Bổn Cung Không Cung Đấu, Bổn Cung Bán Trà SữaC.13 / 30
Chương 13

Mưa xuống, deadline không biết bơi

Tiếng mưa rào rào xối xả quất thẳng vào từng lớp mái ngói rêu phong của hiên trà, biến con đường lát đá xanh dẫn sang Cửa Tây Dịch thành những rãnh nước đục ngầu, cuộn tròn bùn lầy nhão nhoét.

Gió đầu mùa hung hãn cuộn từng cơn lạnh buốt thốc tháo qua khe liếp nứa che chắn tạm bợ nơi góc chái. Nước mưa từ rãnh ngói sứt mẻ trút xuống xối xả như thác đổ vào lòng chiếc chậu sành thô, bắn tung tóe những hạt nước lạnh ngắt lên đôi guốc mộc và vạt áo chàm thô đã sũng nước của Nguyễn An Trà. Nàng đứng tựa lưng vào cây cột gỗ lim hun khói, bàn tay mảnh dẻ siết chặt chiếc đồng hồ nước nhỏ bằng đồng thau chạm khắc hoa văn mây vờn. Ánh mắt nàng đăm đăm nhìn xuyên qua màn nước xám xịt, găm chặt về phía vòm cổng thành phía tây mờ mịt.

Đã quá giờ Tỵ gần nửa khắc. Chiếc phao nổi trên miệng ống đồng khắc vạch đã nhô lên quá ngấn ba phân, báo hiệu thời gian trôi qua không thương tiếc. Theo lệ thường mỗi ngày, cứ vào quãng khắc này, tiếng trục gỗ cọc cạch ken két quen thuộc từ cỗ xe hai bánh bọc da thuộc của Vũ Lan đã phải lục cục vang lên ngoài bờ rào trúc rậm rạp. Tiếng lục lạc đồng đeo trên cổ con lừa cái vẫn thường là thanh âm báo hiệu nhịp vận hành chuẩn xác của một buổi sáng bận rộn. Nhưng hôm nay, đáp lại sự ngóng đợi đến thắt ruột của nàng chỉ có tiếng sấm rền ì ùng nặng nề dội lại từ phía chân trời xa xôi và những dải mưa trắng xóa dày đặc như tấm màn sa buông kín cả hoàng thành cổ kính.

Cơn bão đầu mùa ập đến bất thần giữa đêm qua đã biến những dải đường đất đỏ gồ ghề nối từ vùng đồi ngoại ô huyện Thanh Khê vào kinh thành thành những bãi sình lầy quánh đặc, ngập lút quá nửa bánh xe thồ. Con đê sông Đáy dâng cao đột ngột sau chuỗi ngày khô hạn làm tràn bờ các mương thủy lợi, hàng loạt xe thồ chở nông sản tươi sống từ các trang trại vệ tinh đều kẹt cứng ngoài các cửa ô khép chặt kiểm soát lũ. Đối với một mô hình kinh doanh ẩm thực, thiên tai chưa bao giờ đơn thuần chỉ là câu chuyện thời tiết xấu ngoài trời. Đó là sự đứt gãy toàn diện của chuỗi cung ứng – một cơn ác mộng lạnh buốt xương tủy mà bất kỳ người làm công tác vận hành nào, dù ở thời hiện đại hay giữa chốn kinh kỳ xưa cũ này, cũng đều thấu hiểu đến tận chân tơ kẽ tóc.

“Trà muội, có bóng người ngoài cổng rồi!” Tiếng Tống Diệp bất chợt vang lên từ phía góc bếp rực lửa, tay nàng vẫn cầm chiếc muôi tre gạt từng vệt bọt trắng bồng bềnh trên mặt nồi nước sôi sùng sục.

Từ phía màn mưa dày đặc xám xịt, một bóng người gầy guộc, đầu đội chiếc nón lá rách tơi tả đang còng rạp lưng đẩy một chiếc xe cút kít bằng gỗ thô tiến vào khoảng sân trước hiên trà. Bánh xe gỗ đơn độc nghiến trên nền đá kêu trượt trượt vô vọng. Phía sau xe, Lê Thuận – viên thư lại trẻ tuổi của trạm dịch Cửa Tây Dịch – khoác chiếc áo tơi kết bằng lá cọ sũng nước nặng trịch, hai chân bấm chặt xuống lớp bùn nhão, đang ra sức ghé bờ vai gầy đẩy phụ chiếc bánh xe bết chặt đất sét đỏ qua gờ ngưỡng cửa đá xanh.

Người đang còng lưng đẩy xe không ai khác chính là Vũ Lan. Quần áo vải thô dệt sợi gai trên người nàng ướt đẫm, bết chặt lấy da thịt gầy guộc. Hai bắp chân trần lấm lem bùn non quánh đặc lên tận quá đầu gối, bờ môi nứt nẻ tím tái vì ngấm nước lạnh buốt hàng giờ liền. Thế nhưng đôi bàn tay chai sần, thô ráp đầy những vết nứt nẻ của nàng vẫn ghì chặt lấy cặp càng xe, giữ thăng bằng cho hai chiếc bình gốm lớn bọc rơm khô chằng chịt dây gai đặt cẩn thận ở giữa giàn chở.

“Lan tỷ! Mau vào trong này kẻo ngấm lạnh độc!” An Trà vội vã lao mình ra khỏi mái hiên, không màng đến những giọt mưa táp rát mặt, nàng đưa tay đỡ lấy một bên càng xe, cùng Lê Thuận dùng hết sức bình sinh đẩy chiếc xe qua bậc thềm, đưa hẳn vào khoảng sàn khô ráo dưới mái hiên rộng.

Vũ Lan buông tay khỏi càng xe, thân hình nàng lảo đảo như muốn sụp xuống nền gạch, từng hơi thở gấp gáp phả ra làn khói trắng nhờ nhờ giữa bầu không khí ẩm ướt, buốt lạnh. Nàng run rẩy đưa bàn tay lạnh ngắt vuốt những vệt nước mưa chảy ròng ròng trên gò má hốc hác, giọng nghẹn ứ nơi cổ họng:

“An Trà cô nương… Ta… ta thành thật xin lỗi cô nương. Đoạn đường đê qua đồng Bông bị vỡ toang bờ bao, nước tràn ngập tới hông, xe ngựa lớn không thể nào qua nổi. Ta đành phải gửi lại xe ngựa cùng người đánh xe ở quán trọ đầu cầu, tự mình mượn chiếc xe cút kít này của người quen, men theo mép đồi cao mà đẩy lần từng bước vào thành. Ta… ta đã cố đi nhanh nhất có thể, nhưng bùn ngập quá sâu…”

“Tỷ đừng nói thêm lời nào nữa, mau vào bếp hong lửa trước đã.” Tống Diệp nhanh nhẹn chạy ra đón, tay cầm chiếc khăn vải bông khô ráo trùm lên đầu Vũ Lan, đoạn ấn vội bát nước gừng nướng nóng hổi, cay nồng vào đôi bàn tay đang run bần bật của người phụ nữ nông thôn.

An Trà không chần chừ, nàng quỳ một chân xuống nền gạch, cẩn thận tháo từng lớp rơm bện giữ nhiệt chằng chịt quanh chiếc bình gốm tráng men da lươn màu nâu thẫm. Lòng nàng thắt lại từng cơn lo âu. Sữa dê tươi của trang trại Thanh Khê vốn được vắt cẩn thận từ lúc trời còn tờ mờ sáng, theo đúng tiêu chuẩn vận hành nghiêm ngặt mà nàng đã đặt ra, toàn bộ số sữa tươi này bắt buộc phải được vận chuyển, thông quan qua trạm kiểm dịch và đưa về bếp trong vòng một canh giờ rưỡi để tiến hành đun khử trùng trên lửa nhỏ. Thế nhưng chuyến xe này đã bị cầm chân trên những con đường bùn lầy sũng nước suốt gần ba canh giờ đồng hồ. Khoảng thời gian chết ấy lại diễn ra dưới bầu không khí oi nồng, bức bối đến nghẹt thở trước cơn giông tố, rồi sau đó lại dầm mình trong hơi nước lạnh ẩm kéo dài.

Vừa mở nút bấc bọc vải dầu ra khỏi miệng bình, một luồng hơi ấm ngột ngạt lập tức bốc lên. Trái tim An Trà chùng xuống. Không còn mùi thơm ngậy thanh khiết, ngòn ngọt tự nhiên quen thuộc của dòng sữa mới vắt, thay vào đó là một mùi chua ngái gắt gao, lợn cợn mùi lên men hăng nồng xộc thẳng vào cánh mũi. An Trà lặng lẽ rút chiếc muôi gỗ sạch giắt bên hông, múc một lượng sữa nhỏ đưa lên gần ánh sáng đèn dầu để kiểm tra. Dòng sữa đã bắt đầu phân tách thành hai tầng rõ rệt: phần nước trong màu vàng nhạt lờ đờ lắng xuống dưới, trong khi những gợn váng trắng đục kết tủa, vón cục lơ lửng bám chặt quanh thành muôi gỗ.

Vi khuẩn lên men tự nhiên trong môi trường nhiệt ẩm kín khí đã hoàn toàn phá vỡ kết cấu đạm của sữa tươi. Ở một thời đại chưa hề có bóng dáng của kho lạnh bảo quản hay kỹ thuật thanh trùng công nghiệp, một khi sữa tươi đã xuất hiện dấu hiệu kết tủa và sinh mùi chua ngái, việc cố tình sử dụng nó để chế biến món ăn chẳng khác nào một hành vi tội ác. Đó là sự mạo hiểm trực tiếp với sức khỏe của người tiêu dùng bằng những cơn đau bụng quằn quại hay ngộ độc cấp tính.

Vũ Lan đứng tựa vào cột bếp, vừa nhìn thấy những gợn sữa chua kết tủa trắng bệch dính trên muôi gỗ, sắc mặt nàng lập tức cắt không còn một giọt máu:

“Sữa… sữa thực sự hỏng rồi sao? Trời xanh có mắt chứng giám, hai thăng sữa nguyên chất gom góp từ cả đàn dê sáng sớm nay của chúng ta…”

Lê Thuận đứng bên cạnh, lúng túng tháo chiếc nón mê sũng nước xuống, gãi đầu ái ngại cất lời: “Đường sá mưa bão ngập lụt thế này thì đến trâu mộng hay tuấn mã cũng phải chịu trói chân. Hay là… An Trà cô nương cho bắc lên bếp than, đun sôi thật kỹ với nhiều gừng già và thanh quế xem sao? Đun già lửa một chút liệu có át được thứ mùi chua này không? Trong cung giờ này mọi người đang ngóng đợi trà sữa giải nhiệt giờ trưa lắm, đổ bỏ hết ngần này thì xót xa, uổng phí bạc tiền quá chừng.”

“Tuyệt đối không được làm như vậy.” An Trà lắc đầu kiên quyết, thanh âm nàng cất lên đanh thép và dứt khoát, không mang theo nửa phần do dự. “Quy tắc an toàn thực phẩm là lằn ranh đỏ tối thượng của người làm ẩm thực, một bước cũng không bao giờ được phép dẫm qua. Sữa một khi đã chua ngái và kết tủa tách tầng, nghĩa là độc tố sinh ra từ vi sinh vật lên men đã thâm nhập toàn bộ. Dù chúng ta có đun sôi kỹ trên lửa than hồng hay bỏ thêm bao nhiêu gừng, bao nhiêu quế cay nồng thì cùng lắm cũng chỉ đánh lừa được đầu lưỡi chốc lát, chứ hoàn toàn không thể triệt tiêu được mầm bệnh đã hình thành bên trong. Người uống nhẹ thì cồn cào ruột gan, đau bụng tiêu chảy, nặng thì sốt cao nôn mửa, tổn hại chân khí. Chúng ta mở quầy trà này để kiếm đồng tiền chân chính nuôi thân và giữ lấy sự tự chủ, không thể vì tiếc nuối vài trăm đồng tiền nguyên liệu mà đánh đổi sức khỏe của khách hàng cùng danh dự gây dựng bấy lâu của Hội Đồng Công.”

Nói đoạn, nàng không để cho sự dùng dằng níu giữ mình thêm một khắc nào. An Trà cúi người, hai tay bê trọn chiếc bình gốm nặng trịch, rảo bước dứt khoát ra phía sau góc vườn nhỏ cạnh bờ tường đá. Nghiêng miệng bình, nàng dốc toàn bộ số sữa dê chua hỏng vào lòng con rãnh thoát nước đang cuồn cuộn dòng nước mưa xối xả. Dòng sữa trắng đục hòa tan trong chớp mắt vào dòng nước bùn xám xịt rồi trôi tuột đi, mang theo toàn bộ bao công sức thức khuya dậy sớm và mọi kỳ vọng về một ca bán trưa bội thu.

Vũ Lan đứng sững nhìn theo dòng nước cuốn trôi màu trắng đục, hai hốc mắt sâu hoắm của nàng đỏ hoe, giọt nước mắt lăn dài hòa lẫn nước mưa còn đọng trên cằm. Nàng run rẩy thọc tay vào lớp áo tơi ướt sũng, rút ra một mảnh giấy biên nhận đã bị nước mưa làm nhòe nhoẹt nét mực, run rẩy xé toạc làm đôi:

“Lỗi này hoàn toàn do bên trang trại chúng ta chậm trễ giờ giao hàng theo giao ước. An Trà cô nương, toàn bộ mẻ sữa dê này trang trại Thanh Khê chúng ta tuyệt đối không dám lấy của cô nương dù chỉ một đồng tiền lẻ. Ta… ta không có mặt mũi nào nhận tiền cho một món đồ hỏng do chính tay mình mang tới làm lỡ dở việc kinh doanh của các cô.”

Nhìn người phụ nữ chân chất với bộ quần áo dầm mưa rách rưới nhưng lại mang một tấm lòng tự trọng sáng trong như ngọc, trong lòng An Trà dâng lên niềm cảm phục sâu sắc xen lẫn xót xa. Nàng khẽ thở dài, bước lại gần, rút chiếc khăn tay sạch sẽ nhẹ nhàng lau đi những vết bùn đất khô ráp bám trên mu bàn tay nứt nẻ của Vũ Lan:

“Trời bão làm vỡ bờ bao là thiên tai bất khả kháng, tỷ đã không màng nguy hiểm dầm mình đẩy xe lội bùn suốt mấy dặm đường dài chỉ để giữ trọn chữ tín với Đồng Công, chúng tôi làm sao có thể nhẫn tâm để một mình tỷ gánh chịu toàn bộ tổn thất này? Chuyến hàng trắc trở này, chúng ta sẽ chia đôi rủi ro. Phần tiền vốn thức ăn thô và cỏ khô cho đàn dê sáng nay, quầy trà Đồng Công vẫn sẽ trích quỹ chi trả hỗ trợ tỷ một nửa số tiền. Còn bây giờ, việc quan trọng nhất là tỷ phải ngồi yên bên bếp lửa sưởi cho thật khô áo xống, uống bát nước gừng cho lại sức đã.”

***

Vấn đề nguyên liệu hư hại xem như đã giải quyết xong xuôi, nhưng cơn khủng hoảng thực sự giáng xuống đầu Hiên Trà Sau Bếp bây giờ mới chính thức điểm canh.

Giờ Ngọ vừa điểm. Tiếng chuông đồng báo hiệu giờ đổi ca từ các viện ty nội vụ rền vang qua làn mưa dày đặc, vọng lại từng hồi nặng nề. Ngoài con ngõ nhỏ lát đá hẹp dẫn thẳng vào hiên trà, lác đác những chiếc nón lá nhấp nhô, những tán ô giấy dầu màu xám tro của các nữ quan, cung nhân và thợ thủ công từ Ty Châm Khâu, Ty Hoán Y cùng Ty Doanh Lực bắt đầu kéo tới mỗi lúc một đông. Ca bán trưa hôm nay vốn là ca kinh doanh được kỳ vọng nhất trong tuần, nàng đã nhận tiền đặt cọc trước cho trọn vẹn ba mươi suất trà sữa Bích Lục – đơn hàng quy mô lớn nhất từ ngày mở quầy, phục vụ riêng cho ca trực trưa kéo dài của các bộ phận lao dịch nội cung.

Mọi người vừa lục tục bước vào dưới mái hiên, vừa rũ những giọt nước mưa còn đọng trên vạt áo, trong ánh mắt mệt mỏi của ai nấy đều lấp lánh vẻ háo hức mong chờ được thưởng thức chén trà sữa ngậy béo, thơm ngát và ấm nóng để xua tan đi cái lạnh thấu xương cùng sự nhọc nhằn sau nửa ngày lao động miệt mài.

Tống Diệp đứng bên quầy, đưa mắt nhìn nồi cốt trà xanh thượng hạng vừa ủ xong đang tỏa hương thanh tao ngào ngạt cùng chiếc âu sành đựng đầy những hạt dẻo củ nhu rim mật mía óng ánh sắc hổ phách nằm chơ vơ trên mặt bàn gỗ, không kìm được tiếng thở dài xót xa: “Không có sữa tươi, lấy gì để pha trà cho người ta đây? Chỗ nước cốt trà xanh hảo hạng này cùng nồi hạt củ nhu rim mật đã tốn biết bao nhiêu than củi đượm và công sức nhào nặn từ nửa đêm qua, nếu không dùng ngay thì để sang buổi chiều là hỏng hết mùi vị.”

An Trà hít một hơi thật sâu, nén lại mọi nỗi bồn chồn đang cuộn trào trong lồng ngực. Nàng đưa tay sửa lại ngay ngắn từng nếp gấp trên vạt áo đồng phục nữ quan thêu chỉ xanh, bình thản bước thẳng ra trước quầy tre đón nhận ánh nhìn của đám đông. Nàng không lùi bước, không tìm cách trốn tránh, và càng không có ý định vòng vo viện dẫn những lý do sáo rỗng để lấp liếm sự cố.

“Kính thưa các tỷ muội và toàn thể chư vị đồng liêu,” An Trà cất giọng rõ ràng, dõng dạc, từng âm từ vang lên dứt khoát át đi cả tiếng mưa rơi lộp độp trên mái ngói. Nàng khẽ nghiêng mình, cúi đầu thật sâu trước hàng người đang ngơ ngác đợi chờ: “Hôm nay, do cơn bão đêm qua khiến đê điều ngoại ô bị sạt lở, đường sá ngập lụt nghiêm trọng, chuyến xe thồ chở sữa dê tươi từ trang trại Thanh Khê vào cung đã bị trễ giờ quy định. Sữa vận chuyển trong điều kiện thời tiết oi ẩm kéo dài đã bắt đầu có dấu hiệu chua hỏng và tách lớp. Để bảo đảm tuyệt đối cho sức khỏe của mọi người, Hiên Trà Sau Bếp bắt buộc phải tiêu hủy toàn bộ số sữa tươi này và không thể pha chế các phần trà sữa Bích Lục trong ca trưa ngày hôm nay.”

Một làn sóng xôn xao lập tức rộ lên giữa đám đông. Những cái cau mày thất vọng, những tiếng thở dài tiếc nuối bắt đầu va vào nhau:

“Trời đất, mưa gió rét mướt thế này cả buổi sáng chỉ ngóng chờ chén trà sữa nóng ấm lót dạ…”

“Tiền cọc ta đã nộp đủ từ lúc rạng sáng rồi cơ mà…”

“Vâng, lỗi lầm này hoàn toàn thuộc về trách nhiệm vận hành của cá nhân tôi và Hội Đồng Công vì đã không dự trù đầy đủ phương án phòng bị trước thiên tai bão lũ,” An Trà điềm đạm mở chiếc tráp gỗ nhỏ đặt trên quầy, lấy ra từng xâu tiền đồng đã được phân loại cẩn thận: “Toàn bộ số tiền đặt cọc của ba mươi suất trà trưa nay, chúng tôi xin phép được hoàn trả lại đầy đủ một trăm phần trăm cho chư vị ngay tại đây. Đồng thời, để tạ lỗi chân thành nhất từ đáy lòng, vào ca bán trưa ngày mai, bất kỳ ai cầm biên nhận đặt cọc của ngày hôm nay quay trở lại đều sẽ được quầy trà giảm trực tiếp một đồng tiền trên mỗi chén trà thưởng thức.”

Thái độ xử lý thẳng thắn, minh bạch, sòng phẳng và tôn trọng khách hàng tuyệt đối của An Trà như một dòng nước mát lành lập tức dập tắt những ngọn lửa bực dọc vừa mới nhen nhóm. Những cái nhíu mày dần giãn ra. Từng người một lần lượt bước lên quầy, nhận lại số tiền cọc của mình trong trật tự. Nhìn thấy hai chiếc bình gốm rỗng không vừa đổ bỏ nằm nghiêng nơi góc vườn và dáng vẻ tiều tụy, run rẩy vì ngấm lạnh của người phụ nữ nông dân đang ngồi sưởi bên bếp than hồng, đám đông đều thấu hiểu tình cảnh ngặt nghèo bất khả kháng mà quầy trà đang gặp phải.

“Thôi được rồi An Trà muội, mưa gió ngập lụt bão bùng thế này, ông trời muốn làm khó người ta thì ai mà lường trước cho xuể. Nhận lại tiền sòng phẳng thế này là quý hóa lắm rồi. Trưa mai tạnh mưa, nhớ ưu tiên phần trước cho mười người của Ty Hoán Y chúng ta đấy nhé!” Một nữ quan lớn tuổi nhận lại xâu tiền đồng, cất giọng ôn tồn an ủi nàng rồi kéo lại chiếc nón lá, quay bước trở lại màn mưa xám xịt.

Tiễn vị khách cuối cùng rời khỏi ngõ trúc, không gian dưới mái hiên trà bỗng chốc chìm vào một sự tĩnh lặng đến thê lương, ảm đạm. Bếp than hoa vẫn tỏa ra hơi nóng rực hồng, nồi hạt dẻo củ nhu và chỗ nước cốt trà xanh thượng hạng vẫn bốc khói nghi ngút thơm ngát, nhưng giờ đây toàn bộ chỗ nguyên liệu ấy chỉ còn là một khoản lỗ ròng đắt đỏ không cách nào thu hồi. Tính toán cẩn thận từ tiền sữa dê hư hỏng phải đổ bỏ, tiền than củi đốt lãng phí cho tới lượng đường mật và trà hao hụt, riêng ca trưa hôm nay Hội Đồng Công đã đánh mất đứt gần một trăm tám mươi đồng tiền vốn – một con số khổng lồ giáng một đòn chí mạng vào nguồn quỹ lưu động vốn đang eo hẹp đến nghẹt thở để chuẩn bị cho kỳ hạn trả nợ cận kề của Trịnh Mộc.

An Trà ngồi phịch xuống chiếc ghế tre ọp ẹp, hai bàn tay buông thõng, nàng đưa ngón tay day day lấy hai bên thái dương đang căng lên đau nhức vì áp lực. Bài toán nan giải về dòng tiền, về sự phụ thuộc vào chuỗi cung ứng thô sơ và rủi ro thời tiết khốc liệt mà kiếp trước nàng từng đối mặt trên thương trường hiện đại, nay ở chốn hoàng thành phong kiến này lại càng hiển hiện trần trụi, tàn nhẫn hơn gấp bội phần.

“Chậc chậc, một cảnh tượng thật khiến cho người ta không khỏi xót xa thay.”

Một giọng nói trầm ấm, tròn vành rõ chữ, mang theo ngữ điệu thong dong bỗng nhiên vang lên từ phía những bậc thềm đá ngoài hiên.

An Trà giật mình ngước mắt nhìn lên. Dưới chiếc ô lụa đen bóng viền chỉ bạc lấp lánh do một gã tiểu đồng lực lưỡng nâng niu che chắn, một người đàn ông trung niên chậm rãi cất bước tiến vào mái hiên trà. Y khoác trên mình chiếc áo trường bào may bằng lụa màu lam thẫm, dệt nổi hoa văn mây lượn vô cùng sang trọng, vạt áo sạch sẽ phẳng phiu không hề vương lấy một giọt bùn non hay một hạt mưa phùn. Trên ngón tay cái bên phải của y ngự một chiếc nhẫn ngọc bích màu xanh lục đậm phát ra ánh sáng trong trẻo, bóng bẩy. Khuôn mặt y vuông vức, đẫy đà, bờ môi luôn giữ một nụ cười hòa nhã, lịch thiệp theo đúng khuôn vàng thước ngọc của giới buôn bán lớn – một nụ cười hoàn mỹ, chỉn chu nhưng hoàn toàn vắng bóng sự ấm áp chân thực.

Đó chính là Tạ Vinh – quản lý hợp đồng cung ứng của Liên hiệu Vạn Phúc, một trong những nhân vật nắm giữ thực quyền lớn nhất trong mạng lưới thầu vật tư và nguyên liệu khắp nội ngoại hoàng cung.

***

Tạ Vinh khẽ phất tay ra hiệu cho tên tiểu đồng ôm ô đứng chờ ngoài mép hiên, còn bản thân y thì thong thả chắp tay sau lưng, bước từng bước khoan thai vào bên trong quầy trà. Đôi mắt sắc lẹm như dao cau của y lướt qua nồi nước cốt trà xanh đang dần nguội ngắt và chiếc âu sành đựng hạt dẻo củ nhu ngâm mật nằm trơ trọi trên mặt bàn:

“An Trà cô nương tuổi còn trẻ, chỉ quản lý một quầy trà nhỏ nép mình nơi góc bếp này mà giữ gìn nguyên tắc nghiêm cẩn, coi trọng an toàn thực phẩm đến mức thà đổ bỏ chứ không chịu gian lận, Tạ mỗ đây từ tận đáy lòng thực sự lấy làm bội phục. Thế nhưng người xưa đã dạy, thương trường như chiến trường, chỉ có một tấm lòng thơm thảo và cái tâm trong sạch thôi thì vĩnh viễn không đủ sức để chống chọi lại sự nghiệt ngã của thiên tai địch họa. Nhìn mẻ nguyên liệu đắt đỏ, tốn bao nhiêu tâm tư công sức này phải chịu cảnh bỏ đi như rác rưởi, quả thực là đau lòng thay cho nỗi nhọc nhằn của các cô nương nơi đây.”

Tống Diệp lập tức bước nhanh lên một bước, đứng song song bên cạnh An Trà, ánh mắt lộ rõ vẻ cảnh giác cao độ. Là một người từng nếm trải đủ mùi đắng cay và những trò đấu đá ngầm trong nội cung suốt hơn mười năm qua, nàng hiểu quá rõ tính nết của những tay trùm buôn bán cỡ như Tạ Vinh. Những kẻ miệng cười như hoa nhưng bụng dạ sâu như biển ấy chẳng bao giờ rảnh rỗi hạ mình bước chân tới cái xó xỉnh ẩm thấp, lầy lội này chỉ để buông ra vài câu khen ngợi hay an ủi vu vơ.

“Tạ quản lý quá lời khen ngợi rồi,” An Trà đứng thẳng dậy, nhanh chóng thu lại vẻ mệt mỏi trên gương mặt, thay vào đó là nét hòa nhã, chừng mực đúng với thân phận của một nữ quan cấp dưới: “Chuyện làm ăn buôn bán vốn dĩ luôn có lúc thăng lúc trầm, gặp ngày mưa bão đường trơn đê vỡ thì người kinh doanh buộc phải chấp nhận rủi ro hư hao như một lẽ thường tình. Chẳng hay hôm nay trời mưa gió mịt mùng thế này, Tạ quản lý lại có nhã hứng hạ cố ghé thăm hiên trà nhỏ hẹp, đơn sơ của chúng tôi là có điều chi cần chỉ giáo?”

Tạ Vinh nở một nụ cười càng thêm đôn hậu, cái nụ cười từng trải của một thương nhân lão luyện luôn biết chính xác thời điểm vàng để ném chiếc phao cứu sinh bóng bẩy xuống cho con mồi đang ngụp lặn sắp chết chìm:

“Hai chữ chỉ giáo thì Tạ mỗ nào dám nhận. Ta chẳng qua là thấy việc bất bình, thấy người tài gặp cảnh khốn khó nên không nỡ khoanh tay đứng nhìn mà thôi. Liên hiệu Vạn Phúc của chúng ta xưa nay bao thầu toàn bộ các khế ước cung ứng lớn nhỏ trong ngoài kinh thành, kho hàng trung chuyển quy mô nhất lại nằm ngay sát ngoài Cửa Bắc, tường cao hào sâu, kê bệ khô ráo bốn mùa, hàng hóa dự trữ chất cao như núi, ngút ngàn không bao giờ thiếu thốn. Ta biết quầy trà nhỏ bé của cô nương dạo gần đây buôn may bán đắt, nhưng lại đang lâm vào bước đường cùng quẫn chỉ vì quá lệ thuộc vào nguồn sữa dê tươi thô sơ từ chốn ngoại ô xa xôi, trắc trở kia.”

Y dừng lại một nhịp, ung dung đưa

Tạ Vinh đưa ngón tay trỏ đeo chiếc nhẫn ngọc bích chạm nổi gõ nhẹ lên mặt bàn gỗ ba tiếng thật thong thả. Tiếng gõ trầm đục lẫn vào tiếng mưa rào rạt ngoài mái tranh, mang theo vẻ tự tin của một kẻ nắm đằng chuôi trong mọi cuộc ngã giá. Y hơi rướn người về phía trước, ánh mắt lướt qua vẻ mặt của hai người phụ nữ đứng đối diện, hạ giọng bằng cái tông điệu ân cần, trầm ấm của một bậc tiền bối giàu lòng trắc ẩn:

“Hiện tại trong kho trung chuyển của Vạn Phúc ngay sát Cửa Bắc đang có sẵn năm mươi hộp sữa cô đặc đóng trong bình gốm tráng men, niêm phong sáp ong kỹ càng từng nắp, vừa mới theo thuyền buôn đường sông chuyển từ mạn phương Nam ra kinh sư đầu tuần này. Đi kèm với đó là mười bao đường cát trắng thượng phẩm loại một, hạt mịn và trắng tinh như tuyết đầu mùa. Thứ sữa đặc phương Nam này vốn được nấu cô cùng mật mía tinh luyện theo bí quyết gia truyền, hạn dùng bảo quản được cả năm trời dẫu thời tiết có nồm ẩm đến đâu. Mưa bão ngập lụt hay đường sá tê liệt thêm mười ngày nữa cũng chẳng sợ biến chất, ôi thiu hay chua loét như sữa tươi vắt dở. Chỉ cần An Trà cô nương gật đầu ưng thuận một tiếng, chẳng cần đợi lâu, nội trong một khắc nữa thôi, Tạ mỗ sẽ lập tức cho ba gã phu lực đẩy xe chuyển thẳng năm hộp sữa đặc cùng hai bao đường cát trắng vào tận ngưỡng cửa gian bếp này. Các cô cứ việc nhóm lửa nấu bán ngay cho ca chiều. Ta dám bảo đảm, chẳng những các cô thu hồi trọn vẹn toàn bộ số vốn liếng vừa trôi sông đổ biển của ca trưa, mà lợi nhuận thu về còn rực rỡ, vẻ vang hơn ngày thường gấp bội phần.”

Từng lời, từng chữ thốt ra từ khóe môi đầy đặn của Tạ Vinh nghe êm tai, ngọt lịm chẳng khác nào mật ong rừng rót thẳng vào tai người đang khát.

Đứng bên cạnh An Trà, Tống Diệp khẽ giật giật khóe mắt. Hàng chân mày của nàng nhướng lên, hai bàn tay buông thõng bên hông bất giác siết chặt lại. Một sự dao động rất đỗi tự nhiên dâng lên trong đáy mắt người nữ quan quanh năm chỉ quen đối mặt với những cuốn sổ thu chi thâm hụt và những khoản nợ lương còm cõi. Đứng ở góc độ một người quản lý tài chính đang đứng trước nguy cơ vỡ quỹ, lời đề nghị ấy có sức cám dỗ quá lớn. Năm hộp sữa đặc đóng hũ gốm phương Nam và hai bao đường cát trắng thượng hạng lúc này không khác gì một chiếc bè cứu sinh bằng gỗ lim chắc chắn thả xuống giữa dòng nước lũ cuồn cuộn, có thể ngay lập tức dập tắt cơn khủng hoảng đứt gãy nguồn cung đang đe dọa bóp chết hiên trà nhỏ bé này.

Nhưng An Trà thì khác.

Đôi mắt trong veo của nàng vẫn phẳng lặng như mặt hồ đóng băng giữa mùa đông giá rét, không gợn lên lấy một tia xao động. Ở kiếp trước, trong chốn thương trường hiện đại đầy cạm bẫy, nàng đã từng nhìn thấy quá nhiều những bản hợp đồng mang danh nghĩa “hỗ trợ đối tác chiến lược”, những gói cứu trợ khẩn cấp với lãi suất ưu đãi giăng đầy những mỹ từ tốt đẹp, nhưng bản chất cốt lõi bên trong lại là những chiếc vòi bạch tuộc nham hiểm nhằm thâu tóm chuỗi cung ứng, tước đoạt quyền tự chủ và nuốt chửng toàn bộ công sức của những kẻ yếu thế.

Nàng khẽ nâng cằm, khóe môi khẽ nhếch lên một nụ cười kín đáo, giọng điệu giữ nguyên vẻ bình thản, chừng mực đến kinh ngạc:

“Tạ quản lý thật là người rộng rãi, ra tay tương trợ hào hiệp đến mức khiến kẻ hậu bối như tôi phải kinh ngạc. Chỉ là, thương trường như chiến trường, người buôn bán lớn như Tạ quản lý lại càng không bao giờ làm những chuyện bỏ vốn không công. Chắc hẳn Liên hiệu Vạn Phúc cũng có những điều kiện tương xứng để đổi lấy sự bảo trợ chu đáo này chứ?”

“Ha ha ha! Quả nhiên là người thông minh! An Trà cô nương nói chuyện sắc sảo, dứt khoát lắm! Ta xưa nay vốn thích nhất là được ngồi đàm đạo cùng những người sáng dạ và hiểu chuyện nghề như cô nương!”

Tạ Vinh cười lớn đầy vẻ tán thưởng, tiếng cười vang rộn lấn át cả tiếng mưa gõ trên mái liếp. Bàn tay mập mạp của y lần vào trong vạt áo gấm màu cánh gián rộng thùng thình, rút ra một cuộn giấy bản dày dặn, bên ngoài có buộc một dải chỉ điều đỏ thắm thắt nút hoa mai chỉnh tề. Y đặt cuộn giấy lên mặt bàn gỗ thô ráp, dùng hai ngón tay đẩy nhẹ về phía An Trà:

“Điều kiện thì có gì to tát đâu, đơn giản và vẹn toàn cho cả đôi bên cùng sinh lợi mà thôi. Liên hiệu Vạn Phúc chúng ta sẽ đứng ra gánh vác toàn bộ rủi ro về thời tiết và đường sá, chịu trách nhiệm bảo đảm cung ứng độc quyền toàn bộ nguồn sữa đặc, đường cát trắng và than củi chắc đượm cho Hiên Trà Sau Bếp trong suốt thời hạn một năm tới. Từ nay về sau, các cô nương chỉ việc an tâm đứng quầy thu tiền, không cần thức khuya dậy sớm lo mưa gió bão bùng, không cần phải nhọc lòng chạy vạy mua gom từng cân đường lậu giá rẻ ở bến Liễu, lại càng không phải thắc thỏm ngóng trông từng chuyến xe chở sữa dê thô sơ, trắc trở từ chốn ngoại ô xa xôi kia nữa. Đổi lại, để bảo đảm chữ tín trong việc làm ăn lâu dài, Hội nữ quan Đồng Công của các cô chỉ cần ký tên, điểm chỉ vào bản khế ước này. Cam kết duy nhất là: kể từ ngày ký, hiên trà chỉ được phép nhập trọn gói các loại nguyên vật liệu do một mình Vạn Phúc phân phối, tuyệt đối không được phép mua gom bất kỳ một món nào từ các thương lái trôi nổi bên ngoài.”

An Trà không vội đáp lời. Nàng quay sang nhìn Tống Diệp, khẽ nghiêng đầu ra hiệu.

Tống Diệp lập tức bước tới, kéo ngọn đèn dầu lạc trên bệ gỗ lại gần hơn để ánh sáng vàng vọt rọi thẳng xuống mặt bàn. Cả hai người cùng cúi đầu, chăm chú rà soát từng dòng chữ mực đen đặc quánh trên nền giấy bản thô giáp. Mùi mực tàu mới quyện với mùi giấy ẩm bốc lên ngai ngái.

Càng đọc xuống dưới, đôi hàng lông mày thanh tú của An Trà càng nhíu chặt lại, còn bàn tay Tống Diệp đang giữ mép giấy bắt đầu khẽ run lên vì phẫn nộ.

Bản khế ước được soạn thảo vô cùng công phu và xảo quyệt bằng thứ ngôn ngữ hành chính uyển chuyển, kín kẽ tới từng dấu chấm, dấu phẩy. Ở phần mở đầu, Vạn Phúc hào phóng cam kết sẽ “ưu tiên bảo đảm cung ứng hàng đầu”, nhưng đến phần điều khoản thanh toán, giá cả nguyên liệu lại hoàn toàn không được cố định ở một mức cụ thể nào, mà lại được cài cắm bằng một dòng chữ mơ hồ: *“Giá bán nguyên liệu từng đợt sẽ được tính theo thời giá thị trường do Liên hiệu Vạn Phúc niêm yết và công bố vào ngày đầu mỗi tháng”*. Lật sang phần phụ lục đính kèm ở mặt sau, đơn giá đường cát trắng áp dụng cho tháng khởi điểm này đã được ghi chễm chệ là tám mươi nhăm đồng một cân — con số này cao gấp gần ba lần so với giá buôn sỉ tại bến sông bến Liễu mà An Trà và Thu Vân đã nhọc công khảo sát và đối soát số liệu tuần trước!

Chưa dừng lại ở đó, đòn hiểm ác nhất nằm ở điều khoản phạt vi phạm hợp đồng được chép bằng những nét chữ nhỏ li ti như kiến bò ở góc dưới cùng của tờ giấy bản:

*“Nếu bên nhận cung ứng tự ý thu mua, tàng trữ hoặc sử dụng bất kỳ nguồn nguyên liệu nào gồm đường, sữa, trà búp hoặc than củi từ bất kỳ thương hộ, thuyền buôn hoặc trang trại nào khác mà không có sự chấp thuận bằng văn bản có đóng dấu của Liên hiệu Vạn Phúc, bên nhận cung ứng sẽ phải bồi thường gấp mười lần tổng giá trị hợp đồng ước tính trong một năm, quy đổi thành năm mươi quan tiền mặt. Đồng thời, toàn bộ công cụ, bàn ghế, nồi niêu, ấm tách và quầy gỗ của Hiên Trà Sau Bếp sẽ bị tịch thu vô điều kiện để cấn trừ nợ nần.”*

Năm mươi quan tiền!

Tống Diệp hít sâu một hơi buốt lạnh, lồng ngực phập phồng nghẹn ứ.

Đối với những nữ quan thất thế, những thị nữ nghèo khổ chỉ kiếm được vài trăm đồng tiền công còm cõi mỗi tháng ở các xưởng giặt và kho củi, năm mươi quan tiền là một con số thiên văn, một ngọn núi sừng sững đủ sức nghiền nát tan tành Hội Đồng Công non trẻ chỉ trong nháy mắt. Số tiền phạt ấy không chỉ đẩy toàn bộ chị em phụ trách quầy trà vào ngục tối của Ty Khảo Sổ vì tội bội ước và quỵt nợ thương vụ, mà còn vĩnh viễn tước đoạt đi cơ hội tích lũy tài chính để chuộc thân, mãn hạn xuất cung của An Trà sau mười năm ròng rã cắn răng chịu đựng chốn hoàng quyền.

Đây tuyệt nhiên không phải là một chiếc phao cứu sinh, càng không phải là một hợp đồng tương trợ lẫn nhau.

Đây chính là một cái bẫy độc quyền kinh điển nhằm thôn tính chuỗi cung ứng!

Tạ Vinh và đám tay chân của Đỗ Kính ở kho lương hẳn đã sớm đánh hơi thấy mối nguy hại khi Hiên Trà Sau Bếp tự chủ tìm được nguồn đường giá rẻ ở bến Liễu, bóc trần sự chênh lệch phi lý trong các hóa đơn quyết toán nội bộ. Nhân cơ hội mưa gió làm vỡ đê, cắt đứt đường vận chuyển sữa tươi từ trang trại ngoại ô, bọn chúng đã giăng sẵn cái lưới này để trói chặt tay chân nàng, biến hiên trà thành một đại lý tiêu thụ hàng hóa tồn đọng với giá cắt cổ, đồng thời bòn rút đến giọt mồ hôi cuối cùng của đám nữ quan nghèo khổ.

Cơn giận bốc lên ngùn ngụt khiến gò má Tống Diệp đỏ bừng. Nàng chống mạnh hai tay xuống mặt bàn gỗ, toan há miệng mắng thẳng vào mặt tên gian thương xảo quyệt, nhưng An Trà đã nhanh hơn một nhịp. Bàn tay thon thả của An Trà khẽ lướt qua, đặt lên cổ tay Tống Diệp, ngón tay nhẹ nhàng ấn xuống như một lời nhắc nhở thầm lặng nhưng đầy uy lực.

Tống Diệp cắn chặt môi dưới, cố nén tiếng thở dốc đầy phẫn uất, lùi lại nửa bước.

An Trà từ từ ngẩng đầu lên. Gương mặt nàng không hề lộ ra một tia hoảng loạn hay giận dữ nào, ngược lại, nụ cười trên môi nàng vẫn giữ trọn nét nhã nhặn, nhưng ánh mắt nhìn thẳng vào Tạ Vinh lại lạnh lùng và sắc bén như lưỡi dao gọt hoa quả:

“Thịnh tình và sự chu đáo này của Tạ quản lý cùng Liên hiệu Vạn Phúc, kẻ hèn này xin ghi nhận. Có điều, điều lệ ban đầu khi chúng tôi thành lập Hội nữ quan Đồng Công đã được trình báo rõ ràng với bên Thượng Thực Cục: mọi quyết định ký kết khế ước liên quan đến việc ràng buộc tài sản, nguồn cung kéo dài trên ba tháng đều bắt buộc phải thông qua biểu quyết công khai của toàn thể thành viên trong hội. Bản thân tôi ở đây dẫu được chị em tin cậy giao phó việc coi sóc quầy hàng, nhưng cũng chỉ là một người quản lý ca, không có tư cách vượt quyền để tự ý điểm chỉ thay cho hàng chục con người.”

Nụ cười đôn hậu giả tạo trên gương mặt béo tốt của Tạ Vinh thoáng chốc sượng lại. Ánh mắt y nheo lại thành hai đường chỉ hẹp, tia nhìn sắc lạnh quét qua gương mặt trẻ tuổi của An Trà. Giọng điệu của y vẫn cố giữ vẻ từ tốn, nhưng từng âm sắc nhả ra đã bắt đầu nặng trĩu những lời đe nẹt không che giấu:

“An Trà cô nương hà tất phải đem mấy thứ quy củ biểu quyết rườm rà, con trẻ ấy ra để làm khó bản thân? Cô nương nên nhớ cho kỹ, cơ hội để cứu vãn chén cơm của quầy trà này chỉ có duy nhất trong buổi chiều hôm nay. Ngoài trời mưa gió vẫn mịt mùng thế kia, đường đê sạt lở, nước ngập ngang bụng ngựa. Nếu cô nương lắc đầu từ chối lòng tốt của Vạn Phúc, chiều nay các cô lấy cái gì để đỏ lửa bán hàng? Chẳng lẽ lại bấm bụng đổ bỏ toàn bộ nước cốt trà xanh đã hãm, chấp nhận khoanh tay chịu lỗ rồi đóng cửa im lìm hay sao? Huống hồ…”

Tạ Vinh dừng lại, khẽ nhếch mép, buông ra một câu nói đầy ẩn ý:

“… Dạo gần đây, nha môn kinh thành đang ráo riết siết chặt việc kiểm soát hàng hóa ngoại tỉnh thẩm lậu qua Cửa Tây Dịch để đề phòng dịch bệnh và gian lận thuế khóa. Những chuyến xe thồ nhỏ lẻ chở sữa, chở củi không có giấy thông hành của các hội buôn lớn như trang trại Thanh Khê ngoài ô kia… e là sau đợt bão này, mỗi lần muốn qua cửa quan sẽ bị quân canh giữ lại khám xét, hạch sách từng giờ từng khắc đấy. Cô nương nghĩ họ còn giữ nổi bình sữa tươi nguyên vẹn đến tận tay các cô được mấy lần?”

Đó là một lời đe dọa trắng trợn! Y không ngần ngại phơi bày mối liên kết ngầm giữa thế lực tài phiệt và những gọng kìm hành chính nơi cửa ngõ kinh thành nhằm bóp nghẹt đường sống của những người buôn bán độc lập.

Không gian trong chái bếp bỗng chốc đông cứng lại, chỉ còn tiếng mưa rơi lộp bộp trên mái liếp nứa rách.

Tống Diệp rốt cuộc không thể nhẫn nhịn thêm được nữa. Nàng cười khẩy một tiếng giòn tan, giọng nói đanh thép vang lên:

“Tạ quản lý thật khéo lo bò trắng răng! Người của Đồng Công chúng tôi xưa nay toàn phường phận mỏng cánh chuồn, từ lúc bước chân vào nội đình này đã quen ăn cơm hẩm với rau muống luộc, dầm mưa dãi nắng nếm đủ mùi cơ cực rồi. Chịu khổ thì chúng tôi chẳng sợ, nhưng bảo chị em chúng tôi tự tay tròng cái gông sắt năm mươi quan tiền vào cổ để người khác dắt mũi đi đâu thì đi, thì xin lỗi, Đồng Công chúng tôi chưa hèn hạ đến mức ấy!”

An Trà không nói thêm lời thừa thãi nào. Nàng bình thản đưa tay cuộn tròn tờ khế ước lụa điều lại, vuốt phẳng mép giấy rồi dùng hai tay nâng lên, đặt trả lại ngay ngắn trước mặt Tạ Vinh. Đôi mắt nàng sáng quắc, đối diện trực diện với cái nhìn hằn học của gã quản sự lão luyện:

“Ý tứ của Diệp tỷ cũng chính là ý chí chung của tôi và toàn thể chị em Hội Đồng Công. Chúng tôi gom góp từng đồng vốn liếng mọn mằn này để dựng lên quầy trà là vì muốn tự tìm lấy cho mình một con đường sống độc lập, chứ tuyệt đối không phải để biến mình thành kẻ gánh nợ nô dịch cho kẻ khác. Bản khế ước hào nhoáng này của Liên hiệu Vạn Phúc quá đỗi nặng nề, cái hiên trà sau bếp chật hẹp này của chúng tôi phúc mỏng, không dám trèo cao để với tới. Xin Tạ quản lý cất lại cho.”

Sắc mặt Tạ Vinh lập tức biến đổi, từ hồng hào đôn hậu chuyển sang xám ngoét rồi tím tái vì tức tối. Lớp mặt nạ lịch thiệp, nhã nhặn hoàn toàn nứt vỡ, để lộ ra bản chất hung hãn của một kẻ quen thói chèn ép kẻ dưới. Y giật phắt lấy cuộn giấy bản trên bàn, nhét mạnh vào trong ống tay áo, lồng ngực phập phồng dữ dội.

Y đứng bật dậy, chiếc ghế đẩu dưới chân bị đẩy lùi kêu ken két trên nền đất nện ẩm ướt. Tạ Vinh trừng mắt nhìn An Trà, cười gằn từng tiếng cay độc qua kẽ răng:

“Tốt! Rất có khí phách! Rất biết giữ lấy cái thanh cao hão huyền! Để Tạ mỗ chống mắt lên xem, một cái quầy trà rách nát không có một giọt sữa đặc, không có lấy một hạt đường trắng của Vạn Phúc thì các ngươi lấy cái gì ra để chống chọi qua ba ngày mưa bão đất kinh thành này! Chờ đến khi vỡ nợ, quỳ rạp dưới đất cầu xin, lúc đó cái giá phải trả sẽ không còn là năm mươi quan tiền nữa đâu!”

Dứt lời, y hầm hầm xoay người, giật phắt chiếc ô lụa đen bóng từ góc tường bung ra một tiếng “phựt” dứt khoát, rồi rảo bước đạp mạnh lên những vũng nước đọng, lao thẳng ra màn mưa trắng xóa ngoài rào trúc.

***

Nhìn theo bóng lưng đen sì của Tạ Vinh khuất hẳn sau rặng tre ngả nghiêng trong gió bão, Tống Diệp mới trút ra một hơi thở dài thườn thượt. Nàng đưa tay áo lên lau vệt mồ hôi lạnh trên trán, vừa hả hê vì đuổi được kẻ gian xảo, nhưng nỗi âu lo lại nhanh chóng trùm lên đáy mắt:

“Tên cáo già lòng lang dạ thú đó chắc chắn sẽ không chịu để yên đâu, phen này hắn về kho lương thế nào cũng thêm mắm dặm muối với lão Đỗ Kính. Nhưng Trà muội từ chối hắn là phải đạo lắm! Ký vào cái tờ giấy quỷ ám đó thì chẳng khác nào tự tay ký vào văn tự bán mình, cả đời chị em mình làm quần quật chỉ đủ nuôi béo cái túi tiền của lão. Cơ mà… nói thì mạnh miệng thế thôi, chứ chiều nay chúng ta tính sao bây giờ muội? Cả một thùng nước cốt trà xanh hảo hạng thơm ngát với mấy chậu hạt củ nhu dẻo luộc sẵn kia… chẳng lẽ đổ bỏ thật sao? Quỹ lưu động của hội sáng nay vừa bù tiền chuyến sữa dê bị chua, giờ mà chịu thêm một ca chiều lỗ trắng mắt nữa thì đến tiền mua than củi ngày mai chúng ta cũng chẳng còn!”

Vũ Mai từ góc chạn bát rụt rè bước ra, trên tay vẫn cầm chiếc giẻ lau ẩm, khóe mắt hoe đỏ vì lo lắng:

“An Trà tỷ tỷ… hay là… hay là muội chạy sang khu giặt giũ vay tạm mấy tỷ muội đồng hương ít tiền đồng gom lại…”

“Không cần phải vay mượn ai cả!”

Giọng nói của An Trà vang lên rành rọt, dứt khoát như một nhịp gõ phách.

Nàng không hề để bản thân chìm đắm trong cảm giác hoang mang hay u uất dù chỉ một khoảnh khắc ngắn ngủi. Bộ óc của một cựu giám đốc điều hành chuỗi ẩm thực giàu kinh nghiệm lập tức tự động vận hành ở công suất cao nhất, chuyển thẳng sang trạng thái ứng phó khủng hoảng và kích hoạt phương án dự phòng. Trong kinh doanh thực phẩm, nguyên tắc sinh tồn tối thượng khi chuỗi cung ứng bị đứt gãy không phải là ngồi than thân trách phận hay cố sống cố chết bám víu vào một công thức cố định, mà là: *nhanh chóng tái cấu trúc thực đơn dựa trên chính những tài nguyên sẵn có trong tay.*

An Trà xắn cao hai ống tay áo vải thô lên tận khuỷu, để lộ đôi cánh tay trắng trẻo nhưng đầy vẻ tháo vát. Đôi mắt nàng bừng lên những tia sáng tự tin, nàng quay sang nhìn Tống Diệp và Vũ Mai:

“Ai bảo với hai tỷ muội là chúng ta phải chịu đầu hàng? Sữa không đến thì chiều nay chúng ta dứt khoát không bán trà sữa nữa! Chúng ta sẽ chuyển đổi toàn bộ thực đơn ca chiều sang đồ uống thảo mộc nóng không dùng sữa!”

“Đồ uống nóng… không dùng sữa ư?” Tống Diệp chớp chớp mắt, ngơ ngác nhìn An Trà như chưa kịp hiểu ra.

“Đúng vậy!” An Trà bước thoăn thoắt về phía góc kho khô được kê cao trên những viên gạch nung, giọng nói nàng dồn dập, mạch lạc: “Thời tiết mưa bão gió lạnh buốt da buốt thịt thế này, người ta tìm đến một thức uống không đơn thuần chỉ để thỏa mãn cơn thèm ngọt, mà nhu cầu cốt lõi nhất của cơ thể họ là cần giữ ấm tỳ vị, giải cảm và làm nóng huyết mạch. Diệp tỷ, muội nhớ đợt đi chợ phiên tuần trước, chúng ta vẫn còn dự trữ ba rổ gừng già xứ Đoài, hai tảng đường mía lau cô đặc màu nâu sẫm, cùng với hai bao đỗ đen xanh lòng, đậu đỏ hạt tiêu và gạo lứt rang khô đúng không?”

“Đúng rồi!” Vũ Mai lập tức nhớ ra, nhanh nhảu reo lên: “Những thứ hạt khô và gừng già đó để nơi khô ráo thì để cả tháng cũng không sợ mốc hỏng, than củi khô trong góc bếp cũng còn đủ ba bao!”

“Tuyệt vời! Chúng ta có thừa nguyên liệu để xoay chuyển cục diện.” An Trà lập tức phân công nhiệm vụ, ánh mắt nàng nghiêm cẩn dặn dò một chi tiết kỹ thuật tối quan trọng: “Vũ Mai, muội chạy ra góc chạn, lấy ngay bộ nồi đồng nhỏ và chiếc ấm sắc thuốc bằng đất nung dự phòng ra đây cọ rửa thật sạch bằng nước sôi. Nhớ kỹ cho tỷ: tuyệt đối chỉ dùng bộ nồi đất và nồi đồng riêng biệt này, không được phép đụng chạm hay dùng chung với chiếc nồi gang vừa nấu mẻ sữa dê hỏng lúc sáng!”

Tống Diệp hơi ngạc nhiên: “Cọ sạch bằng tro bếp rồi tráng nước sôi cũng không được sao muội?”

“Tuyệt đối không!” An Trà lắc đầu kiên quyết: “Chỉ cần một giọt sữa hay một vệt màng sữa cũ còn bám sót lại ở đáy nồi thôi cũng đủ làm nhiễm tạp mùi hôi tanh, phá hỏng toàn bộ hương vị thanh khiết, cay nồng của thảo mộc nướng. Nguy hiểm hơn nữa, trong số những người tìm uống nước giải cảm chiều nay, sẽ có những người cơ địa vô cùng nhạy cảm, chỉ cần uống phải một chút cặn sữa ôi thiu lẫn vào là bụng dạ sẽ cồn cào phát bệnh ngay. Chúng ta làm đồ ăn thức uống cho người khác, giữ cho cái tâm và dụng cụ của mình sạch sẽ không tì vết chính là giữ lấy cái gốc rễ để sống còn.”

Thấy An Trà cẩn trọng đến từng chân tơ kẽ tóc như vậy, hai người kia hoàn toàn bị thuyết phục. Không khí ảm đạm, căng thẳng trong chái bếp nhỏ lập tức bị xua tan biến mất, thay vào đó là sự nhộn nhịp, khẩn trương của một guồng quay mới.

Ngọn lửa đỏ rực bốc lên từ hai bếp than vừa được Tống Diệp nhóm lại bằng những thanh củi khô nỏ, tỏa hơi ấm nồng nàn xua đi cái ẩm ướt nhớp nháp của ngày mưa bão.

An Trà thoăn thoắt ngồi xuống bên chiếc bàn con. Nàng cầm con dao bài sắc bén, cạo sạch lớp đất cát bám ngoài vỏ những củ gừng già xứ Đoài thân gầy guộc nhưng thơm cay nồng nặc. Nàng không gọt bỏ vỏ vì vỏ gừng mới là thứ có tính hàn giải nhiệt cân bằng, chỉ thái thành từng lát mỏng tang đều tăm tắp, rồi dùng sống dao đập dập nhẹ từng lát cho tinh dầu cay cay ứa ra thơm phức.

Nàng đặt một chiếc chảo đồng lên bếp than hồng, không cho dầu mỡ, trút toàn bộ số gừng thái lát vào sao khô. Đôi đũa tre trên tay nàng đảo đều thoăn thoắt. Tiếng gừng xèo xèo reo vui trên mặt chảo đồng nóng rực, những mép lát gừng bắt đầu hơi sém vàng, bốc lên một làn khói mỏng mang theo mùi thơm cay nồng, ấm áp lan tỏa khắp gian bếp, khiến ai nấy hít vào một hơi đều cảm thấy lồng ngực ấm sực lên.

Khi gừng đã đạt độ thơm giòn lý tưởng, An Trà trút thẳng vào nồi nước giếng khơi đang sôi sùng sục, rồi dùng dao chặt từng tảng đường mía lau màu cánh gián thả vào chung. Nước đường gừng sôi lăn tăn, bọt sủi trắng xóa rồi dần lắng xuống, chuyển thành một thứ nước sánh nhẹ màu hổ phách đậm đà, vị cay nồng xộc thẳng lên cánh mũi nhưng đọng lại nơi cuống họng lại là vị ngọt hậu sâu thẳm, dịu dàng của mật mía nguyên chất.

Ở chiếc bếp bên cạnh, theo sự hướng dẫn của An Trà, Tống Diệp trút hỗn hợp đỗ đen xanh lòng, hạt đậu đỏ tròn mẩy cùng gạo lứt huyết rồng đã rang thơm nức mũi vào chiếc ấm đất lớn chứa đầy nước sôi. Lửa than liu riu ninh nhừ những hạt ngũ cốc. Mùi đậu rang quyện với mùi gạo lứt cháy cạnh tỏa ra một thứ hương thơm mộc mạc, bùi bùi, ngai ngái nhưng chan chứa cảm giác no đủ, bình yên của làng quê giữa ngày mưa gió lạnh lẽo.

“Còn số hạt dẻo củ nhu này thì sao muội?” Tống Diệp chỉ vào ba chậu hạt dẻo màu nâu trong veo luộc từ trưa.

“Không bỏ đi một hạt nào hết!” An Trà cười tươi. Nàng dùng muôi thủng vớt từng mẻ hạt dẻo ra, xả nhanh qua một lần nước ấm cho sạch lớp bột nhớt bên ngoài, rồi nhẹ nhàng trút toàn bộ vào nồi nước đường gừng đang sôi liu riu trên bếp.

Những viên hạt dẻo dai dai lập tức ngậm trọn lấy làn nước đường ấm nóng, lớp vỏ ngoài bóng bẩy thấm đẫm màu vàng óng ả và hương cay nồng của gừng, biến hóa thành món tráng miệng giải cảm tuyệt hảo vừa có cái dẻo thơm để nhai vui miệng, vừa có vị ấm nóng để xua tan hàn khí.

An Trà cầm một tấm bảng gỗ nhỏ, lấy mẩu phấn trắng nắn nót viết từng nét chữ chân phương rõ ràng, rồi đem treo ngay ngắn trước hiên rào trúc:

*“HÔM NAY CÓ: TRÀ GỪNG ĐƯỜNG MÍA HẠT DẺO ẤM NỒNG & NƯỚC ĐẬU RANG NGŨ CỐC GIẢI CẢM — 2 ĐỒNG MỘT BÁT (TẶNG KÈM LÁT GỪNG NƯỚNG GIỮ ẤM).”*

Giờ Thân vừa điểm. Mưa ngoài trời bắt đầu chuyển sang rỉ rả, nhưng những cơn gió bấc đầu mùa mang theo hơi lạnh buốt giá luồn lách qua từng vách nứa, ngấm sâu vào da thịt của những người phải làm việc ngoài trời.

Hương gừng sao thơm lừng và mùi ngũ cốc nướng mộc mạc, đậm đà từ gian bếp của Hiên Trà Sau Bếp như có cánh, nương theo chiều gió bay xa tít tắp, len lỏi qua từng dãy chuồng ngựa ẩm thấp, các phân xưởng giặt giũ lạnh lẽo và con đường tuần tra đá hộc của khu Cấm thành.

Chẳng mấy chốc, những vị khách đầu tiên đã xuất hiện.

Đó là một tốp lính tuần tra Cấm vệ quân khoác áo tơi ướt sũng, bùn đất bám đầy ống chân, đôi môi thâm tím vì dầm mưa suốt ba canh giờ liền. Đón lấy mùi gừng nướng ngào ngạt, một bác lính tráng trạc tứ tuần bước vội vào dưới mái hiên, vừa run rẩy gạt nước mưa trên mặt vừa cất tiếng gọi lớn:

“Trời phật ơi, ở đâu mà thơm ấm sực cả người thế này! Cô nương ơi, múc nhanh cho ta hai bát trà gừng thật nhiều hạt dẻo mau lên, hai bàn tay cóng ngắt không cầm nổi ngọn giáo nữa rồi!”

“Có ngay đây ạ, các bác vào ngồi sát bếp than cho ấm!”

An Trà đon đả đáp lời, đôi tay thoăn thoắt múc một muôi nước đường gừng sóng sánh màu mật ong đổ vào chiếc bát sành thô, bên trong đã có sẵn những viên hạt củ nhu dẻo quánh, trên cùng thả thêm hai lát gừng nướng sém cạnh còn bốc khói nghi ngút.

Bác lính đón lấy chiếc bát sành nóng rực, áp chặt hai lòng bàn tay chai sần vào thân bát để sưởi ấm, rồi kề miệng húp một ngụm lớn.

Chất nước ngọt cay lập tức trôi tuột xuống cổ họng, một luồng hơi ấm mãnh liệt bùng nổ, lan tỏa rần rần từ ngực xuống tận dạ dày. Chỉ trong vài nhịp thở, một lớp mồ hôi mỏng rịn ra nơi chân tóc và sống lưng, xua tan hoàn toàn cảm giác tê buốt, ớn lạnh vừa rồi. Bác lính thở phào một hơi sảng khoái, mắt sáng rực lên:

“Đã thật! Ngon ngọt mà cay rát đầu lưỡi, uống một ngụm mà như sống lại cả người! Món này ngày mưa lạnh uống còn thấm thía, bổ béo hơn cả mấy bát nước trà sữa béo ngậy thường ngày!”

Tiếng lành đồn xa. Mùi thơm hấp dẫn và lời khen chân thật ấy nhanh chóng kéo theo từng đoàn người đổ về hiên trà. Những thị nữ giặt giũ run rẩy vì phải ngâm tay cả ngày trong làn nước giếng buốt giá, những phu xe đẩy củi ướt sũng, những tiểu thái giám chạy việc vặt… tất cả đều nườm nượp kéo đến chen chân dưới mái hiên nhỏ.

Người gọi bát trà gừng đường mía để nhai hạt dẻo cho đỡ cồn cào ruột gan, người lại chuộng bát nước đậu rang ngũ cốc nóng hổi, bùi bùi thơm ngậy để thanh lọc cơ thể và ấm bụng. Tiếng cười nói râm ran, tiếng xì xụp húp nước nóng, tiếng đũa chạm bát sành lách cách hòa cùng tiếng củi than nổ lách tách trong lò sưởi, biến cái góc chái bếp chật hẹp, đơn sơ thành một trạm dừng chân ấm áp tình người giữa ngày giông bão mù mịt.

Chiến lược linh hoạt của An Trà đã phát huy tác dụng rực rỡ vượt ngoài mong đợi.

Toàn bộ nguyên liệu khô dự trữ được khai thác triệt để. Ba mươi bát hạt dẻo củ nhu tồn lại từ ca trưa được vét sạch sành sanh không còn một mẩu vụn chỉ trong vòng chưa đầy nửa canh giờ. Hai nồi nước đậu rang và trà gừng phải nấu thêm lần thứ ba mới đủ phục vụ nhu cầu của khách qua đường.

Đến khi bóng chiều dần buông xuống, tráp gỗ đựng tiền đặt trên bệ bếp đã nặng trĩu. Tiếng những đồng tiền lẻ leng keng trút vào tráp nghe vui tai lạ kỳ.

Tống Diệp vừa lau mồ hôi trên trán vừa cùng Vũ Mai kiểm đếm lại số tiền thu được. Nụ cười rạng rỡ, mãn nguyện bừng sáng trên gương mặt từng người. Toàn bộ số vốn liếng của mẻ sữa hỏng ban trưa chẳng những đã được thu hồi trọn vẹn từng đồng cắc, mà quỹ lưu động của hội còn dôi dư ra một khoản tiền lãi ròng đáng kể để mua sắm than củi cho những ngày tiếp theo.

An Trà đứng tựa lưng vào cột hiên, hít một hơi thật sâu làn không khí se lạnh thoảng mùi gừng nướng, ngắm nhìn niềm vui mộc mạc của các chị em. Một cảm giác nhẹ nhõm và tự hào khôn xiết trào dâng trong lồng ngực nàng. Hội Đồng Công của nàng đã kiên cường vượt qua cú sốc đứt gãy chuỗi cung ứng đầu tiên mà không cần phải cúi đầu khuất phục, không cần phải van xin hay tự tròng vào cổ bất kỳ chiếc gông cùm độc tài nào của những kẻ nắm quyền bính.

Trời chập tối, mưa bão ngoài trời đã ngớt hẳn hạt, chỉ còn lại những giọt nước tí tách nhỏ giọt từ mái tranh xuống nền đá sỏi xám xịt. Không khí sau cơn mưa trở nên trong lành và tĩnh mịch lạ thường.

Khi An Trà đang cùng Tống Diệp cúi đầu dọn dẹp những chiếc bát sành cuối cùng, tráng chúng cẩn thận qua chậu nước sôi bốc khói để hong khô trên giá, thì từ phía con đường lát đá xanh dẫn sang khu các cung điện phía đông, một bóng người vội vã rảo bước tiến lại gần.

Đó là một cung nữ trẻ tuổi khoác áo lụa màu xanh biếc, viền cổ và gấu tay thêu chỉ bạc lấp lánh, một tay cầm chiếc ô giấy dầu vẽ cành mai trắng, bước chân nhẹ nhàng không vương một tiếng động. Phong thái đĩnh đạc, trang nhã ấy lập tức cho thấy người này không phải là tầng lớp thị nữ lao dịch thông thường ở các xưởng làm việc.

Cung nữ nọ dừng lại ngay trước ngưỡng cửa quầy trà, khép chiếc ô lụa lại, ánh mắt cẩn thận quan sát xung quanh rồi dừng lại trên người An Trà. Nàng khẽ cúi đầu hành lễ theo đúng quy thức nội đình, cử chỉ vô cùng cung kính và mực thước.

Từ trong tay áo lụa rộng rãi, cung nữ cẩn trọng rút ra một phong thư dài bằng thứ giấy hoa tiên viền thếp vàng óng ánh, góc trên dập nổi hình chim phượng hoàng tung cánh — biểu trưng quyền quý của điện Ngọc Chiếu. Nàng nâng bức thư bằng cả hai tay, kính cẩn trao tận tay An Trà, cất giọng trong trẻo, rõ ràng:

“An Trà cô nương, nô tỳ phụng mệnh Đoan phi nương nương mang phong thư này trao tận tay cô nương. Ba ngày nữa, nương nương muốn đặt một tiệc trà lớn gồm sáu mươi phần trà thượng phẩm để phục vụ buổi hội kiến tôn thất hoàng tộc.”

Chương này thế nào?Đánh giá giúp Readeep đề xuất đúng hơn cho bạn