp màng đóng rắn nhờ dung môi bay hơi nhanh, chứ không phải quá trình oxy hóa tự nhiên của sơn ta. Sơn ta nếu mài bằng than xoan thì vết xước bề mặt phải tròn mép, lượn sóng và chìm dần vào men cánh gián. Ở đây, vết xước nằm trơ khấc ngay trên mặt ngoài."

Minh Khang đứng khoanh tay, lồng ngực phập phồng dữ dội dưới lớp áo sơ mi may đo đắt tiền. Mồ hôi rịn ra ở chân tóc hai bên thái dương làm bết những sợi tóc nhuộm sẫm. Ông ta cười khẩy một tiếng, cố tỏ ra hoài nghi để che lấp nỗi bất an đang dâng lên cuồn cuộn:

"Vết xước song song? Chiều sâu quang học? Các người đang dùng những thuật ngữ mơ hồ của giới hàn lâm để đánh lừa tôi đấy à? Cha tôi là một bậc thầy, ông cụ thử nghiệm hàng trăm kỹ thuật khác nhau trong suốt nửa thế kỷ sáng tác. Ai dám chắc trong lúc cao hứng, cụ không dùng một mẩu giấy ráp hiện đại để xử lý nhanh một góc tranh thử nghiệm? Các người lấy tư cách gì để khẳng định đây là đồ giả chỉ vì vài đường xước mắt thường hầu như không nhìn thấy?"

"Nếu anh Khang cần những con số toán học bất di bất dịch, không thể biện minh bằng 'ngẫu hứng nghệ thuật', tôi sẽ cho anh thấy ngay bây giờ," Bảo Châu lạnh lùng ngắt lời người bác ruột.

Cô quay sang chiếc bàn kỹ thuật cá nhân của mình, mở chiếc hộp nhôm chống sốc bọc mút định hình. Từ bên trong, Bảo Châu lấy ra một thiết bị hình trụ bọc kim loại đen nhám – chiếc kính hiển vi điện tử kỹ thuật số cầm tay độ phân giải cao, kèm theo dây cáp quang kết nối trực tiếp với chiếc máy tính bảng màn hình lớn đặt ngay mép bàn kiểm định.

Bảo Châu đeo găng tay nitrile mới, nhẹ nhàng đặt đầu dò quang học có vòng đèn LED phân cực tròn áp sát vào góc phần tư phía dưới bên phải của bức tranh, nơi lớp men cánh gián màu hổ phách được dát đè lên một khoảng bạc lót làm nền cho họa tiết trừu tượng.

"Tất cả nhìn lên màn hình," Bảo Châu nói, giọng không giấu nổi sự phẫn uất.

Trên màn hình máy tính bảng mười hai inch, bề mặt tranh lập tức phóng to lên hai trăm lần. Từng thớ sợi li ti, từng bọt khí nhỏ li ti và cấu trúc mạng lưới của lớp kim loại dát bên dưới lớp cánh gián hiện lên rõ mồn một như một bản đồ địa chất thu nhỏ.

Bảo Châu kích hoạt phần mềm đo trắc đạc quang học tích hợp. Một hệ thống lưới tọa độ điện tử màu xanh lục lập tức giăng ngang dọc trên màn hình. Cô rê ngón tay, định vị hai điểm mốc nằm ở mép nối giữa hai lá bạc lót liền kề.

"Ông ngoại tôi, họa sĩ Trương Diệp, suốt sáu mươi năm làm nghề sơn mài chỉ trung thành với một nguồn cung cấp quỳ bạc duy nhất," Bảo Châu rành rọt giải thích, từng từ ngữ gõ vào không gian như tiếng búa điểm giờ. "Đó là bạc quỳ thủ công truyền thống của làng Kiêu Kỵ, Gia Lâm. Các nghệ nhân Kiêu Kỵ dùng búa đập thủ công hàng ngàn nhát trên tập giấy quỳ bôi mực thông, cho ra những lá bạc mỏng như cánh ve sầu, rìa mép bao giờ cũng có độ tưa xơ tự nhiên do vết cắt thủ công, và kích thước chuẩn mực tuyệt đối từ đời này qua đời khác luôn là chín phẩy năm nhân chín phẩy năm xentimét. Kích thước chín phẩy năm này đã đi vào toàn bộ hệ thống phác thảo tỷ lệ vàng của ông tôi trong cả mười hai bức tranh treo ở phòng triển lãm chính."

Đầu dò kính hiển vi dịch chuyển chậm rãi dọc theo đường mép tiếp giáp của lá bạc ẩn dưới lớp men trong suốt.

"Nhưng hãy nhìn vào đường giáp ranh này," Bảo Châu chỉ ngón tay vào vệt cắt thẳng tắp hiện trên màn hình. "Mép lá bạc này không hề có độ tưa xơ của bạc quỳ đập tay. Nó được cắt bằng dao chém công nghiệp, thẳng tắp như một nhát chém cơ khí. Và quan trọng nhất: phần mềm đo đạc vừa khóa kích thước khoảng cách giữa hai đường biên mép lá."

Một con số hiển thị nhấp nháy bằng chữ số màu đỏ rực trên góc phải màn hình: **10,9 cm**.

"Mười phẩy chín xentimét," Bảo Châu ngẩng đầu lên, ánh mắt cô chiếu thẳng vào khuôn mặt đang dần xám ngoét của Minh Khang. "Đây là khổ lá bạc công nghiệp hiện đại nhập khẩu, thường được đóng thành từng cuốn dập sẵn bằng máy ép thủy lực, xuất hiện trên thị trường mỹ nghệ Việt Nam chỉ khoảng mười lăm năm trở lại đây. Chúng được sản xuất hàng loạt cho các xưởng làm đồ gỗ nội thất thếp bạc công nghiệp hoặc các cơ sở phục chế thương mại hạng hai cần tốc độ nhanh. Ông ngoại tôi không bao giờ, tôi nhắc lại là không bao giờ cho phép loại bạc công nghiệp dày cộp, khổ mười phẩy chín xentimét này bước chân vào cửa xưởng của cụ. Nó không thể tạo ra được độ tán sắc ánh sáng tự nhiên khi vùi dưới lớp men cánh gián đun bằng nhựa thông nguyên chất."

Sự im lặng trong gian xưởng tranh lúc này nặng nề đến nghẹt thở.

Bà Trương Thanh Mai lảo đảo bước lui nửa bước, bờ vai mảnh khảnh dựa hẳn vào thành tủ gỗ gụ để không ngã khuỵu. Môi bà mấp máy không ra tiếng, đôi mắt nhòa đi trong sự bàng hoàng tột độ. Con số 10,9 cm không phải là một nhận định cảm tính; nó là một kích thước vật lý cụ thể, một bằng chứng không thể chối cãi rằng tấm vóc này được tạo nên từ vật liệu của thời kỳ hiện đại, hoàn toàn tách rời khỏi chuỗi sáng tác của Trương Diệp cách đây ba mươi năm.

Thế nhưng, Trương Minh Khang dường như đã bị dồn vào chân tường của sự tuyệt vọng tài chính. Khoản nợ đáo hạn ngân hàng đang lơ lửng như thanh gươm Damocles trên đầu ông ta. Sự sụp đổ của một dự án bất động sản hàng chục hecta không cho phép ông ta lùi bước trước những lập luận khoa học.

"Nhảm nhí! Toàn là trò ảo thuật của mấy cái máy móc vớ vẩn!" Khang gầm lên, giọng vỡ vụn trong cơn kích động hoảng loạn. "Kính hiển vi với phần mềm trắc đạc thì chứng minh được cái gì? Ai biết các người có cài đặt thông số sai lệch để hãm hại tôi hay không? Tôi không tin vào mấy cái hình ảnh phóng to này!"

Bất thình lình, Khang thọc tay vào túi quần tây, rút ra một chiếc dao trổ rọc giấy thân kim loại cán bạc sắc lẹm – thứ dụng cụ rọc bao bì mà ông ta luôn mang theo người. 'Tách' một tiếng giòn tan, lưỡi dao thép carbon sáng loáng được đẩy trượt ra ba khấc, bén ngót dưới ánh đèn trần.

Khang nghiến răng, sấn một bước dài về phía chiếc bàn kiểm định:

"Được lắm! Muốn biết thật hay giả, muốn biết nó có từ ba mươi năm trước hay mới làm tuần trước, chỉ có một cách duy nhất: cạo mẹ nó một mẩu sơn ở góc tranh này ra! Tôi sẽ đích thân mang mẩu vảy sơn này đến Viện Khoa học Hình sự hoặc Trung tâm Phân tích Thí nghiệm ở Quận 1 ngay trong buổi trưa nay. Xét nghiệm sắc ký khí khối phổ (GC-MS) sẽ chỉ ra chính xác niên đại của các liên kết hydrocacbon trong vòng bốn tiếng đồng hồ! Khi đó trắng đen rõ ràng, không ai có thể dùng ba tấc lưỡi để ngăn cản việc giải ngân của tôi nữa!"

Vừa dứt lời, cánh tay hộ pháp của Khang vung lưỡi dao nhắm thẳng vào góc dưới bên trái của tấm vóc sơn mài – đúng vị trí có vết khắc mô phỏng chiếc lá khuyết gân.

"Dừng tay lại!"

Một bóng người lao vụt tới chắn ngang giữa lưỡi dao và mặt tranh. Đó không phải là Nam, mà chính là Bảo Châu.

Cô đứng chắn trước bàn kiểm định, hai tay dang rộng, thân hình mảnh dẻo căng cứng như một dây cung. Ánh mắt cô nhìn người bác ruột bốc lên ngọn lửa giận dữ tột cùng, không hề có một chút sợ hãi hay nhượng bộ.

"Bác dám chạm một mũi dao vào tấm vóc này xem!" Tiếng thét của Bảo Châu vang dội khắp bốn bức tường xưởng vẽ, khiến con dao trổ trên tay Khang khựng lại giữa không trung, cách mu bàn tay cô chỉ chưa đầy mười xentimét.

"Mày tránh ra, con ranh!" Khang nghiến răng ken két, gân xanh nổi cuồn cuộn trên trán. "Đây là tài sản thừa kế của tao, tao có quyền làm những gì cần thiết để bảo vệ lợi ích hợp pháp của gia đình này!"

"Đây không phải là tài sản riêng của bác, và càng không phải là thứ để bác hủy hoại trong cơn điên loạn!" Bảo Châu không hề lùi bước, ngực cô phập phồng dữ dội. "Bác có biết quy chuẩn đạo đức nghề nghiệp đầu tiên của một người làm công tác di sản là gì không? Là **bảo tồn không xâm lấn**! Chuyên gia Võ Khánh Linh đã từng dạy tôi và anh Nam ngay từ những ngày đầu bước vào nghề: Hiện vật một khi đã bị tổn thương vật lý thì vĩnh viễn không thể hồi phục nguyên trạng! Quy trình giám định của Hiệp hội Bảo tồn Di sản Quốc tế IIC nghiêm cấm tuyệt đối mọi hành vi cạo bóc, đục phá bề mặt khi chưa sử dụng hết các phương pháp quang phổ và vật lý không phá hủy!"

Bảo Châu hất hàm về phía lưỡi dao, giọng cô hạ thấp xuống nhưng sắc nhọn như một bản án:

"Chỉ cần mũi dao của bác chạm vào lớp vóc, dù chỉ làm tróc một milimét vuông sơn, toàn bộ giá trị pháp lý và tính toàn vẹn của hiện vật này sẽ bị hủy bỏ ngay lập tức! Bác Khánh Linh, với tư cách là cố vấn độc lập của Hội đồng Thừa kế, sẽ lập tức ký vào văn bản đình chỉ vĩnh viễn quyền tiếp cận của bác đối với toàn bộ bộ sưu tập mười hai bức tranh gốc. Lúc đó, không một ngân hàng nào, không một nhà đấu giá nào dám tiếp chuyện với một kẻ bị tước quyền bảo quản vì hành vi phá hoại hiện vật đâu!"

Cái tên Võ Khánh Linh dường như có một sức nặng vô hình nhưng khủng khiếp. Minh Khang đứng sững lại, cánh tay cầm dao run rẩy giữa không trung. Ông ta biết rõ Khánh Linh là ai – người phụ nữ thép của giới bảo tồn di sản Việt Nam, người nắm giữ tiếng nói chuyên môn có trọng lượng tối cao trước tòa án và các tổ chức văn hóa quốc tế. Nếu Linh ký vào một báo cáo vi phạm quy chuẩn can thiệp xâm lấn, cánh cửa tín dụng của Khang tại tất cả các tổ chức tài chính chính thống sẽ vĩnh viễn đóng sập lại.

Nam chậm rãi bước tới, đặt một bàn tay mang găng cotton lên vai Minh Khang. Áp lực từ những ngón tay của Nam vững chãi, bình thản nhưng chứa đựng một sự răn đe ngầm dứt khoát.

"Thu dao lại đi, anh Khang," Nam nói, thanh âm trầm tĩnh đến mức đối lập hoàn toàn với bầu không khí căng thẳng nghẹt thở trong phòng. "Cô Châu nói hoàn toàn đúng. Việc lấy mẫu xâm lấn trong hoàn cảnh này là một sai lầm chết người. Hơn nữa, việc đó hoàn toàn không cần thiết. Một mẫu sơn cạo ra bằng dao trổ không bao giờ mang lại câu trả lời sạch về mặt khoa học, bởi nó sẽ bị nhiễm tạp chất từ chính lớp keo dán lưng và dung môi mới đang bay hơi. Anh chỉ đang tự tay hủy hoại vật chứng duy nhất có thể giúp chúng ta tìm ra kẻ đã đánh cắp bức tranh thật của cha anh mà thôi."

Minh Khang thở hắt ra một hơi cay đắng. Những ngón tay của ông ta run rẩy thu lưỡi dao trổ trở lại vào thân kim loại, phát ra những tiếng 'tách, tách, tách' khô khốc, bất lực. Ông ta lùi lại hai bước, thả phịch người xuống chiếc ghế bành bọc da cũ kỹ cạnh cửa sổ, ôm lấy đầu trong sự tuyệt vọng cùng cực.

Nam không để lãng phí thêm một giây phút nào. Anh quay trở lại bàn kiểm định, kéo chiếc cặp da tài liệu của mình lại gần.

Từ bên trong, Nam lấy ra tập biểu mẫu biên bản giám định kỹ thuật tiêu chuẩn gồm ba liên có đóng dấu chìm của văn phòng giám định độc lập. Anh rút cây bút mực đen, đặt tờ biên bản lên mặt phẳng của chiếc kẹp tài liệu bằng nhôm, rồi bắt đầu viết một cách tỉ mỉ, nắn nót từng dòng chữ theo đúng trình tự khoa học hình sự.

Tiếng ngòi bút kim loại ma sát trên mặt giấy trắng sột soạt, đều đặn vang lên giữa gian xưởng tĩnh mịch, nghe như từng nhát xẻng xúc đất lấp đi những ảo tưởng cuối cùng của những kẻ muốn trục lợi từ di sản:

*BIÊN BẢN KIỂM TRA KỸ THUẬT VẬT LÝ SƠ BỘ* *Tác phẩm nghi vấn: Bức tranh thứ mười ba (Khóa đọc bộ tranh mười hai tác phẩm của Trương Diệp)* *Thời gian thực hiện: 11 giờ 45 phút, ngày 18 tháng 10 năm 202X* *Địa điểm: Gian xưởng sáng tác biệt thự Trương Diệp, đường Điện Biên Phủ, TP. Hồ Chí Minh.* *Chuyên gia thực hiện: Quách Nhật Nam (Giám định độc lập) – Đồng kiểm: Trương Bảo Châu (Kỹ sư phục chế).*

Nam dừng bút, ngẩng lên nhìn lại tấm vóc một lần nữa trước khi ghi nhận các thông số kỹ thuật cốt lõi:

*1. PHƯƠNG PHÁP KIỂM TRA:* *- Quan sát quang học dưới ánh sáng xiên góc 15–30 độ (Raking Light).* *- Phóng đại quang học 10x bằng kính lúp tích hợp thước đo trắc đạc.* *- Phóng đại kỹ thuật số 200x bằng kính hiển vi điện tử cầm tay phân cực tròn.* *- Kiểm tra không can thiệp phá hủy hiện vật (Non-invasive Examination Protocol – Tiêu chuẩn IIC).*

*2. CÁC PHÁT HIỆN KỸ THUẬT VẬT LÝ:* *a) Bề mặt lớp sơn then:* *- Không phát hiện cấu trúc vi mô dạng hạt mịn của men urushiol tự nhiên ủ ẩm dài ngày.* *- Xuất hiện hệ thống vết xước song song, đơn điệu, đặc trưng của thao tác mài khô bằng giấy ráp công nghiệp hạt silicon carbide sử dụng máy chà cơ học.* *- Thiếu hụt hoàn toàn chiều sâu quang học đa tầng (optical depth) tạo bởi quá trình mài than xoan ngập nước truyền thống.* *- Tồn dư mùi dung môi bay hơi nhanh gốc este hữu cơ (butyl acetate), chỉ điểm lớp phủ bóng nhân tạo (polyurethane hoặc dầu bóng toát mới thi công).*

*b) Lớp kim loại dát dưới men cánh gián:* *- Đo đạc trắc đạc vi mô xác định kích thước bản lá kim loại: 10,9 cm x 10,9 cm.* *- Sai lệch hoàn toàn so với quy chuẩn bạc quỳ đập tay truyền thống Kiêu Kỵ khổ 9,5 cm x 9,5 cm mà cố danh họa Trương Diệp sử dụng đồng nhất trong toàn bộ 12 tác phẩm gốc.* *- Mép lá kim loại có vết cắt cơ khí sắc gọn, không có biên độ tưa xơ thủ công.*

Nam hít một hơi sâu, ngòi bút của anh lướt dứt khoát trên phần quan trọng nhất của văn bản:

*3. KẾT LUẬN SƠ BỘ:* *Hiện vật được tìm thấy bên trong hộp gỗ trắc sau khi mở niêm phong chì KHÔNG PHẢI là tác phẩm nguyên bản của cố họa sĩ Trương Diệp từng được ghi nhận trong ảnh tư liệu kiểm kê ban đầu.* *Đây là một BẢN SAO CHÉP THẾ CHỖ (substitute copy) mới được chế tác gần đây bằng kỹ thuật lai tạp hiện đại, vật liệu công nghiệp mới, thực hiện trong tình trạng vội vã nhằm mục đích đánh lừa thị giác thông thường.* *Bằng chứng kỹ thuật khẳng định tác phẩm nguyên bản chứa đựng dòng chữ "Mười hai mặt, một nền; trả tên cho người giữ nền" đã bị đánh tráo có chủ đích. Khoảng trống 45 phút mất tín hiệu camera an ninh đêm qua là khung thời gian nghi vấn trọng điểm, cần tiếp tục đối chiếu với cơ chế khóa cơ học, nhật ký ra vào, lời khai nhân chứng và dữ liệu kiểm tra thiết bị để xác định chính xác thời điểm thực hiện.*

Nam ký tên mình xuống góc dưới bên phải tờ biên bản, rồi đẩy tập hồ sơ sang phía Bảo Châu.

Bảo Châu nhận lấy cây bút, không một chút do dự, cô ký tên mình vào vị trí người chứng kiến và đồng kiểm định. Chữ ký của cô dứt khoát, sắc sảo, kéo dài một nét gạch thẳng băng bên dưới như một lời tuyên chiến với bất kỳ âm mưu che đậy nào.

"Biên bản này sẽ được lập thành ba bản," Nam nói, giọng anh vang lên đanh thép. "Một bản lưu vào hồ sơ pháp lý của luật sư Nguyễn Hoài Thu. Một bản giao cho Hội đồng Thừa kế gia tộc họ Trương. Và một bản tôi sẽ giữ lại làm căn cứ kỹ thuật cho quá trình truy tìm tác phẩm thật."

Luật sư Thu, người đứng quan sát chặt chẽ từ ngưỡng cửa kể từ lúc quay trở lại gian xưởng với sự cẩn trọng nghề nghiệp cao độ, bước tới gần bàn. Chiếc cặp da công tác màu nâu sẫm kẹp dưới nách bà khẽ rung theo nhịp bước. Bà cầm lấy tờ liên một của biên bản, đọc lướt qua từng dòng kết luận kỹ thuật, rồi khẽ gật đầu:

"Về mặt thủ tục pháp lý, biên bản kiểm tra kỹ thuật không xâm lấn này hoàn toàn đủ hiệu lực để tôi ra quyết định phong tỏa toàn diện khối di sản này. Anh Khang, hợp đồng ủy thác định giá của anh với mạng lưới Lam Thành chính thức bị đình chỉ vô thời hạn. Nếu anh có bất kỳ hành vi nào nhằm di chuyển hay chuyển nhượng bất hợp pháp mười hai bức tranh còn lại trong phòng trưng bày, tôi sẽ chuyển toàn bộ hồ sơ vụ đánh tráo này sang Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh."

Minh Khang ngồi gục trên ghế, không thốt ra được nửa lời. Hai bàn tay ông ta bấu chặt vào đầu gối, mặt tái mét. Âm mưu dùng bức tranh làm tài sản bảo lãnh cho canh bạc bất động sản ba mươi tỷ đã hoàn toàn tan thành mây khói dưới ánh sáng của những con số trắc đạc không thể lay chuyển.

Bà Thanh Mai bước đến bên con gái, đôi mắt đỏ hoe. Bà đưa tay định chạm vào vai Bảo Châu, nhưng cô gái trẻ khẽ nghiêng người tránh đi, ánh mắt cô hướng về phía khoảng sân râm mát ngoài cửa sổ xưởng vẽ, nơi những tán cây lộc vừng đang rụng lá.

"Tại sao lại phải làm ra một bản sao vội vã như thế này?" Bảo Châu nói, giọng nghẹn lại nhưng tràn đầy quyết tâm. "Nếu kẻ trộm muốn lấy bức tranh thật, tại sao không cứ để chiếc hộp trống không? Tại sao phải tốn công làm một tấm vóc giả với kích thước y hệt, rồi đặt vào đây?"

"Để câu giờ," Nam trả lời, anh tháo đôi găng tay cotton trắng ra, nhưng ánh mắt vẫn không rời khỏi tấm vóc nằm trên bàn. "Kẻ trộm biết rất rõ quy trình kiểm kê của gia đình. Hắn biết sáng nay luật sư Thu và anh Khang sẽ đến mở niêm phong hộp gỗ trắc. Một chiếc hộp trống rỗng sẽ kích hoạt báo động ngay lập tức trong vòng năm giây. Nhưng một tấm vóc bóng bẩy, nhìn lướt qua dưới ánh sáng phòng thông thường có hoa văn và màu sắc tương tự, sẽ dễ dàng đánh lừa được một người không có chuyên môn sâu về sơn mài. Hắn chỉ cần trì hoãn việc phát hiện trong vòng hai mươi bốn đến bốn mươi tám tiếng – đủ thời gian để bức tranh thật rời khỏi địa bàn Sài Gòn, hoặc thậm chí được đưa lên một chuyến bay ra nước ngoài."

"Vậy kẻ làm ra tấm vóc này... hắn là ai?" Bảo Châu quay lại nhìn Nam, ánh mắt cô rực lên câu hỏi nhức nhối nhất. "Một kẻ có thể làm ra một tấm vóc sơn mài giả mạo tinh vi đến mức này trong một thời gian ngắn, kẻ đó không thể là một tay nghiệp dư."

"Hắn chắc chắn không phải dân nghiệp dư," Nam trầm ngâm. "Hắn có nghề. Một người thợ có kỹ năng làm vóc rất khéo léo, nhưng lại thiếu kiên nhẫn và bị ràng buộc bởi vật liệu công nghiệp rẻ tiền có sẵn trên thị trường."

Nam đeo găng tay mới vào, hai tay nâng nhẹ hai cạnh bên của tấm vóc giả lên khỏi mặt đệm nỉ.

"Muốn biết tung tích của một người thợ thủ công, đừng chỉ nhìn vào mặt tiền lộng lẫy nơi hắn cố tình phô diễn kỹ xảo để lừa dối thiên hạ," Nam lẩm bẩm như đang tự nói với chính mình. "Hãy nhìn vào mặt sau – nơi người thợ không bao giờ nghĩ rằng sẽ có ai để mắt tới."

Nam cẩn thận lật úp tấm vóc lại.

Mặt sau của tấm vóc đập vào mắt họ dưới ánh đèn rọi. Đó là một lớp sơn hom màu xám đen pha mạt mùn cưa và đất phù sa, được quét thô ráp để chống cong vênh cho cốt gỗ bên trong. Mùi keo dán lưng chuyên dụng – loại keo da trâu tổng hợp pha cồn công nghiệp – phả lên nồng nặc hơn bao giờ hết, minh chứng cho việc lớp xử lý mặt sau này vừa mới được quét xong chưa đầy bốn mươi tám tiếng đồng hồ.

Nhưng điều khiến đồng tử của Nam co thắt lại không phải là mùi keo.

Anh hạ thấp ngọn đèn rọi xiên xuống sát mép ván lưng. Dưới vệt sáng quét ngang sắc lẹm, ở góc trên bên trái của mặt sau tấm vóc, một chi tiết kỹ thuật lạ lùng hiện ra rõ mồn một.

Mép gỗ không được bo tròn bằng giấy nhám hay bào máy thông thường. Thay vào đó, nó là một đường vát xéo góc bốn mươi lăm độ cực kỳ dứt khoát, sắc cạnh và ngọt lịm. Vết cắt để lại những đường vân khía nhỏ li ti hình bán nguyệt lặp lại đều đặn – dấu ấn cơ học không thể nhầm lẫn của một loại dao gọt vóc lưỡi cong rèn bằng thép nhíp xe lửa, một thứ dụng cụ đặc chủng do chính người thợ tự chế tạo, chỉ lưu hành ở một vài xưởng thủ công phục chế cá nhân kỳ cựu ẩn mình trong các con hẻm sâu của đất Sài Gòn.

Chương này thế nào?Đánh giá giúp Readeep đề xuất đúng hơn cho bạn