Bếp Nhỏ Qua Những Miền ĐấtC.29 / 32
Chương 29

Vị Ngọt Thốt Nốt Biên Thùy

Bóng những rặng thốt nốt vút cao in nghiêng trên nền trời rực nắng vùng Bảy Núi An Giang, nơi mùi khói lò đường ngào ngạt dẫn lối chiếc xe Bếp Nhỏ tới ấp biên giới đa văn hóa.

Dọc theo những con đường đất đỏ viền quanh chân núi Cô Tô, từng hàng thốt nốt thẳng tắp vươn những tán lá xòe tròn như những chiếc quạt khổng lồ giữa nền trời xanh khô khốc, đổ bóng râm tròn trịa, vững chãi xuống bờ kênh Vĩnh Tế lịch sử. Không khí vùng biên thùy Tri Tôn vào cữ chớm trưa hầm hập hơi nóng bốc lên từ đá núi và bụi đỏ, nhưng cái oi nồng ấy nhanh chóng bị xua bớt bởi một mùi hương rất đỗi đặc trưng của miệt Thất Sơn: mùi thơm nồng đượm, ngầy ngậy, ngòn ngọt và phảng phất tàn tro của những lò nấu mật thốt nốt đang đỏ lửa phía sau những rặng tràm cổ thụ.

Khang gạt cần số, cho chiếc xe tải dằn qua một đoạn mương cạn rồi từ từ rẽ vào khoảng sân rộng rợp bóng lá thốt nốt đan dày. Cổ tay trái của anh sau chặng đường dài vượt qua Đồng Tháp Mười nay đã tháo bỏ lớp nẹp cứng, chỉ còn quấn một dải băng thun co giãn màu xám tro. Dù thỉnh thoảng vẫn nhói buốt mỗi khi gặp ổ gà gằn xóc, nhưng đôi bàn tay rám nắng của anh đã có thể ghì chặt vô-lăng, làm chủ đường cua một cách chuẩn xác và điềm tĩnh.

Chiếc xe vừa tắt máy, bụi đỏ lãng đãng hạ xuống mặt sân đất nện. Ở góc sân rợp mát, một người phụ nữ trạc sáu mươi tuổi, vóc người đằm thắm trong chiếc áo bà ba màu tro sẫm, quấn chiếc khăn rằn sọc xanh quanh cổ, đang thoăn thoắt dùng chiếc đũa bếp bằng gỗ dài cả sải tay để đảo đều chảo mật thốt nốt to bản. Dưới đáy chảo gang, ngọn lửa củi tràm đỏ rực reo lách tách, đẩy những bọt mật vàng óng sôi lục bục, bốc lên làn hơi đặc sánh mang theo vị ngọt ngào của hoa cây rừng.

Thấy bóng chiếc xe tải màu xanh rêu mang biển số lạ dừng lại sát bờ rào dâm bụt, bà ngẩng lên. Đôi mắt sâu thẳm, sắc sảo và chất chứa nhiều nỗi từng trải khẽ nheo lại dưới vành nón lá đã ngả màu rơm rạ. Cái nhìn toát lên vẻ cẩn trọng, thăm dò của một người cả đời cắm rễ nơi ngã ba giáp ranh biên giới, nơi mà mỗi bước chân người lạ ghé qua đều gợi lên những xáo động không dễ đoán định.

Đó là bà Châu Thị Sa, người thủ giữ những ký ức ẩm thực sâu kín nhất của miệt đất này.

— Cháu chào bà. Cháu là Hoài An, còn đây là anh Khang. Tụi cháu theo chỉ dẫn trong sổ tay của bà ngoại Mùi tìm về đây... — An bước xuống xe, hai tay cẩn trọng ôm chiếc hộp gỗ mun cẩn xà cừ sát vào lồng ngực, cất lời chào bằng giọng lễ phép nhưng vẫn phảng phất sự hồi hộp khôn nguôi.

Vừa nghe nhắc đến cái tên “bà Mùi”, cánh tay đang thoăn thoắt khuấy mật của bà Sa chợt khựng lại giữa không trung. Làn khói ngọt lịm từ miệng chảo dường như ngưng đọng trong giây lát. Bà Sa từ tốn gác chiếc đũa gỗ dài tựa vào vành chảo gang dày cộp, rút đầu chiếc khăn rằn vắt ngang vai lau vệt mồ hôi đang rịn ra nơi thái dương rồi bước chậm rãi về phía chiếc bàn trà mộc mạc kê dưới bóng cây thốt nốt già.

Không có sự vồ vập, cũng chẳng có tiếng chào hồ hởi thường thấy của người miền Tây hiếu khách. Ánh nhìn của bà Sa dừng lại thật lâu trên gương mặt An. Đôi mắt già nua ấy rà soát từng đường nét, từ sống mũi thanh tú, bờ môi cắn chặt đến cái cách cô gái trẻ ôm giữ chiếc hộp kỷ vật, tựa hồ đang cố tìm lại những mảnh vụn ký ức thân thuộc từ một bóng hình đã lùi sâu vào dĩ vãng non nửa thế kỷ trước.

— Cháu ngoại bà Mùi đó hả? — Bà Sa cất giọng trầm, đặc sệt âm sắc vùng bán sơn địa pha trộn giữa chất giọng hào sảng của người miền Tây và ngữ điệu trầm bổng của cư dân biên ải. — Bà biết thế nào cũng có ngày người nhà của bà ấy tìm tới mảnh đất này. Nhưng trước khi nói chuyện bếp núc, chuyện gia tộc hay chữ nghĩa, cháu coi cái này trước đi.

Bà Sa quay người, bước vào gian nhà chính xây bằng gạch thô lợp ngói âm dương rêu phong. Lát sau, bà trở ra, trên tay cầm một chiếc hộp thiếc tròn méo mó, những vệt gỉ sét ăn loang lổ quanh nắp đậy. Bà mở hộp, cẩn thận rút từ bên trong ra một tấm bìa màu vàng ố vì thời gian và khói bếp, đặt nhẹ lên mặt bàn gỗ tràm thô nhám.

Trái tim An thắt nghẹn lại. Cô lập tức nhận ra nét chữ viết tay bằng mực tím quen thuộc, những nét chữ tròn trịa, hơi nghiêng về bên phải với những nét móc sắc sảo của bà ngoại Mùi từ những năm đầu thập niên 1980 — cùng một kiểu chữ với những trang sổ mà cô đã thuộc nằm lòng suốt dọc chiều dài đất nước.

Đó là một bản thẻ chép tay cũ, ghi chép lại toàn bộ công thức và quy trình chế biến món “Bún cá nước kèn biên giới”. Từng dòng định lượng, từng thứ gia vị từ cá lóc, nước cốt dừa, nghệ tươi cho đến ngải bún đều được ghi tỉ mỉ, mạch lạc. Thế nhưng, khi mắt An chạm đến dòng chú thích nguồn gốc nằm trang trọng ở góc dưới cùng bản thẻ, cô sững người. Sống mũi cô chợt cay xè, một cảm giác bẽ bàng, buốt nhói ùa lên làm tê dại cả đầu ngón tay.

Dưới ngòi bút mực tím của bà Mùi năm xưa, toàn bộ món bún nước kèn nức tiếng với sắc vàng nghệ rực rỡ và hương thơm phức hợp của xứ Thất Sơn đã được bà đúc kết trọn vẹn thành: *“Sáng tạo ẩm thực độc đáo của những lưu dân người Kinh trên bước đường khai hoang mở cõi vùng biên thùy Tây Nam.”*

Không một chữ nào nhắc đến người Khmer.

Tuyệt nhiên không một dòng nào nhắc đến người Chăm.

— Ngoại cháu ghi vậy đó, — bà Sa nhìn thẳng vào mắt An. Giọng bà điềm đạm, không hề gắt gỏng, nhưng từng lời thốt ra lại nặng tựa ngàn cân, chạm thẳng vào lòng tự trọng sâu thẳm của vùng đất này. — Bà ấy giỏi nấu nướng, tay nghề tinh tế, lại có công cấp dưỡng cứu tế nhiều đồng bào trong thời tao loạn, chuyện đó bà con xóm núi này không ai quên. Nhưng việc gán trọn vẹn nồi nước kèn này cho riêng người Kinh di cư là một sự bất công lớn, cháu hiểu không? Món ăn này sinh ra không phải từ một gốc gác đơn độc, lại càng không phải là thành tựu của riêng một sắc tộc nào bước chân tới đây. Nó là máu thịt, là nước mắt và mạng sống của ba dòng máu hòa vào nhau giữa lúc đói khổ cùng cực nhất.

An siết chặt hai bàn tay trên mặt bàn gỗ tràm, móng tay cắm sâu vào lòng bàn tay để kìm nén sự run rẩy. Lồng ngực cô như có một tảng đá đè nặng. Trong suốt hành trình đi dọc đất nước cùng Bếp Nhỏ, cô đã từng đau đớn khi nhận ra những thỏa hiệp nhọc nhằn của bà Mùi ở cầu Hàm Rồng khói lửa, từng xót xa trước những lựa chọn nghẹn ngào của bà nơi khúc ruột Quảng Bình. Nhưng lần này, đối diện với trang viết ố vàng này, An phải đối mặt với một sự thật hoàn toàn khác: sự thiên lệch trong nhận thức của một thế hệ, sự chiếm hữu vô tình hoặc hữu ý một di sản thuộc về liên cộng đồng, tước đoạt đi tiếng nói của những người đã cùng san sẻ miếng ăn trong nghịch cảnh.

— Bà Sa... cháu xin lỗi, — An nghẹn ngào, cổ họng ứ nghẹn. Cô đứng thẳng dậy, rồi chậm rãi cúi gập đầu thật thấp trước người phụ nữ lớn tuổi. — Cháu đi hành trình này không phải để tô vẽ cho bà ngoại cháu thành một tượng đài hoàn hảo. Cháu đi để tìm kiếm sự thật, và nếu sự thật có tì vết, cháu đến đây để trả lại sự thật cho từng gian bếp.

Nhìn vẻ mặt tái nhợt nhưng ánh mắt kiên định không hề né tránh, cùng cái cúi đầu chân thành tuyệt đối của cô gái trẻ, ngọn lửa trách cứ âm ỉ trong mắt bà Sa dường như dịu lại. Bà khẽ thở dài một tiếng, nét mặt giãn ra. Đưa bàn tay thô ráp, chai sần vì hàng chục năm cầm đũa khuấy đường đặt nhẹ lên mu bàn tay đang lạnh ngắt của An, bà nói khẽ:

— Cháu dám nhận lỗi thay người đi trước mà không tìm cách chống chế, vậy là cháu có căn cốt của một người nấu ăn tử tế. Người có tâm với bếp thì lòng dạ mới ngay thẳng được như vậy. Được rồi, ngồi chờ ở đây. Bà sẽ gọi những người cần gặp tới. Muốn sửa một trang chép sai của lịch sử, cháu phải nghe cho hết, nhìn cho tận mắt và hiểu cho thật trúng từ chính những bàn tay đã tạo ra nó.

Bà Sa buông tay, bước vội ra con đường mòn dẫn sâu vào phum sóc.

Chỉ trong vòng chưa đầy một giờ đồng hồ, gian chòi lá sau xưởng nấu đường của bà Sa vốn yên ắng đã trở nên rộn ràng. Hai vị khách cao niên được mời tới, bước vào chòi với những bước đi thong thả, mang theo cả phong vị riêng biệt của những tộc người đã cộng cư qua hàng bao thế hệ bên triền Thất Sơn. Đó là một cuộc hội ngộ đặc biệt, nơi ba gia đình đại diện cho ba cộng đồng Kinh – Chăm – Khmer cùng tề tựu quanh chiếc bàn mộc.

Bà Sa cất tiếng giới thiệu Neang Som, một nghệ nhân Khmer lớn tuổi với nước da ngăm đen bóng khỏe, nụ cười đượm vẻ hiền từ và đôi bàn tay thoăn thoắt dẻo dai. Bà là người nắm giữ bí quyết ủ mắm bò hóc (prahok) truyền thống bằng cá đồng mùa nước nổi, cùng kỹ thuật nhận diện và giã củ ngải bún tươi mọc hoang nơi gành đá.

Ngồi cạnh Neang Som là bà Mariam, một phụ nữ Chăm lớn tuổi mang nét đẹp đài các, trùm chiếc khăn mat’ra dệt bằng lụa trắng thêu chỉ vàng thanh nhã quanh đầu. Ánh mắt bà Mariam trầm tĩnh, đôi tay mềm mại thoang thoảng mùi dầu dừa — người gìn giữ tỉ lệ vắt và kỹ thuật phối nước cốt dừa béo bùi sao cho khi đun sôi trên lửa lớn vẫn sánh mịn, tuyệt đối không bị tách dầu hay biến mùi.

Còn đại diện cho người thợ Kinh chính là ông Ba Lợi, một lão nông ngoài bảy mươi tuổi với mái tóc bạc phơ, da dẻ đỏ au vì lửa lò. Ông Ba Lợi có thâm niên hơn bốn mươi năm canh ngọn lửa lò đun và nắm giữ tuyệt kỹ thắng mật thốt nốt non thành thứ đường sánh đặc như hổ phách, tạo nên độ ngọt thanh sâu lắng cho các món ăn vùng kênh rạch.

Trên chiếc bàn dài bằng gỗ tràm, những nguyên liệu tươi ròng của món bún cá nước kèn dần dần được bày ra. Không gian gian chòi lập tức biến thành một bản giao hưởng sống động của sắc màu, kết cấu và hương vị độc nhất vô nhị của miền biên viễn Tây Nam.

Neang Som kéo chiếc cối đá nhỏ về phía mình. Đôi tay gầy guộc nhưng chắc nịch thoăn thoắt cạo sạch lớp vỏ lụa mỏng bên ngoài những củ ngải bún thon dài, màu vàng nhạt như ngón tay út. Bà bẻ từng khúc ngải bún, thả vào cối cùng với vài tép sả tươi thái mỏng, ớt hiểm đỏ au và những nhánh nghệ củ vừa đào sau vườn vàng rực như ánh nắng trưa.

Tiếng chày đá nện vào cối vang lên đều đặn, nhịp nhàng: *Cộc... cộc... cắc...*

Mỗi nhịp chày giã xuống, một luồng hương cay the, nồng ấm và ngai ngái mùi đất ẩm lập tức bốc lên, bao trùm cả gian chòi. Neang Som chỉ vào chiếc đĩa sành đựng mớ cá lóc đồng vừa được luộc chín tới, khéo léo dùng đầu ngón tay gỡ từng thớ thịt cá trắng tinh, bỏ sạch xương dăm rồi cho vào cối giã tơi nhẹ. Sau đó, bà trút toàn bộ phần thịt cá ấy vào chảo gang, xào săn lại cùng hỗn hợp ngải bún nghệ sả và một muỗng mắm bò hóc xám sẫm, thơm đượm nồng men cá ủ muối lâu năm.

— Cháu ngửi thấy không? — Neang Som vừa thoăn thoắt đảo cá trên ngọn lửa con vừa giải thích bằng giọng lơ lớ thân thương của người Khmer vùng Tri Tôn. — Nếu không có củ ngải bún với mắm bò hóc của người Khmer tụi tui, cái nồi nước lèo này nó tanh ngắt mùi bùn non của cá đồng, hổng bao giờ ra được cái chất “nước kèn”. Cái ngải bún này ngộ lắm, nó mọc hoang dại trên triền đá núi, chịu nắng chịu hạn dữ dội. Khi nấu lên, nó khử sạch bách mùi tanh của cá, đánh thức cái lưỡi người ăn bằng một vị ấm nồng, thơm ngát từ cuống họng chớ hổng có cay hăng xộc lên mũi như củ gừng của người ngoài Bắc đâu.

Khi thịt cá đã săn lại, thấm đẫm màu vàng rực của nghệ và ngào ngạt hương mắm ủ, bà Mariam nhẹ nhàng đón lấy chiếc nồi đồng đáy bầu đặt lên bếp. Đôi tay thon thả của người phụ nữ Chăm từ tốn nghiêng chiếc gáo dừa, đổ phần nước dão dừa xiêm đã được vắt tay kỹ qua hai lớp vải màn vào nồi, hòa chung với phần thịt cá xào nghệ.

Bà Mariam khẽ nghiêng đầu canh chừng ngọn lửa, chỉ để củi tràm cháy liu riu ở mức vừa phải. Dưới bàn tay điêu luyện của bà, những bọt cá li ti quyện dần vào làn nước dão dừa trắng đục, sóng sánh tạo thành một thể thống nhất êm ả, tuyệt đối không để nước sôi bùng lên làm trào bọt hay vón cục lợn cợn.

— Người Chăm tụi tui sống ven sông, coi trọng trái dừa và nước cốt dừa dữ lắm, — bà Mariam mỉm cười, giọng bà dịu dàng như tiếng nước chảy dưới chân cầu gỗ Châu Phong. — Nấu nước kèn là một sự nhẫn nại, phải chia làm hai cữ dừa rành rọt. Nước dão lỏng thì nấu trước từ đầu, để từng thớ thịt cá ngấm trọn cái vị béo bùi thanh nhẹ từ bên trong ruột cá. Còn cái phần nước cốt đậm đặc nhất, cái tinh túy béo ngậy đầu tiên vắt ra, phải để dành tới lúc nồi nước kèn gần chín tới mới được rưới nhẹ vô. Nước cốt vừa chín tới trên mặt là phải nhấc nồi xuống liền, để giữ trọn cái hương thơm ngậy tinh khôi của dừa tươi, hổng bao giờ được để sôi quá lửa mà gắt dầu.

Và cuối cùng, khi nồi nước dùng bắt đầu chuyển sang màu vàng sánh, tỏa hơi nghi ngút, ông Ba Lợi mới đứng dậy. Lão nông người Kinh với đôi mắt tinh tường đưa chiếc muôi gỗ vào chiếc hũ sành da lươn, múc ra một thìa đường thốt nốt sệt dẻo vừa được thắng tới độ sủi tăm tôm, sắc nước trong văn vắt như mật ong rừng. Ông thả thìa mật vào lòng nồi đang sôi nhẹ, rồi dùng muôi khuấy một vòng tròn mềm mại.

Mùi ngọt lịm, thanh khiết của mật hoa thốt nốt lập tức bốc lên, hòa quyện thần kỳ vào cái nồng gắt của mắm bò hóc và vị béo ngậy của nước cốt dừa. Ba luồng hương vị tưởng chừng xung khắc, đối chọi chan chát bỗng chốc ghìm chặt lấy nhau, nâng đỡ nhau, hòa tan vào nhau tạo thành một thứ nước lèo sánh vàng óng ả, thơm lừng lan tỏa khắp một góc sân xưởng.

— Người Kinh tụi tui góp vô nồi nước kèn này cái lửa và cái ngọt này đây, cô cháu nhỏ, — ông Ba Lợi cười khà khà, nụ cười làm những nếp nhăn nơi khóe mắt xô lại đầy hóm hỉnh. — Nấu món này mà nổi máu tiện tặn, đi nêm đường cát trắng hay đổ bột ngọt công nghiệp vô là hỏng bét cả nồi nước lèo liền tức khắc. Nó sẽ ngọt khé ở cổ, ăn xong nghe lợ miệng. Phải là cái đường thốt nốt non của xứ Bảy Núi này, cái thứ đường làm từ giọt mật hứng trên ngọn cây cao hứng nắng gió biên thùy. Nó ngọt thanh tao, ngọt mà mát rượi ruột gan, người ăn tới đâu thấy nhuận tràng, nhẹ nhõm tới đó.

Ngồi giữa ba con người đại diện cho ba nền văn hóa ẩm thực, An chăm chú lắng nghe, ngòi bút trên tay thoăn thoắt ghi lại từng định lượng, từng nhịp canh lửa, từng bí quyết vắt dừa hay giã ngải vào cuốn sổ tay lữ hành. Nhưng khi nồi nước kèn bắt đầu sôi liu riu tỏa khói nghi ngút, tiếng lách tách của củi tràm dường như kéo chùng không gian xuống. Câu chuyện giữa họ dần trôi ngược về quá khứ, về những năm tháng chiến tranh biên giới Tây Nam đau thương, khốc liệt vào cuối thập niên 1970.

Bà Sa ngồi tựa lưng vào cột chòi, mắt đăm đăm nhìn làn khói mỏng bốc lên từ miệng nồi đồng. Giọng bà chùng xuống, trĩu nặng những ký ức bi tráng:

— Hồi chiến tranh biên giới nổ ra tràn qua vùng đất này, giặc càn quét dữ dội lắm cháu ơi. Phum sóc, làng mạc cháy rụi, khói lửa ngút trời, đạn pháo rơi rầm rập ngày đêm. Mấy gia đình Kinh, Chăm, Khmer trong ấp dắt díu nhau chạy loạn, cùng chui rúc trốn dưới một căn hầm công sự ẩm ướt khoét sâu sau chân núi Cô Tô. Trong căn hầm tối tăm ngột ngạt đó, đói lả người, người lớn đều nhịn ăn nhường từng hớp nước, cọng rau cho bầy con nít. Lương thực cạn kiệt, vét trong đùm bọc chỉ còn một chút mắm bò hóc của má Neang Som giấu kỹ trong hũ sành nhỏ, mấy trái dừa khô mà má con bà Mariam lượm lặt được bên bờ kênh, với một hũ mật thốt nốt dẻo của tía anh Ba Lợi mang theo bên mình.

Bà Sa khẽ nuốt nghẹn, đưa tay gạt tàn tro bay vướng trên mép khăn rằn:

— Đúng lúc ngặt nghèo đó, ngoại cháu — bà Mùi — theo một đoàn cấp dưỡng hậu cần dạt qua vùng này lánh pháo. Thấy cảnh người già con nít lả đi vì đói, bà Mùi cùng ba người mẹ trong hầm đã chụm mấy thanh củi ướt lại, nhóm lên ngọn lửa không khói. Mấy người đàn ông liều mình bò ra mương khô bắt được mớ cá lóc đồng sống sót trong bùn. Bốn người phụ nữ của ba dân tộc đã ngồi san sẻ từng củ ngải bún, từng gáo nước dừa, hòa hũ mắm của người Khmer với hũ mật của người Kinh để nấu thành một nồi nước kèn chắp vá. Nhờ nồi nước kèn nấu chung từ ba nguồn sống đó mà mấy chục con người, mấy chục đứa con nít vô tội dưới hầm bom đã cầm cự qua được những ngày tháng đói khát và hãi hùng nhất của cuộc chiến.

Không gian trong gian chòi hoàn toàn tĩnh lặng. Tiếng gió thổi qua rặng thốt nốt xào xạc trên mái lá nghe như tiếng thở dài của đất trời biên ải. An ngồi chết lặng. Từng câu chữ của bà Sa như khắc sâu vào tâm khảm cô. Hóa ra, cội nguồn sâu xa của một món ăn không nằm trên những trang sách ca tụng chiến công hiển hách, cũng chẳng nằm ở danh xưng của một kẻ khai hoang đơn độc nào. Nó nằm ở sự che chở, đùm bọc, sẻ chia sự sống giữa những con người cùng khổ dưới lằn ranh mỏng manh của sự sống và cái chết.

Khi An xúc động bày tỏ mong muốn được ghi danh đầy đủ đại diện của ba gia đình vào Thẻ công thức số 29 để trả lại sự công bằng lịch sử cho món ăn, một vướng mắc tế nhị và phức tạp khác lại nảy sinh ngay trên mặt bàn.

Neang Som gật đầu ngay tắp lự. Đôi mắt người phụ nữ Khmer ánh lên niềm tự hào chất phác, bà muốn tên của mẹ mình — cụ bà Neang Chanh — được ghi thật rõ ràng, trang trọng trên thẻ để con cháu người Khmer mai sau khi nhìn vào bản lưu trữ này sẽ biết tự hào về cội nguồn và di sản của tổ tiên mình.

Thế nhưng, trái ngược với Neang Som, bà Mariam lại ngập ngừng. Người phụ nữ Chăm khẽ cúi đầu, ánh mắt thoáng nét âu lo, e ngại rồi từ tốn lắc đầu. Bà giải thích rằng dòng họ bên ngoại của cụ bà người Chăm năm xưa thuộc một nhánh gia tộc có những quy ước tôn giáo và tập tục truyền đời vô cùng nghiêm cặt. Theo quan niệm khắt khe của nhánh dòng họ này, việc tên tuổi phụ nữ xuất đầu lộ diện trên các văn bản lưu truyền ra ngoài cộng đồng thế tục là điều cấm kỵ, có thể gây ra những rạn nứt và phiền toái dòng tộc không đáng có cho con cháu đời sau. Gia đình nhánh đó tha thiết xin được giữ sự ẩn danh tuyệt đối.

An ngồi lặng đi trước cuốn sổ tay mở sẵn và tấm Thẻ số 29 màu trắng ngà. Cô nhận ra một bài học sâu sắc: làm việc với ký ức cộng đồng không bao giờ là một bài toán cơ học đơn giản. Cô không thể nhân danh sự minh bạch lịch sử hiện đại hay áp đặt một quy chuẩn đạo đức phẳng lì của người nghiên cứu bên ngoài để phá vỡ những ràng buộc tâm linh, phong tục thiêng liêng mà một gia đình đã gìn giữ qua bao đời.

Sau một hồi trầm ngâm suy xét, An nâng chiếc bút mực lên. Bằng những nét chữ nắn nót, cẩn trọng và trang nghiêm, cô viết lên Thẻ số 29:

*“Bún nước kèn biên thùy — Đồng tác giả: Cụ bà Neang Chanh (Khmer), Cụ bà Fatima (bút danh theo tâm nguyện dòng tộc Chăm), và một khoảng trống vinh danh người thợ nấu vô danh của cộng đồng người Kinh.”*

Khoảng trống ấy nằm lặng lẽ trên trang giấy trắng. Đó không phải là sự lãng quên hay bỏ sót, mà là sự tôn trọng tận cùng dành cho những phận người vô danh đã lặng lẽ hòa giọt mồ hôi và tình thương của mình vào sự sống còn của xứ sở mà không hề màng đến danh phận hay sự tán dương của hậu thế.

Bà Mariam nhìn dòng chữ, khẽ thở phào nhẹ nhõm, ánh mắt ánh lên sự cảm kích sâu xa. Cả Neang Som và ông Ba Lợi cũng nhìn An gật đầu tán đồng.

Giữa lúc An vừa đóng nắp chiếc bút mực kim loại, một tiếng rít phanh xe gấp gáp vang lên rộn rã ngoài cổng rào dâm bụt, cắt ngang bầu không khí trầm lắng của gian chòi. Cửa xe bán tải bật mở, luật sư Tạ Gia Bảo bước thoăn thoắt vào sân. Bộ âu phục công sở của anh đã lấm lem bụi đỏ biên giới, chiếc cà vạt xộc xệch, nhưng trên tay anh là một tập hồ sơ dày cộm còn thơm nồng mùi mực in mới. Theo sát gót Bảo là hai cán bộ thuộc Phòng Kinh tế & Hạ tầng huyện Tri Tôn, gương mặt ai nấy đều rạng rỡ vẻ phấn chấn.

— May quá, tôi chạy một mạch từ Long Xuyên lên đây, vừa kịp lúc! — Bảo thở phào, đưa tay lau vội giọt mồ hôi đang lăn dài bên thái dương. — Chào bà Sa, chào An và Khang. Tin vui lớn từ văn phòng đại diện Cục Sở hữu Trí tuệ phía Nam sáng nay! Hồ sơ phản đối của chúng ta đã được thụ lý khẩn cấp và ra quyết định chính thức rồi.

Bảo trải tập tài liệu có gắn dấu mộc đỏ chót lên mặt bàn gỗ, lật từng trang trích lục pháp lý rõ ràng:

— Đỗ Thành Vinh và Công ty Vị Việt đã tính toán rất kỹ lưỡng. Họ lợi dụng danh nghĩa đề án phát triển chuỗi du lịch sinh thái vùng biên để âm thầm nộp đơn xin đăng ký bảo hộ nhãn hiệu độc quyền đối với cụm từ “Bún nước kèn biên giới Tây Nam”. Mục đích của họ là thâu tóm toàn bộ quy trình chế biến, biến nó thành thương hiệu kinh doanh nhượng quyền riêng cho chuỗi nhà hàng của họ. Nhưng họ đã lầm! Nhờ toàn bộ tài liệu chứng minh nguồn gốc cộng đồng liên dân tộc mà bà Sa cùng Hợp tác xã Đường Xa cung cấp, kết hợp với các dữ liệu nhân chứng lịch sử và lời khai được chúng ta lập vi bằng ngay tại địa phương, cơ quan chức năng đã chính thức bác bỏ đơn đăng ký của Vị Việt!

Bảo nhấn mạnh từng chữ, giọng đanh thép:

— Cơ quan quản lý đã khẳng định rõ ràng: bún nước kèn là tài sản tri thức dân gian thuộc quyền sở hữu chung của ba cộng đồng Kinh – Chăm – Khmer nơi vùng đất An Giang. Không một cá nhân, không một tập đoàn kinh doanh nào có quyền biến di sản văn hóa chung ấy thành sở hữu độc quyền của riêng mình!

Bà Sa, Neang Som, bà Mariam và ông Ba Lợi cùng chụm đầu nhìn vào con dấu đỏ tươi trên văn bản pháp lý. Những nếp nhăn hằn sâu nơi khóe mắt của những bậc cao niên giãn ra trong một nụ cười mãn nguyện, rạng rỡ. Đó không đơn thuần chỉ là thắng lợi của những điều luật trên giấy trắng mực đen, mà là sự bảo toàn trọn vẹn phẩm giá và tôn nghiêm cho một nồi nước dùng từng cưu mang đồng bào qua những năm tháng bom đạn ngút trời.

Nắng chiều biên giới bắt đầu ngả dần về phía tây. Ánh hoàng hôn nhuộm đỏ rực những ngọn thốt nốt cao vút in bóng xuống lòng kênh Vĩnh Tế.

Phía góc sân, Khang cởi trần chiếc áo thun ngoài, đang cặm cụi giúp bà Sa chẻ lại đống củi tràm khô xếp ngay ngắn vào chái bếp. Tiếng búa rìu bổ vào thớ gỗ tràm khô vang lên giòn giã, nhịp nhàng.

An ngồi bên bậc cửa sổ chiếc xe Bếp Nhỏ, đón làn gió mát rượi từ cánh đồng thổi vào. Cô mở chiếc máy tính xách tay, những ngón tay lướt nhanh trên bàn phím. Cô gõ từng dòng thư gửi cho nhà báo Phạm Quỳnh Lam tại Tạp chí Dọc Đường, yêu cầu đăng tải công khai trên chuyên mục đối thoại mở của số báo sắp tới.

Trong bức thư ấy, An không ngần ngại vạch rõ sai sót lịch sử trong ghi chép của bà ngoại Mùi:

*“...Di sản ẩm thực không phải là một bức tượng đài hoàn mỹ để hậu thế tôn sùng một cách mù quáng. Giá trị thực sự của di sản chỉ bắt đầu khi chúng ta có đủ lòng can đảm để thừa nhận và sửa chữa những thiếu sót, những thiên kiến của thế hệ đi trước. Nhận lỗi thay cho tiền nhân không phải là sự phản bội, mà là hành động duy nhất để giữ cho linh hồn của căn bếp luôn trong sạch và ngay thẳng trước cuộc đời...”*

Gõ xong dấu chấm cuối cùng và nhấn nút gửi, An thở ra một hơi dài nhẹ nhõm. Cô gập máy tính, quay trở lại gian bếp rực lửa của bà Sa.

Nồi nước kèn lúc này đã chín tới độ hoàn hảo, tỏa ra thứ mùi thơm nồng nàn, quyến rũ không thể cưỡng lại. Bà Sa thoăn thoắt xếp những lọn bún gạo trắng tinh vào chiếc tô sành da lươn, bên trên rải một lớp rau ghém xanh mướt gồm bắp chuối non thái mỏng tang, giá đỗ mập mạp, dưa leo băm nhỏ giòn rụm và vài cọng rau răm thơm the. Sau đó, bà múc một muôi nước lèo vàng ươm, sánh mượt chan đều lên mặt bún, để lộ những thớ thịt cá lóc xào nghệ vàng ruộm và lớp nước cốt dừa béo ngậy điểm xuyết trên cùng.

An bưng tô bún nóng hổi, húp một thìa nước lèo đầu tiên. Vị ngọt thanh của đường thốt nốt lập tức lan tỏa, làm dịu đi cái nồng đậm của mắm bò hóc và vị béo sâu của dừa xiêm, rồi đọng lại ở cuống họng bằng hậu vị ấm sực, thơm mát của củ ngải bún hoang dã. Cắn một miếng thịt cá xào đậm đà, nhai cọng rau ghém giòn sần sật, An cảm nhận rõ rệt sự dung hòa kỳ diệu của ba nền văn hóa. Một món ăn tưởng chừng mộc mạc nơi thôn dã lại chứa đựng cả một triết lý sống chan hòa, bao dung của đất phương Nam.

Đứng bên lò lửa đang cháy đượm, bà Sa nhìn An ăn một cách ngon lành, đôi mắt người phụ nữ từng trải ánh lên niềm xúc động sâu xa. Bà bước lại gần chiếc bàn gỗ, khẽ nghiêng người, nói nhỏ vào tai An bằng một giọng trầm lắng chỉ đủ cho hai người nghe:

— Thấy cháu thật lòng sửa sai cho ngoại, bà mới yên tâm nói cho cháu biết chuyện này. Năm đó, trong số những đứa trẻ mồ côi lai được bà Mùi bảo bọc, ẵm bồng thoát khỏi hầm bom biên giới, có một đứa nhỏ đặc biệt lắm. Sau ngày tiếng súng yên ắng, có người thân thất lạc từ miệt duyên hải xa xôi tìm về nhận lại nó. Họ dắt đứa nhỏ xuôi theo con nước lớn của dòng sông Hậu, đi mãi về miệt rừng ngập mặn Cà Mau kiếm kế sinh nhai... Tấm thẻ số 32 của ngoại cháu, mối nợ ân tình sâu nặng nhất đời bà ấy, có lẽ đang nằm ở cuối trời phương Nam đó.

Trái tim An đập rộn lên từng hồi xao xuyến. Manh mối từ ông Tấn ở Quảng Bình, tin nhắn nghẹn ngào của mẹ Hà bên bến sông Hồng xa xôi, và giờ đây là lời chỉ dẫn quý giá của bà Sa nơi ngã ba biên giới... tất cả như những mảnh ghép vô hình của định mệnh đang ráp nối lại, dẫn lối chiếc xe Bếp Nhỏ tới chặng cuối cùng của cuộc hành trình chuộc lỗi và tìm lại căn cốt.

Bà Sa khuấy nồi đường thốt nốt vàng óng sủi tăm thơm lựng, nhìn An mỉm cười độ lượng:

— Bà ngoại cháu biết mình sai nên mới để lại câu hỏi cho cháu. Cháu dám sửa là bà cháu thanh thản rồi.

Chương này thế nào?Đánh giá giúp Readeep đề xuất đúng hơn cho bạn