Cổng Tây nhớ những chuyến xe
Gió lạnh đầu hạ lùa qua vòm đá Cửa Tây Dịch mang theo hơi nước ngai ngái của con hào bao quanh hoàng thành và mùi rơm rạ ẩm mục từ những bãi đất trống ven sông. Cửa Tây Dịch được xây bằng những khối đá xanh nguyên khối vĩ đại, bề mặt qua trăm năm đã ngả sang màu rêu xám trơn nhẫy. Nơi đây quanh năm hút gió, là cánh cổng phân ranh rạch ròi giữa chốn cung cấm thâm nghiêm tĩnh mịch với cõi bụi trần náo nhiệt của phố xá bến thuyền kinh thành Vân Kinh. Phía ngoài cổng, rặng liễu rủ dọc bờ hào rạp mình theo từng cơn gió sớm; tiếng lộc cộc của những trục bánh xe thồ gỗ bọc sắt lăn trên đá dăm hòa cùng tiếng quát tháo, tiếng giục lừa ngựa của phu dịch lục tục vào ca sáng. Nhưng bên trong góc phòng trực nhỏ hẹp của trạm gác cổng thành, không khí lại đông cứng trong một sự im ắng lạnh buốt, đến mức tiếng một giọt nước rỉ từ kẽ vách đá rơi xuống chậu thau cũng nghe rõ mồn một.
Lê Thuận cẩn thận đặt hai quyển sổ bìa bọc vải dầu xám, mép giấy đã ố vàng và quăn góc vì sương gió, lên chiếc bàn trà chân thấp kê sát bệ cửa sổ. Chàng thư lại trẻ tuổi của trạm gác Cửa Tây ngày thường vốn nổi danh khắp các xó xỉnh Bếp Đông và dãy hành lang Hộ Bộ là kẻ bẻm mép, thích kháo chuyện đầu bờ giếng và giỏi pha trò tếu táo để kiếm bát nước chè tươi. Nhưng sáng nay, diện mạo của chàng hoàn toàn biến đổi. Bộ sắc phục sai dịch màu chàm đã bạc thếch nơi khuỷu tay và hai đầu vai được giặt giũ phẳng phiu, vạt áo cài then gỗ chỉnh tề, hai tay khép chặt bên sườn.
Lê Thuận hít sâu một hơi, để hai bàn tay áp chặt lên tập sổ dày cộp, ngẩng đầu nhìn thẳng vào Lục Hoài Cẩn và Đặng Thu Vân đang ngồi ngay ngắn đối diện. Ánh mắt chàng thư lại trẻ không còn vẻ lấm lét thường thấy của kẻ chức nhỏ phận hèn trước quan viên thụ lý, mà ánh lên một sự kiên quyết lạ thường:
"Bẩm Lục đại nhân, Đặng đại nhân. Theo công văn trích lục chứng cứ vận chuyển mang số hiệu Giáp-tư của Ty Khảo Sổ tống đạt chiều muộn hôm qua, tiểu nhân đã niêm phong và mang toàn bộ sổ sách lưu trữ nguyên bản của Cửa Tây Dịch đến đây. Đây là trọn vẹn sổ 'Nhật trình tuần tra cổng' và 'Sổ theo dõi giờ xe bốc dỡ hàng hóa' trong suốt sáu tháng qua, tính từ trung tuần tháng Mười một năm ngoái đến hết ngày hôm qua. Mọi trang mục đều có chữ ký giao nhận ca trực của tiểu nhân và phân đội cấm vệ quân canh cổng, không thiếu một ngày, không rách một tờ, không có vết cạo xóa thay trang."
Đặng Thu Vân không vội lật sổ. Nàng ngồi thẳng lưng, cử chỉ ung dung và chuẩn mực theo đúng quy thức kiểm toán điển phạm. Nàng mở chiếc tráp đựng tài liệu công vụ bằng gỗ thao lao sơn then mang theo, cẩn thận lấy ra một xấp giấy bản thượng hạng màu ngà, dày dặn và đanh mép, bên trên đã in sẵn tiêu đề bằng mực son đỏ: "Biên bản giao nhận chứng từ độc lập". Đặt xấp giấy lên mặt bàn, nàng rút chiếc thước dẹt bằng gỗ mun khảm xương ngà mang bên mình, tỉ mỉ đo độ dày gáy sổ, kiểm tra đường chỉ khâu bằng sợi gai bện có còn nguyên vẹn lớp sáp ong chống mọt hay không. Nàng nghiêng tập sổ dưới ánh sáng tự nhiên rọi qua ô cửa sổ mắt cáo, quan sát từng đường kim bấm và dấu mộc giáp lai.
"Quyển thứ nhất: Nhật trình xe hàng từ ngày mười lăm tháng Mười một năm ngoái đến hết ngày ba mươi tháng Giêng năm nay," Thu Vân cất giọng trong trẻo nhưng rành mạch, từng âm tiết gõ vào không gian tĩnh mịch của phòng gác như tiếng ngọc khánh. "Tổng cộng một trăm bốn mươi trang nguyên vẹn. Mực viết đồng nhất một sắc đen khói thông, mép giấy có vết mòn tự nhiên do lật giở theo thời gian, không có dấu hiệu bóc tách chỉ khâu hay dán đè trang thế phẩm."
Nàng lật giở từng tờ, đối chiếu số thứ tự trang viết bằng chữ Hán ở góc trên bên hữu rồi chuyển tiếp sang tập thứ hai.
"Quyển thứ hai: Ghi chép lưu lượng xe hàng nặng và giờ đóng mở then chốt Cửa Tây Dịch từ mùng một tháng Hai đến nay, gồm một trăm hai mươi trang chẵn. Bìa ngoài có đóng dấu giáp lai nổi của Ty Cấm Binh Cửa Tây, vết chu sa đã ngả màu cánh gián tự nhiên. Hoàn toàn phù hợp quy thức lưu trữ quân môn."
Lục Hoài Cẩn ngồi bên cạnh, tay cầm ngọn bút lông thỏ ngâm mực xạ đen nhánh. Chàng chấm nhẹ ngòi bút vào nghiên đá Đoan Khê, hạ bút ký tên mình với những nét chữ sắc nhọn, gãy gọn như đường gươm chém đá vào vị trí kiểm toán viên trưởng tiếp nhận chứng cứ độc lập. Ký xong, chàng đẩy tờ biên bản sang phía người thư lại gác cổng:
"Quy trình thu thập chứng cứ ngoại vi của Ty Khảo Sổ nghiêm ngặt tựa như việc cất giữ binh phù nơi chiến địa. Một chữ ký nhận, một vết chỉ tay đều gắn liền với trách nhiệm trước công đường tối cao. Biên bản này cần đủ ba bên đồng thuận: người giao nộp, người thụ lý khảo sát và người chứng giám gián tiếp. Ngươi hãy đọc lại từng điều khoản kê khai, xác nhận số trang, số dòng rồi hạ bút ký tên và điểm chỉ."
Lê Thuận bước lên nửa bước, hai tay đón lấy ngọn bút lông từ tay Hoài Cẩn. Chàng nắn nót viết ba chữ tên mình vào góc dưới tờ giấy bản, sau đó cẩn thận ấn ngón tay cái bên phải vào hộp mực chu sa tươi màu máu, ép mạnh đầu ngón tay lên nền giấy trắng tinh khôi bên cạnh chữ ký. Khi hoa tay đỏ thắm in hằn rõ nét trên trang biên bản, Lê Thuận mới khẽ thở hắt ra một hơi dài, lồng ngực phập phồng như vừa cởi bỏ được một gông cùm vô hình đè nặng trên vai bấy lâu.
Tại chốn Cửa Tây Dịch gió lộng này, nơi xe cộ ra vào như mắc cửi và tai mắt của các thế lực nội đình giăng mắc khắp nơi, hai tập sổ nhật trình này chính là thành trì chứng cứ duy nhất nằm ngoài tầm với của viên quản kho lộng quyền Đỗ Kính. Dù Đỗ Kính có đốt sạch sổ phụ ở Kho Bếp Đông, dù Tạ Vinh có xé nát các bản sao hóa đơn nơi thương điếm ngoài phố, thì những nét mực ghi nhận giờ xe qua cổng dưới sự giám sát đồng thời của cấm vệ quân vẫn sừng sững tồn tại như bia đá ngàn năm.
"Làm phiền hai vị đại nhân phải cất công đến tận nơi gió lạnh đầu cổng," Lê Thuận chắp tay, giọng chàng trầm xuống đầy cẩn trọng. "Tiểu nhân chỉ là một kẻ sao chép cỏn con ăn lương tháng ba giỏ thóc. Phận sự của tiểu nhân ở cổng Tây này chỉ có một: mắt thấy thế nào thì tay ghi thế ấy, tai nghe tiếng then chốt chuyển dịch khắc nào thì chấm bút khắc đó. Không thêm bớt một hào, không bôi xóa một nét."
"Chính cái sự mắt thấy tai nghe thuần túy không thiên lệch ấy mới là thứ vũ khí sắc bén nhất để bảo vệ sự thật trước những mưu mô giảo quyệt," Lục Hoài Cẩn gật đầu, ánh mắt lạnh băng thường trực nơi đáy mắt thoáng hiện một tia tán thưởng kín đáo.
Thu Vân không để thời gian trôi qua vô ích. Nàng lập tức mở chiếc kẹp hồ sơ bằng da cừu mang theo, trải rộng tập phiếu nhập kho nguyên bản của Kho Bếp Đông – những chứng từ mang đầy đủ chữ ký tròn trịa, kiêu hãnh của Đỗ Kính cùng triện son của Ty Cung Ứng Nội Đình – đặt song song trên cùng mặt bàn với cuốn nhật trình Cửa Tây Dịch của Lê Thuận. Nàng rút thêm một tập giấy trắng để ghi chép đối chiếu, tay phải cầm thanh que tính bằng ngà voi, tay trái lướt nhẹ trên từng dòng mục.
Hai người bắt đầu chia nhau rà soát. Căn phòng gác cổng nhỏ hẹp nhanh chóng chìm vào một thứ thanh âm kỳ lạ: tiếng sột soạt sắc lạnh của mép giấy miên ma sát vào nhau, tiếng lách cách đều đặn, khô khốc của những que tính ngà trên tay Hoài Cẩn khi chàng nhẩm tính thời gian và khoảng cách, cùng tiếng gió rít qua khe cửa gỗ thông thốc từ phía bờ hào.
Mỗi con số lật mở là một vết nứt toác trên bức tường thành dối trá mà phường tham quan đã dày công xây dựng suốt nhiều năm tháng.
"Huynh xem chuyến vận chuyển này," ngón tay trỏ thon thả của Thu Vân đột ngột dừng lại trên một dòng chữ son đỏ chót trong phiếu nhập kho số một trăm lẻ bảy của Bếp Đông. Nàng gõ nhẹ đầu móng tay xuống mặt giấy: "Phiếu nhập kho ngày mười bốn tháng Hai. Nội dung ghi nhận: Xe hàng mang biển ngạch Giáp-ba thuộc đoàn xe Liên hiệu Vạn Phúc chở vào hai mươi bao đường cát trắng thượng phẩm xứ Nam cùng ba mươi sọt than hoa gỗ nghiến vùng thượng du. Đỗ Kính đích thân ký nhận ở mục nghiệm thu: *'Đã cân đủ trọng lượng tại sân cân Bếp Đông, bốc dỡ và nhập kho hoàn tất đúng giờ Thân ba khắc'*."
Lục Hoài Cẩn lập tức lật cuốn sổ nhật trình Cửa Tây Dịch sang đúng ngày mười bốn tháng Hai. Những dòng chữ chân phương, nét mực đều đặn của Lê Thuận hiện ra rành mạch dưới ánh nắng ban mai:
*'Giờ Thân hai khắc: Xe thồ biển ngạch Giáp-ba của Liên hiệu Vạn Phúc chở hàng rơm rạ cồng kềnh qua cổng Cửa Tây vào nội thành. Người đánh xe xuất trình thẻ bài vận chuyển Bếp Đông mang tên Trương Lực.'*
Chàng đưa ngón tay trượt xuống dòng ghi chép liền kề phía dưới:
*'Giờ Thân chưa đầy ba khắc: Xe thồ Giáp-ba quay đầu rời Cửa Tây Dịch ra ngoài thành. Thùng xe hạ bạt.'*
Lục Hoài Cẩn dừng lại, ngẩng đầu lên, ánh mắt chàng đanh lại như mũi tên đồng vừa rời khỏi dây cung. Chàng nhìn thẳng vào sơ đồ bố phòng hoàng cung treo trên vách đá:
"Khoảng cách từ ngưỡng đá Cửa Tây Dịch men theo đường hào ngầm, đi qua cổng Vọng Tiệp rồi vòng qua ba khúc ngoặt của bức tường ngăn Bếp Ngự để vào đến sân cân của Kho Bếp Đông là gần một dặm đường lát đá cuội gập ghềnh. Một cỗ xe ngựa kéo chất nặng năm mươi kiện hàng – gồm hai mươi bao đường cát nặng gần hai ngàn cân và ba mươi sọt than hoa cồng kềnh – di chuyển trên đoạn đường ngoằn ngoèo đó với tốc độ xe chở nặng bình thường phải mất ít nhất một khắc rưỡi chỉ để đi từ cổng thành vào đến sân kho."
Hoài Cẩn đứng dậy, bước hai bước lại gần bệ cửa sổ, giọng nói trầm thấp nhưng sắc lẹm vang lên trong căn phòng hẹp:
"Đó là chỉ tính riêng thời gian lăn bánh trên đường. Khi xe đã vào đến sân kho, quy trình nhập hàng theo điển lệ triều đình đòi hỏi: phu xe phải dừng ngựa chèn bánh, phu dịch Bếp Đông dỡ từng kiện hàng xuống đất, khiêng từng bao đường đặt lên bàn cân đồng lớn để hai bên kiểm toán viên và thủ kho cùng nhìn quả cân định mức, sau đó mới khiêng vào kho xếp chồng lên giàn gỗ chống ẩm, cuối cùng quản kho mới ký biên bản tiếp nhận. Toàn bộ chuỗi thao tác nặng nhọc ấy, dù có huy động đến hai mươi lực điền khỏe mạnh cùng làm một lúc, ít nhất cũng phải tiêu tốn trọn vẹn nửa canh giờ!"
"Thế nhưng," Thu Vân tiếp lời, đôi mắt phượng của nàng sáng quắc lên như ánh đuốc soi rọi vào đầm lầy tăm tối, "từ lúc cỗ xe Giáp-ba này lăn bánh qua vạch đá Cửa Tây Dịch cho đến khi nó quay đầu chạy ra khỏi cổng, trên sổ trực chỉ ghi nhận vỏn vẹn chưa đầy một khắc! Một khắc đồng hồ nước, xe ngựa chạy không tải từ cổng thành vào đến Bếp Đông rồi lập tức quay đầu trở ra cũng đã là vừa khít thời gian. Cỗ xe đó lấy đâu ra thời gian dừng lại dỡ hàng? Lấy đâu ra thời gian đặt hai mươi bao đường lên bàn cân?"
Thu Vân không dừng lại ở đó. Bàn tay nàng lật tiếp các trang sổ nhật trình khác với tốc độ chóng mặt, từng mốc thời gian đối nghịch liên tiếp lộ diện như những nhát búa nện vào tấm gương ảo ảnh:
"Huynh nhìn tiếp chuyến ngày hai mươi chín tháng Ba: Ba cỗ xe lớn chở than củi theo hóa đơn quyết toán của Vạn Phúc ghi dỡ sáu mươi sọt than nghiến nặng ba ngàn cân, nhưng sổ Cửa Tây ghi nhận cả ba xe lưu lại bên trong cổng chỉ đúng mười giọt đồng hồ nước nhỏ giọt! Chuyến ngày mùng tám tháng Tư: Hai xe đường thô ghi nhận nhập kho trọn vẹn tại Bếp Đông, thời gian từ lúc lính gác nhấc then cổng cho xe vào đến lúc hạ then cho xe ra chưa kịp để một ấm nước trên bếp trà sôi bùng bọt mép!"
Thu Vân đột ngột xoay người, ánh mắt sắc như dao rọc giấy hướng thẳng về phía Lê Thuận:
"Lê thư lại, ngươi là người trực tiếp cầm bút ghi chép những ca trực này. Ngươi tận mắt trông thấy những cỗ xe ấy lăn bánh qua lại ngay dưới chân trạm gác. Ngươi có ghi chép hay nhận thấy điều gì khác thường về tình trạng thùng xe và sức kéo của ngựa khi chúng qua cổng lúc trở ra không?"
Lê Thuận khẽ chớp mắt, bước lên bên bàn, ngón tay run nhẹ chỉ vào một cột ghi chú hẹp nằm sát mép ngoài cùng của cuốn sổ – nơi có những ký hiệu viết tắt bằng nét mực mảnh li ti mà người ngoài nhìn vào ngỡ như những vết gạch ngẫu nhiên:
"Bẩm Đặng đại nhân, quy chế trị an của Cửa Tây Dịch nghiêm ngặt vô cùng. Để tránh việc xe cộ ùn tắc gây huyên náo trước cửa cung, cấm vệ quân yêu cầu chúng tiểu nhân phải phân biệt rõ xe tải trọng nặng hay xe tải trọng nhẹ để xếp thứ tự mở cổng then chốt. Những cỗ xe chở hàng thật sự nặng hàng ngàn cân như đường hay than củi ướt, khi bánh xe gỗ bọc đai sắt nghiến qua ngưỡng đá xanh nổi ở chân cổng sẽ lún xuống rất sâu, phát ra tiếng rền vang 'ầm ầm' rung chuyển cả sàn gác, ngựa kéo phải gồng mình còng lưng, bắp chân nổi gân guốc, mũi phì phì hơi trắng vì đuối sức."
Lê Thuận nuốt một ngụm nước bọt, ghé sát hơn một chút, giọng hạ thấp xuống như sợ gió ngoài khe cửa mang lời nói bay xa:
"Nhưng những cỗ xe này của Liên hiệu Vạn Phúc... tiểu nhân nhớ rất rõ. Khi qua cổng lúc vào cung, trên thùng xe tuy phủ bạt rơm bện cao ngất ngưởng trông rất đồ sộ, nhưng bánh xe lăn qua ngưỡng đá lại nhẹ bẫng, chỉ phát ra tiếng lạch cạch khô khốc của trục gỗ lỏng lẻo. Ngựa kéo cất bước thong dong, không hề có dấu hiệu của việc phải kéo tải nặng. Còn lúc quay đầu rời cổng ra ngoài, bạt phủ trên thùng xe xô lệch sang một bên, để lộ rõ thùng xe trống huếch trống hoác, đáy xe chỉ rải rác vài cọng rơm khô và dăm mảnh sọt tre rách nát. Bánh xe nảy tâng tâng trên mặt đá dăm ngoài bờ hào, phu xe vung roi quất vào không khí, ngựa chạy thong dong như người ta đi dạo hội chợ xuân."
Thu Vân nheo mắt lại, ánh nhìn nàng chăm chú khóa chặt lấy từng biến chuyển trên cơ mặt của người thư lại trẻ. Nàng bất thần tung ra một câu hỏi đầy tính công kích và hiểm hóc:
"Ý ngươi muốn nói rằng, Đỗ Kính quản kho Bếp Đông và Tạ Vinh quản sự của Vạn Phúc đã câu kết từ trước, cố ý cho chở những thùng rơm rỗng tuếch vào cung qua mắt quân lính gác cổng, sau đó Đỗ Kính ký khống giấy tờ nhận đủ hàng vào kho ngự dụng, biến hàng hóa trong sổ sách thành mây khói, rồi tuồn toàn bộ số đường cát và than hoa thật ra ngoài chợ đen bán lấy tiền chia nhau bỏ túi?"
Căn phòng gác bỗng chốc rơi vào một sự im lặng nghẹt thở.
Câu hỏi của Thu Vân trực diện, sắc bén và tàn nhẫn như một chiếc bẫy chữ nghĩa giăng sẵn. Trong chốn quan trường đầy cạm bẫy của Vân Kinh, chỉ cần một người thư lại cấp thấp thiếu thận trọng gật đầu đồng tình với một phán đoán mang tính quy chụp như vậy, toàn bộ lời khai của anh ta sẽ lập tức bị phía đối phương bẻ gãy trước công đường: người ta sẽ cáo buộc anh ta mang định kiến tư thù, suy diễn vô căn cứ, buông lời vu khống mệnh quan triều đình, và biến một tài liệu chứng cứ khách quan thành một tờ giấy vô giá trị.
Thế nhưng, Lê Thuận không hề dao động. Chàng thư lại trẻ tuổi khẽ lùi lại nửa bước, cúi đầu chắp tay, thái độ giữ vững vẻ điềm đạm, khiêm nhường nhưng dứt khoát lạ lùng:
"Tiểu nhân tuyệt đối không dám suy đoán hay quy kết như vậy, thưa Đặng đại nhân. Phận sự của kẻ hèn mọn giữ sổ cổng thành chỉ là: ghi đúng biển số gỗ gắn trên càng xe, ghi đúng tên người đánh xe xuất trình thẻ bài, ghi đúng khắc giờ bánh xe lăn qua ngưỡng đá lúc vào, ghi đúng khắc giờ trục xe quay đầu lúc ra, và ghi nhận vết lún của bánh xe trên đá xanh do chính hai mắt tiểu nhân nhìn thấy, hai tai tiểu nhân nghe thấy. Còn việc bên dưới lớp bạt rơm phủ cao ấy rốt cuộc giấu những gì, hay số hàng trăm ngàn cân đường than ghi trên giấy quyết toán kia đã đi đâu, thuộc về ai, có bị ai đánh cắp hay không... đó là quyền hạn tối thượng của các vị đại nhân Ty Khảo Sổ và hình luật triều đình thẩm định. Tiểu nhân chỉ xin lấy tính mạng và phẩm hàm gia tộc ra cam đoan: những mốc giờ xe chạy và dấu vết thùng xe nhẹ bẫng ghi trong hai cuốn sổ này là hoàn toàn xác thực, không mảy may gian dối."
Lục Hoài Cẩn khẽ thở ra một hơi nhẹ nhõm. Trên khóe môi chàng thoáng hiện một nụ cười kín đáo hiếm hoi. Đây chính là thứ phẩm chất mà một cuộc kiểm toán độc lập tìm kiếm bấy lâu: sự trung lập tuyệt đối của nhân chứng ghi chép. Không định kiến, không thêu dệt, không thêm thắt lòng thù hận cá nhân; họ chỉ dâng lên những con số và sự thật sắt đá – thứ sự thật trần trụi mà không một viên quan biện hộ xảo quyệt nào có thể bẻ cong.
"Ngươi lui được rồi, Lê thư lại," Hoài Cẩn gật đầu, giọng chàng mang theo sự tin cậy vững chắc. "Ngươi giữ được cái tâm ngay thẳng của ngòi bút ghi sổ giữa chốn ba đào này, đó là điều đáng quý nhất. Hai cuốn sổ này cùng biên bản giao nhận sẽ được chuyển thẳng về kho chứng từ niêm phong của Ty Khảo Sổ. Ngươi hãy tiếp tục làm tròn bổn phận gác cổng của mình."
Lê Thuận chắp tay vái dài, lẳng lặng lui gót ra khỏi phòng gác, cẩn thận khép chặt cánh cửa gỗ lại sau lưng.
***
Để bức tranh điều tra độc lập đạt đến độ hoàn hảo không kẽ hở, không thể chỉ dừng lại ở những con số trên giấy má nội bộ hoàng thành – vốn là nơi những kẻ có quyền lực luôn tìm cách bưng bít hoặc mua chuộc nhân chứng. Ty Khảo Sổ, dưới sự bảo trợ ngầm của Tham chính Bùi Kính Đức, đã tiến hành một bước đi táo bạo: bí mật triệu tập đại diện những người trực tiếp cầm roi ngựa, lăn lộn chở từng kiện hàng trên đường thiên lý – đó là các chủ xe và phu xe vận tải tự do ngoài chợ Nam Thành và khu bến Liễu.
Buổi đối chất kín không diễn ra ở sảnh công đường lộ liễu, mà được bố trí ngay tại gian phòng thụ lý mở rộng nằm sâu trong khuôn viên Ty Khảo Sổ – một nơi được che chắn bởi những bức tường đá dày và cách biệt hoàn toàn với tai mắt dòm ngó của Nội thị giám hay người của Kho Bếp Đông.
Trên chiếc ghế gỗ dài kê sát góc phòng, ba người đàn ông trung niên ngồi co ro, bối rối thu mình lại như muốn giấu đi thân hình vạm vỡ nhưng khắc khổ của mình. Đầu tóc họ còn vương những sợi rơm rạ khô vàng, bàn tay thô ráp nứt nẻ vì sương gió, chai sạn bởi dây cương và đòn gánh tre, ống quần thô nhuộm củ nâu xắn cao quá bắp chân để lộ những vết sẹo do đá dăm va đập. Gương mặt họ hằn sâu nỗi âu lo, sợ hãi tột cùng. Trong suy nghĩ mộc mạc của những người lao động nghèo dưới đáy kinh thành, việc bị quan nha triều đình gõ cửa triệu tập chẳng khác nào sét đánh ngang tai giữa trời quang; họ sợ bị lôi ra làm kẻ chịu tội thay cho những mưu đồ đen tối của giới quyền quý lắm tiền nhiều của.
Thấy ba người run rẩy đến mức chén nước chè đặt trên bàn trước mặt rung lên bần bật, Lục Hoài Cẩn không ngồi trên án thư quan lại để thị uy. Chàng chậm rãi bước tới chiếc bàn gỗ, tự tay nhấc ấm gốm da lươn, rót thêm nước chè xanh nóng hổi khói bốc nghi ngút vào từng bát sành mộc mạc, rồi đưa tận tay từng người. Giọng chàng trầm ấm, mang một sức mạnh an định lòng người:
"Các bác phu xe chớ lo lắng hoảng hốt. Ty Khảo Sổ chúng ta mở cửa sáng nay không phải để bắt bớ hay hạch tội người làm thuê. Triều đình lập ra luật lệ là để bảo vệ mồ hôi nước mắt của bách tính lương thiện và làm rõ sự thật công bằng. Nếu các vị làm ăn ngay thẳng, chở hàng đúng phận sự và khai báo chân thật những gì mắt thấy tai nghe, thì chiếc áo quan này của ta sẽ đứng ra bảo bọc cho sự an toàn của các vị. Tuyệt đối không ai có thể biến người lao động nghèo thành vật thế mạng. Ai trong ba vị là người đứng tên trong giao kèo vận tải chuyến hàng biển ngạch Giáp-ba vào ngày mười bốn tháng Hai?"
Nghe những lời phân minh đầy tình người ấy, người thợ xe luống tuổi ngồi ở giữa, trán hằn sâu những nếp nhăn lam lũ và đôi mắt đục mờ vì khói bụi bến sông, mới dám run rẩy đứng dậy. Ông đặt bát nước chè xuống, chắp hai bàn tay thô kệch vái dài:
"Dạ... muôn lạy đại nhân rủ lòng thương xót. Kẻ hèn mọn này là Trương Lực, quê gốc ở bãi sông Hồng, hành nghề đánh xe ngựa thuê ở khu vực bến Liễu ngoài cửa thành đã ngót mười lăm năm có lẻ. Thảo dân chính là người nhận chuyến xe Giáp-ba ngày hôm đó ạ."
Đặng Thu Vân khẽ mỉm cười trấn an người thợ xe già, rồi nàng rút từ trong tập hồ sơ ra một tờ giấy kê chi phí có đóng dấu mộc đỏ của Liên hiệu Vạn Phúc:
"Bác Trương Lực, xin bác hãy nhìn kỹ tờ bảng kê chi phí vận tải đường bộ này. Đây là chứng từ quyết toán mà quản lý Tạ Vinh của Vạn Phúc đã nộp lên Hộ Bộ để rút bạc từ ngân khố triều đình. Trong này ghi rõ: Liên hiệu Vạn Phúc đã thanh toán sòng phẳng cho đội xe của bác mức cước lộ trình dài ba mươi dặm đường bộ, tính từ bến thuyền ngoại ô, đi vòng qua trạm trung chuyển phía bắc thành, rồi mới nhập vào Cửa Tây Dịch; kèm theo đó là khoản phụ phí bốc dỡ hàng nặng hai mươi bao đường cát và ba mươi sọt than nghiến vào tận sân cân Bếp Đông. Tổng số tiền công kê trên hóa đơn thanh toán là mười hai quan tiền đồng cho mỗi đợt vận chuyển. Bác hãy đối chiếu xem, bác có thực sự nhận đủ số tiền mười hai quan ấy từ tay Tạ Vinh hay không?"
Trương Lực nghe đến bốn chữ "mười hai quan tiền" thì giật thót mình, hai mắt trợn trừng, hai tay xua lia lịa vào không khí, giọng lạc hẳn đi vì kinh hãi:
"Ối trời cao đất dày ơi! Xin hai vị đại nhân đèn trời soi xét cho bầy con dại của thảo dân! Thảo dân nào dám mơ đến một số tiền lớn tày đình nhường ấy bao giờ! Thằng cha Tạ Vinh... à không, Tạ quản lý của Vạn Phúc, hắn nổi tiếng keo kiệt và ép giá phu xe chúng tôi sát ván khắp vùng bến Liễu! Mỗi chuyến xe từ bến thuyền vào thành, hắn chỉ quẳng cho chúng tôi đúng sáu mươi đồng tiền kẽm rỉ sét! Hắn bảo xe ngựa của bọn tôi là đồ hạ tiện dơ dáy, không đủ tư cách bốc dỡ đồ ngự dụng của hoàng cung, nên hắn cấm tiệt bọn tôi bén mảng vào sâu trong sân kho Bếp Đông!"
"Vậy lộ trình thực tế mà bác đã đánh xe đi là như thế nào?" Hoài Cẩn gặng hỏi, ánh mắt chàng tập trung cao độ.
Trương Lực vội vàng thò tay sâu vào bên trong chiếc túi vải thô đeo chéo ngang hông – chiếc túi đã rách mép và vá chằng vá đụp bằng những sợi chỉ dù thô ráp. Bàn tay run rẩy của ông móc ra một bọc vải nhỏ bọc bằng lá chuối khô, mở ra bên trong là một xấp giấy gấp tư đã nhàu nhĩ, mép giấy đen sì vì cáu ghét mồ hôi và bụi than đường trường:
"Dạ bẩm hai vị đại nhân! Dân đánh xe thuê chúng tôi nghèo rớt mồng tơi, nhưng lệ làng phép nước bến sông thì nghiêm lắm ạ. Muốn đưa xe qua cầu gỗ sông Tô hay qua phà bến Liễu, chúng tôi đều phải tự bỏ tiền túi ra nộp thuế bến bãi đò giang cho các quan nha trạm thu phí. Cứ mỗi lần nộp tiền, ty tuần kiểm bến sông lại xé cho một mảnh cuống vé đò và ghi số xe vào sổ cầu phà để cuối tháng chúng tôi đem về tính toán, cấn trừ tiền cỏ ngựa với chủ vựa xe. Đây... đây là toàn bộ cuống vé đò bến Liễu và vé thu phí qua cầu sông Tô của đội xe chúng tôi trong suốt mấy tháng mùa đông và mùa xuân vừa rồi!"
Đặng Thu Vân lập tức bước tới, hai tay đỡ lấy xấp cuống vé từ bàn tay thô ráp của Trương Lực. Nàng cẩn thận vuốt thẳng từng mảnh giấy màu vàng nhạt thô ráp. Trên mỗi mảnh vé nhỏ bằng nửa bàn tay đều in rõ dấu triện gỗ vuông vức của Tuần Kiểm Ty Bến Liễu, ghi rõ ngày, giờ, biển số xe và mức thu phí ba đồng tiền kẽm cho mỗi lượt qua đò.
"Đại nhân nhìn mà xem!" Trương Lực chỉ ngón tay đen đúa vào từng mảnh cuống vé, giọng uất ức tuôn trào như vỡ bờ. "Ngày mười bốn tháng Hai, thuyền buôn chở đường từ mạn Nam ra cập bến Liễu lúc trời còn mù sương. Nhưng đoàn xe chúng tôi tuyệt đối không hề được lệnh chở thẳng vào cổng cung theo cái lộ trình ba mươi dặm ma quỷ nào đó như chúng nó kê khai! Vừa bốc hàng lên xe xong, người của Tạ Vinh đã bắt bọn tôi đánh xe rẽ ngay sang ngã ba kho Lương Nam ngoài chợ lớn. Ở đó, người của Vạn Phúc đã chờ sẵn, bắt chúng tôi dỡ ngay xuống ba mươi bao đường cát trắng loại một đưa tuốt vào dãy kho tư nhân của riêng bọn họ!"
Trương Lực vừa nói vừa thở dốc, hai người thợ xe đi cùng cũng gật đầu lia lịa phụ họa:
"Đúng thế đấy ạ! Sau khi dỡ hết hàng tốt vào kho riêng của Vạn Phúc ở chợ Nam Thành, trên cỗ xe Giáp-ba của bác Trương Lực lúc ấy chỉ còn trơ trọi lại đúng năm bao đường rách mép, đường bên trong chảy nước đen sì vì ngấm nước đáy thuyền, cùng một đống sọt rơm rỗng tuếch! Thằng Tạ Vinh bảo chúng tôi phủ bạt rơm lên thật cao, buộc dây thừng thật chặt cho giống như xe chở đầy có ngọn, rồi dặn: *'Cứ đánh xe qua Cửa Tây Dịch để người ta nhìn thấy biển số, lấy dấu thẻ bài rồi quay đầu ra ngay, khắc có người lo lót'*. Xe vừa qua Cửa Tây vào đến cổng trong, có một tên thư lại của Bếp Đông chạy ra, chẳng thèm ngó ngàng gì thùng xe, quẹt một nét bút vào tờ giấy rồi xua tay đuổi chúng tôi: *'Xong rồi, quay xe ra ngay kẻo bẩn đường cung!'*. Xe chúng tôi quay đầu ra cổng thành chưa đầy một khắc! Bọn tôi lấy đâu ra lộ trình ba mươi dặm? Lấy đâu ra công bốc dỡ năm mươi bao hàng vào sân cân để mà nhận mười hai quan tiền của triều đình?"
Hai người thợ xe trẻ tuổi hơn bên cạnh cũng quỳ sụp xuống sàn gạch, dâng lên hai xấp cuống vé qua cầu của những chuyến xe chở than củi gỗ nghiến:
"Chúng con lạy các quan lớn! Chuyến than ngày hai mươi chín tháng Ba cũng y hệt như thế! Than hoa gỗ nghiến loại một chắc nịch, không khói, đượm lửa chở từ mạn ngược về bến sông đều bị người của Vạn Phúc dỡ sạch xuống các tiệm than tư nhân của họ ở phố Hàng Than ngoài chợ Nam Thành từ lúc canh năm! Trên xe đưa vào cung chỉ là than cám vụn nát, than bùn ẩm ướt độn bên dưới mấy cái sọt rơm rỗng để che mắt thiên hạ! Bọn con làm thuê lam lũ kiếm từng bát cháo hoa nuôi mẹ già con dại, xin các đại nhân thấu suốt cho nỗi oan này, chúng con tuyệt đối không dám thông đồng ăn cắp một hạt đường, một mẩu than của công quỹ!"
Lục Hoài Cẩn bước tới, hai tay chàng đưa ra, nhẹ nhàng nhưng kiên quyết đỡ từng người thợ xe đứng dậy. Chàng nhìn thẳng vào những đôi mắt đẫm lệ vì kinh hãi và tủi hờn của họ, giọng nói đanh thép mà chan chứa sự thấu hiểu:
"Các bác hãy đứng lên. Người làm ăn chân chính bằng mồ hôi nước mắt không việc gì phải quỳ gối trước công lý. Những mảnh cuống vé đò nát bấy này, những con dấu tuần kiểm bến sông này chính là những tấm lá chắn vững chắc nhất chứng minh sự trong sạch của các vị. Chính sự ngay thật của các bác hôm nay đã giáng một đòn chí mạng vào lũ mọt sách đục khoét quốc khố. Ty Khảo Sổ sẽ lập tức sao lưu toàn bộ số cuống vé này có công chứng thị thực của nha môn, các vị ký tên điểm chỉ vào biên bản làm chứng rồi có thể an tâm trở về bến sông tiếp tục mưu sinh. Ta lấy danh dự của một kiểm toán viên triều đình ra bảo đảm: không một thế lực nào có thể đụng đến một sợi tóc của các vị!"
Ba người thợ xe run rẩy quệt nước mắt, liên tục cúi đầu cảm tạ. Họ nắn nót đặt từng ngón tay thô ráp dính mực chu sa lên trang biên bản lời khai độc lập.
Khi cánh cửa gỗ dày của phòng thụ lý khép lại sau bóng lưng gầy guộc của những người thợ xe bến Liễu, gian phòng của Ty Khảo Sổ chìm vào một khoảng lặng đặc quánh nhưng cuộn trào sóng ngầm phẫn nộ.
Toàn bộ bức tranh ma quỷ của đường dây tham nhũng tinh vi kéo dài suốt bao năm qua nay đã hoàn toàn phơi bày trần trụi dưới ánh sáng ban ngày.
Mọi mắt xích đều ăn khớp một cách hoàn hảo đến rợn người.
Khởi đầu từ những chuyến thuyền buôn đường dài cập bến Liễu ngoài thành. Tạ Vinh – tay sai đắc lực của Liên hiệu Vạn Phúc – đã bí mật cho hạ tải toàn bộ hàng hóa thượng phẩm (đường cát trắng xứ Nam loại một, than hoa gỗ nghiến không khói) xuống hệ thống kho bãi tư nhân của Vạn Phúc nằm rải rác ngoài chợ Nam Thành. Số hàng này lập tức được bán tống bán tháo ra thị trường tự do ngoài dân gian với giá cắt cổ để thu về bạc tươi. Sau đó, hắn chỉ cho những cỗ xe thồ chất đầy sọt rơm rỗng tuếch, độn bên dưới vài bao hàng dạt, hàng mốc rách mép, rồi phủ bạt rơm thật cao tiến vào Cửa Tây Dịch chỉ nhằm mục đích "trình diện biển số xe".
Tại sân kho Bếp Đông, Đỗ Kính đã chờ sẵn. Lợi dụng quyền hạn quản kho tối thượng không ai dám kiểm soát, y không hề cho cân đo hay bốc dỡ thực tế mà lập tức ký khống vào biên bản tiếp nhận: *"Đã nhận đủ hàng tại sân cân"*. Cỗ xe rỗng lập tức quay đầu rời cung sau chưa đầy một khắc.
Để hợp thức hóa số lượng hàng hóa khổng lồ chỉ tồn tại trên giấy tờ ấy, Đỗ Kính dùng thủ đoạn kinh điển: đổ vấy cho thiên tai, lấy cớ mưa bão làm ngập kho khiến đường cát bị chảy nước, than củi bị ẩm mốc biến thành bùn than; rồi y dùng uy quyền của kẻ cai quản sinh sát để ép các nữ quan ghi sổ ca non nớt như Vũ Mai, Tống Diệp ký nhận những tờ phiếu trùng số hoặc gánh chịu định mức hao hụt vô lý. Số bạc công quỹ khổng lồ thanh toán từ Hộ Bộ cứ thế chảy thẳng vào túi Tạ Vinh và Đỗ Kính. Trong khi đó, cung nhân và quân lính trong cung cấm phải dùng than cám độc hại, ăn đường mốc chảy nước; còn những người ngay thẳng như An Trà thì bị chặn đứng tiền hoàn ứng hợp pháp, bị dồn vào bước đường cùng để gánh món nợ bảo lãnh oan khiên ba mươi sáu quan tiền!
"Một đường dây khép kín hoàn hảo từ bến sông, kho tư nhân ngoài phố cho đến tận ngưỡng cửa hoàng cung," Đặng Thu Vân siết chặt hai bàn tay lại, các khớp ngón tay trắng bệch ra vì cơn giận nghẹn ứ nơi lồng ngực. "Chúng ăn chặn từ sáu mươi đồng tiền kẽm của người phu xe nghèo khổ cho đến hàng vạn quan tiền từ ngân khố triều đình. Thảo nào... thảo nào lượng đường và than tiêu thụ trên sổ sách của Bếp Đông bỗng dưng sụt giảm nghiêm trọng khi quầy trà của An Trà chuyển sang mua nguyên liệu trực tiếp tại thuyền ở bến Liễu! Việc An Trà mua hàng thật giá thật từ gốc đã vô tình làm đứt gãy một mắt xích tiêu thụ hàng khống của chúng, khiến số liệu tồn kho giả tạo của Đỗ Kính có nguy cơ bại lộ. Chính vì thế, chúng mới điên cuồng tìm mọi cách tiêu hủy chứng từ, ngụy tạo sổ sách và quyết tâm đóng cửa Hiên Trà Sau Bếp cho bằng được!"
"Nhưng chiếc bẫy tinh vi của chúng đã sập rồi," Lục Hoài Cẩn lạnh lùng nhìn xấp sổ nhật trình Cửa Tây Dịch đặt cạnh xấp cuống vé đò bến Liễu. "Những mảnh giấy rách nát của phu xe nghèo và những dòng ghi chép khô khốc của lính gác cổng thành này chính là hai gọng kìm bằng thép nguội. Đỗ Kính không còn bất kỳ kẽ hở nào để ngụy biện cho việc ký khống những cỗ xe rỗng."
Thu Vân chợt nhớ ra điều gì, nàng khẽ bước lại gần Hoài Cẩn, hạ thấp giọng:
"Huynh có nghe ngóng được động tĩnh gì ngoài phố Nam Thành sáng nay không? Mạng lưới tai mắt của Ty Khảo Sổ vừa bí mật báo về: Tạ Vinh dường như đã ngửi thấy mùi nguy hiểm cận kề sau khi Bếp Đông bị niêm phong bất ngờ đêm qua. Sáng sớm nay, hắn đã âm thầm cho thuộc hạ tẩu tán bạc mặt tại ba hiệu buôn lớn của Vạn Phúc, thậm chí đã cho thu gom khế ước, đồ đạc quý giá chuẩn bị xuống thuyền trốn khỏi kinh thành theo đường thủy ngay trong đêm nay."
"Hắn không thoát nổi đâu," Hoài Cẩn đanh giọng, từng lời thốt ra chắc nịch như đá tảng ngàn cân. "Bùi đại nhân đã trực tiếp mang toàn bộ tập hồ sơ đối soát ban đầu sang công đường Vân Kinh gặp quan thẩm khế Hoàng Minh Khuê. Lệnh phong tỏa toàn bộ các bến thuyền dọc sông Hồng và lệnh niêm phong toàn bộ sản nghiệp của Liên hiệu Vạn Phúc đã được phê duyệt. Lưới trời lồng lộng, thưa mà khó lọt. Kẻ chủ mưu không thể dễ dàng phủi sạch tay áo mà trốn chạy."
Đúng lúc đó, một chuỗi tiếng bước chân vội vã, dồn dập vang lên từ phía hành lang lát gạch bên ngoài. Tiếng thở dốc ngắt quãng hòa cùng tiếng tà áo lụa ma sát xoạt xoạt phá vỡ bầu không khí ngột ngạt của Ty Khảo Sổ.
"Rầm!"
Cánh cửa gỗ dày nặng nề bị một bàn tay đẩy mạnh sang hai bên.
Quản sự Phạm Tĩnh xuất hiện nơi ngưỡng cửa.
Khuôn mặt người đàn bà quyền lực vốn luôn phẳng lặng, lạnh lùng như mặt hồ mùa đông nay trắng bệch không còn một giọt máu. Những nếp nhăn nơi khóe mắt và khóe miệng bà giật giật liên hồi vì một cơn chấn động tâm lý khủng khiếp vừa quét qua tâm can. Ánh mắt bà thất thần, hoang mang tột độ, lớp phấn nụ trên má dường như không còn đủ sức che đi vẻ tiều tụy xơ xác của một kẻ vừa chứng kiến cả một tòa lâu đài quyền lực mà mình tôn thờ sụp đổ tan tành dưới chân.
Trên tay bà không hề cầm theo những tập sổ sách quản lý quen thuộc, cũng không có vẻ uy nghiêm, kiêu hãnh của một nữ quan đứng đầu Bếp Đông. Hai bàn tay gầy guộc nổi gân xanh của bà đang run rẩy bần bật, ôm chặt lấy chiếc mũ quan bọc lụa đen viền đồng – biểu trưng tối thượng cho phẩm hàm, bổng lộc và địa vị quản sự nội đình mà bà đã phải đánh đổi gần ba mươi năm thanh xuân, cắn răng chịu đựng bao nhục nhằn chốn cung cấm để gìn giữ.
Phạm Tĩnh bước vào phòng thẩm tra của Ty Khảo Sổ, tháo bỏ mũ quan đặt lên bàn.